Khóa luận: Sự phát triển công nghiệp hóa tác động đến môi trường là bài mẫu dưới dây mình muốn chia sẻ đến các bạn, nhận định được nước ta đang ở trong thời kỳ phát triển và hội nhập, trong công cuộc CNH – HĐH đất nước đã có nhiều dự án mở ra nhằm thúc đẩy các ngành công nghiệp, dịch vụ, … cũng như nền kinh tế của đất nước. Tuy nhiên sự phát triển ồ ạt của các nhà máy, xí nghiệp, cụm công nghiệp đã và đang tác động không nhỏ tới chất lượng môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội. Đề tài: Đánh giá tác động môi trường Dự án xây dựng nhà máy chế biến Dioxyt Titan công suất 100.000 tấn/năm, dưới đây mong sẽ được sự quan tâm từ các bạn.
MỞ ĐẦU
Môi trường là một nhân tố ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi con người, mỗi quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường và đảm bảo phát triển bền vững là vấn đề mang tính sống còn đối với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Có rất nhiều nhà máy xả thải trực tiếp các chất ô nhiễm ra môi trường mà không qua xử lý, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Vì vậy, hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường ở nước ta đang trở thành vấn đề đáng báo động và cần có các biện pháp cũng như các chế tài pháp lý hữu hiệu để ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường góp phần vào chiến lược phát triển bền vững. Chính vì vậy Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993. Cho đến ngày 29/11/2005 thì Luật BVMT năm 1993 được thay thế bằng Luật BVMT năm 2005, kèm theo đó Chính phủ và Bộ Tài Nguyên Môi Trường đã ban hành các Nghị đinh và Thông tư hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường, hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường…
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là một công cụ mang tính khoa học và kỹ thuật được sử dụng để dự báo các tác động môi trường có khả năng xảy ra bởi dự án đầu tư, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp và biện pháp nhằm tăng cường các tác động tích cực, giảm thiểu các tác động tiêu cực, góp phần làm cho dự án đầu tư được bền vững trong thực tế triển khai.
Với mong muốn góp phần BVMT cũng như trau dồi và hệ thống lại các kiến thức đã được học để phục vụ cho công việc của một kỹ sư ngành môi trường sau khi tốt nghiệp, đề tài “Đánh giá tác động môi trường Dự án xây dựng nhà máy chế biến Dioxyt Titan công suất 100.000 tấn/năm” tại khu vực mỏ Cây Châm thuộc xã Phủ Lý, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, đã được lựa chọn trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp.
1.1. Sự ra đời và sự phát triển của đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
1.1.1. Sự ra đời và phát triển ĐTM trên thế giới
Môi trường đã được con người nhận thức từ rất lâu, nhưng thuật ngữ “môi trường”, vấn đề môi trường chỉ mới nhắc đến và đặt ra kể từ cuối những năm 60, đầu những năm 70. Năm 1969 Đạo luật chính sách môi trường của Mĩ đã được thông qua và khái niệm ĐTM đã được ra đời. Sau Mĩ, ĐTM đã được áp dụng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới như: Canada (1973), Úc (1974), Nhật, Singapo, Hông Kông (1992), … Ngoài các quốc gia, các tổ chức quốc tế cũng rất quan tâm đến công tác ĐTM, cụ thể:
- Ngân hàng thế giới (WB)
- Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)
- Cơ quan phát triển quốc tế của Mĩ (USAID)
- Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP)
Luật đánh giá tác động môi trường được áp dụng ở Mĩ đã hơn 40 năm nay. Năm 1985, Ủy ban Châu Âu ra chỉ thị tăng cường áp dụng luật này ở các nước thành viên EC. Năm 1988, khi luật được giới thiệu ở Anh, nó đã trở thành một lĩnh vực phát triển mạnh. Từ chỗ ban đầu chỉ có 20 báo cáo về tác động môi trường mỗi năm, hiện nay Anh đã có hơn 300 báo cáo/năm. Trong những năm 1990, phạm vi đánh giá tác động môi trường được mở rộng hơn rất nhiều.
