Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn

Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn là đề tài mà tác giả lựa chọn làm bài Luận văn Thạc sĩ của mình. Một nền văn học hiện đại, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nhu cầu tự thân của bất kỳ dân tộc nào trên thế giới. Trong tiến trình phát tri n của mình, văn học Việt Nam đã tạo ra được những cuộc cách tân nghệ thuật làm sôi động đời sống văn học trong và ngoài nước. Đ làm được điều này, công đầu phải k đến đội ngũ sáng tác. Họ là những người tiên phong, với những khát vọng sáng tạo đã đưa đến cho nền văn học nước nhà những luồng gió mới và được tác giả triển khai ngay trong đề tài: Một Số Cách Tân Nghệ Thuật Trong Thơ Mai Văn Phấn.

2.1. Quan niệm nghệ thuật về thơ truyền thống và quan niệm nghệ thuật về thơ hiện đại

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, quan niệm nghệ thuật là “nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó [67, tr.273]. Nó chính là “hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là sự quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật” [67, tr.275]. Như vậy, quan niệm nghệ thuật của người viết bao giờ cũng chi phối, định hướng tới sáng tác của họ.

2.1.1. Quan niệm nghệ thuật về thơ truyền thống

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thơ là “hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu… Thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc, cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu là những đặc trưng cơ bản của thơ… Lý tưởng và khát vọng của đông đảo nhân dân, chủ nghĩa nhân đạo với những biểu hiện lịch sử của nó là tiêu chuẩn khách quan cho chất thơ chân chính ở mọi tời đại. Chất thơ là điều kiện cơ bản của thơ, không có chất thơ thì nhất quyết không thể có thơ hay” [67, tr.309]. Theo chúng tôi, định nghĩa ấy cũng chính là định nghĩa về thơ truyền thống, khái niệm thơ truyền thống ở đây được hieu là toàn bộ sáng tác thơ Việt xuất hiện trước và khác biệt những sáng tác thơ theo khuynh hướng cách tân có dấu hiệu của chủ nghĩa hiện đại và Hậu hiện đại ở Việt Nam.

Như vậy, qua định nghĩa về thơ nêu trên, chúng ta nhận thấy, điem chung nhất của thơ là: Hình thức sáng tạo phản ánh cuộc sống qua thế giới nội cảm của nhà thơ – Ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu hình ảnh, có nhịp điệu – Chất thơ là điều kiện cơ bản nhất của thơ.

Trong quan niệm truyền thống, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, thơ vẫn được coi là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc. Quan niệm ấy phù hợp với bản chất trữ tình của the loại và đã được nhiều nhà thơ từ xưa đến nay hay nói đến: “Thơ khởi phát từ lòng người” (Lê Quý Đôn), “hãy rung động hồn thơ cho ngọn bút có thần” (Ngô Thì Nhậm), “làm thơ cốt ở tấm lòng, hãy để tấm lòng điều khiển bàn tay” (Viên Mai)… Truyền thống thơ ca dân tộc cho đến tận phong trào thơ Mới, vẫn thiên về duy cảm, và đó là sức mạnh chinh phục chủ yếu của thơ Việt Nam, mặc dù trong nền thơ dân tộc cũng không thiếu các yếu tố triết lí, suy tưởng.

Trong nền thơ truyền thống của dân tộc, người ta coi thơ như một công cụ tải đạo, một thứ khí giới, chẳng phải ngẫu nhiên Sóng Hồng lại viết:

Dùng cán bút làm đòn chuyển xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền.

Thời trung đại, với quan niệm “thi dĩ ngôn chí”, thơ chủ yếu đe “tỏ lòng”, đe “trần tình”, xa hơn thơ có the gói gém một tư tưởng, truyền dẫn một triết lý, quảng bá một tôn giáo… thì dù thế, thơ vẫn chỉ là một thứ công cụ của đạo đức và luân lí. Thơ nói riêng, văn học trung đại nói chung thực sự như một con thuyền “tải đạo”. Ở đây người làm thơ phải gò theo khuôn mẫu, học theo đien phạm, cái tôi của nhà thơ vì thế trở nên phi ngã. Họ có muốn sáng tạo cũng khó.

