Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến

Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến bởi tác giả hiểu biết rằng Thế kỉ XX ở Việt Nam là thế kỉ đầy biến động. Đây là thế kỉ nảy sinh nhiều cuộc cách mạng dẫn đến sự ra đời của một kỉ nguyên mới; nhiều cuộc canh tân xã hội, văn hóa và văn học. Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù. Văn học có liên quan với những hình thái ý thức xã hội khác, sinh thành từ cuộc sống, nhưng đồng thời cũng có những đặc trưng riêng, vì thế văn học còn tồn tại và phát triển theo những quy luật nội tại của nó và được triển khai trong bài Luận văn đề tài: Tìm hiểu yếu tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn mời các bạn tham khảo!

2.1. HIỆN THỰC VỀ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG LỄ GIÁO PHONG KIẾN

Mục đích và nội dung cuộc tranh đấu này đã được nêu lên rõ ràng trong tôn chỉ, ở điều 2 và điều 8. Nói cách khác, tôn chỉ của Tự lực văn đoàn là những lời tuyên chiến thực sự với đạo Khổng.

Cuộc chiến đấu gian nan nhưng rất vẻ vang này gắn liền với sự ra đời của cái tôi cá nhân cá thể. Không chỉ vì sau cơn khủng bố trắng của thực Pháp và Tự lực văn đoàn né tránh vấn đề đấu tranh dân tộc mà chuyển sang tập trung chống phong kiến mà sự thực cuộc đấu tranh phản phong này phản ánh một nhu cầu có thực của cái tôi cá nhân cá thể đang muốn khẳng định vị thế của mình trong đời sống của một nước thuộc địa.

Thật ra, cái tôi đã từng cựa mình trong văn học Việt Nam từ các thế kỉ trước, nhất là thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX với Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều, Phan Trần, Sơ kính tân trang, thơ Hồ Xuân Hương…Nhưng hoàn cảnh lịch sử sau đó đã đẩy cái tôi ấy chìm xuống sâu hơn những vấn đề khác trong dòng biến thiên thế cuộc, trong đó vận mệnh dân tộc là mối quan tâm ưu tiên số một.

Đầu thế kỉ XX, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được thiết lập trên xử sở này. Trong bối cảnh ấy, giai cấp tư sản, tiểu tư sản bản địa hình thành cùng với sự phát triển nhanh chóng của đô thị. Bên cạnh đó, văn hóa phương Tây và văn minh công nghiệp “đổ bộ” ồ ạt vào Việt Nam, đội ngũ Tây học ngày càng lấn lướt những người cựu học. Cuối cùng, bất chấp tình cảnh của một nước thực dân nửa phong kiến, cái tôi cá nhân cá thể xuất hiện trên toàn cảnh văn hóa Việt Nam mà trước hết là trong văn chương.

Cuộc giao tranh cũ – mới một mất một còn đã ùa vào trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Trong Nửa chừng xuân, khi bà Án lên Phú Thọ để giành bắt đứa

cháu nội mà bà đã từng đang tâm từ chối khi cháu còn nằm trong bụng mẹ, thầy giáo Huy – cậu của cháu Ái – nói thẳng với bà “…cụ tức là cái biểu hiệnTtức là một đại diện cho nền luân lí cũ. Mà tâm trí chúng cháu đã trót nhiễm những tư tưởng mới. Hiểu nhau khó lắm, thưa cụ. Cụ với bọn hậu sinh chúng cháu như hai con sông cùng như một nguồn, cùng chảy ra bể nhưng mỗi đằng chảy theo một phía dốc bên sườn núi, gặp nhau sao được”.

Hồng trong Thoát li của Khái Hưng sinh ra trong một gia đình quan lại nhưng ở thôn quê (trong truyện là thị trấn Ninh Giang). Một lần ra thăm chị lấy chồng ở Hà Nội, Hồng cạo răng trắng như những thiếu nữ tân thời vẫn làm. Lập tức, cô phải trả giá khá đắt cho hành vi làm đẹp ấy. Khi vừa từ Hà Nội về nhà, Hồng bị đứa em khác mẹ phản đối : “Mẹ ơi, chị Hồng chị ấy cạo răng trắng như vợ Tây ấy”. Còn ông phán – cha Hồng – thay mặt nền mĩ học từ ngàn năm, kết án nghiệt ngã:”Thế thì giỏi thực! Thế thì mày giỏi thực!…Mày cạo răng để làm gì, hử con kia ?…Để đánh đĩ, phải không ? Ngữ này hỏng !…Nó đến làm điếm nhục gia phong mất thôi“.

Rõ ràng, tầng lớp tân học và tầng lớp cựu học quá khác xa nhau về cách cảm, cách nghĩ đẫn đến đối nghịch trong cách sống thường nhật. Những người tân học sinh ra ở đô thị xung đột mà ngay cả những người sinh trưởng ở nông thôn cũng không tìm thấy một chút cảm thông, tương giao nào với nếp nghĩ cổ truyền.

2.2. Đấu tranh cho sự lựa chọn tình yêu và hôn nhân : ( Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến )

Nói đến hạnh phúc cá nhân phần nào là nói đến sự lựa chọn tình yêu và hôn nhân. Thật ra hạnh phúc cá nhân là vấn đề rộng hơn tình yêu và hôn nhân nhiều, cụ thể là ngoài hai phương diện trên, nó còn hàm chứa những phương diện khác nữa. Ở phần sau, chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát, phân tích những phương diện này.

Nho giáo vào Việt Nam từ đầu Công nguyên nhưng rất lâu sau đó mới có chỗ đứng thực sự. Trong cuộc hành trình vào Việt Nam “tuyển mộ môn đồ“, bản thân Nho giáo bị bản địa hóa ít nhiều. Trên nền tảng bản lĩnh dân tộc, nguwoif Việt Nam đã biến đổi Nho giáo cho phù hợp với hoàn cảnh của mình. Tuy nhiên, nhìn chung, nhà nước phong kiến vãn khai thác từ Nho giáo những yếu tố có lợi cho sự tổ chức và quản lí bộ máy thống trị. Cho nên, dù là Nho giáo nguyên thủy (Khổng – Mạnh) hay Hán Nho, Đường Nho, Tống Nho,v.v … thì không có học thuyết nào trong số đó là học thuyết về tự do cá nhân cả. Nó luôn luôn là những khuôn thước để người ta dựa vào đó xây dựng nên những thiết chế xã hội mà mỗi cá nhân có phận sự và trách nhiệm phải tuân theo.

Trong “từ điển nhà Nho” tuyệt nhiên không có từ tình yêu. Dưới gầm trời phong kiến, những người làm con không có quyền lựa chọn tình yêu và tự do xây dựng hôn nhân. Quyền ấy thuộc về những bậc sinh thành. Gia pháp Nho giáo vào Việt Nam được người bản địa tiếp nhận. Sự hợp lưu này đã cho ta những câu luân thường mang màu sắc Việt Nam như “Ao mặc sao qua khỏi đầu”, “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó“. Công cuộc chống lễ giáo phong kiến oan nghiệt đó đã từng xảy ra trong văn học quá khứ như Truyện Kiều, Phan Trần, Sơ kính tân trang, thơ Nôm Hồ Xuân Hương…Thập niên hai mươi của thế kỉ này, Hoàng Ngọc Phách đã cho ra đời tiểu thuyết Tố Tâm, nhưng cuộc chống chọi yếu ớt của đôi bạn trẻ ngây thơ Tố Tâm và Đạm Thủy trong tác phẩm đã kết thúc bằng tang thương và nước mắt. Cuộc chiến vẫn còn đang tiếp diễn thì năm 1934, Nhất Linh đã góp phần lên án và tống tiễn giao lí phong kiến bằng một tác phẩm luận đề xuất sắc : Đoạn tuyệt. Xét trên diễn trình chống lễ giáo, Đoạn tuyệt là sự kế tục công cuộc mà Tố Tâm đang bỏ dở từ năm 1922. Nhưng với thắng lợi vẻ vang của mình, Đoạn tuyệt đã thuyết phục được cả nhà phê bình khó tính nhất là Trương Tửu.