Tại Châu Á hầu hết các nước trong khu vực đã quan tâm đến môi trường từ những thập kỷ 70 như là:
- Philippine: từ năm 1977- 1978 Tổng thống Philippine đã ban hành các Nghị định trong đó yêu cầu thực hiện ĐTM và hệ thống thông báo tác động môi trường cho các dự án phát triển.
- Malaysia: từ 1979 Chính phủ đã ban hành Luật Bảo vệ Môi trường và từ năm 1981 vấn đề đánh giá tác động môi trường đã được thực hiện đối với các dự án năng lượng, thủy lợi, công nghiệp, giao thông và khai
- Thái Lan: nội dung và các bước thực hiện cho ĐTM cho các dự án phát triển được thiết lập từ năm 1978, đến năm 1981 thì công bố danh mục dự án phải tiến hành ĐTM.
- Trung Quốc: Luật Bảo vệ Môi trường được ban hành từ năm 1979, trong đó điều 6 và 7 đưa ra các cơ sở cho các yêu cầu đánh giá tác động môi trường cho các dự án phát triển.
1.1.2. Sự ra đời và phát triển ĐTM ở Việt Nam ( Khóa luận: Sự phát triển công nghiệp hóa tác động đến môi trường )
Đầu những năm 80 các nhà khoa học Việt Nam mới bắt đầu tiếp cận và nghiên cứu công tác ĐTM thông qua hội thảo khoa học và khóa học đào tạo tại Đông – Tây ở Hawai nước Mĩ. Sau năm 1990 nước ta tiến hành trực tiếp nghiên cứu về ĐTM do Giáo sư Lê Thạc Cán chủ trì. Các cơ quan nghiên cứu và quản lý môi trường đã được thành lập như: Cục môi trường trong Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, các Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, các Trung tâm, Viện Môi trường. Các cơ quan này đảm nhận việc lập báo cáo ĐTM và tiến hành thẩm định các báo cáo ĐTM. Một số báo cáo mẫu đã được lập, điều này thể hiện được sự quan tâm của nhà nước đến công tác ĐTM.
Ngày 27/12/1993 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Môi trường và Chủ tịch nước ra quyết định số 29L/CTN ngày 10/01/1994. Chính phủ cũng đã ra nghị định về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ Môi trường vào tháng 10/1994. Từ năm 1994 đến cuối năm 1998, Bộ Khoa học và Công nghệ Môi trường đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn ĐTM, tiêu chuẩn môi trường đã góp phần đưa công tác ĐTM ở Việt Nam dần đi vào nề nếp và trở thành công cụ để quản lý môi trường. Sau khi Luật Môi trường ra đời nhiều báo cáo ĐTM cũng đã được thẩm định góp phần giúp đỡ những người ra quyết định có thêm tài liệu xem xét toàn diện các dự án phát triển ở Việt Nam đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Hiện nay ở Việt Nam đã có một đội ngũ tương đối đông đảo những người làm ĐTM, trong đó có nhiều chuyên gia được đào tạo trong nước và ngoài nước, bước đầu đã tập hợp được những kinh nghiệm ứng dụng qua các công trình đã đánh giá trong thực tế. Việc thực hiện ĐTM còn tồn tại những vấn đề cần giải quyết, tuy nhiên có thể nói sau hơn một thập kỷ cho đến nay hệ thống văn bản pháp lý cho thực hiện ĐTM đã tương đối đầy đủ và tiếp cận được yêu cầu của thực tế. Việc thực hiện ĐTM đã dần đi vào nề nếp đã có đóng góp đáng kể cho thực hiện phát triển bền vững của đất nước.