Giáo trình lý luận văn học của giáo sư Phương Lựu và Trần Đình Sử đã đưa ra quan niệm và đặc trưng của thơ, có the tóm lược như sau: về hình thức thơ truyền thống, ngôn ngữ thơ bão hòa cảm xúc, được tổ chức đặc biệt về cú pháp, từ vựng, ngữ âm và các biện pháp tu từ nhằm tạo ra tính nhạc, những khoảng lặng thẩm mỹ, lạ hóa ngôn từ, tính mơ hồ đa nghĩa, những bieu tượng, ý tượng. Về nội dung thơ truyền thống, tâm trạng trong thơ thường mang tính chủ quan, tính đien hình, phải có chất thơ. Tất cả những đặc trưng đó của thơ truyền thống nhằm tập trung the hiện tính nhân văn đe từ trái tim một người lay động trái tim triệu người, đe làm sao cho người đọc tìm thấy bóng dáng tâm hồn mình, cuộc đời mình trong thơ.

2.1.2. Quan niệm nghệ thuật về thơ hiện đại ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Thơ văn Việt Nam chỉ thực sự đổi mới khi luồng gió Tây phương thổi vào. Một trào lưu mới về thơ ca xuất hiện đánh dấu con đường hiện đại hóa của thơ Việt – Thơ mới. Nếu như thời trung đại, người ta quan niệm thơ chỉ như một vật hữu ích, một thứ khí giới, với vai trò tải đạo, nói chí… thì đến thời thơ Mới đã có sự thay đổi quan niệm về thơ. Sự thay đổi quan niệm này là do lớp trí thức tây học của nước ta đã ảnh hưởng từ thơ phương Tây (thơ Pháp). Có the ke ra những tên tuổi như: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử…

Trong lời tựa tập Gửi hương cho gió, Xuân Diệu tự nhận mình “là con chim đến từ núi lạ, ngứa cổ hót chơi”. Ông chính là người đã từng phát bieu:

“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”

Thế Lữ thì viết:

“Tôi chỉ là một khách tình si Ham cái đẹp muôn màu muôn thể

…Tôi muốn làm nhà nghệ sĩ nhiệm màu Lấy thanh sắc trần gian làm tài liệu”

Còn Hàn Mặc Tử viết:

“Tôi là gã đi đường đêm giá lạnh

Không mong gì hơn kêu gọi lòng thơ.”

Như vậy, ở đây thơ ra đời là do nhu cầu bản năng của người nghệ sĩ, thơ dùng đe ca ngợi cái đẹp, bộc lộ cái tôi cá the. Thơ Mới được gọi là thơ hiện đại khi đối sánh với thơ trung đại Việt Nam. Nhưng đến hôm nay, thơ Mới cùng với thơ chống Pháp, thơ chống Mỹ, thơ Việt Nam sau 1975 nằm trong một mô hình nghệ thuật quen thuộc, đã hoàn kết và ổn định về thi pháp mấy chục năm qua, đã trở thành truyền thống. Đối sánh và tách biệt với nó là những sáng tác có tính cách tân táo bạo, quyết liệt những the nghiệm dù thành công hay thất bại vẫn “in” những dấu chân của mình trên hành trình cách tân thơ Việt đương đại. Chúng tôi gọi những sáng tác mới mẻ theo xu thế cách tân ấy là thơ hiện đại. Khái niệm “thơ truyền thống”, “thơ hiện đại” ở đây không bao hàm sự đánh giá cao – thấp, hay – dở mà chỉ sự phân chia một cách tương đối hai mảng sáng tác thơ có sự khác biệt về tư duy nghệ thuật, cấu trúc nghệ thuật. Nói một cách khác, tính truyền thống hay tính hiện đại của thơ Việt hôm nay là thuộc tínhchứ không pahie là phẩm chất.