Trên báo Loa, số ra ngày 3 tháng 8 năm 1935, Trương Tửu đã hào hứng khen ngợi : “Đoạn tuyệt là một vòng hoa tráng lệ đặt trên đẩu chủ nghĩa cá nhân. Tác giả có đường hoàng công nhận sự tiến bộ và hăng hái tín ngưỡng tương lai. Ông giúp bạn trẻ vững lòng phấn đấu, nghĩa là vui mà sống“[29; 179].

Như vậy, với Đoạn tuyệt, chủ nghĩa cá nhân được thăng hoa. Lần đầu tiên, trong văn học Việt Nam, một nhân vật nữ đã đàng hoàng bước ra vũ đài xã hội và lớn tiếng trình bày tư tưởng của giới mình.”Tôi nói cốt để chị em gái mới đến đây nghe, biết rằng nếu các chị em muốn được hưởng hạnh phúc với chồng con, thì điều trước nhất, các chị em phải tìm cách sống một đời riêng, một đời tự lập, tránh sự chung sống với bố mẹ, họ hàng nhà chồng và nhất là có vượt hẳn ra ngoài quyền của cha mẹ chồng thì mới mong gia đình được hòa thuận

Đoạn tuyệt mở đầu bằng tình tiết các nhân vật Lâm, Thảo, Loan đọc trên báo cái tin một cô Minh Nguyệt nào đó tự tử vì không sống nổi với mẹ chồng. Loan tỏ ra phẫn nộ trước cái tin ấy nhưng cô đâu có ngờ rồi cô cũng phải bước vào con đường tăm tối ấy vì cô đàng sống trong cái xã hội mà “lấy chồng là lấy cả gia đình nhà chồng“. ( Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến )

Loan là một cô gái tân học, tính tình thẳng thắn, cởi mỡ, sống chan hòa và thân ái với mọi người. Trong gia đình, Loan là một đứa con ngoan; với bạn bè, cô được mọi người yêu thương, tôn trọng. Vì hoàn cảnh riêng tư, Loan chơi thân với Dũng và “càng ngày càng thấy cái tình của mình đối với Dũng không phải chỉ là cái tình bè bạn như trước kia. Nàng yêu Dũng và cái hi vọng của nàng lúc đó là được làm vợ Đũng”. Nhưng mơ ước của Loan khi va vào thực tế phũ phàng đã vỡ tan đến thảm hại. Cha mẹ nàng vì món nợ ba nghìn bạc mà đành gả cô cho Thân – con trai bà phán Lợi. Là người có học và có tư tưởng tự do, Loan không khỏi day dứt, dằn vặt vì điều đó. Sự phản kháng đầu tiên trỗi dậy với ý nghĩ “Sao nhà trai đến hỏi mà thầy me lại không bảo mình lấy nửa câu. Thế thì mình có hay không có ở cái nhà này, mình lấy chồng hay ai lấy chồng?” Khi Loan thưa với bố mẹ suy nghĩ chân thành của mình về tự do hôn nhân của mình, cô bị mắng là “văn minh”, “cãi cả bố mẹ”, “hỗn”.

Cuối cùng, vì thương bố mẹ, Loan đành chấp nhận cuộc hôn nhân là thực chất là một sự ép uổng. Chồng nàng là một người đàn ông bạc nhược, nhạt nhẽo, nói chung là không ra hồn. Ngay về nhà chồng, Loan thẫn thờ nghe tiếng pháo nổ mà tâm hồn rạn vỡ. Không ai biết tiếng cười của Loan trong ngày cưới là “tiếng cười đưa nàng dâu đến một cảnh đời chết”. Và phòng ngủ sang trọng phảng phất cảnh bồng lai nơi nhà chồng đêm tân hôn là “nơi chôn cái đời ngây thơ, trong sạch của nàng”.

Từ ấy, Loan phải sống trong một gia đình mà mọi người từ cha mẹ chồng, em chồng, ngay cả chồng – dù không tình yêu vẫn là người đầu ấp tay gối- luôn luôn muốn làm cho nàng khổ. Đấy là bổn phận chăng, cho dù là bổn phận cay nghiệt ? Loan đã sáng suốt nhận ra đó ” chỉ là sự bó buộc gây nên bởi tập quán nó làm cho mọi người quanh quẩn quấy rầy nhau mà không có kết quả gì tốt”. Dầu vậy, vốn là người phúc hậu và giàu sức chịu đựng, Loan cố gắng vượt qua thời làm vợ, làm dâu “khô khan rỗng không tình ái”. Loan thảng thốt nhận ra người ta cưới cô về để hầu chứ không phải để làm vợ. Song mọi chuyện đã muộn. Bởi vậy, nàng “lấy gia đình chồng làm gia đình mình, coi bố mẹ chồng như bố mẹ minh”. Ý nghĩ tội nghiệp ấy nảy sinh do sự cộng hưởng với ước mong một gia đình hòa thuận, êm ấm và một hi vọng mơ hồ “biết đâu lại không tìm thấy hạnh phức ở chỗ đó “.

Nhưng Loan đã nhầm. Cô không lường được bao nhiêu chuyện đau buồn liên tiếp áp đến mà một cô gái sâu sắc và bản lĩnh như cô cũng không thể giải quyết được. Bởi vì gia đình chồng chỉ đối xử với cô như đối với một con hầu, một cái máy đẻ. Nàng cố gắng đến mấy cũng bị bà phán vì thù ghét cô mà đòi bà Hai – mẹ Loan – món tiền lúc trước. Thế là cuộc nhân duyên ba nghìn bạc cơ hồ lung lay vì Loan tức giận nhận thấy sự hi sinh của cô những tưởng mang lại hạnh phúc cho cha mẹ nhưng hóa ra lại làm cho cha mẹ cô và cô càng thêm khổ. Từ đó, Loan “không còn tình nghĩa gì đối với gia đình chồng nữa”. Cũng từ đó, Loan sống trong sự vây bủa tấn công của gia đình chồng. Bất kì một sai sót nhỏ nào của Loan cũng là cái cớ để họ lao vào nàng như những con hổ, để làm cho cô sợ, cô nhục…

