Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn bởi tác giả hiểu biết rằng Thế kỉ XX ở Việt Nam là thế kỉ đầy biến động. Đây là thế kỉ nảy sinh nhiều cuộc cách mạng dẫn đến sự ra đời của một kỉ nguyên mới; nhiều cuộc canh tân xã hội, văn hóa và văn học. Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù. Văn học có liên quan với những hình thái ý thức xã hội khác, sinh thành từ cuộc sống, nhưng đồng thời cũng có những đặc trưng riêng, vì thế văn học còn tồn tại và phát triển theo những quy luật nội tại của nó và được triển khai trong bài Luận văn đề tài: Tìm hiểu yếu tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn mời các bạn tham khảo!
DẪN LUẬN
1. Lí do chọn đề tài:
Trong văn học Việt Nam thế kỉ XX, giai đoan 1930-1945 đánh dấu một bước phát triển cao trong quá trình hiện đại hóa. Đó là một bước nhảy vọt về chất, như nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã nhận định : “Ở nước ta, một năm đã có thể kể như 30 năm của người“[55; 1167]. Trên cuộc hành trình cách tân văn học đó, Tự lực văn đoàn thực sự là một hiện tượng nổi bật. Với những đóng góp của nó, văn học Việt Nam đã chững chạc bước vào thời kì hiện đại.
Từ cuối thế kỉ XX nhìn lại, chúng ta mạnh dạn thấy Tự lực văn đoàn là một văn đoàn chuyên nghiệp đầu tiên trong trong lịch sử văn học dân tộc. Ra đời và phát triển trong vòng mười năm, Tự lực văn đoàn đã tạo nên một tiếng vang, “để lại một dấu ấn không thể phai mờ“[29;85]. Tuy nhiên, đã hơn nửa thế kỉ trôi qua, “Tự lực văn đoàn vẫn chưa được đánh giá thật nghiêm túc, khách quan, khoa học“[29;85]. Mặt khác, khi nghiên cứu Tự lực văn đoàn, đa số các công trình thường tập trung vào những đóng góp về nghệ thuật, về thi pháp của nó. Còn về mặt nội dung tư tưởng, ít có chuyên luận nào đi sâu khẳng định những mặt tích cực của Tự lực văn đoàn, mà chủ yếu là nêu lên mặt hạn chế của nó (phần lớn là những hạn chế không tránh khỏi). Trong khi đó, hiện nay trong giới nghiên cứu văn học đang có xu hướng đánh giá lại bộ phận văn học lãng mạn vì đây là bộ phận văn học không thuần nhất.
Trước tình hình này, việc nghiên cứu, chứng minh một cách khách quan, chân xác những giá trị về nội dung tư tưởng của Tự lực văn đoàn, theo chúng tôi, là một điều hết sức cần thiết như lời nói của nhà lí luận Trường Chinh : “Việc uốn nắn lại những thái độ hẹp hòi, máy móc đối với những giá trị văn nghệ cũ không những có tác dụng sửa chữa những bất công đối với nhiều tác phẩm mà còn có tác dụng mở rộng con đường sáng tác cho văn nghệ hiện thời” [6; 241-242].
2. Giới hạn đề tài:
a/ Khách thể nghiên cứu:
Nói đến văn xuôi thường là nói đến truyện và kí. Do gặp khó khăn về tư liệu, chúng tôi chỉ khảo sát truyện. Truyện hiện đại bao gồm truyện vừa, truyện ngắn và tiểu thuyết. Đối với truyện Tự lực văn đoàn, các nhà nghiên cứu chỉ công nhận truyện ngắn và tiểu thuyết, không thấy ai dùng thuật ngữ truyện vừa. Dù vậy, trong quá trình làm luận văn, chúng tôi vẫn còn thiếu một số tác phẩm (tiểu thuyết Những ngày vui của Khái Hưng, truyện ngắn Đứa con của Thạch Lam…). Nói chung số tác phẩm chúng tôi có được vào sử dụng để nghiên cứu tương đương với bộ Tuyển tập văn chương Tự lực văn đoàn (3 tập) do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1999.
b/ Đối tượng nghiên cứu :
Với tên đề tài đã đưa ra, đối tượng của luận văn là yếu tố hiện thực có trong khách thể.
Đối tượng nghiên cứu dựa trên một kiến thức có liên quan đến những vấn đề lí thuyết lớn của lí luận văn học. Một cách căn bản, chúng tôi sử dụng những khái niệm, quan niệm tương đối ổn định của lí luận văn học hiện hành, để góp phần làm rõ một hiện tượng văn học sử. Chúng tôi hoàn toàn không tranh luận về lí thuyết, ở những chỗ cần thiết, chúng tôi có giới thuyết cách hiểu của mình về yếu tố hiện thực. Nói chung, xét về bản chất, đối tượng nghiên cứu là một hiện tượng văn học Việt Nam của giai đoạn 1930-1945.
3. Lịch sử vấn đề : ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Hệ thống những ý kiến bàn về nội dung hiện thực của Tự lực văn đoàn :
- Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai tháng 7 năm 1948, với cái nhìn biện chứng sắc sảo và trên quan điểm lịch sử, ông Trường Chinh đã nêu lên trong bản báo cáo của mình những ý kiến thấu tình đạt lí về Tự lực văn đoàn.”Sau cơn khủng bố trắng 1930-1931, một sự buồn rầu, u uất tràn ngập tâm hồn nhân dân Việt Nam. Văn chương lãng mạn của Tự lực văn đoàn đã ra đời. Giai cấp tư sản dân tộc không dám đấu tranh bằng chính trị và quân sự chống đế quốc nữa, bèn chuyển ra đấu tranh bằng văn hóa chống phong kiến quan liêu (các báo Phong hóa, Ngày nay, tủ sách Tự lực văn đoàn )…Dù sao, hoạt động của nhóm Tự lực cũng đã góp phần đẩy phong trào văn nghệ nước ta tiến lên một bước”[5; 54-55]. Trong ý kiến vừa dẫn ra, rõ ràng ông Trường Chinh đã gián tiếp công nhận tác phẩm Tự lực văn đoàn có giá trị hiện thực khi khẳng định vế “chuyển ra đấu tranh bằng văn hóa chống phong kiến quan liêu”, là mội tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa. Ý kiến này trở thành một định hướng quan trọng đối với những công trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn về Nói ý kiến của ông Trường Chinh là biện chứng là vì ông đã phát hiện và chỉ ra được cơ sở khách quan và chủ quan sự ra đời của Tự lực văn đoàn, đặc biệt là cơ sở khách quan. Chúng ta nhận ra trong lời văn của ông một sự cảm thông không chỉ đơn thuần về chính trị mà còn là một thái độ văn hóa.
- Năm 1957, gần muời năm kể từ Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai 1948, tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, ông Trường Chinh lại có bài phát biểu rất đáng được giới nghiên cứu văn học lưu tâm, suy nghĩ. Trong bài phát biểu có nhan đề “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc phong phú, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội”, ông lại nhấn mạnh
- .”Đối với trào lưu văn nghệ lãng mạn, chúng ta không nên mạt sát, vơ đũa cả nắm, mà cần đi vào phân tích những dòng tiến bộ trong những thời kì khác nhau. Trong khi phê bình thẳng thắn và đấu tranh không khoan nhượng với những khuynh hướng bi quan, hèn yếu của chủ nghĩa cá nhân trụy lạc hoặc khuynh hướng phản động dưới thời kì Nhật Pháp, trong khi chống lại sự bắt chước nghệ thuật tư bản suy đồi của Tây Âu, chúng ta cần hết sức cố gắng tìm hiểu (người viết luận văn gạch chân) [6; 241-242]. Chúng tôi nghĩ rằng ở Việt Nam, nói tới văn học lãng mạn trước cách mạng tháng Tám không thể không bao hàm tác phẩm Tự lực văn đoàn. Tư tưởng của ông Trường Chinh càng trở nên đáng quý khi chúng ta biết rằng động cơ của thái độ trân trọng của ông đối với văn học lãng mạn là “Cần nhận rõ rằng văn nghệ cách mạng của chúng ta là kẻ kế thừa tất cả những giá trị văn nghệ do các thời đại trước tạo ra và truyền lại cho đến ngày nay. Chúng ta có nhiệm vụ giữ gìn và phát triển tất cả di sản của dân tộc và cũng chỉ có chúng ta mới có thể làm nổi công việc đó…Việc uốn nắn lại những thái độ hẹp hòi, máy móc đối với những giá trị văn nghệ cũ không những có tác dụng sửa chữa những bất công đối với nhiều tác phẩm mà còn cố tác dụng mở rộng con đường sáng tác cho văn nghệ hiện thời”[6; 241- 242].