Có the nói, mỗi một nỗ lực cách tân văn học đều có cơ sở triết học, mĩ học riêng và nó được the hiện ở những quan niệm nghệ thuật và phương thức bieu hiện của mỗi nhà văn. Thơ ca nhân loại thế ký XX nói chung, thơ ca Việt Nam nói riêng đã có nhiều nỗ lực và những the nghiệm cách tân với nhiều khuynh hướng, gây được những ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống và sáng tạo nghệ thuật thơ ca của Việt Nam. Nền Thơ Mới trước đây ảnh hưởng sâu sắc từ thơ ca Lãng Mạn, Tượng Trưng Pháp đã tạo ra một cuộc cách mạng thơ ca, vượt thoát khỏi những khuôn thước sáo mòn của truyền thống. Thơ đương đại cũng với mong muốn bứt phá khỏi những giá trị truyền thống đã tiếp thu ảnh hưởng từ rất nhiều những trường phái, khuynh hướng khác nhau: chủ nghĩa Tượng trưng Siêu thực, chủ nghĩa Hiện sinh, chủ nghĩa Hình thức, chủ nghĩa Hậu hiện đại và mới đây nhất là chủ nghĩa Tân hình thức. Song dù theo trường phái hay khuynh hướng nào thì chúng ta cũng nhận thấy một xu thế đang ngày càng được khẳng định và mở rộng trong thơ Việt Nam hôm nay là tính hiện đại. Khái niệm tính hiện đại thường hay đưa đến sự nhầm lẫn về hướng đi của thơ ca trong thời kỳ mới. Một bên là sáng tạo, tìm tòi nhằm tạo thêm những phẩm chất cho thơ, phản ánh một cách trung thực và đầy đủ cái mới trong cuộc sống hiện tại. Bên cạnh đó là khuynh hướng phản thơmượn danh nghĩa sáng tạo đe khởi xướng những lý thuyết cực đoan, kỳ quái, xa lạ với thơ và thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh. Tính hiện đại trong thơ Việt the hiện ở ý thức sáng tạo và tinh thần the nghiệm. Ý thức sáng tạo giúp các nhà thơ tránh được lối mòn khuôn sáo và ý thức hơn về bản sắc của mình. Mõi nhà thơ đều cố gắng khai phá những vùng đất riêng, đưa vào đó những tiếng nói mới mẻ với những đặc thù không the nhầm lẫn. ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Sáng tạo nghệ thuật thơ ca luôn vận động không ngừng nghỉ. Sự chuyen động ấy chính là lẽ sống của nghệ thuật thơ ca. Thơ ca Việt Nam trải qua các thời kỳ, do thúc bách của thời đại,của xã hội đã và của yêu cầu tự thân của thơ phải đổi mới, đang làm cuộc chuyen đổi có tính cách mạng . Và mỗi sự chuyen động, biến thiên của văn hóa, lịch sử đều có động lực của nó. Nhìn lại thơ Việt những năm gần đây, ta thấy thơ Việt đang vận động quyết liệt và đang làm một cuộc cách tân đầy ý nghĩa với một số nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, thơ ca cách mạng với những thành tựu rực rỡ đã hoàn thành sú mạng lịch sử đấu tranh của mình trong suốt thời gian mấy mươi năm. Với sự thắng lợi của cách mạng, cảm hứng sử thi anh hùng cách mạng với những thành tựu rực rỡ từng làm rung động lòng người không còn chiếm lĩnh hoàn toàn văn đàn và phát huy được sức mạnh. Sau cách mạng, các nhà thơ chú ý nhiều hơn tới đời sống cá nhân, cuộc sống thường nhật, đến những tình cảm riêng tư.

Thứ hai, cái nhìn nghệ thuật của nhà thơ về thế giới và con người thay đổi thì tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi trong cảm hứng. Suốt một thời gian dài thơ không được nói tới buồn đau, không được nói tới cô đơn và chết chóc. Giờ đây, nhà thơ đã có một vùng đất mới đe thử nghiệm.