Đứa con ra đời đã đẩy kịch tính lên cao. Những ngày đối đãi “nhân đạo” của mẹ chồng ngắn chẳng tày gang. Thằng bé thuộc về gia đình chồng; Loan không được chăm sóc nó. Cái quyền tối thiểu là quyền làm mẹ của Loan đã bị người ta tước đoạt . Thế thì còn đâu là quyền làm người ? Câu trả lời là : trong xã hội cũ, những cô gái như Loan đi làm dâu là “đem hi sinh để gây dòng dõi cho các gia tộc. Bọn này không bao giờ có quyền sống một đời riêng, bao giờ cũng chỉ là một phần tử nhỏ mọn, yếu hèn đáng thương của những gia đình người khác”. Chưa hết, thằng bé bệnh, bà phán Lợi chủ trương trị bệnh bằng tàn hương nước thải, đánh roi dâu để đuổi tà ma (!!!). Loan không thể ở ngoài cuộc nữa : nàng đưa con vào bệnh viện. Cũ – mới được dịp giao chiến nhau còn dữ dội hơn trước. Thằng bé chết, mang theo chút hi vọng mỏng manh của Loan và đẩy kịch tính lên đỉnh điểm. Loan bị kết tội giết con (?). Con chết, bản thân không còn khả năng sinh nở, đó là cái cớ để bà phán duy trì chế độ đa thê. Thân lấy Tuất – con sen trong nhà – làm vợ lẽ. Loan cố chịu nhịn hết thảy để ngày tháng trôi đi nhưng không được. Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng. Từ một sự sơ ý khi coi nồi hải sâm vào ngày giỗ, Loan lại bị kết tội hại vợ lẽ. Rõ ràng, Loan bị truy bức vào con đường cùng. Mà Loan làm sao sống được với người chồng tẻ ngắt kia. Chức năng cái máy đẻ chẳng còn, nay Loan chỉ còn là chỗ giải quyết nhu cầu xác thịt cho Thân khi Tuất có mang số phận run rủi, Thân đánh Loan, quá đà ngà vào con dao díp. Đó là một kết cục không may nhưng cần thiết. Mang tiếng giết chồng, Loan bị sen đẫm bắt đi. Tâm trạng của Loan trong giây phút ấy được tác giả đặc tả ‘.”Tuy hai tay bị xích và thân mình sắp bị giam cầm, lúc Loan bước qua ngưỡng cửa, nàng vẫn có cái cảm tưởng rằng vừa bước ra khỏi một nơi tù tội” ( Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến )

Phiên tòa xử Loan – một cô gái mới làm dâu trong một gia đình cũ- có lẽ là phiên tòa đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam. Chúng ta không lạm bàn về nghệ thuật kết cấu của Nhất Linh. Điều đáng để chúng ta lưu tâm là Loan được trắng án và nghĩ rộng ra, không phải Loan hay bà phán có lỗi trong chuyện này, “mà là lỗi ở sự xung đột hiện thời đương khốc liệt của hai cái mới, cũ”. Loan thắng tức là cái mới thắng. Và chiến thắng ấy đã thổi vào dư luận đa số đương thời một luồng phấn khởi. Báo chí thời ấy thường phàn nàn về luân lí cổ hủ và gia đình phong kiến khắt khe đã hồ hởi chào đón Đoạn tuyệt. Những người đàn bà vốn bị đóng trăn trong gia giáo phong kiến tìm thấy từ những luận đề nêu lên trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt những câu trả lời cho đời mình, giới mình. Thắng lợi vang dội của Đoạn tuyệt cũng giáng một đòn trí mạng vào nếp cũ đang “lăm le” quay trở lại trong xã hội Việt Nam đương thời qua cơ quan ngôn luận là tờ Nam phong.

Loan không phải là nạn nhân hiếm hoi trong gia đình phong kiến cổ lỗ. Cô chỉ là một đại diện cho vô số những cô gái có số phận hẩm hiu trong cái chập choạng của Nho giáo cuối mùa ở Việt Nam. Ngay cả trong Đoạn tuyệt, độc giả cũng được chứng kiến một “trường đoạn” về cuộc đời chị cả Đạm.

Năm mười sáu tuổi, Đạm bị ép gả cho một người chồng nhà giàu nhưng không ra gì. Về nhà chồng, cô gái ngây thơ bị mẹ chồng đánh chửi thậm tệ, bỏ về nhà bố mẹ đẻ thì lại bố mẹ đẻ đuổi. Bằng cách nghiến răng chịu đựng, khép mình vào bi kịch ấy, cô gái ngây thơ nay là chị cả Đạm được tiếng là dâu thảo (!). Thời bấy giờ, báo chí thường đăng những ý kiến của chị em phụ nữ kêu ca về sự trói buộc của luân lí gia đình cũ. Hiện tượng này rộ lên từ 1930 và ngày càng sôi sục. Phụ nữ tân văn là tờ hăng hái nhất. Dĩ nhiên kí giả là những người trẻ tuổi, thuộc phái Tân học. Khi Đoạn tuyệt ra đời, trên tờ Tinh hoa, Nguyễn Lương Ngọc đã phát biểu : “Gia đình khắt khe như Nhất Linh mô tả chỉ còn có ở thôn quê hẻo lánh, thành thị đã tiến theo phái mới nhiều rồi, và tác giả đứng ra bệnh vực phe mới chỉ làm việc đẩy một cái cửa đã mở sẵn”[29; 179]. Đây là một ý kiến có hai điểm đáng lưu ý : một là, ông Lương Ngọc không thừa nhận vai trò tiên phong của tác giả Đoạn tuyệt trong công cuộc “bênh vực phe mới”‘, hai là, dù không thừa nhận về tính tiên phong nhưng vô tình trong lập luận của mình, ông đã thừa nhận tính hiện thực của tiểu thuyết này: nó đề cập đến vấn đề mà xã hội đang quan tâm, thậm chí là một trong những xung đột căn bản của thời đại, với một thái độ rõ ràng, giữa sự miêu tả trong tác phẩm và thực tại có mối quan hệ khăng khít.

Té ra cũ – mới không thể sống cùng nhau được. Nếu giải phóng cá nhân thì phải đoạn tuyệt với cái cũ, nhất là cái thiết chế nô lệ hóa con người. Trên cái đà đó, hai năm sau (1936), Nhất Linh triển khai đề tài giải phóng cá nhân ở một phương diện khác qua một tiểu thuyết lừng danh : Lạnh lùng. Nếu Đoạn tuyệt khiến người đọc thương xót cho Loan lấy chồng phải sống cuộc sống của một nàng hầu, có nguy cơ đánh mất bản ngã thì Lạnh lùng lay động tâm hồn họ trước số phận bẽ bàng của một góa phụ trẻ tên Nhung bị giam hãm trong lễ giáo phong kiến không lối ra.

Cũng như Loan, Nhung lấy anh con trai bà An vì hai nhà thân với nhau và đã có đính ước chứ “không có ý nghĩa của ái tình”. Nhưng điều đó không có quan hệ gì vì chồng Nhung đã qua đời, để lại cho nàng một đứa con. Điều đáng nghĩ là góa phụ giữa lúc tuổi xuân còn phơi phới nhưng Nhung không dám bước qua “barie” lễ giáo để tìm hạnh phúc cho đời mình. Thậm chí chỉ nghĩ đến điều đó thôi, Nhung đã “thấy mang máng là bất chính“. Nhưng tại sao là bất chính, Nhung cũng không biết nữa vấn đề là ở đó.