1.2. Khái niệm về ĐTM
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) – tiếng Anh là Environmental Impact Assessment (EIA) là một khái niệm mới ra đời trong mấy chục năm gần đây. Đã có nhiều khái niệm khác nhau về đánh giá tác động môi trường, mỗi định nghĩa tuy có nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau nhưng đều nêu lên những điểm chung của ĐTM là đánh giá, dự báo các tác động môi trường và đề xuất các biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực chủ yếu của dự án.
- Theo định nghĩa rộng của Mun (1979): “Đánh giá tác động môi trường phải được phát hiện và dự đoán những tác động đối với môi trường cũng như đối với sức khỏe và cuộc sống của con người, các đề xuất, các chính sách, chương trình, dự án, quy trình hoạt động và cần phải chuyển giao và công bố những thông tin về các tác động đó”.
- Theo định nghĩa hẹp của cục môi trường Anh: “Thuật ngữ đánh giá tác động môi trường chỉ một kỹ thuật, một quy trình giúp chuyên gia phát triển tập hợp những thông tin về sự ảnh hưởng đối với môi trường của một dự án và những thông tin này sẽ được những nhà quản lý quy hoạch sử dụng để đưa ra quyết định về phương hướng phát triển”. Năm 1991, Ủy ban Liên hợp quốc về các vấn đề kinh tế Châu Âu định nghĩa: “Đánh giá tác động môi trường là đánh giá tác động của một hoạt động có kế hoạch đối với môi trường”.
- Trong luật bảo vệ môi trường của Việt Nam đưa ra: “Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học – kĩ thuật, y tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và các công trình khác đề xuất các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường”.
Các định nghĩa trên đều nêu lên các nội dung chủ yếu mà đánh giá tác động môi trường phải thực hiện. Tuy nhiên ở đây cần thấy rõ là đánh giá tác động môi trường bao gồm đánh giá cả các tác động môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội, đánh giá các nguy cơ xảy ra các sự cố môi trường cũng như phân tích hiệu quả kinh tế môi trường của dự án.
1.3. Mục đích, ý nghĩa và đối tượng nghiên cứu của ĐTM ( Khóa luận: Sự phát triển công nghiệp hóa tác động đến môi trường )
1.3.1. Mục đích
- ĐTM cung cấp một quy trình xem xét tất cả các hoạt động có hại đến môi trường khi dự án được hoạt động.
- Cộng đồng có thể tham gia và đóng góp ý kiến của mình tới chủ dự án và cung cấp chính quyền để đưa ra phương án giải quyết có hiệu quả nhất.
- ĐTM còn xem xét lợi ích của bên đề xuất dự án, chính phủ và cộng đồng để lựa chọn dự án tốt hơn để thực hiện.
- Trong ĐTM phải xem xét đến khả năng thay thế như công nghệ, địa điểm đặt dự án phải xem xét hết sức cẩn thận.
- ĐTM chấp nhận sự phát thải ô nhiễm kể cả việc sử dụng không hợp lý tài nguyên, tức là chấp nhận phát triển kinh tế.
1.3.2. Ý nghĩa
- ĐTM là công cụ quản lý môi trường giúp đạt đến phát triển bền vững. Những hoạt động có hại cho môi trường hiện nay phải được quản lý càng chặt chẽ càng tốt. Trong một số trường hợp, các hoạt động đó tuy đã bị đình chỉ nhưng hậu quả môi trường do chúng để lại vẫn kéo dài hàng chục năm. Sẽ rất có lợi nếu những tác động tiêu cực đó được giải quyết sớm ngay từ giai đoạn quy hoạch.
- ĐTM đảm bảo hiệu quả cho sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
- ĐTM góp phần nâng cao trách nhiệm của các cấp quản lý của chủ dự án về việc bảo vệ môi trường.
- ĐTM khuyến khích công tác quy hoạch tốt hơn, giúp cho dự án hoạt động có hiệu quả hơn.
- ĐTM giúp chính phủ và các chủ dự án tiết kiệm được thời gian, tiền của trong thời hạn phát triển lâu dài.