Thứ ba, chính sách mở rộng giao lưu văn hóa đã giúp chúng ta tiếp cận được nhiều trường phái thi ca mới, những vùng thẩm mĩ mới trên thế giới. Trong điều kiện chung đó, các nhà thơ Việt Nam không the đứng im một chỗ, gò mình trong những hình thức khuôn sáo và tư duy cũ mòn. Đổi mới thi ca đối với họ là một con đường tất yếu. Còn thành công hay thất bại lại là một vấn đề khác.

Cái mới trong thơ hiện đại trước hết là ở những quan niệm mới, nhận thức mới về thơ. Có the nói, đã có một sự thay đổi về chất trong quan niệm của các thi sĩ hiện đại. Nhóm những nhà thơ cách tân tiêu bieu từ không khí “tiền phong”, “hiện đại” của thơ tự do đã tiếp cận với chủ nghĩa Hậu hiện đại. Nguyễn Hưng Quốc trong “Văn học Việt Nam từ điểm nhìn Hậu hiện đại” cho rằng: Thơ Hậu hiện đại là “sự phá vỡ cấu tạo của diễn đạt, là sự suy yếu của tình cảm, sự cáo chung của cái tôi trưởng giả và là sự lặp lại của những phong cách đã chết theo lối cóp nhặt”. Tiếp thu và phát trien quan điem trên. Hoàng Ngọc Tuấn trong “Văn học hiện đại và hậu hiện đại qua thực tiễn sáng tác và góc nhìn lý thuyết” cho rằng “Thơ Hậu hiện đại chống lại các giá trị có tính thống nhất, phá vỡ sự biểu đạt tuyến tính và trật tự nghĩa…” Trên thực tế, Hậu hiện đại là thuật ngữ bao quát cho các kieu thử nghiệm đa dạng từ thơ nói, đến thơ ngôn ngữ cho đến thơ trình diễn. Tiêu bieu cho dòng thơ này có the ke đến những tên tuổi: Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng… Với Bóng chữ (Nhà xuất bản Hội nhà văn 1994), Lê Đạt chủ trương một lối thơ “không dùng sự hiểu để phân tích”, ông quan niệm “…nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở nghĩa “tiêu dùng”, nghĩa tự trị của nó (…) con chữ trong câu thơ dắt dẫn trên con đường tâm thức ra khỏi lối đi ngữ nghĩa… Thơ không phải là văn xuôi được mông má, nâng cấp tại một mỹ viện. Văn xuôi chủ yếu dựa vào ý tại ngôn tại, thơ khác hẳn, thơ dựa vào ý tại ngôn ngoại”. Một thời gian sau đó Đường ương Tường nghiêng của Dương Tường xuất hiện, cũng với quan điem trên. Dương Tường chủ trương “đường lối phi ngữ nghĩa” hướng vào khai thác khả năng của chữ, nhấn mạnh yêu cầu sáng tạo của ngôn ngữ. ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Một khuynh hướng cũng đang được dư luận quan tâm là nhóm Tân hình thức. Trong cuốn tieu luận Tứ khúc, Khế Iêm cho rằng, Tân hình thức trong thơ Việt có những đặc tính chính: Cách nói thông thường, vắt dòng, kỹ thuật lặp lại và tính ke chuyện. Mặc dù Tân hình thức Việt với khát vọng cách tân thành thực, chủ trương dòng thơ “mang tinh thần Việt, có khả năng hòa giải, tiếp nhận rất cao, không hề có sự phân biệt giữa dòng này và dòng khác”, “thơ Tân hình thức bỏ vần, tiếp tục hòa giải với nền văn hóa phương Tây. Và cũng trong tinh thần hòa giải giữa truyền thống và tự do, thơ Tân hình thức Việt là một dòng chảy mới, như tiếng nói của mọi người Việt, tha thiết với sự chuyển đổi, để có thể đập chung một nhịp đập với cộng đồng thế giới rộng lớn. Và bởi tính cách bình dân của nó, thơ Tân hình thức có khả năng chuyên chở tình cảm của mọi con người, phá vỡ tính cao cấp, khó hiểu… có khả năng lấp đi khoảng cách giữa người đọc và sáng tác” [44], nhưng đó chỉ là sự tiếp thu sơ sài, tùy tiện, thậm chí có những lập luận khá cực đoan và sai lầm. Trong bài “Thơ mở rộng biên độ”, nhà nghiên cứu Ma Giang Lân đã nhận xét: Tân hình thức chỉ là hình thức. Ở những nhóm thơ này thường thấy lí luận mà ít thấy tác phẩm. Nhà thơ Thụy Khuê đã phê phán: “Nếu chúng ta chỉ sống trên những tên gọi: Siêu thực, Tự do, Tân hình thức, Hiện đại, Hậu hiện đại, Truyền thống… mà không tìm hiểu dưới những cái tên ấy có nội dung gì, thì khó có thể có một sự lên đường đích thực”.