Khi chồng mất đi, Nhung “ao ước được yên ổn mãi mãi với nhà chồng, được luôn luôn sống gần gũi bố mẹ đẻ và nuôi con cho thành người“. Nhưng tình yêu mới đã đến với Nhung ở cái tuổi hai mươi tràn trề nhựa sống. ( Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến )

Nhung yêu Nghĩa là thầy giáo dạy trẻ trong nhà bà Án. Ấy là điều hết sức tự nhiên và tình yêu của hai người là tình yêu đẹp. Nghĩa là người đứng đắn, có tinh thần tự lập, yêu Nhung bằng một tình yêu chân thành say đắm. Họ sẽ làm thành một đôi vợ chồng hạnh phúc nếu không có cái luân lí, luân thường từ nghìn đời nay. Nhưng nghĩ đến bố mẹ đẻ, gia đình nhà chồng, Nhung bất giác sợ hãi, “không dám tìm đến hạnh phúc đó”. Cái bức hoành phi trên đề bốn chữ “TIẾT – HẠNH – KHẢ – PHONG” trong nhà bà Án hiện lên trong tác phẩm như một thế lực đầy ám ảnh ngáng trở đôi bạn Nghĩa-Nhung đến với nhau, đặc biệt nó thủ tiêu mọi can đảm của một trái tim đang yêu nơi Nhung. Nhung đành thở dài, chấp nhận đời mình như phong cảnh quanh nhà với mảnh trời “chiều nào cũng giống như chiều nào, cũng vẫn những đám mây hôm qua bay nguyên ở góc trời cũ”. Oái ăm thay, tình yêu vẫn rộn rã trong trái tim Nhung và Nghĩa, kín đáo nhưng mãnh liệt biết nhường nào. Trong hoàn cảnh vì sợ điều tiếng cho bản thân và giữ danh dự (!) cho gia đình, Nhung đã đi lại vụng trộm với Nghĩa. Thế là, chính cái vớ vẩn của tam tòng Nho gia đã khiến Nhung đi đến chỗ giả dối. Nhung đau đớn nhận ra điều đó và đau đớn hơn là nàng không sao khắc phục được điều đó. Những quy định khe khắt từ bao đời nay còn móc miệng Nhung để cô nói một câu giáo dục Phương – em gái cô – mà chính Nhung cảm thấy nó giả dối hơn bất kì câu nói nào trên đời này.”Ai chẳng biết sung sướng lấy thân, nhưng nhiều khi cũng phải nghĩ đến nhà mình, đến danh giá”.

Tình yêu ngày càng nồng đượm, say đắm. Nhung đã nhiều lần trốn nhà để đi gặp Nghĩa. Thế nhưng cái kế hoạch bỏ trốn cùng với Nghĩa để xây đắp tổ ấm ở một phương trời lạ mà Nghĩa vạch ra đã không được Nhung hưởng ứng. Nhung không đủ can đảm để làm một cuộc “cách mạng” như Loan, đó là “can đảm phá tan những tục lệ”. Trong bi kịch của Nhung, người đại diện trực tiếp cho luân lí cũ là bà Án, với trọng trách là giữ Nhung trong vòng gia giáo – tức là không được đi bước nữa – để được “tiếng thơm”. Cho nên ý nghĩa vô nhân đạo của tam tòng sẽ bộc lộ ra hết khi đưa mắt nhìn theo Nhung đi dưới sân, dáng người mềm mại uyển chuyển, bà Án chép miệng thở dài ‘.”Tội nghiệp. Nó còn trẻ mà góa bụa đã mấy năm rồi”. Rồi bà Án nghĩ đến nỗi buồn của bà trong mấy năm sau khi ông Án mất. Thì ra đạo đức phong kiến là cái vòng luẩn quẩn như Loan trong Đoạn tuyệt đã phát hiện ra : “Nhưng phí đời mình như thế để làm gì ? Để lại sống theo các khuôn cũ của mẹ chồng rồi nếu sau này có con dâu lại sẽ bắt nó theo khuôn phép mình và làm khổ làm phí cả đời nó như trước kia mẹ chồng mình đã làm phí đời mình. Thật là cái vòng luẩn quẩn, cái dây xích dài không bao giờ hết”.

Lạnh lùng kết thúc thật buồn. Nhung nhìn chiếc gối lẻ loi bên cạnh tấm chăn bông cuộn tròn đặt ở góc giường rùng mình nghĩ đến những đêm đông dài lạnh lẽo. Nhung còn trẻ quá vì Nhung mới hai mươi lăm, bà khách đến chơi nhà khen rằng “Mợ ấy trẻ quá nhỉ. Tôi trông chỉ độ hai mươi tuổi”. Và “Mặc dầu trời rét, Nhung cởi cả áo trong để lộ hai cánh tay trắng, tròn trĩnh”. Sức sống vừa trào lên đã vội sụt tận đáy vì lúc ấy trước mắt Nhung hiện ra rõ ràng bốn chữ vàng “TIẾT – HẠNH – KHẢ – PHONG”.

Có người nhận xét lạnh lùng kết thúc mở : Nhung bất chấp đạo tam tòng để hưởng hạnh phúc mới, hay chấp nhận cái phần thưởng quý hóa “hai hàm răng long, mái tóc bạc” để giữ được vẹn tròn tiếng thơm ?

Hiểu theo cách thứ nhất, lạnh lùng là sự cổ vũ đối với thanh niên đương thời trong cuộc lữ hành truy tìm hạnh phúc cá nhân. Tác phẩm là sự tán thành tôn chỉ mới về người phụ nữ mới mà hai diễn giả Nguyễn Thị Kiêm và Phan Thị Nga từ Sài Gòn ra Hà Nội diễn thuyết hồi đầu năm 1934. Lạnh lùng tiếp thêm sức mạnh để thanh niên, nhất là thanh niên đô thị, bước qua thành trì gia pháp phong kiến giả tạo, vô nghĩa lí. ( Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến )

Hiểu theo cách thứ hai, Lạnh lùng là bản cáo trạng luân lí phong kiến kết liễu hạnh phúc cá nhân. Không hiểu sao nhà phê bình Trương Tửu – người đã từng khen Đoạn tuyệt – lại kêu gọi phụ nữ nên kết án Lạnh lùng, cho rằng Nhất Linh”chủ trương tự do phát triển xác thịt” [29; 630]. Gay gắt hơn, ông viết “Tất cả những bậc phụ mẫu muốn con gái khỏi bị sự phóng đãng quyến rũ nên cấm tiệt không cho đọc quyển Lạnh lùng”[29; 631].

Chúng tôi cho rằng Nhung không phải là thiếu phụ mất chồng đầu tiên khát khao hạnh phúc mới. Ca dao xưa từng vang lên lời ru đầy oán thán của người phụ nữ thủ tiết:

Gió đưa bụi trúc ngã quỳ

Ba năm chực tiết còn gì là xuân.

Nếu cho rằng “Nhung sung sướng bằng cái sung sướng của tình nhân, nghĩa là bằng cái khổ nhục của con nàng” thì hóa ra ai đó quên mất rằng Nghĩa đã từng tuyên bố: “Con em cũng như con anh “(Nghĩa là một thanh niên chưa vợ). Tình yêu chân tình giữa hai người sẽ giúp họ tận hưởng hạnh phúc thanh xuân mà vẫn lo cho tương lai của con Nhung tốt như thường.