- Trong chuyên luận Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1968, Nguyễn Đức Đàn có đưa vào và phân tích tiểu thuyết Con trâu của nhà văn Trần Tiêu. Việc tác phẩm của một thành viên Tự lực văn đoàn được chọn và phân tích để chứng minh, biện giải cho những vấn đề về chủ nghĩa hiện thực Việt Nam không phải là không có vấn đề. Chúng tôi sẽ trở lại vân đê này sau. ơ đây, chúng tôi hết sức lưu ý đến các câu của Nguyên Đức Đàn như Con trâu là tác phẩm hiện thực phê phán, “thấy được cuộc sống quằn quại của người nông dân nghèo dưới ách tô tức của bọn địa chủ và trăm thứ tô tức hủ lậu”[22\ 12].
- Hà Minh Đức đã tiếp tục những ý tưởng thời trẻ của mình (đã nói ở mục 2-7 ) trong nghiên cứu về Tự lực văn đoàn. Bài “Khải luận” cho Tổng tập văn học Việt Nam, T 28A (Nxb Khoa học xã hội, 1984) của ông có đoạn :”Văn chương thoát li lãng mạn trong thời kì này (thời kì Mặt trận dân chủ – người làm luận án) có xu hưởng trở về với những vấn đề của đời sống. Các tác phẩm như Gia đình, Thừa tự, Thoát li của Khái Hưng đều có giá trị hiện thực như sự miêu tả từ bên trong, mặt trái, sự phân hóa, suy tàn của những gia đình phong kiến”[\A\ 7]. Ong đê cao Thạch Lam, ròi nêu lên hiện tượng ■.”Tinh trạng pha tạp không thuần nhất của dòng văn học này đòi hỏi sự lựa chọn và đánh giá trong quá trình tiếp nhận”[l4; 8].
- Là người trong cuộc, đã từng tham gia cách mạng, kháng chiến, cuối đời nhìn lại, Tú Mỡ bồi hồi nhớ và viết về tờ báo Phong hóa – tờ báo mà ông đã gắn bó thuở nào’.”…nó đáp ứng nhu cầu của trí thức, của bình dân; vạch mặt làm bia chế giễu những kẻ tai to mặt lớn, sống trên áp bức bóc lột dưới cúi luồn xu nịnh mà người bình dân căm ghét; nó tìm đến và tìm cách thực hiện một cuộc đời tươi sáng thay vào cuộc sống tối tăm, bùn lầy nước đọng…Nó không làm cách mạng nhưng nó làm công việc khai phá, dọn đất cho cách mạng gieo hạt sau này“[29; 134]. Đó là cái nhìn chân thành, biện chứng của một người trong cuộc đã được vũ trang thêm quan điểm Mác – Lê nin. Nói Tự lực văn đoàn “khai phá, dọn đất cho cách mạng sau này” là nói khả năng phản ánh hiện thực của nó. Mặt khác, cũng trong bài hồi kí này, trên quan điểm thực tiễn và phản ánh luận Marxist, Tú Mỡ hè lộ và khẳng định một nét tích cực trong cung cách quản lí của những người lãnh đạo Tự lực văn đoàn :”Mỗi tháng một lần, chứng tôi tổ chức những cuộc du lịch nho nhỏ…Mỗi lần đi ngao du như thế, ai cũng thu hoạch được cái gì mang về viết“[29; 137]. Có lẽ hoạt động này sau này được ta gọi là đi thực tế?
- Năm 1989, bộ tuyển tập Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội) được in, bạn đọc xa gần đón nhận nồng nhiệt. Trong lời giới thiệu cho tuyển tập, nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung nêu lên và phân tích những vấn đề văn học, học thuật rất đáng suy nghĩ, nhất là những vấn đề lâu nay chúng ta cứ đinh ninh là kinh điển, là bất di bất dịch. về tình hình vận dụng lí luận văn học Mác-xít của các nhà khoa học Việt Nam vào trong bối cảnh văn học đặc thù của nước mình, Nguyễn Hoành Khung đã nói rất có lí .”Cái tên gọi lãng mạn không thật thích hợp với khá nhiều tác giả, tác phẩm mà nó muốn thâu tóm, kể cả một số tác giả được coi là tiêu biểu…Những nhân tố hiện thực, nhân đạo vẫn có cơ sở trong chiều sâu tư tưởng nghệ thuật của nhiều nhà văn, nhà thơ lãng mạn, để thường thấp thoáng hiện ra trong tác phẩm, xen lẫn giữa những nhân tố tiêu cực”[33; 9]. Để giải thích điều này, ông đã viện dẫn cụ thể văn học 1930-1945, đó là giữa các dòng văn học “vẫn có những cơ sở thống nhất chung, nên thường có mối liên hệ qua lại, chịu ảnh hưởng của nhau, thâm nhập lẫn nhau tới mức khố phân biệt ranh giới giữa chúng“[33; 9], chưa kể “Các dòng đều có sự phân hóa và chúng giao lưu, thâm nhập lẫn nhau tới mức khó phân biệt“[33; 9]. vẫn nghiêm khắc chỉ ra và chứng minh những mặt tiêu cực của văn học lãng mạn, đồng thời Nguyễn Hoành Khung cũng đi đến khẳng định chắc nịch những đóng góp của bộ phận văn học này về mặt tái hiện thực tại đời sống dân tộc trước Cách mạng tháng Tám :” Nếu thiếu vắng những sáng tác của văn học lãng mạn, bức tranh về đời sống Việt Nam đương thời không phải không có những mảng, những mặt chưa đầy đủ“[33; 22].
- Năm 1990, trong không khí trăm hoa đua nở của đổi mới, Phan Cự Đệ đã có cái nhìn lại thoáng hơn, mới hơn về Tự lực văn đoàn. Khi viết cuốn Tự lực văn đoàn – con người và văn chương (Nxb Văn học, Hà Nội, 1995), ông đã coi công việc của mình là “nhìn nhận lại một hiện tượng văn học mà trước đây, do điều kiện lịch sử, việc đánh giá còn có chỗ khe khắt hoặc chưa toàn diện. Đó là những hiện tượng như Tự lực văn đoàn”[l0; 5]. Từ mục đích khoa học đó, Phan Cự Đệ đã khảng khái dành sự ưu ái cho Tự lực văn đoàn khi ông cho rằng nó có “tinh thần dân tộc, thái độ phê phán bọn địa chủ, phong kiến quan liêu bóc lột, sự cảm thông chân thành với những nỗi khổ của người dân quê sau lũy tre xanh“[10; 56-57]. Thừa nhận nội dung hiện thực của Tự lực văn đoàn, xét mức độ phản ánh của nó trên quan điểm lịch đại, ông Phan Cự Đệ đã nói lên những điều có lẽ chưa ai từng nói :”Tự lực văn đoàn chủ trương cải cách xã hội một cách hợp pháp, họ không đánh thẳng vào kẻ thù số một của dân tộc, tuy nhiên, lúc có điều kiện, họ củng đả kích một cách bóng gió, xa xôi bọn thực dân Pháp”[10; 57].
- Trong một chuyên luận về thơ (Thơ Mới – những bước thăng trầm, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1993), khi đưa ra những nhận định mới về Thơ Mới, tác giả Lê Đình Kị có liên hệ với văn xuôi lãng mạn về bản chất của tình hình đánh giá với những giá trị thực của nó. Từ thao tác so sánh văn học, nhà nghiên cứu Lê Đình Kị trình bày những gợi ý rất giá trị, như là một sự định hướng cho những chuyên luận về vấn đề này.”Với văn xuôi 1932-1945, do thành kiến sẵn có với bản thân chủ nghĩa lãng mạn, lại do một số tác giả thời kì này “có vấn đề chính trị” nên tiện nhất là vứt họ vào cái bị lãng mạn, mặc dù tác phẩm của họ hầu hết là viết về vấn đề mới cũ, vấn đề đại gia đình, mẹ chồng nàng dâu, dì ghẻ con chồng, môn đăng hộ đối, tranh giành thừa tự…là những chủ đề tự nó không liên quan, thậm chỉ đi ngược lại cảm hứng lãng mạn “[70; 59]. ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
- Khi nghiên cứu Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, ở phương diện bài Nho của nó, Trần Đình Hượu – trong sách Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (Nxb Văn hóa thông tin, 1995) – nhận xét.”Họ phủ nhận con người chức năng trong luân thường, con người sống với gia đình, với họ hàng, với làng xã, làm con hiếu, làm tối trung. Lúc đó con người mà họ đề cao chính là con người mới. Cuộc sống mà họ ca tụng là cuộc sống mới“[29; 46]. Từ đó, Trần Đình Hươu trân trọng nâng vấn đề lên .”Không phải là họ chỉ nói chuyện yêu đương chàng và nàng mà đặt ra cả những vấn đề của thực tế xã hội khá tiêu biểu. Chắc chắn họ không am hiểu việc làng bằng Ngô Tất Tố, không am hiểu phố huyện bằng Nguyễn Công Hoan, nhưng những vấn đề họ đặt ra không phải là vô can, vô bổ, không phải xa thực tế“[29; 48]. Như vậy, theo học giả Trần Đình Hươu, cái mới trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn không phải là một cái gì lạ lẫm, kì dị. Nó chính là bản thân quá trình hiện đại hóa xét trong địa hạt văn chương. Đó chính là sự trở dạ của một cuộc sinh thành, có đau đớn nhưng hứa hẹn một viễn cảnh huy hoàng, đẫy sức sống. Chính Trần Đình Hượu đã lí giải vấn đề này như sau :”Sự phát triển của thương nghiệp, của đô thị, của giao lưu văn hóa, sự truyền bá của văn hóa tư sản…làm thay đổi cuộc sống của vùng đất nông thôn rộng lớn là cả phương Đông lúc đó. Trong sự thay đổi như vậy, cái dân tộc cũng không phải là bất biến. Những quan hệ cũ, những giá trị cũ phải tự thay đổi để thích ứng với cuộc sống mới mà nét nổi bạt là tính đô thị”[29; 45]. Nói chung, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đề nghị nhìn Tự lực văn đoàn “trong sự phát triển liên tục của lịch sử, trong văn học dân tộc và trong quá trình hiện đại hóa của văn học phương đông“[29; 42]. Do đó, chúng tôi nghĩ rằng mọi ý đồ, phương cách xem Tự lực văn đoàn như một lát cắt, một ngoại lệ sẽ sa vào phi lịch sử, hư vô chủ nghĩa và chủ quan chủ nghĩa. Nhưng Trần Đình Hươu không nói tốt hết cho Tự lực văn đoàn. Bằng sự uyên bác, ông đã chỉ ra hạn chế của Tự lực văn đoàn là “Chủ trương cải tạo của họ lại nhìn từ góc độ giải phóng cá nhân , hay có hơn một chút là cải cách xã hội mà không thấy yêu cầu cách mạng chính trị kinh tế. Cho nên về sau họ đi theo khuynh hướng đạo đức tôn giáo kiểu Tôn-xtôi”[29; 48].