Bên cạnh đó cũng có rất nhiều các nhà thơ trẻ, dù ít nhiều chịu ảnh hưởng của các trường phái, khuynh hướng khác nhau, nhưng hầu hết đều độc lập khai phá con đường riêng của mình, với một mục đích cuối cùng: mang sinh khí của sáng tạo và thử nghiệm đe góp phần hiện đại hóa thơ Việt Nam. Họ đều nhận thức được rằng: “chúng ta cần làm mới thơ. Nhưng trong nghệ thuật, sự làm mới không thể là một hành động duy ý chí. Có nhiều lựa chọn, và không phải lúc nào các phong trào thời trang cũng là lựa chọn duy nhất cho việc làm mới thơ” (Phan Nhiên Hạo).

Trong thơ Việt đương đại, có một bộ phận không nhỏ các nhà thơ vẫn tiếp tục sáng tác theo quan niệm thẩm mỹ truyền thống và thi pháp quen thuộc. Bên cạnh những quan điem nghệ thuật hoàn toàn khác, thậm chí trái ngược của bộ phận này thì trong nhóm những nhà thơ chủ trương cách tân quan điem của họ cũng không hoàn toàn giống nhau. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo cho rằng: “Từ Homer đến Khuất Nguyên, từ Rimbaud, Verlaire đến Apollilaire hay Tagore… hầu hết các hình thức diễn đạt của thơ cho đến nay không thể có gì xuất hiện được gọi là mới hoàn toàn nữa. Dù là thơ bình phương, lập phương, thơ khai căn, thơ phi thi, thơ lập thể, thơ vô chiều, thơ thoát xác… đều chỉ là sự lặp lại của hình thức cũ” [38]. Như vậy, câu hỏi đặt ra là: nhà thơ hiện nay lấy gì đe tồn tại, đe được gọi là mới, là sáng tạo. Trần Mạnh Hảo cho rằng, đó chính là “Sự rung động của trái tim con người” rằng “Con người đã xúc động hàng nghìn lần, nhưng không lần nào giống lần nào. Vậy nên hãy làm rung động trái tim con người thêm nhiều lần nữa, đó là sáng tạo, là mới mẻ” [38]. Nhà thơ trẻ Phan Huyền Thư lại quan niệm khác: “con người thời nào chẳng vui buồn, sung sướng, đau khổ hay tuyệt vọng… Những trạng thái cảm xúc ấy là cố hữu, nó chỉ mới do cách chúng ta biểu hiện ra mà thôi”. Nhà thơ trẻ này “Không phủ nhận những giá trị truyền thống” nhưng với chị “học hỏi ở quá khứ không có nghĩa là lặp lại quá khứ, biến quá khứ thành cái bóng che khuất thực tại”. Như vậy, kinh nghiệm của những nhà thơ lớn đi trước là phải đứng vững trên nền tảng truyền thống mới có the vươn cao, vươn xa tới những vùng thẩm mỹ mới, bởi vì lịch sử bao giờ cũng là cuộc chạy tiếp sức của các thế hệ kế tiếp và mỗi thời kỳ văn học đều có những giá trị không ai có the phủ nhận. Vì vậy, không the vì muốn theo đuổi mục đích đổi mới mà có the nói thơ hiện đại đã “rũ bỏ hết các truyền thống thi ca” đe tạo ra “một xu hướng thơ ca mới khác hoàn toàn với những gì được sáng tạo trong suốt mấy mươi năm qua” [43].