Thì ra Tự lực văn đoàn không đả phá giáo lí phong kiến nói chung theo kiểu hư vô chủ nghĩa. Văn đoàn này chỉ tấn cồng vào những thói lệ, những quy định giam hãm tự do chính đáng của con người; áp bức và tiêu hủy cái tôi cá nhân cá thể. Trước khi Nhất Linh viết Đoạn tuyệt, Khái Hưng đã viết Nửa chừng xuân. Cũng tấn công vào hôn nhân phong kiến, nhưng Nửa chừng xuân còn làm được một việc khác nữa: đả phá hôn nhân đăng đối, vô đạo đức. Trong Đoạn tuyệt, nạn hôn nhân gả bán đã đẩy Loan vào hẻm tối của cuộc đời thì trong Nửa chừng xuân, hôn nhân đăng đối đã chia loan rẽ thúy, xô đôi bạn trẻ vào đoạn trường chia li sống dở chết dở. Điều đáng lưu ý là trong Nửa chừng xuân, nạn nhân của kiểu hôn nhân này không chỉ là nữ mà còn là một chàng trai – một chàng trai Tây học hẳn hoi: Lộc. Chúng ta cũng gặp điều này trong Đôi bạn. Dũng – nhân vật chính trong Đôi bạn – bị cha “định đoạt” phải lấy cô Khánh con cụ thượng Đặng. Trong khi đó, Dũng lại yêu Loan, một cô gái mà Dũng nghĩ nếu lấy làm vợ, cô sẽ đem lại cho đời anh hạnh phúc vô bờ bến. Không muốn bị nô lệ vào thói cũ, với dũng khí có thừa, Dũng đã đoạn tuyệt “cuộc sống phong lưu giả tạo”, dấn thân vào gió bụi, mang theo mối tình trong trẻo, tuyệt vọng với Loan – “người của tuổi thơ mà chàng biết không bao giờ có thể quên”. Anh tham Lộc trong Nửa chừng xuân không có được dũng khí ấy. Sợ mẹ buồn và một phần do mắc mưu mẹ, Lộc lấy vợ theo sự sắp dặt của bà Án mẹ anh, nghĩa là cuộc hôn nhân đăng đối không tình yêu, sống một cuộc đời vô vị và trống rỗng, với thứ “ái tình vì bẩn phận”. Đọc Nửa chừng xuân, người đọc có tâm hồn trắc ẩn không khỏi nghiến răng để nguyền rủa bà Án – tử thần của ái tình tự do. Chính bà đã đuổi cô Mai mồ côi cha mẹ ra đường bơ vơ lưu lạc, giữa lúc cô bụng mang dạ chửa, em ruột đau ốm, không xu dính túi, không nghề không nghiệp. Rồi sau này, chính bà lại toan cướp đứa con trai của Mai, tước đi niềm hạnh phúc duy nhất của đời cô. Âm mưu không thành, bà đem cái “mợ huyện” (lúc này Lộc đã được thăng quan huyện) làm mồi nhử Mai. Tức thì, bà bị cô gái đánh trả -.”Nhưng tôi, tôi cho làm cô Thượng không bằng, không sung sướng bằng chị Xã, chị Bếp, chị Bồi mà được vợ một chồng một yêu mến nhau, khi hoạn nạn có nhau…Tôi không phải con dâu cụ… Vậy cụ cứ dùng chữ cô cũng đủ lắm rồi”. Đó là một quan niệm hôn nhân cấp tiến của thanh niên thời ấy. Quan niệm này hoàn toàn đối lập với quan niệm của bà Án – một quan niệm bị phê phán kịch liệt trong văn học hiện thực phê phán.”Tôi hỏi con quan tuần tỉnh kia là người có thế lực cho nó là tôi đã xét kĩ lưỡng lắm. Quan tuần còn trẻ, bước hoạn đồ còn dài, sau này con tôi tất phải nương tựa vào bố vợ mới mong chóng thăng quan tiến chức được”.

Có thể bạn quan tâm:

BẢNG GIÁ DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ

2.3. Chống đại gia đình phong kiến ( Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến )

Khi lên tiếng chống hôn nhân phong kiến, đòi tự do yêu đương, tự do hôn nhân thì những tác phẩm như Đoạn tuyệt, Đôi bạn, Nửa chừng xuân, đã trực tiếp công phá vào thành lũy đại gia đình phong kiến. Song ở đây, chúng tôi muốn tập trung phân tích, làm rõ những phương diện vấn đề không lấy tình yêu làm tâm điểm.

Đại gia đình phong kiến, như đã trình bày ở các phần trước, là nơi lưu giữ những nếp luân lí cũ, lạc hậu, không còn phù hợp với cuộc sống đương thời. Tuy nhiên không phải cái gì của gia đình theo mô hình cũ cũng đáng lên án. Theo chúng tôi, nét nhược điểm cần thủ tiêu nơi gia đình là kiểu quan hệ gia trưởng theo trật tự bất di bất dịch từ trên xuống. Tuân thủ được tôn ti ấy thì mới giữ được gia phong, gia đạo. Xã hội Việt Nam đã chuyển từ hình thái phong kiến phương Đông sang chế độ thực dân nửa phong kiến. Hệ giá trị gia đạo từ trên xuống theo trật tự bất biến bị phê phán là điều tất nhiên vì nó phủ định cái tồi.

Khi mới về nhà chồng, với tinh thần tự lập của một cô gái mới, Loan đã bàn với chồng thoát li gia đình để lập thân (chủ yếu là cho chồng chứ không phải cho Loan). Mà mục đích lập thân ở đây, theo Loan, không phải để ra làm quan theo thói thường, mà là để “mong lập nên một gia đình hạnh phúc”, vốn theo nếp nghĩ cũ, chồng Loan không dám theo ý vợ. Anh ta hoảng sợ thoái thác

.”Tôi đã bảo mợ đừng nhắc đến nữa, thầy me không cho phép. Không những thế, mẹ còn giận mợ nữa đây, mẹ giận lắm”. Không trách Thân đầu hàng đại gia đình, không đứng về phía vợ vì anh ta “thấy vợ có những ý tưởng lạ lùng mà không bao giờ chàng nghĩ tới”. Trong mô hình gia đình phong kiến, một thành viên bất kì phải thuần phục cái chung, do đó, Loan sẽ vĩnh viễn lệ thuộc vào gia đình bà phán Lợi nếu cô không “đoạn tuyệt”.

Bà Án trong Nửa chừng xuân là người sống trong giềng mối Nho giáo. Bà hoàn toàn không hiểu nổi thế nào là tự do cá nhân, không chấp nhận một cô gái yêu con trai bà theo kiểu ngoài vòng lễ nghi lại là người con gái đứng đắn được. Cho nên bà đinh ninh là bà lo cho hạnh phúc của con nhưng bà không nghĩ rằng bà là kẻ thù của hôn nhân tự do.

Khái Hưng có một bộ ba tiểu thuyết về đề tài gia đình : Gia đình, Thoát li, Thừa tự. Trong ba cuốn ấy, Gia đình tiêu biểu hơn cả cho tư tưởng nghệ thuật của nhà văn.

Gia đình trong tiểu thuyết cùng tên là một hệ gia đình gồm nhiều tiểu gia đình. An – nhân vật chính của tác phẩm – thốt lên hai tiếng “gia đình” sáu lần, trong đó : lần một là “ý nghĩ buồn tẻ trở lại trong tâm hồn chàng”, lần hai “chán nản tự nhủ thầm”, lần ba là “buột miệng thở dài nói”, lần thứ tư là “thở dài”, lần thứ năm là “bật cười” (“không chua chát như xưa nữa, chỉ là cái đùa bỡn, khinh phù”), lần cuối cùng lại là “thở dài”. ( Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến )

Đó là hình ảnh một người cố vẫy vùng nhưng không tài nào thoát ra khỏi vòng gia đình, đành chấp nhận cho nó đè lên bẹp dí.

An lấy Nga “không phải vì chàng mà chỉ vì gia đình, vì tổ tiên, vì những người chết”. Thôi thì dẫu sao đó cũng là chuyện đã rồi. An và Nga có thể sống hạnh phúc nếu không vì những lí do mang tính gia đình.

Ông bà An Báo (cha mẹ của Nga – vợ An) có hai con trai, ba cô con gái (Phụng, Nga và Bảo). Nga học hết tú tài về làm ruộng. Phụng có chồng là tri huyện, thường hay lên mặt với Nga. Bảo lấy chồng tâm đầu ý hợp , sống hạnh phúc.