- Sau Thơ Mới – những bước thăng trầm, Lê Đình Kị có tổng hợp một quá trình nghiên cứu tâm huyết của mình về văn học lãng mạn Việt Nam trong cuốn vấn đề chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam (Nxb Giáo dục, 1998). Công trình này đã góp một tiếng nói quyết định trong việc tiến tới ổn định hóa việc nhận định văn học lãng mạn, nhất là Thơ Mới – một di sản vô giá của văn học dân tộc. về tình hình văn xuôi lãng mạn, Lê Đình Kị đã nói nhỏ nhẹ nhưng rất thấm thía : “Tự lực văn đoàn có tác phẩm hiện thực, mà tỉ lệ các tác phẩm hiện thực không phải nhỏ“[36; 166].
- Trong lần tái bản cuốn Lịch sử văn học Việt Nam 1900-1945 (Nxb Giáo dục, 1999), ở chương về Tự lực văn đoàn, Phan Cự Đệ đã bổ sung những ý tưởng khá Những ý tưởng này đã từng thấp thoáng trong cuốn Tự lực văn đoàn – con người và văn chương (Nxb Văn học, 1990). Chẳng hạn .”Tinh thần dân tộc, thái độ phê phán bọn địa chủ, phong kiến quan liêu bóc lột, sự cảm thông chân thành với những nỗi khổ cực của người dân quê được thể hiện trong những tác phẩm viết vào thời kì Mặt trận dân chủ“[l2; 539]. Trong tác phẩm nghệ thuật chân chính, nội dung và hình thức quan hệ với nhau như hai mặt của một tờ giấy. Vì vậy, Phan Cự Đệ đã nói về bút pháp Tự lực văn đoàn, thận trọng nhưng cũng không kém phẫn mạnh dạn, như sau :”Trong truyện và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, cũng có những nhân vật được xây dựng bằng một bút pháp hiện thực“[12; 550].
- Cuốn sách mới nhất có bàn về Tự lực văn đoàn là cuốn Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999). Trong cuốn sách này, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã trình bày một số nhận định khá sâu sắc về Tự lực văn đoàn : “Cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là cảm hứng lãng mạn, nhưng cũng có những tác phẩm viết theo cảm hứng hiện thực chủ nghĩa như Thoát li, Thừa tự của Khái Hưng chẳng hạn. Một số tác phẩm khác đã dựng nêu được những bức tranh hiện thực khá sắc sảo, bên cạnh những trang lãng mạn như Nửa chừng xuân của Khái Hưng, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng của Nhất Lam…“[49; 53].
3.2. Nhận xét – đề xuất:
Tất cả những công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã kể ra ở trên, chưa có một công trình nào đi sâu chuyên tâm nghiên cứu và khẳng định những yếu tố hiện thực trong văn xuôi Tự lực văn đoàn (không quá vài trang sách). Xuất phát từ một sự gợi ý mà cũng là một sự bỏ ngỏ của Nguyễn Hoành Khung “Nếu thiếu vắng những sáng tác của văn học lãng mạn, bức tranh về đời sống Việt Nam đương thời không phải không có những mảng, những mặt chưa đầy đw”[33; 22], chúng tồi sẽ tiếp thu những ý kiến, nhận định của những người đi trước, xây dựng một luận văn tập trung nghiên cứu yếu tố hiện thực trong văn xuôi Tự lực văn đoàn.
4. Mục đích nghiên cứu (đóng góp của luận văn): ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Khi khảo sát, phân tích yếu tố hiện thực trong văn xuôi Tự lực văn đoàn, chúng tôi sẽ chỉ ra những nét nào đó trên gương mặt cuộc sống đương thời hiện lên trong văn xuôi Tự lực văn đoàn, chỉ ra mức độ quan hệ giữa tác phẩm với hiện thực, giữa những tính cách được nhà văn xây dựng với hoàn cảnh. Đặc biệt, trong hoàn cảnh Việt Nam, phải chăng các nhà văn lãng mạn trong Tự lực văn đoàn không phải lúc nào cũng sáng tác với với bút pháp lãng mạn chủ nghĩa ?
Cuộc sống được nhìn qua lăng kính “của cái tôi” của Tự lực văn đoàn dù đậm hay nhạt vẫn phải là cuộc sống vì “cơ sở vật chất” của nó là cuộc sống thật. Hóa ra dùng phương pháp sáng tác nào đôi khi không phải là yếu tố quyết định vì cứu cánh của văn học nghệ thuật là sự thật cuộc sống được nói đến. Giá trị của nó có khi không chỉ ở mục đích chủ quan mà còn ở ý nghĩa khách quan của hình tượng tác phẩm. Luận văn này sẽ cố gắng đi tìm, phân tích những sự thật cuộc sống tức những yếu tố hiện thực có trong văn xuôi Tự lực văn đoàn.
5. Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp khái quát:
Một là phương pháp lịch sử. Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xem xét hiện tượng văn chương Tự lực văn đoàn từ hoàn cảnh xã hội – chính trị, từ trình độ, khả năng nhận thức và những biểu hiện của tinh thần dân tộc của các tầng lớp trí thức nói chung và các nhà văn đương thời nói riêng. Mặt khác, cần có cái nhìn lịch sử về vai trò của Tự lực văn đoàn trong qua trình phát triển của văn học, trong quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc.
Hai là phương pháp hệ thống. Bằng cách phát hiện tính lặp lại nhiều lần các yếu tố của sự miêu tả hiện thực cuộc sống để có một tập hợp các yếu tố đó, chúng tồi bước đầu đi đến khẳng định khuynh hướng hiện thực trong dòng văn học lãng mạn là một thực tế có thể chấp nhận được.
- Phương pháp cụ thể:
Chúng tôi vận dụng các thao tác so sánh – đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa.
Trước hết, chúng tôi tiến hành so sánh: so sánh các nhà văn Tự lực văn đoàn với những nhà văn hiện thực như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao…, tức những nhà văn cùng chuyên chú ở một đề tài về sự thức nhận cuộc sống, giải quyết vấn đề, phương pháp tái hiện hiện thực, để từ đó làm nổi bật ương tâm nghiên cứu là yếu tố hiện thực trong văn xuôi Tự lực văn đoàn.
Thứ hai, đã là nghiên cứu văn học thì không thể không phân tích vấn đề văn học, tác phẩm văn học. Trong một số trường hợp cụ thể, chúng tôi còn sử dụng những cách thức phân tích hình thức tác phẩm, nhằm chỉ ra cảm hứng tư tưởng của tác phẩm, thái độ của nhà văn đối với đối tượng được miêu tả, phản ánh.
6. Kết cấu của luận văn : ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Ngoài các phần dẫn luận và kết luận, luận văn còn có bốn chương :
Chương một : Có một khuynh hướng hiện thực trong Tự lực văn đoàn.
Chương hai: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến.
Chương ba : Hiện thực về con người – xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc.
Chương bốn : Hiện thực về cuộc sống của người trí thức tiểu tư sản.