- ĐTM giúp cho mối liên hệ giữa nhà nước, các cơ sở và cộng đồng thêm chặt chẽ thông qua ý kiến của quần chúng khi dự án được đầu tư và hoạt động.
1.3.3. Đối tượng
Không phải tất cả các dự án đều phải tiến hành ĐTM. Mỗi quốc gia, căn cứ vào những điều kiện cụ thể, loại dự án, quy mô dự án và khả năng gây tác động,… mà có quy định mức độ đánh giá với mỗi dự án. Đối tượng chính thường gặp và có số lượng nhiều nhất là các dự án phát triển cụ thể như sau:
- Một số bệnh viện lớn.
- Một số nhà máy công nghiệp.
- Công trình thủy lợi, thủy điện.
- Công trình xây dựng đường xá, …
Có thể bạn quan tâm:
1.4. Cơ sở pháp lý thực hiện ĐTM
1.4.1. Các luật và quy định có liên quan ( Khóa luận: Sự phát triển công nghiệp hóa tác động đến môi trường )
- Luật Bảo vệ môi trường 2005 được kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XI thông qua ngày 19/11/2005.
- Nghị định số 80/2006/NĐ – CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
- Nghị định 21/2008/NĐ – CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi và bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ – CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
- Thông tư số 05/2008/TT – BTNMT ngày 08/12/2008 của Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.
- Nghị định 29/2011/NĐ – CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.
- Thông tư số 26/2011/TT – BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 26/2011/NĐ-CP ngày 08/04/2011 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2008/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất.
- Thông tư số 29/2011/TT – BTNMT ngày 01/08/2011 của Bộ tài nguyên và Môi trường về việc quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước mặt lục địa.
1.4.2. Các tiêu chuẩn và các quy chuẩn môi trường Việt Nam
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
- QCVN 19:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ.
- QCVN 20:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với các chất hữu cơ.
- QCVN 05:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh
- QCVN 06:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung
- QCVN 26:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn.
- QCVN 27:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về độ rung.
- QCVN 40:2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp.
- QCVN 08:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt.
- QCVN 09:2008/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm.
- QCVN 14:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt
- TCVN 6705:2000 tiêu chuẩn này quy định về việc phân loại chất thải rắn không nguy hại, phục vụ cho việc quản lý chất thải một cách an toàn đối với con người và môi trường, hiệu quả và đúng với các quy định về quản lý chất thải đô thị do các cấp có thẩm quyền quy định.
- TCVN 6707:2009 thay thế cho TCVN 6707:2000 tiêu chuẩn này quy định hình dạng, kích thước, màu sắc và nội dung của dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa sử dụng trong quản lý chất thải nguy hại nhằm phòng tránh các tác động bất lợi của từng loại chất thải nguy hại đến con người và môi trường trong quá trình lưu trữ, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại.
- Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc “ Ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động”.
2.1. Đối tượng nghiên cứu ( Khóa luận: Sự phát triển công nghiệp hóa tác động đến môi trường )
2.1.1. Mô tả Dự án
- Tên Dự án: Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy chế biến Dioxyt Titan công suất 100.000 tấn/năm.
- Chủ Dự án: Công ty Cổ phần Khoáng sản An Khánh
- Vị trí địa lý của Dự án: Nhà máy chế biến dioxyt titan công suất 100.000 tấn/năm được xây dựng tại xã Phủ Lý, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, nằm trong vùng đồi cây bạch đàn và chè, cách đường nhựa liên xã khoảng 0,5km, cách Quốc lộ 3 khoảng 2,5 km. Địa hình khu vực rất thuận lợi cho việc đền bù san ủi và giải phóng mặt bằng cũng như vận chuyển nguyên nhiên liệu và sản phẩm. Diện tích khu vực Dự án là 27,65 ha.