Vốn tính ghen tị và đa nghi, Nga trở thành kẻ thù không đội trời chung với Phụng. Nga càng điên tiết lên khi bố mẹ mình phân biệt đối xử ngay trong cách gọi huyện”, “cô rá “.Sục sôi căm giận, Nga ngày đêm giục chồng học luật để ra làm quan huyện, báo thù chị ruột.Ý muốn của Nga mâu thuẫn với lí tưởng của An. Làm quan – chỉ ý nghĩ về điều ấy thôi cũng khiến An khinh ghét rồi. Lẽ ra An có thể được cứu khỏi địa ngục quan trường bởi những những người cầm cân nẩy mực là bố mẹ vợ. Tiếc thay, An đã không có được đồng minh ấy. Vì tư tưởng làm quan, khát vọng làm quan ở Nga là kết quả thừa hưởng từ những bậc sinh thành. Chính những bậc ấy đã khoét sâu mâu thuẫn trong con cái. Ông bà An đã vuốt ve Phụng, làm cho Nga ghen tức đến phát chết đi được. Nga đã tố cáo cha mẹ đẻ mình với chồng : “Cũng là con, cũng là rể, mà một đằng thầy coi như hòn gạch, hòn sỏi, chịu sao được” (so An với huyện Viết – chồng Phụng- ĐNH). Sự phân biệt đối xử ấy đã đẩy tấn kịch gia đình đi đến chỗ không thể dừng được nữa. Khi trong gia đình mà thất bại, tai ương của người này là niềm vui sướng của người khác thì Nga chấp nhận “hi sinh hết mọi thứ, cả ái tình chuyên nhất của chồng, cả hạnh phúc gia đình, hi sinh cho một cuộc tương lai ao ước. An thi đậu ra làm quan”.

Như vậy, phía nhà vợ là một thế lực, một nguyên cớ bức ép để An bước vào hoạn lộ. Phía nhà An thì sao ?

Ở nhà riêng của An, An không chỉ đương đầu với cô vợ quá quắt mà còn phải chịu trận ông chú ngang ngược, cổ lỗ. Đây là ông chú mà An ít khi “gạ? mặt hay chuyện trò thân mật”. Lấy cái bình phong “chú cũng như chà”, ông Điều, chú An – liên minh với Nga để buộc An phải thi đỗ làm quan để không làm hổ danh họ Phạm thanh thế đến nỗi “Đời Trần có người làm đến thượng thư. Trải đời Tiền Lê, Hậu Lê có tới hai ông tiến sĩ. Kế đến đời Nguyễn ta, khi còn thi cử bằng chữ Hán, chẳng mấy khoa là không được ít ra một ông tú “. Trong làng, ông Điều cay cú các họ khác, ông mong An ra làm quan để cả họ được nhờ.

Bị bủa vây bởi hai gọng kìm như thế, An đã quy hàng. Anh thi đỗ chính ngạch, ra làm quan, sống một cuộc đời “vô lí quá, khờ dại quá”. Thế là, từ một anh chàng có tính tình phóng khoáng, có tư tưởng xã hội, An bị gia đình cưỡng chế vào nghề quan lại mà dưới mắt anh là một sự sống trống rỗng, trôi đi theo ngày tháng buồn lạnh.

Trong bi kịch của An, gia đình vừa là chế độ gia trưởng, vừa là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau một cách vô lí giữa các thành viên. Đồng thời, gia đình ấy kéo rộng ra thành gia tộc. Cái tôi cá nhân cùng lúc phải chiu chuộng ngần ấy dạng thức của gia đình, nó phản ứng; và gia đình có nguy cơ rạn nứt. Những người như An không chấp nhận mô hình ấy nữa. Họ đồng tình và tán dương kiểu gia đình hạt nhân như Hạc – Bảo, Phương – Vân. Con đường trở về với ruộng đồng, với nông dân của Hạc – Bảo có thể là cải lương như đã có nhà nghiên cứu nhận định. Nhưng đó là gia đình hạnh phúc vì trong gia đình ấy, “vợ chồng phải có cùng một quan niệm”, vợ và chồng đối xử với nhau trên cơ sở cái tôi cá nhân cá thể chứ không để những nếp nghĩ, nếp quan hệ gia đình truyền thống chi phối, lung lạc. ( Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến )

Đến thập niên ba mươi, đại gia đình cu với những sinh hoạt đặc thù của nó đang bị phê phán, chối bỏ quyết liệt. về nhà vợ cúng kị, An đau đớn nhận ra rằng “ngày kị là một ngày để cha mẹ, anh em, chị em họp mặt đông đủ giữa làn không khí hiềm khích, bất hòa”. Trong cái nhìn chán chường của Loan trong Đoạn tuyệt, gia đình là nơi “hễ có dịp gặp nhau là họ nói cạnh nói khóe nhau, và đem những chuyện tư, chuyện riêng ra nói cho hả dạ. Ngoài những chuyện ấy ra, họ cũng không biết chuyện gì, cũng như sống ở trên đời, ngoài những cỗ bàn bếp núc, họ cũng không còn công việc khác nữa”.

Thoát li và Thừa tự cũng là những tác phẩm viết về gia đình. Nhưng ở hai tác phẩm này, cách luận giải của nhà văn về gia đình không có gì mới. Có điều, trong hai tác phẩm này, nhà văn Khái Hưng đã xây dựng hai nhân vật bà dì ghẻ làm cho vấn đề trở nến nhức nhối, gay gắt. Nhất là ở Thoát li, cái chết của nhân vật Hồng ở cuối truyện là một bản cáo trạng đanh thép chế độ đại gia đình phong kiến.

2.4 Chống chế độ hôn nhân đa thê:

Bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ được. Nó là một loại tình cảm thiêng liêng trên cõi người. Bởi vậy, chế độ hôn nhân đa thê là một sự lăng mạ, chà đạp tàn bạo lên loại tình cảm thiêng liêng này của nhân loại. Với ý nghĩa đó, chống chế độ hôn nhân đa thê là sứ mạng cao cả của văn học chân chính. Từ xưa, ca dao đã có những câu rực lửa chiến đấu bảo vệ người phụ nữ đang rên xiết trong hàng rào hôn nhân đa thê :

Đói lòng ăn nắm lá sung

Chồng một thì lấy chồng chung thì đừng.

Sự tồn tại của chế độ hôn nhân đa thê là có thật trong lịch sử. Cơ sở của chế độ hôn nhân này là thói trọng nam khinh nữ của Nho giáo phương Bắc, du nhập vào văn hóa bản địa Việt Nam từ thời Bắc thuộc. Trong xã hội phong kiến, “Người đàn ông tự do, nghĩa là muốn chơi bời gì thì chơi, muốn đi lại đâu thì đi lại, người vợ không có quyền ngăn cấm được, mà vợ hỏi gì trái gia pháp thì chồng có thể chửi được. Chồng có thể lấy năm bảy vợ mà vợ chỉ được phép lấy một chồng” (Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb Đồng Tháp, 1990, tr 165). Sở dĩ nói hôn nhân đa thê là một chế độ vì nó được luật pháp phong kiến chấp nhận như Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long). Phải chăng vì thế mà nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã công phẫn thét lên “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” (Lấy chồng chung) ?