Có thể bạn quan tâm:
CHƯƠNG 1: CÓ MỘT KHUYNH HƯỚNG HIỆN THỰC TRONG VĂN XUÔI TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
1.1. Tự lực văn đoàn về cơ bản là một văn phái thuộc về văn học lãng mạn :
1.1.1. Về phương pháp sáng tác lãng mạn và phương pháp sáng tác hiện thực:
1.1.1.1. Một vài thuật ngữ, khái niệm có liên quan :
Phương pháp sáng tác (hay phương pháp nghệ thuật) là “hệ thống những nguyên tắc tư tưởng – nghệ thuật chi phối toàn bộ quá trình hoạt động sáng tạo để xây dựng nên tác phẩm nghệ thuật mà trước hết là biến nội dung cuộc sống thành nội dung nghệ thuật và cùng với nội dung, chi phối sự tạo thành hình thức tác phẩm” [20; 177].
Nói đến nguyên tắc là nói đến tính nền tảng, có ý nghĩa tiền đề, xuất phát điểm và chỉ đạo. Tuy nhiên phương pháp sáng tác không phải là một hiện tượng có tính đơn nhất bởi vì nó “vừa là phương thức lĩnh hội và cải biến hiện thực thành hình tượng nghệ thuật, biểu hiện mối quan hệ thẩm mĩ của nhà văn đối với thế giới, vừa là phương thức thể hiện và khẳng định một lí tưởng thẩm mĩ nhất định mà nhà văn theo đuổi trong quá trình sáng tác. Phương pháp sáng tác bao giờ cũng chịu sự quỵ định của một thế giới quan nhất định và nảy sinh trong những điều kiện lịch sử nhất định” [20; 177-178].
Đó là một nhận định đúng đắn. Theo chúng tôi, nhận định trên đây xác định phương pháp sáng tác gồm ba thành tố như một nhà nghiên cứu Xô Viết từng nêu trong một cuốn sách lí luận văn học : “thực tại, thế giới quan của nhà văn và tư duy nghệ thuật của anh tá” [17; 333]. Như vậy chính mức độ có mặt của ba thành tố này và đặc điểm của mỗi thành tố đã làm cho hình tượng nghệ thuật không đứng yên.
Trong ba thành tố của phương pháp sáng tác, các nhà nghiên cứu vẫn thường chú ý hơn đến thành tố tư duy nghệ thuật vì thành tố này thể hiện “năng lực suy nghĩ bằng hình tượng, xây dựng cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm” [17; 333]. Thậm chí, khi tiến hành phân chia khuynh hướng, trào lưu, một số các nhà nghiên cứu ưu tiên lấy kiểu tư duy nghệ thuật làm tiêu chí số một. Sự bất cập của cách làm này là giản lược phương pháp sáng tác thành hình thức tái hiện cuộc sống. Bàn về vấn đề này, Gu-lai-ép nhận định.”Sự phát triển của văn học không thể hiện ở các kiểu tiến hóa của các kiểu tư duy nghệ thuật mà ở bề rộng và chiều sâu của sự phản ánh cuộc sống” [17; 338]. Vì thế, bất kì một sự tuyệt đôi hóa nào về tư duy nghệ thuật cũng có nguy cơ bỏ qua cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn. Chúng ta có thể xem trọng tư duy nghệ thuật nhưng cũng không nên xem nhẹ thế giới quan và các hình thức của hệ tư tưởng trong lịch sử. ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Tư duy nghệ thuật nếu được nhìn nhận, sử dụng như một nguyên tắc thì lúc ấy nó sẽ là cơ sở của kiểu sáng tác. Nhưng kiểu sáng tác khác với phương pháp sáng tác ở chỗ nó “không phải là nguyên tắc tư tưởng – nghệ thuật” [45; 479], không xem nội dung lí tưởng là tất cả mà chú tâm vào tỉ lệ “giữa lí tưởng và thực tại, chủ quan với khách quan trong sáng tác” [45; 479]. Có nghĩa cùng là nguyên tắc phản ánh nhưng kiểu sáng tác có biên độ nội hàm rộng hơn phương pháp sáng tác rất nhiều. Một kiểu sáng tác có thể hàm chứa trong nó nhiều phương pháp sáng tác khác nhau. Sự phát triển của văn học thế giới từng chứng kiến bao nhiêu phương pháp sáng tác sinh thành nhưng kiểu sáng tác vẫn quy về hai sự lựa chọn đối với người cầm bút để lập ngôn : chủ quan (lãng mạn) và khách quan (hiện thực). Mặt khác, do không dựa trên lí tưởng – nghệ thuật mà kiểu sáng tác không lệ thuộc vào cảm quan lịch sử của nhà văn như phương pháp sáng tác. Trong khi đó phương pháp sáng tác lệ thuộc vào thế giới quan, vào những hệ tư tưởng nhất định của những thời kì xã hội lịch sử khác nhau.
Sự khác nhau này giữa kiểu sáng tác và phương pháp sáng tác tất yếu dẫn đến một sự khác nhau ở cấp độ hệ thống : kiểu sáng tác chỉ mang tính loại hình, còn phương pháp sáng tác thì vừa mang tính loại hình (phương pháp chung) vừa mang tính loại biệt (phương pháp riêng). Các nhà văn cùng chọn một nguyên tắc miêu tả cuộc sống, đứng cùng nhau trong một trào lưu, thậm chí là một trường phái văn học, nhưng nếu xúc cảm khác nhau, quan hệ với hoàn cảnh khác nhau, có trình độ nhận thức nghệ thuật khác nhau thì có cách viết khác nhau (phương pháp riêng khác nhau).
Phương pháp sáng tác khác khuynh hướng sáng tác. Khuynh hướng sáng tác là một khái niệm rộng hơn phương pháp sáng tác. Khuynh hướng nói lên ý thức tư tưởng, sự nhận thức hiện thực để phản ánh (tái hiện, tái tạo). Phương pháp là một khuynh hướng có tính lịch sử, ra đời trong bối cảnh xã hội nhất định.
Trong luận văn này, chúng tôi dùng từ yếu tố (yếu tố hiện thực) để nói về một tập hợp các hiện tượng có tính hiện thực, thể hiện một thái độ, một chủ đích của sự phản ánh, tái tạo; nói cách khác, yếu tố là một khái niệm nhằm minh họa, chứng minh cho tính khuynh hướng.
1.1.1.2. Phương pháp sáng tác lãng mạn :
Cách hiểu chung nhất về chủ nghĩa lãng mạn cho đến nay là .”Một trong những trào lưu văn hóa lớn nhất ở Ấu – Mĩ vào cuối thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX, có ảnh hưởng và ý nghĩa lớn đối với sự phát triển văn học toàn thế giới “[20; 59].
Cách mạng tư sản Pháp 1789 đã mở ra trang mới trong cuốn biên niên sử của châu Âu. Với thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tư sản Pháp trước chế độ phong kiến già nua, tàn tạ, một hình thái kinh tế – xã hội mới được hình thành trên lục địa cổ kính: hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa. Xã hội châu Âu, theo đó, có một chế độ chính trị mới: chế độ tư sản. ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Cách mạng tư sản Pháp là một sự kiện hợp quy luật. Điều này đã được các nhà kinh điển phân tích, luận giải, chứng minh. Lòng mong mỏi của cả một lớp người đông đảo ở châu Âu từ rất lâu trước đó bây giờ đã thành hiện thực. Thiên tài Lenin đã nói :”Cả thế kĩ XIX diễn ra dưới khẩu hiệu của Cách mạng Pháp” [45; 510]. Đây chính là thành công bước đầu của Cách mạng Tư sản Pháp về chính trị, xã hội.
Về mặt tâm lí, ngay từ lúc vừa gióng trống mở cờ cho đến lúc ca khúc khải hoàn, Cách mạng tư sản Pháp đã gặp phải sự phản ứng dữ dội từ phía tầng lớp quý tộc phong kiến. Nguyên cớ của trạng thái tình cảm này không có gì khó hiểu, không cần phải bàn nhiều. Đó là sự thương tiếc khôn nguôi cái quá khứ vàng son nay đã phôi phai; chán chường trước thực tại xã hội tư sản phũ phàng và nỗi sợ hãi tương lai đen tối nằm ngoài ý muốn của họ. Nhưng không chỉ có giai cấp quý tộc phong kiến già cỗi mới có phản ứng với cách mạng tư sản Pháp 1789. Vì chẳng bao lâu sau kể từ ngày độc chiếm vũ đài chính trị châu Âu, cuộc cách mạng này cũng bị phản kháng bởi những người tư sản tiến bộ, nhất là những nhà văn, những người nghệ sĩ đương thời. Bao nhiêu lí tưởng, kì vọng cháy bỏng của nhân dân, của một bộ phận người tiến bộ đặt vào Cách mạng tư sản Pháp với những lời hứa hẹn đẹp đẽ bị tiêu vỡ. Họ bàng hoàng nhận ra những kì vọng của mình thực ra là những ảo vọng đáng thương. Tinh trạng ấy đã được Engels tóm lược rất hình ảnh như sau ‘.”Những cơ cấu mới tưởng ra hợp lí so với trước kìa, thì lại không hoàn toàn hợp lí. Phương châm cách mạng “bác ái” được thực hiện bằng những sự lừa bịp và đố kị trong cạnh tranh…Thay cho thanh kiếm, đồng tiền đã trở thành đòn bẩy quan trọng nhất của quyền lực xã hội” [45; 511].