Nội dung chủ yếu của Dự án
- Mục đích của Dự án: Công ty đầu tư xây dựng mở rộng Nhà máy chế biến dioxyt titan Cây Châm (đặt tại khu vực mỏ Cây Châm, xã Phủ Lý, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên) nhằm thu hồi tối đa nguồn tài nguyên titan có tại địa phương.
- Các lợi ích kinh tế – xã hội của Dự án: hiệu quả kinh tế của Dự án được đánh giá thông qua các chỉ tiêu:
+ Giá trị hiện thực (NPV): 1.022.652.291.000 đồng.
+ Hệ số hoàn vốn nội tại (IRR): 31,72%.
+ Thời gian hoàn vốn: 5,46 năm.
+ Tổng lợi nhuận ròng: 3.712.446.061.000 đồng.
– Mặt bằng tổng thể của Dự án:
+ Tổng diện tích đất chiếm: 27,65 ha
+ Tổng độ mặt bằng công trình nhà máy khoảng bao gồm các khu vực sau:
– Công nghệ sản xuất bao gồm: tuyển quặng và luyện dioxyt titan.
+ Tuyển quặng Titan bao gồm 3 giai đoạn chính: chuẩn bị nguyên liệu, nghiền, tuyển nổi (tuyển nổi sunfua và tuyển nổi Titan). Sơ đồ tuyển quặng titan được thể hiện theo sơ đồ 2.1, 2.2 và 2.3.
Mô tả công nghệ tuyển quặng của nhà máy Cây Châm: ( Khóa luận: Sự phát triển công nghiệp hóa tác động đến môi trường )
Công đoạn chuẩn bị nguyên liệu: quặng titan nguyên khai được khai thác ở moong vận chuyển về xưởng bằng ô tô tự đổ vào bunke đến sàng cấp liệu rung có khe sàng 100mm. Tách cấp < 100 mm, còn cấp > 100 mm thì được đưa vào máy đập hàm. Sản phẩm của máy đập hàm và cấp < 100 mm được tách ở sàng cấp liệu rung đưa vào máy đập côn. Sau khi qua đập côn sẽ đưa vào sàng rung tách cấp < 10 mm qua băng tải đưa sang phân xưởng nghiền. Còn sản phẩm có cấp > 10 mm thì được đưa qua băng tải quay trở lại đập côn, qua sàng rung chuyển đến phân xưởng nghiền nhờ băng tải.
Công đoạn nghiền: sản phẩm cấp < 10 mm được băng tải đổ vào bunke trung gian sau đó vào máy nghiền bi nhờ băng tải. Sản phẩm sau nghiền bi (có kích thước < 0,074 mm chiếm 50%) được đổ vào thùng bơm. Nhờ bơm bơm lên xyclon 1 cho ra 2 sản phẩm là cát của xyclon và bùn tràn xyclon, cát thì quay lại máy nghiền bi, bùn thải được đổ vào hồ bơm. Nhờ bơm lên xyclon 2, cát xyclon được nghiền lại bằng nghiền bi. Sản phẩm sau nghiền bi có cấp kích thước <0,074 mm chiếm 90% được đổ vào thùng bơm và được bơm lại xyclon 2. Sản phẩm bùn tràn của xyclon 2 này được đưa đi tuyển nổi sunfua.
Công đoạn tuyển nổi: quặng trước khi đưa vào tuyển nổi sunfua được cho vào thùng khuấy tiếp xúc kết hợp với nhiều loại thuốc tuyển. Cho ra hai sản phẩm là quặng tinh chứa sunfua được đưa vào bãi thải đặc biệt. Quặng đuôi của tuyển nổi sunfua được đưa vào máy tuyển nổi titan.
Quặng trước khi đưa tuyển nổi titan cũng được khuấy tiếp xúc với thuốc tuyển thông qua thùng khuấy tiếp xúc. Quặng tinh của tuyển nổi titan được nâng cao hàm lượng bằng 4 giai đoạn tuyển (tuyển tinh 1, tuyển tinh 2, tuyển tinh 3, tuyển tinh 4) được sản phẩm quặng tinh titan có hàm lượng titan 44%.