Cơ sở thứ hai của hôn nhân đa thê là tư tưởng chuộng đông con (đa tử đa tôn, đa phú quý), vả chăng, trong xã hội phong kiến xưa, người con gái về nhà chồng bên cạnh những khuôn thước tinh thần như tam tòng, tứ đức, còn phải làm nhiệm vụ sinh con nối dõi. Một khi nàng dâu không có khả năng sinh con hoặc chỉ sinh toàn con gái thì người chồng có quyền lấy vợ lẽ. ( Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến )

Tự lực văn đoàn tiếp nối truyền thống đấu tranh cho quyền làm người của phụ nữ trong hoàn cảnh mới. Đó là thời đại của chữ tôi. Trong Cương lĩnh về Phơ-bách viết năm 1845, Mác đã khẳng định : “Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng vốn có trong cá nhân riêng rẽ. Xét về mặt hiện thực, bản chất là con người là tổng hòa của tất cả các quan hệ xã hội “[57; 21]. Không thể kể hết những tác dụng lí luận và thực tiễn của hai mệnh đề này. Ở đây, chúng tôi xin nêu hai ý :

  • Một là, bản chất của nhân cách không mơ hồ, hư vô. Nó được hình thành trong thực tiễn.
  • Hai là, nhân cách không phải là một cái gì đơn nhất. Nó là một phức hợp gồm nhiều năng lực, phẩm chất như tài năng, học vấn, nghề nghiệp, vị trí xã hội, đạo đức…và cả tình yêu nữa.

Theo mệnh đề của Mác, có thể suy ra các quan hệ xã hội (trong đó có quan hệ tình yêu, hôn nhân) chính là chất liệu cấu thành nhân cách. Đó là một quá trình tương tác biện chứng giữa con người và hoàn cảnh: thoạt tiên, con người tác động vào hoàn cảnh và rồi trong quá trình tác động này, người ấy tiếp nhận và chuyển hóa các quan hệ thành ra cái của mình. Về vấn đề này, K. Marx đã nói rất hay trong Hệ tư tưởng Đức (viết năm 1848).”Con người tạo ra hoàn cảnh bao nhiêu thì hoàn cảnh tạo ra con người bấy nhiêu” [57; 21]. Tình yêu là một quá trình cho và nhận. Do thế, hôn nhân đa thê là một sự xuyên tạc và vấy bẩn tình yêu. Nó là một sự vi phạm nhân cách kinh khủng không thể chấp nhận được.

Khi nhân cách bị tước đoạt thì vợ cả hay vợ lẽ phỏng có ý nghĩa gì. Khi thấy Tuất cúi rạp trên chiếu lễ tổ tiên và cha mẹ chồng để được làm vợ lẽ, Loan thấy nhục nhã đến chết được. Không phải nhục cho bản thân. Nhục cho một nửa cõi người. Trong một giây phút làm nhà triết học, Loan thấy cô và Tuất tuy khác nhau đôi chút về địa vị “nhưng cùng là những người bị người ta mua về, hì hục lạy người ta để nhận làm cái máy đẻ, làm con sen hầu hạ không cống”. Như một hệ lụy dễ hiểu, họ mất nhân cách do họ thuộc quyền sở hữu của một người chồng chung. Đó là chưa kể trong hoàn cảnh nhà bà phán Lợi, hôn nhân đa thê không chỉ vì Loan không đẻ được nữa mà còn là để “che đậy và hơn nữa để công nhận một sự hoang dâm”.

Đầu thế kỉ XX, hôn nhân đa thê quả là một cái gì quái gở, phi nhân tính. Thế hệ mới làm sao có thể dung hòa với nó được, dù chỉ trong ý nghĩ. Khi bà Án đem mồi “bà huyện” ra nhử Mai làm vợ lẽ, Mai đã dạy cho bà một bài học luân lí của thời đại mới.Ở chỗ này, các tác giả Nguyễn Quốc Luân – Hà Bình Trị đã có nhận xét khá thích đáng .”Quan niệm về hôn nhân và gia đình của Mai đồng thời cũng là của nhà văn Khái Hưng trong tác phẩm này là một quan niệm tiến bộ mang ý nghĩa nhân đạo và dân chủ“[59; 38].

Chồng con của Trần Tiêu cũng là -tác phẩm tuyên chiến với hôn nhân một cách gay gắt. Đọc tiểu thuyết này, người đọc không khỏi rùng mình trước thân phận bèo bọt của nhân vật Hĩm. Hĩm là con gái đầu lòng của ông bà lí Bổng (lí ở đây là lí mua – ĐNH). Gia đình lí Bổng là một gia đình đủ ăn đủ mặc so với trong làng ngoài họ. Năm ấy, Hĩm mười sáu tuổi “với cái khuôn hình nở nang yểu điệu, nõn nà, một vẻ đẹp có thể làm say đắm nhiều cậu trai tơ trong làng”. Người con gái đang thích làm dáng ấy đâu biết tai họa sẽ xảy đến với cô số là lão nghị ích giàu có nhất nhì trong huyện hiếm hoi con trai. Vợ lão chỉ sinh cho lão hai đứa con gái. Mà mụ vợ cũng đã luống tuổi, nghe chừng khó sinh nở được nữa. Mụ nhà giàu này sau khi đi xem bói đã quyết định lấy vợ lẽ cho chồng. Vì cái món tiền công mấy chục bạc khá hấp dẫn, mụ Chánh cùng làng với bà lí Bổng nhanh nhảu đứng ra làm mối cho Hĩm lấy lão chánh ích, nghị viên, già ngang tuổi ông lí Bổng. Hai mẹ con Hĩm kịch liệt phản đối. Mụ Chánh, được ông lí Bổng bố Hĩm bày mưu đốc kế, đã cạy cục cụ lí trưởng họ đứng ra dàn xếp. Thế là dưới sức ép của ông trưởng họ quyền uy, háo danh bẩm sinh, Hĩm phải buộc lòng lấy lão nghị già cốc đế làm chồng. ( Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến )

Ngày cưới, lão nghị ích “ung dung ngồi nhà để tránh cái lễ mà hắn cho là không xứng đáng với chức tước và quyền thế của hắn”. Lấy cớ “có việc quan cần kíp phải lên tỉnh hầu cụ Thượng”, nghị ích sai “em ruột đến đại diện”. Vậy mà uy lực của danh tiếng và giàu có cũng khiến họ nhà Hĩm chấp nhận cái đám cưới thất lễ ấy. Không còn lối thoát, Hĩm “ngoan ngoãn theo hai bà thím bước ra thềm, xuống sân, đi lẫn vào đám đông, mặt cúi gầm, một tay cầm vạt áo đưa lên lau nước mắt. Hĩm đành nhẫn nhục chịu đựng hết nỗi khổ. Mẹ Hĩm đứng cổng nhìn con mỗi lúc một xa, cặp mắt ngơ ngác như con bò mẹ vừa bị người ta bắt mất con”

Về làm dâu nhà giàu, nhưng thực chất Hĩm sống cuộc đời của một nô lệ. Lấy chồng ngay trong huyện mà cô sống chết ra sao, gia đình cô không hề hay biết. Bà lí Bổng nóng ruột đi thăm con, nhưng không vào được “hai cổng gạch cánh cửa lim”. Người nhà nghị ích tưởng bà đi vay nợ nên không cho vào. Chị bán quán bên đường kể cho bà nghe cô Hĩm bị bà vợ cả và hai đứa con gái của nghị ích hành hạ đủ điều, đối xử còn tệ hơn đày tớ.