Sự phản ứng hay phản kháng đối với cách mạng tư sản Pháp đã dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa lãng mạn về mĩ học, có thể nói chủ nghĩa lãng mạn là một khuynh hướng cảm hứng thẩm mĩ dựa trên sự khẳng định cái tôi cá nhân cá thể được giải phóng tình cảm và trí tưởng tượng. Khuynh hướng nghệ thuật này có các đặc điểm cơ bản sau :
- “Một cá nhân cô đơn xung đột với môi trường xung quanh, một khát vọng tự do cá nhân vô hạn tách biệt hoàn toàn với xã hội, dẫn tới sự thích thú với những tình cảm mạnh mẽ, những tương phản gay gắt, những vận động bí ẩn tối tăm của tâm hồn” [20; 59-60].
- “Vai trò to lớn của cái trực giác, vô thức” [20; 60].
- “Ý thức đầy đủ về vai trò của cá tính sáng tạo của nghệ sĩ đối lập với sự bắt chước tự nhiên của chủ nghĩa cổ điển” [20; 60].
Nhưng mặt khác, do cơ sở xã hội khác nhau nên chủ nghĩa lãng mạn không thuần nhất về nội dung xã hội – lịch sử cụ thể: lãng mạn tiêu cực (quý tộc và một vài tầng lớp tiểu tư sản, tiểu nông) và lãng mạn tích cực (tầng lớp tư sản dân chủ cấp tiến). Cùng phủ nhận thực tại xã hội nhưng nếu lãng mạn tiêu cực ngược về quá khứ, ẩn mình trong mộng ảo, tìm sự an ủi ít nhiều trong tôn giáo thì lãng mạn tích cực “tăng cường ý chí con người đối với cuộc sống, thức tỉnh lòng bất phục tùng đối với thực tại, đối với đè nén áp bức“[45; 519].
Như vậy, một trong những điểm khác nhau cơ bản giữa lãng mạn tiêu cực và lãng mạn tích cực là lãng mạn tiêu cực quay lưng lại thế cuộc, với cuộc đấu tranh của nhân dân, còn lãng mạn tích cực đi liền, phản ánh cuộc đấu tranh, hướng tới tương lai tươi đẹp (phần lớn là không tưởng).
Do gắn với cuộc đấu tranh nên các nhà văn lãng mạn tích cực chịu khó mở rộng đề tài, hướng đến nhân dân, quan tâm đến sự sống còn của cộng đồng. Chính điều này đã khiến cho lãng mạn tích cực gần gũi, và không ít trường hợp gặp gỡ với chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực phê phán. Cuối cùng là tuy cùng một tư trào văn học, cùng một phương pháp sáng tác nhưng do gắn lí tưởng với hiện thực xã hội mà bộ phận lãng mạn tích cực có lúc “xâm nhập” vào chủ nghĩa hiện thực. Sự giao thoa dù là hiếm hoi giữa hai phương pháp sáng tác đáng để chúng ta lưu ý, suy nghĩ khi ông hoàng lãng mạn V.Hugo trong Thư gửi Bô-đơ-le, có viết -.”Không bao giờ nghệ thuật vị nghệ thuật, bao giờ tôi cũng nói : nghệ thuật phục vụ cho tiến bộ “[45; 518].
1.1.1.3. Phương pháp sáng tác hiện thực: ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Văn học nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội. Dưới ánh sáng của phản ánh luận, giữa tác phẩm nghệ thuật và đời sống hoặc ít hoặc nhiều đều có mối quan hệ nhất định. Chỗ giao nhau giữa tác phẩm và hiện thực chính là sự thật đời sống được phản ánh trong tác phẩm của người nghệ sĩ. Nhưng phản ánh sự thật đời sống chưa phải là chủ nghĩa hiện thực.
Theo lí luận văn học Marx-Lênin, chủ nghĩa hiện thực là khái niệm được dùng để chỉ một phương pháp nghệ thuật, hay một khuynh hướng, một trào lưu văn học. Xét trong ý nghĩa chặt chẽ ấy, chủ nghĩa hiện thực được xác định trên một số các nguyên tắc mĩ học :
-“Mô tả cuộc sống bằng hình tượng tương ứng với bản chất những hiện tượng của chính cuộc sống và bằng điển hình hóa các sự kiện của thực tế đời sống “[20;54].
- “Thừa nhận sự tác động qua lại giữa con người và môi trường sống, giữa tính cách và hoàn cảnh, các hình tượng nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa hướng tới tái hiện chân thực các mối quan hệ khách quan của con người và hoàn toàn”[20;54-55].
- Cùng với sự điển hình hóa nghệ thuật, coi trọng những chi tiết cụ thể và độ chính xác của chúng trong việc mô tả con người và cuộc sống, coi trọng việc khách quan hóa những điều được mô tả, làm cho chúng “tự” nói lên tiếng nói của mình”[20;55].
Tác phẩm văn học là sự hòa kết nhuần nhụy, hữu cơ giữa nội dung và hình thức. Nội dung của tác phẩm là “hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn. Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tố khách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau”[20;166].
Nội dung của tác phẩm văn học là một hợp thể gồm các yếu tố có quan hệ qua lại và chi phối lẫn nhau như đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng chủ đạo.
Xét văn học trên cơ sở mối quan hệ giữa nội dung tác phẩm và hiện thực, chúng tôi quan niệm yếu tố hiện thực là một bộ phận cấu thành nội dung tác phẩm mà có tác dụng, ý nghĩa tái hiện một đời sống nào đó, làm nhớ đến một thực tại nào đó. Trong phần lớn trường hợp, dấu hiệu để nhận định yếu tố hiện thực là chi tiết nghệ thuật – “tiều tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tưtưởng”[20; 41].
1.1.2. Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam :
1.1.2.1. Xung quanh việc sử dụng khái niệm “văn học lãng mạn ” ở Việt Nam : ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Ở Việt Nam, vì nhiều lí do khác nhau, việc sử dụng thuật ngữ lãng mạn và hiện thực tỏ ra không nhất quán. Tùy lúc và tùy theo ý định giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó mà nhà nghiên cứu đặt hai khái niệm này vào những hệ thống tiêu chí phân loại khác nhau. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh là một trong những người sớm nhận ra vấn đề này : “Trong các sách văn học sử trước đây viết về giai đoạn ĩ930-ỉ945, người ta thường phân biệt ba dòng : lãng mạn chủ nghĩa (tiêu cực), hiện thực phê phán và cách mạng. Cách phân chia như vậy dĩ nhiên có căn cứ của nó, song chưa thật hợp lí” [44; 46]. Sau đó nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung nhấn mạnh thêm ‘.”Nhưng càng ngày, cái công thức “ba dòng” dành cho văn học Việt Nam 1930-1945 càng bộc lộ những hạn chế. Ngay cái tên gọi đã có điều không ổn” [33; 8].
Chúng tôi nói cách phân chia đó không nhất quán vì “nó cùng một lúc xáo trộn hai bình diện khác nhau của văn học : bình diện phương pháp sáng tác (lãng mạn và hiện thực), bình diện ý thức tư tưởng (cách mạng)” [44; 46].
Với cái nhìn của người ngày nay, chúng tôi thấy các khái niệm lãng mạn và hiện thực được nhìn nhận bởi hai cái nhìn khác nhau: cái nhìn của mĩ học và nghệ thuật, cái nhìn xã hội học. Nếu nhìn theo kiểu mĩ học, nghệ thuật thì lãng mạn là một khuynh hướng nghệ thuật, một phương pháp sáng tác. Trong khi đó, nếu nhìn bằng lăng kính xã hội học thì lãng mạn là tiêu cực. Xét tận lí của vấn đề, cái nhìn xã hội học dựa trên cơ sở hai dòng văn học cách mạng và hiện thực phê phán “đã trực tiếp nêu ra những vấn đề của cuộc đấu tranh cách mạng, đặt ra những vấn đề của cuộc sống” [33; 9]. Điều gì đã đưa đến cái nhìn xã hội học và đẩy nó lên thế thượng phong trong một thời gian dài ? Đó chính là hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài.
Giờ đây, cách nhìn như trên có nhiều chỗ không ổn, không thật phù hợp với thực tiễn sinh động của văn học Việt Nam 1930-1945. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh từng lưu ý .”Cho nên tuy hai xu hướng lãng mạn tiêu cực và hiện thực phê phán khác nhau về chất, củng không nên đối lập chúng với nhau một cách quá dứt khoát'” [44; 47]. Áp dụng cái nhìn tam phân không những vấp ở một trào lưu mà ngay ở một tác giả cũng gặp phải sự bất cập. Đánh giá văn phái Tự lực văn đoàn và từng thành viên của nó-cũng nằm trong tình hình này.