Sản phẩm quặng tinh titan cuối cùng được bơm vào bể cô đặc. Từ bể cô đặc sản phẩm cát được bơm lên máy lọc ép, còn sản phẩm quặng tinh titan được đưa sang kho chứa sản phẩm.
Mô tả sơ đồ công nghệ luyện TiO2:
Quặng tinh titan sau khi tuyển sẽ được cho trộn cùng với chất hoàn nguyên và chất phụ gia trong thùng trộn nguyên liệu. Sau đó được nạp vào lò điện hồ quang để nấu luyện thu được dioxyt titan thô và gang. dioxyt titan thô được gia công đập nghiền và tuyển từ tách sắt ra khỏi thành phẩm, dioxyt titan thành phẩm có hàm lượng titan > 75% được đóng bao đưa đi tiêu thụ. Còn dioxyt lẫn sắt sẽ được đưa vào lò luyện để luyện lại một lần nữa.
– Nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào và các chủng loại sản phẩm đầu ra của Dự án:
Nguyên liệu bao gồm: bentonit, quặng titan nguyên khai, than, gạch, cát, xi măng, sắt thép.
Nhiên liệu bao gồm: điện năng, xăng dầu, mỡ bôi trơn, than cốc.
Sản phẩm đầu ra bao gồm: dioxyt titan, gang, gang lẫn xỉ, than cháy.
Hạ tầng kỹ thuật của Dự án. ( Khóa luận: Sự phát triển công nghiệp hóa tác động đến môi trường )
– Hệ thống cấp điện:
+ Nguồn điện cung cấp cho nhà máy tuyển: là nguồn điện 35 kV được nối với điện lực Phú Lương cách nhà máy khoảng 1,2 km.
+ Nguồn điện cung cấp cho nhà máy luyện dùng hai cấp điện 35 kV và 110 KV.
+ Phụ tải điện: có hai nguồn điện. Sử dụng nguồn điện cho các thiết bị động lực là nguồn điện 380 V còn nguồn điện chiếu sáng là 220 V.
– Hệ thống cấp nước:
Nước công nghiệp cung cấp cho nhà xưởng gồm 2 nguồn nước:
+ Nước tuần hoàn: được lấy chủ yếu hồ chứa nước tuần hoàn bơm lên bể 1400 m3 của nhà máy.
+ Nước cấp mới: được bơm từ suối Đạo
– Nước sinh hoạt chủ yếu cung cấp cho khu vực nhà điều hành và nhà ở với số lượng cán bộ công nhân viên dự tính khoảng 204 người. Để đảm bảo lượng nước và chất lượng nước cung cấp nước sinh hoạt cho toàn bộ khu vực trên dự kiến sẽ xây dựng một trạm bơm và xử lý nước ngầm (giếng khoan).
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu ( Khóa luận: Sự phát triển công nghiệp hóa tác động đến môi trường )
2.1.2.1. Phương pháp khảo sát thực địa
- Nhằm xác định vị trí các điểm đo đạc, lấy mẫu các thông số môi trường phục vụ cho việc phân tích, đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường khu vực dự án.
- Phương pháp này được thực hiện trong tháng 7/2012 tại khu vực thực hiện dự án.
2.1.2.2. Các phương pháp sử dụng trong ĐTM
- Phương pháp ma trận
Phương pháp này người đánh giá lập các hoạt động của dự án và các nhân tố môi trường bị tác động thành một ma trận, sau đó đánh giá tác động của các hoạt động tới các nhân tố đó bằng cách cho điểm hoặc mức độ tác động. Đánh giá bằng phương pháp ma trận sẽ đưa ra hoạt động nào của dự án tác động nhiều đến môi trường nhất. Phương pháp ma trận đơn giản, dễ sử dụng, không đòi hỏi số liệu nhiều nhưng vẫn phân tích một cách rõ ràng các tác động của nhiều hoạt động dự án lên cùng một nhân tố môi trường. Tuy nhiên phương pháp này không phân biệt được tác động của các hoạt động dự án tới môi trường là lâu dài hay tạm thời.