Khi Hĩm sinh được đứa con trai, cô còn bị đánh đập dữ dội hơn. Mụ vợ muốn cướp đứa con trai của Hĩm. Hĩm chịu không nổi trốn về nhà mẹ đẻ. Bà lí Bổng rụng rời khi thấy con gái mình “Hai má hóp, đôi mắt to và sáng trong vành mắt thâm quầng. Và tiều tụy Chiếc khăn sa tanh đã đổi ra chiếc khăn nâu bã, áo vá nhiều mảnh, hai khủyu tay rách để lộ hai miếng tròn trắng bằng đồng bạc ở chiếc áo cánh mặc trong. Chiếc quần thâm, có lẽ vẫn chiếc mẹ may cho ngày cưới, rầu rầu tơi ra từng chỗ vá có những lỗ nhỏ như gián nhấm”. Từ khi Hĩm có con, “Đếm đến, đêm nào cũng vậy, bà (bà nghị – ĐNH) bắc chồng nằm ngang cửa buồng cạnh chồng. Bà bắt Hĩm nằm dưới bếp” ở nhà nghị ích, mỗi khi Hĩm bị mụ vợ nanh nọc đánh bằng thanh củi, cô được anh người nhà tốt bụng lén chăm sóc. Sự gần gũi, biết ơn, thương cảm đã dẫn đến tình yêu. Và tình yêu ấy, đã mang đến cho họ can đảm trốn khỏi địa ngục nhà lão nghị ích. Họ trốn ra vùng than cẩm Phả. Ngày mai của họ ra sao ?

Không những chỉ ra chế độ đa thê đã hủy diệt hạnh phúc cá nhân, một số tác phẩm của Tự lực văn đoàn còn khai thác những mặt trái của nó trong xã hội thuộc địa Việt Nam đương thời. Đó là những tiểu thuyết như Thoát li Đôi bạn…

Trong những tác phẩm này, chế độ đa thê tuy không phải đề tài chính nhưng các tác giả đã miêu tả nó thật ghê sợ, để qua đó, độc giả rút ra kết luận rằng chế đệ hôn nhân đa thê là một chế độ hôn nhân lỗi thời, cần phải phá bỏ càng sớm càng tốt. Nét chung trong những tác phẩm này là chế độ đa thê hiện lên với đầy đủ những nét khôi hài, dã man của nó, gây ra những cảnh đời trớ trêu, éo le.

Trong Thoát li, gia đình ông Phán Trinh trở thành địa ngục thật sự từ khi ông cưới vợ lẽ. Lấy vợ lẽ được ít lâu, ông phán Trinh bắt đầu coi rẻ vợ cả. Bà vợ cả buồn quá sinh ốm đau rồi chết, “buồn một phần vì bị ông tình phụ, một phần vì bị cô kia lấn át”. Người vợ lẽ sau khi sinh được đứa con trai càng lăng loàn, thậm chí đánh vợ lớn, đến nỗi bà vợ lớn hộc máu ra. Những đứa con vợ trước (Hảo, Hồng) không thể sống nổi với mụ dì ghẻ thâm hiểm, độc ác. Hảo lấy chồng, lên Hà Nội sống, thoát khỏi địa ngục ấy. Hồng phải chịu trận nhưng cô còn quá trẻ để có thể đương đầu với bà phán Trinh. Chúng tôi đã phân tích trong hôn nhân đa thê, vợ cả hay vợ lẽ đều là nạn nhân cả. Đó là một lẽ. Nhưng trong những hoàn cảnh cụ thể của những gia đình cụ thể thì mâu thuẫn giữa vợ cả, vợ lẽ đi đến những tấn kịch khác nhau, mà hầu hết là tan nát, suy vi. Trong Nửa chừng xuân, khi tranh luận với bà Án về vấn đề vợ lẽ, Mai đã có nhận xét rất thông minh ‘.”Vâng, tôi biết. Các bà vợ lẽ bao giờ cũng chỉ có hai đường : Một là họ bị áp chế. Lúc đó, họ như bọn nô lệ hèn hạ. Hai là họ áp chế, lấn át cả quyền vợ cả, lúc đó thì họ trở nên hạng Đát Kỷ, Bao Tự”. Bà phán Trinh thuộc loại thứ hai. Khi Hồng đang học năm thứ hai trường sư phạm, bà đã bày mưu để ông phán Trinh bắt Hồng về, để khỏi tốn tiền, để cắt con đường công danh của cô con riêng của chồng. Nhưng ngoài miệng, bà thơn thớt là “dạy làm ăn cho Hồng”. Bà khéo đến nỗi mọi người đều tưởng bà thương Hồng như con đẻ. Những tưởng Hồng thoát được mụ dì ghẻ rắn độc thì chồng sắp cưới của cô chết. Với bà phán Trinh, cái chết của Thân là một niềm vui vô tận. Khi đã thất vọng trong mộng thoát li, Hồng chấp nhận yêu Lương để nuôi hi vọng trở lại. ( Luận văn: Hiện thực về cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến )

Lần này, mụ dì ghẻ lại ra tay: Một mặt, mụ chê Lương khiến Lương hiểu lầm tự ái, thất tình, tìm vui trong vòng tay gái nhảy; mặt khác, miệng lưỡi rắn độc của mụ phao tin Hồng lẳng lơ, chim giai. Hồng trốn đi Hà Nội, lặng lẽ, với ý định tìm đến cái chết. May mà có chị em khuyên nhủ nên cô vẫn sống, phải trở về cái địa ngục chốn Ninh Giang, ở đó, sau những ngày thoát li mộng tưởng không thành, bệnh tật đã áp đến lấy đi mạng sống của người trinh nữ. Hồng có gia đình, nhưng Hồng đã sống và chết như như một người vô gia đình: sống giữa những người coi cô như kẻ thù, bệnh không ai săn sóc, thuốc thang, chết trong sự thét rủa của dì ghẻ. Trong gia đình ấy, người duy nhất thương Hồng, bênh Hồng là cậu em trai cùng cha khác mẹ : Yêm. Yêm có học, hiểu đời, nhân ái. Chứng kiến sự đối xử tàn bạo, thâm thù của mẹ mình đối với chị, người em ấy cũng tuyên bố :”Em nghĩ em chán quá, chả muốn về nhà nữa”.

Trong con mắt của thế hệ tân học, hôn nhân đa thế là đáng cười, đáng trách. Ông Tuần trong Đôi bạn cũng có nhiều vợ. Các bà ở khá gần nhau. Dù vậy, ông Tuần có ý sợ bà cả. Bởi vậy, ông đi lại với bà ba vụng trộm, dù điều đó vẫn thường xuyên xảy ra. Một lần vào buổi sáng, Dũng – con trai ông – bắt gặp ông Tuần từ nhà bà Ba trở về. Thấy Dũng, ông tỏ ra ngượng nghịu, bẽn lẽn. Dũng thấy buồn cười, thương hại ông bố. Cái thương hại ấy đã tống tiễn cả một nếp sống cũ, nền luân lĩ cũ.

Sau nửa thế kỉ kể từ khi viết dưới mắt tôi, Trương Chính vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Trên Tạp chí Văn học số 5-1990, ông có bài “Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”. Trong bài viết này, ông đã có ý kiến mà giá trị của nó, theo chúng tôi đánh giá, như là một sự tổng kết về chất hiện thực cũng như những đóng góp của Tự lực văn đoàn ở phương diện giải phóng hạnh phúc cá nhân.”Trong hoàn cảnh một nước phong kiến và thuộc địa như nước ta trước Cách mạng tháng Tám thì cuộc đấu tranh ấy không thể tiến hành bằng vũ khí văn chương được. Nhưng trong phạm vi có thể, họ đã dùng văn chương vào mục đích đó. Họ được nhiều người ủng hộ và họ đã thành công phần nào trong vấn đề giải phóng phụ nữ”.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537