1.1.2.2. Sự xuất hiện văn học lãng mạn, văn học theo khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa ở Việt Nam:
Trong văn học Việt Nam, tính chất lãng mạn đã có từ cuối thế kỉ XIX “với thơ , văn, từ khúc của Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê, Dương Lâm, Đào Tấn”[49;35].
Đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa lãng mạn với tính cách là một phương pháp sáng tác mới thực sự xuất hiện. Sau này, “nhà lập pháp” của thơ mới là Hoài Thanh sẽ tôn vinh Tản Đà đã có công “dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đương sắp sửa” [66; 12]. Con người phong tình với cả cuộc đời ôm sầu, mộng trong ngất ngây men rượu dã chạm đến ngưỡng của chủ nghĩa lãng mạn. Kế đó là Hoàng Ngọc Phách với tiểu thuyết Tố Tâm và Tương Phố với thiên tùy bút trữ tình Giọt lệ thu. ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Nhưng chủ nghĩa lãng mạn là một trào lưu văn học thì mãi đến giai đoạn 1932-1945 mới hiện hình, với một lực lượng đông đảo xuất thân Tây học, với những đặc trưng tiêu biểu cho thuật ngữ này, trong đó cái tôi cá nhân cá thể – sản phẩm và là chủ thể của chủ nghĩa lãng mạn, như Hoài Thanh và Hoài Chân đã hăm hở, xúc động nói trong Thi nhân Việt Nam : “Ngày thứ nhất – ai biết đích ngày nào – chữ tôi xuất hiện trên thỉ đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngờ. Nó như lạc loài nơi đất khách. Bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này : quan niệm cá nhân” [66;50]
So với chủ nghĩa lãng mạn Pháp, chủ nghĩa lãng mạn ở Việt Nam ra đời muộn hơn một thế kỉ. Dù chịu ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp của văn hóa, văn học châu Âu, nhất là Pháp, nhưng chủ nghĩa lãng mạn Việt Nam không phải là bản sao của chủ nghĩa lãng mạn Pháp thế kỉ XIX. Nó có những đặc điểm của riêng nó mà chủ nghĩa lãng mạn Pháp không có.
Thứ nhất, do có độ lùi hơn một trăm năm, chủ nghĩa lãng mạn Việt Nam du nhập trong nó không chỉ chủ nghĩa lãng mạn Pháp như Sa-tô-bri-ăng, La- mác-tin, Huy-gô mà còn có cả sếch-xpia, Bai-rơn của Anh, và thậm chí cả tượng trưng như Bô-đơ-le, Véc-len, Rim-bô, ơt-sca Wai…Hiện tượng này đã làm cho chủ nghĩa lãng mạn Việt Nam phong phú, đa dạng về phong cách nghệ thuật.
Thứ hai, do ra dời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nên chủ nghĩa lãng mạn không thể hoàn toàn là thoát li, mơ mộng. Dù là tư sản hay tiểu tư sản, các nhà văn luôn ý thức, ở những chừng mực khác nhau, thân phận nô lệ của mình. Cho nên, giữa hai khả năng, hai sự chọn lựa là quay về quá vãng và chống lại thực tại dung tục, tầm thường để xây dựng một tương lai theo trí tưởng, các nhà văn lãng mạn phần lớn đã nghiêng về sự lựa chọn thứ hai. Kết quả là, trong văn học lãng mạn Việt Nam, tính chất tích cực tỏ ra lấn lướt tính chất tiêu cực, nhờ đó, nhiều tác phẩm lãng mạn đã nhiều lúc mở ra những địa hạt hiện thực sâu rộng. Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (tên một cuốn sách do nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1993), Hà Minh Đức đã tỏ ra công tâm trong đánh giá :”Thơ mới không chỉ nói đến cái tôi mà còn nói đến cái ta. Hình ảnh những người nghèo khổ bất hạnh, một ông đồ vất vả kiếm sống bằng ngòi bút, những người con gái giang hổ đớn đau với thân phận, những nông dân lao động nghèo khổ một nắng hai sương. Các nhà thơ đã tạo dựng được một số hình ảnh chân thực về họ với ngòi bút nhân đạo và tấm lòng thương cảm chân thành“.
Thứ ba, cũng do hoàn cảnh đặc thù Việt Nam, sự phân hóa các giai cấp, tầng lớp xã hội ở Việt Nam trước 1945 không rạch rồi, quyết liệt như ở các nước phương Tây. Chính sự nhập nhằng về cơ sở xã hội này đã kéo theo sự nhập nhằng, không dứt khoát giữa lãng mạn và hiện thực trong một số trường hợp : “Cớ những tác phẩm chứa đựng cả hai khuynh hướng cảm hứng, có nhà văn rất khó phân biệt là lãng mạn hay hiện thực” [49; 32].
1.1.2.3 Tự lực văn đoàn – một văn phái đi theo đi theo khuynh hướng lãng mạn: ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Như đã nói, từ 1932 trở đi, với chiến thắng của thơ mới, văn học lãng mạn Việt Nam hiện ra như một trào lưu với sự khoe sắc rực rỡ với bao nhiêu là nhóm sáng tác. Chỉ tính riêng ở Hà Thành đã có Hà Nội báo (Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Thái Can, Nguyễn Nhược Pháp), Tiểu thuyết thứ bảy (Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Leiba, Ngọc Giao, Thanh Châu), Phong hóa và Ngày nay của Tự lực văn đoàn, Tao Đàn (Nguyễn Tuân, Phạm Hầu, Lưu Kì Linh), Xuân thu nhã tập (Phạm Văn Hạnh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Xuân Sanh). Nhưng để được xem như một trường phái với những quan điểm được công bố với tính cách tuyên ngôn nghệ thuật thì chỉ có Tự lực văn đoàn.
1 Điều 1: Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoai nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích để làm giàu thêm văn sản trong nước. Điều 2: Soán hay dịch những sách có tư tưởng xã hội, chú ý làm cho người và cho xã hội ngày một hay hơn lên.
Năm 1930, trở về từ Pháp với những quan niệm mới mẻ mang màu sắc văn minh phương Tây và chịu ảnh hưởng của văn chương tiến bộ Pháp, Nguyễn Tường Tam háo hức lao vào công cuộc canh tân văn chương và xã hội. Trong con mắt của chàng thanh niên hai mươi lăm tuổi này, bầu không khí văn chương Việt Nam lúc bấy giờ cần phải được cải cách. Với nhiệt tâm ấy, vượt qua bao thử thách, năm 1932, tờ báo Phong hóa do Nguyễn Tường Tam chủ xướng đã trình làng. Nhưng tiếc thay, đây chỉ là một cuộc thử nghiệm bởi tờ báo không gây được ấn tượng gì mấy nơi độc giả. Họ Nguyễn nhanh chóng nhận ra tờ báo của mình sở dĩ không duy trì được chú ý của người đọc vì không đáp ứng khẩu vị của họ. Thế là ngày 22-9-1932, tờ Phong hóa số 14 ra mắt người đọc trên cơ sở tinh thần thời đại và đã được công chúng hoan nghênh hết mực. Đến ngày 2-3-1933, trên đà hứng khởi dào dạt ấy, Tự lực văn đoàn – văn đoàn đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam – chính thức, trang trọng tự giới thiệu mình với một bản tuyên ngôn ngắn1 (in trên tờ Phong hóa số 87).
Các thành viên trong buổi đầu khởi nghiệp gồm : Nguyễn Tường Tam ( có các bút danh Nhất Linh, Bảo Sơn-văn, Đông Sơn-vẽ, Tân Việt-thơ), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo, Tứ Ly), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam, Việt Sinh), Trần Khánh Giư (Khái Hưng, Nhị Linh), Nguyễn Thứ Lễ (Thế Lữ, Lê Ta), Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ), Nguyễn Gia Trí.
Trong bảy vị ấy, có ba vị họ Nguyễn Tường là ba anh em ruột. Ngoài ra, văn đoàn còn được cộng tác bởi Nguyễn Tường cẩm (anh ruột Nhất Linh), Nguyễn Tường Bách (em ruột Nhất Linh), họa sĩ Nguyễn Cát Tường, về sau, anh em còn kết nạp thêm Trần Tiêu (em ruột Trần Khánh Giư), Xuân Diệu.
Trong tình hình ấy, Phong Hóa trở thành cơ quan ngôn luận của văn đoàn. Năm 1936, Phong Hóa bị đóng cửa vì đã dám chế giễu những nhân vật mới trong triều đình Huế như Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng phò hoàng đế Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương sang Tây thông qua một câu chuyện theo kiểu thần thoại tân thời có nhan đề là Hậu Tây Du. Trước tình ấy, Tự lực văn đoàn đã dồn sức vào tờ Ngày nay (vốn tồn tại song song với Phong hóa).