- Phương pháp mô hình hóa ( Khóa luận: Sự phát triển công nghiệp hóa tác động đến môi trường )
Phương pháp mô hình hóa thực hiện liệt kê các hoạt động phát triển dự án và các nhân tố môi trường bị tác động. Xét mối quan hệ của các hoạt động phát triển và các nhân tố để lập thành mô hình toán. Dựa vào mối quan hệ đó tiến hành xử lý số liệu của bài toán đặt ra. Căn cứ vào kết quả định lượng đó đưa ra các dự báo ô nhiễm.
Phương pháp mô hình hiện nay đang được áp dụng để đánh giá sự lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường không khí, nước. Một số mô hình toán học được áp dụng để đánh giá sự lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường không khí như: mô hình Gauss, mô hình Sutton, …
- Phương pháp danh mục
Danh mục đơn giản: liệt kê các nhân tố môi trường tự nhiên như: nguồn nước, hiện trạng sử dụng nước, hiện trạng sử dụng đất, nguồn tài nguyên sinh vật, khí hậu khu vực. Liệt kê các nhân tố kinh tế xã hội và cơ sở hạ tầng nơi thực hiện dự án: dân cư, các ngành nghề, cơ cấu kinh tế của khu vực thực hiện dự án, tập quán sinh hoạt, truyền thống văn hóa, các công trình giao thông, cấp điện, nước, các công trình văn hóa, di tích của khu vực.
Danh mục mô tả: liệt kê các nhân tố môi trường bị tác động khi thực hiện dự án, cung cấp thông tin. Phương pháp này chưa làm rõ được tầm quan trọng của các tác động mà dự án gây nên.
Danh mục câu hỏi: phương pháp này đưa ra các hạng mục môi trường và sức khỏe của cộng đồng bị tác động khi phát triển dự án bằng phiếu phỏng vấn để người đánh giá (các nhà quản lý chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư, cán bộ khoa học kĩ thuật, các cơ quan quản lý môi trường khu vực thực hiện dự án) trả lời “có” hoặc “không”, chưa rõ hoặc không rõ, trả lời “trực tiếp” hoặc “gián tiếp”. Danh mục câu hỏi thường được dùng cho những người đánh giá còn thiếu kinh nghiệm.
Danh mục có ghi mức độ tác động đến từng nhân tố môi trường: tiến hành đánh giá tác động môi trường liệt kê các nhân tố môi trường cùng mức độ tác động khi dự án đi vào hoạt động gây
- Phương pháp đánh giá nhanh dựa vào hệ số và tải lượng ô nhiễm
Phương pháp này được sử dụng để ước tính tải lượng các chất ô nhiễm phát sinh khi triển khai xây dựng và thực hiện dự án. Dựa trên các hệ số ô nhiễm của WHO đưa ra, ta có thể tính toán được thải lượng ô nhiễm và nồng độ chất ô nhiễm phát thải tại nguồn đối với khí thải, nước thải, …
- Phương pháp điều tra xã hội
Được sử dụng trong quá trình điều tra các vấn về môi trường, kinh tế xã hội, lấy ý kiến tham vấn lãnh đạo Uỷ ban Nhân dân, Uỷ ban mặt trận Tổ quốc và cộng đồng dân cư xung quanh.
- Phương pháp ước lượng, dự đoán
Căn cứ vào các số liệu và tài liệu ĐTM, các tài liệu liên quan đến dự án để ước lượng và dự đoán tải lượng, tổng lượng phát thải từ dự án trong suốt quá trình hoạt động. ( Khóa luận: Sự phát triển công nghiệp hóa tác động đến môi trường )
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp hóa tác động môi trường

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