Xét về cơ bản, Tự lực văn đoàn là một văn phái thuộc dòng văn học lãng mạn. Văn phái này ít nhiều mang trong nó những đặc trưng chủ yếu của chủ nghĩa lãng mạn như chủ nghĩa cá nhân, “ở nguyên tắc chủ quan của sự thể hiện, ở xu hướng thiên về mơ mộng, đặt ưu tiên vào tính lí tưởng, vào cảm xúc” [36; 14]. Chính đây là điểm phân biệt các nhà văn trong Tự lực văn đoàn với các nhà văn hiện thực phê phán như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, N guyên Hồng, Nam Caov.v…Có điều đây là sự phân biệt mang tính tương đối, chỉ là “xét về cơ bản” như đã nói. Cho đến nay, ý kiến của Ăng-ghen về hiện thực khai phát hiện, phân tích và chứng minh yếu tố hiện thực vẫn được xem là một định nghĩa chuẩn mực, cô đọng về vấn đề này: “Theo tôi, ngoài chi tiết chân thực, chủ nghĩa hiện thực còn đòi hỏi một sự tái hiện chân thực những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình” [46;383-384]. Định nghĩa này vạch ra một ranh giới tạm thời (trong hoàn cảnh Việt Nam) giữa chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực ở cấp độ tổng thể. Dù có tư biện đến mấy nhưng không ai có thể chứng minh được Hồn bướm mơ tiên, Tiêu Sơn tráng sĩ, Trống mái (Khái Hưng), Nắng thu (Nhất Linh), Ngày mới (Thạch Lam) v.v…là những tác phẩm được viết theo phương pháp hiện thực. ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Sống trong hoàn cảnh mưa Âu gió Mĩ, các nhà văn xứ ta chịu ảnh hưởng của bao nhiêu nguồn văn hóa, văn học. Sự tiếp biến các luồng tri thức nghệ thuật hiện hình trong những trước tác của các cây bút Việt Nam. Người Việt Nam từ lâu ít có thói quen lập thuyết. Chúng ta có quá ít những phát ngôn, tuyên ngôn để dựa vào đó mà rút ra đặc điểm của trường phái này, trào lưu nọ. Những điều ấy, nếu có, có thể tìm thấy trong những loại văn bản như lời nói đầu, lời tựa (Thạch Lam trong Gió đầu mùa, Xuân Diệu trong Phấn thông vàng..). Trong lời tựa tập Phấn thông vàng, chúng ta đọc được những quan niệm về nguyên tắc bay lượn nội cảm của văn học lãng mạn -.”Người viết văn đem ghi lại sự đã xảy ra, nhưng viết xong họ thấy rằng họ chỉ chép những âm điệu của lòng mình. Mà câu chuyện vẫn còn đó để làm vì để lấy cớ ỉ Câu chuyện cũng như một cái giá để áo, một cái giàn hoa…Kể gì cái truyện! Miễn là có những ý tưởng chảy thành tràng giang, những tình cảm chảy ra một bóng chiều đang ôm ấp một trái tỉm đang đập theo nhịp đời…Truyện ư ? Một ít truyện ở ngoài củng đủ gợi trăm truyện trong cõi sống bên trong. Tâm hồn người có biết bao nhiêu là truyện…Truyện chỉ là đời, mà đời phải nhường chỗ cho mơ, cái bên ngoài phải lùi lại sau nội tâm, sau nỗi lòng”.
Mơ mộng, lí tưởng và cảm xúc dựa trên một cái tôi mạnh mẽ, hầu hết các tác phẩm của Tự lực văn đoàn đều nằm trong nguyên tắc này. Tình yêu trong Tự lực văn đoàn phần lớn là tình yêu mơ mộng, lí tưởng. Ngay cả tình bạn, tình yêu chồng vợ trong một vài tác phẩm cũng có màu sắc khác thường. Hồn bướm mơ tiên thì đúng là một câu chuyện khó tin, ngay nhan đề đã toát lên chất mộng tưởng sương khói, phi thực tế. Tính chất lí tưởng và phương thức biểu hiện chủ quan đầy ấn tượng bộc lộ ở cách giải quyết vấn đề mang tính cải lương trong các tác phẩm như Con đường sáng của Hoàng Đạo, Gia đình của Khái Hưng, Hai vẻ đẹp của Nhất Linh…
Tuy vậy, lãng mạn trong Tự lực văn đoàn là thứ lãng mạn tích cực nhiều hơn là tiêu cực. Tự lực văn đoàn không hoàn toàn thoát li thực tại, không gieo rắc bi quan, chủ trương chìm đắm trong đau khổ, ve vuốt những thú đau thương mê man bệnh hoạn. Chừng mực nào đó Tự lực văn đoàn vươn về về phía xã hội, phản ánh những tình cảm lớn, những khát vọng về tương lai, về một số cuộc tranh đấu đang diễn ra trong lòng xã hội đương thời.
1.2 Khuynh hướng hiện thực trong văn xuôi Tự lực văn đoàn :
1.2.1. Hiện tượng không thuần nhất của văn học lãng mạn nói chung, của Tự lực văn đoàn nói riêng :
Văn học lãng mạn thuộc về kiểu sáng tác tái tạo. Đây là một nhận định thuần lí thuyết. Trong thực tế, tình hình rất phức tạp, khiến cho việc san định rạch ròi hai kiểu sáng tác tái hiện và tái tạo, nhiều khi, lâm vào thế nan giải. Hiện tượng này có nhiều nguyên nhân.
Thứ nhất, phương pháp sáng tác bao gồm trong nó thế giơí quan của nhà văn – những quan điểm chính trị – xã hội và vị trí của anh ta trong cuộc đấu tranh tư tưởng của thời đại. Vì thế, nếu một nhà văn lãng mạn “đứng trên quan điểm tư tưởng tiến bộ thì tính chủ quan của anh ta sẽ dẫn đến việc xây dựng những tác phẩm chân thực, nồng nhiệt” [17; 408]. Ngay như văn học lãng mạn Đức – bảo thủ và gần như tuyệt đối hóa chủ quan cá nhân là thế – cũng không thể làm ngơ trước sự hoành hành của đồng tiền tư bản. Truyện vừa Câu chuyện diệu kì của Pê-tơ Sle-min toát lên tính chất phê phán đồng tiền thông qua bi hài kịch bị mất bóng của nhân vật Pêtơ. ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Thứ hai, các kiểu tư duy hiện thực và lãng mạn chỉ là những ranh giới của nhận thức nghệ thuật, ơ cho này, một nhà nghiên cứu Xô Viêt đã có ý kiên khá lí thú : “Hầu như không thể gặp chúng dưới dạng thuần khiết tuyệt đối, bởi vì việc phân chìa chúng một cách cưỡng bức sẽ dẫn tới việc phá hủy hình tượng nghệ thuật (những hình thức khác nhau của chủ nghĩa hiện đại là một ví dụ). Ngay một nhà văn hiện thực khách quan nhất cũng không thể phản ánh thực tại một cách thờ ú lạnh lùng như một tấm gương, cũng như vậy, nhà văn lãng mạn chủ quan nhất cũng không thể trốn chạy hiện thực khách quan : nó vẫn xâm nhập vào tác phẩm của anh ta ở mức độ này hay khác “[ 17; 336-37].
Huy-gô – ông hoàng của chủ nghĩa lãng mạn – là một bằng chứng sinh động về sự xâm nhập lẫn nhau giữa tái hiện và tái tạo, hiện thực và lãng mạn. Trong tác phẩm của đại văn hào, tính hiện thực hiện lên rõ mồn một khi cuộc sống được mô tả như nó vốn có. ở chỗ khác, khi tác giả khắc họa khát vọng, mơ ước của con người thì độc giả nhận ra chất lãng mạn trong bút pháp của nhà văn. về bút pháp lãng mạn của nhà văn Huy-gố, thiết nghĩa đây là vấn đề không cần bàn và chứng minh. Kiệt tác Những người khốn khổ là sự thể hiện hiện tượng thống hợp giữa hiện thực và lãng mạn. Hình tượng tên tù khổ sai Giăng Van-giăng – thị trưởng Ma-đơ-len là sản phẩm của phương pháp lãng mạn, một hiện thân của chủ nghĩa xã hội không tưởng. Nhưng Phăng-tin, Co- det, Giăng Van- giăng nghèo khổ ăn trộm bánh mì. là bóng đêm của Pa-ri nói
riêng, nước Pháp nói chung lúc ấy ùa vào trong tiểu thuyết. Cuộc chiến đấu trên chiến lũy là gì nếu không phải là hồi quang của cuộc nổi dậy 1832 và cuộc cách mạng 1848.
Trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn đã gặp chủ nghía hiện thực trong sự mở rộng đề tài phản ánh. Và “trong nghệ thuật hiện thực luôn luôn có một dòng chảy lãng mạn chủ nghĩa ở mức độ này hay khác” [17; 411]. Đương nhiên văn học lãng mạn chảy qua văn học hiện thực phải là văn học lãng mạn tích cực. ở Anh, các tác phẩm của Xcốt, Bai-rơn, Se- li, Kitx chiếm Ưu thế trước văn học lãng mạn tiêu cực vì chúng “thể hiện quan điểm của giới trí thức dân chủ đấu tranh chống lại các thế lực phản động ở châu Âu” [50; 171]. Tình hình này cũng diễn ra trong văn học lãng mạn Mĩ. Mĩ là một vùng đất mới, năng động nhưng cũng rất ngổn ngang bởi cách mạng và nội chiến. Trong hoàn cảnh ấy, văn học lãng mạn Mĩ chĩa ngòi bút thẳng vào mâu thuẫn giai cấp, những mặt trái của một xã hội mà hiện tượng xã hội nào cũng gay gắt ở mức cao trào so với ở cựu lục địa châu Âu.
Chủ nghĩa lãng mạn đề cao tự do biểu hiện theo chủ quan những mong ước của con người trong xã hội tư bản. Nhưng mong ước chủ quan đó phải có lí do của nó, tức là có ngọn nguồn phát sinh từ trên cơ sở lịch sử – xã hội nào đó. Vậy thì mong ước cua nhân dân được biểu hiện ít nhiều có tính chất khách quan, làm cho tác phẩm lãng mạn – trong một số trường hợp – có giá trị “tài liệu của thời đại”, ở phương diện này, chúng tôi rất tâm đắc với một ý kiến của một nhà nghiên cứu Xô Viết ‘.”Người ta thường thấy nói rằng chủ nghĩa hiện thực là mức độ phát triển cao hơn trong sự phát triển văn học so với chủ nghĩa lãng mạn. Khó mà chống lại được quan điểm này…Tuy thể, có những phạm vi nhất định của đời sống mà trong việc mô tả chúng, chủ nghĩa lãng mạn đạt nghệ thuật lớn lao hơn chủ nghĩa hiện thực. Nếu không như vậy thì chính sự tồn tại của nó sẽ là hoàn toàn không cần thiết và vô lí” [17; 417].
1.2.2. Yếu tố hiện thực, khuynh hướng hiện thực trong văn xuôi Tự lực văn đoàn ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
1.2.2.1. Từ tôn chỉ được đề ra trong tuyên ngôn :
Trong tôn chỉ 10 điều của Tự lực văn đoàn, từ “bình dân” được nhắc tới 5 lần như một sự nhấn mạnh khuynh hướng sáng tác của văn phái này. Bình dân, theo chúng tôi hiểu, trước hết là đề tài, là đối tượng miêu tả, nghiêng về phía tầng lớp nghèo khổ. Đồng thời, bình dân cũng là tư tưởng, cảm xúc của người nghệ sĩ. Bên cạnh đó, “tính cách An Nam” ngoài thái độ đối lập với hạng trí thức nịnh Tây, còn thể hiện một ý tưởng hướng về cội nguồn dân tộc; hơn nữa tính dân tộc còn gợi đến một nét đặc trứng của chủ nghĩa hiện thực. Mặt khác, xét trong mối tương quan giữa các điều trong tôn chỉ, chính “tính cách An Nam” và “tích cách bình dân” đã hợp sức với nhau đối kháng lại “tính cách trưởng giả”. Đi từ tôn chỉ, cương lĩnh đến thực tiễn sáng tác là một khoảng cách đầy thử thách mà sự tuyệt đối có khi là không tưởng. Đề cập một hiện tượng thực tế này, chúng tôi không có ý muốn bênh vực cho Tự lực văn đoàn, mà chủ yếu là góp phần đề xuất một thái độ cảm thông, gạn đục khơi trong vốn rất cần trong đời sống văn học nghệ thuật.
Không phải một trường phái văn học nghệ thuật nào cũng có tuyên ngôn và cũng không phải trường phái nào khi có tuyên ngôn là thực hành sáng tác đúng theo tuyên ngôn. Nhưng với Tự lực văn đoàn, có thể xem xét “lời nói và việc làm” – từ tuyên ngôn đến thực tế sáng tác – đã có một sự nhất quán. Hơn nữa có thể thấy trong tuyên ngôn của Tự lực văn đoàn có những ý tưởng, khái niệm thuộc chủ nghĩa lãng mạn tích cực, rất gần với chủ nghĩa hiện thực.
Đó là sự quan tâm đến bình dân, chủ nghĩa bình dân. Bình dân, lúc bấy giờ, chính là nông dân, dân quê, thợ thuyền, dân nghèo thành thị. Văn học hiện thực phê phán quan tâm hết mực đến những đối tượng này.
“Tính cách An Nam”, “làm giàu văn sản trong nước” là những ý tưởng mà ngay nay chúng ta gọi là tinh thần dân tộc, bản sắc dân tộc, tính dân tộc.
Đề cao tính cách An Nam nhưng không bài Tây chung chung, Tự lực văn đoàn ứng dụng “phương pháp khoa học thái Tây”.
Như vậy, bình dân, tính cách An Nam và phương pháp khoa học phần nào tinh thần ” dân tộc, khoa học, đại chúng” mà bản Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 của Đảng đã đề ra. Hồi đầu những năm 30 mà Tự lực văn đoàn nêu lên những ý tưởng như trên thật đáng quý, đáng trân trọng.
1.2.2.2 Từ tôn chỉ đến thực tế sáng tác :
Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, mục “Chủ nghĩa lãng mạn”, có đoạn viết ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
:” Đối với từng tác phẩm cụ thể và đôi khỉ cả từng tác giả, việc tách bạch thành hai khuynh hướng như trên là không đơn giản” [20; 60]. Ở cuối mục này, các tác giả nêu nhận định :”ở ta đang có một sự đánh giá lại những thành tựu và những hạn chế của văn học lãng mạn 1930-1945 một cách khách quan hơn” [20; 60-61].
Từ mười điều trong tôn chỉ đã trình bày trên đây, nhất là các điều 2,5,8,9, có thể thấy văn chương Tự lực văn đoàn là thứ văn chương tranh đấu, có chú trọng nội dung-tư tưởng tác phẩm, tái hiện đời sống chứ không chỉ “tái tạo” thuần túy theo phương pháp lãng mạn chủ nghĩa. Chính Thạch Lam (với bút danh Việt Sinh) đã có lần làm rõ thêm như sau trên tờ Phong Hóa .”Đọc một quyển truyện, một tờ báo đầy những lời dạy bảo về tam cương ngũ thường thì đọc ngay một cuốn luân lí cho xong. Người ta đã chán những văn chương như thế. Người ta ham mê những truyện chỉ cốt tả sự thật, không giảng luân lí, không dạy ai gì hết…Một quyển truyện, một tờ báo muốn cho người ta ham đọc cần phải làm cho người ta vui hoặc người ta cảm động, mà muốn cho người ta cảm động thì cần phải giống sự thật”[29;2l].
Tự lực văn đoàn có đăng truyện trinh thám nhưng không bao giờ chấp nhận tiểu thuyết kiếm hiệp và truyện thần kì. Với sự xuất hiện của Tự lực văn đoàn, thứ thơ văn khóc lóc sướt mướt, nỉ non, réo rắt không còn nữa.
Chủ nghĩa hiện thực khác chủ nghĩa lãng mạn cơ bản về chất : phương pháp sáng tác. Nhưng chủ nghĩa hiện thực không phải là một biệt phái, một sự đoạn tuyệt với nghệ thuật quá khứ, nghệ thuật đương thời. về thi pháp, có sự gần gũi nhất định giữa chủ nghĩa hiện thực với bộ phận chủ nghĩa lãng mạn tích cực. Cụ thể, chủ nghĩa hiện thực kế thừa có đổi mới thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn. “Cớ lúc cả hai cùng đứng trên một trận tuyến chống lại tàn dư của chủ nghĩa cổ điển đương thờr[45;53]. Đó là sự mở rộng đề tài.
Đề tài là “các loại hiện tượng đời sống được miêu tả, phần ánh trực tiếp trong sáng tác văn học”[45; 78]. Nó là một trong những phương diện mang tính khách quan của nội dung tác phẩm
Trong văn học Việt Nam 1930-1945, có một số đề tài mà ở đó chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn cùng “thâm canh”. Tuy không cạnh tranh nổi với văn học hiện thực phê phán trong việc “tái hiện tính cách điển hình trong hoàn cảnh điền hình” (Ăng-ghen) nhưng văn học lãng mạn cũng đã xây dựng những chi tiết chân thực. Đó là “những cái có thực hoặc có thể có thực” [45; 539] về thiên nhiên, xã hội và con người. Chi tiết chân thực là một cấp độ mà người ta thường dựa vào đó để đánh giá tính chân thực của tác phẩm vì nó “đóng vai trò vật liệu xây dựng, làm tiền đề cho cốt truyện phát triển thuận lợi “[45; 42].
Chúng tôi xem chương một là cơ sở của toàn bộ vấn đề. Với những nội dung đã xác lập ở chương này, ở những chương sau, chúng tôi sẽ tiên hành triến khai phát hiện, phân tích và chứng minh yếu tố hiện thực có trong văn xuôi Tự lực văn đoàn. ( Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn )
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