Như vậy, theo dõi thi đàn Việt Nam những năm gần đây, có the thấy các tác giả thuộc thế hệ sau năm 1975 đang khao khát khẳng định tiếng nói của thế hệ mình như một giá trị. Giá trị ấy được làm nên bằng cái mới, cái hiện đại trong quan niệm về thơ, trong giọng điệu, bút pháp, cách the hiện… Mặc dù việc khẳng định xu hướng cách tân thơ trở thành xu hướng chủ đạo trong thơ Việt Nam hiện đại vẫn chưa ngã ngũ, xong xuôi, nhưng chúng ta có the cảm nhận được một nguồn sinh lực mới đang trỗi dậy trong thơ hiện nay.

Có thể bạn quan tâm:

BẢNG GIÁ DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ

2.2. Những cách tân trong quan ni m ngh thuật của Mai Văn Phấn

Là một trong những người thuộc thế hệ sau năm 1975 “ôm mộng cách tân thơ Việt”, Mai Văn Phấn luôn luôn muốn bứt thoát khỏi những nguyên tắc thi pháp sáng tác đã không còn hữu hiệu cho những ý tưởng bieu đạt mới. Mai Văn Phấn là một trong số không nhiều những nhà thơ của trào lưu cách tân thơ Việt có quan niệm nghệ thuật khá rõ ràng, sắc nét, mạnh mẽ về những vấn đề thuộc bản the sáng tạo. Từ những đổi mới về tư duy nghệ thuật, Mai Văn Phấn đã có những đột phá đầy táo bạo về hình thức thơ, ngôn ngữ thơ và đã tạo nên được một đặc điem riêng khó mà trộn lẫn trong làng thơ Việt.

2.2.1. Cách tân trong quan niệm về thơ của Mai Văn Phấn ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Mai Văn Phấn là một nhà thơ chủ trương theo lối thơ “tạo sinh” – thơ phải dựa vào “ý tại ngôn ngoại”, phải cô đúc đa tầng, đa nghĩa và đa ngã. Nhà thơ có những quan niệm về thơ rất độc đáo, khác lạ so với quan niệm truyền thống.

Mỗi nhà văn, nhà thơ chân chính thường có cách the hiện quan niệm của mình về quá trình sáng tác văn học. Có người bộc lộ bằng những phát ngôn trực tiếp, có người gửi gắm vào trong tác phẩm, thông qua hệ thống hình tượng. Những nhà văn nhà thơ có quan niệm nghệ thuật độc đáo, tiến bộ và the hiện được quan niệm đó trong các sáng tác của mình thường gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc. Mai Văn Phấn là một nhà thơ như vậy.

Trong lần trả lời phỏng vấn của phóng viên Vanvn.net nhân dịp nhận giải thưởng văn học năm 2010 với tập thơ Bầu trời không mái che, nhà thơ Mai Văn Phấn đã bộc bạch quan niệm của mình trong hành trình sáng tác, cách tân thơ ca của mình: “Thơ tôi có nhiều chặng đường, nơi kết thúc mỗi giai đoạn chính là điểm xuất phát cho cuộc khai phóng khác. Nhưng bất kỳ giai đoạn nào, tôi luôn đặt sự chân thành lên trên hết, mong tìm được chính xác và rõ nét nhất chân dung tinh thần của mình, khám phá chính mình ở thời điểm đó… Tôi luôn mong tìm được giọng điệu hiện đại mang đậm bản sắc Việt. Dù cách tân theo hướng nào, thơ không thể đi lại con đường mà thi ca thế giới đã đi, cũng như không thể lẫn sang thơ của các dân tộc khác”. Như vậy, nhận thấy những hạn chế trong thi pháp thơ truyền thống, Mai Văn Phấn luôn khao khát đổi mới thi ca theo cách riêng của mình. Tuy nhiên, Mai Văn Phấn không phủ định sạch trơn truyền thống, anh nhận thấy mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong thơ nói riêng, trong nền văn hóa dân tộc nói chung. Truyền thống theo quan niệm của Mai Văn Phấn không chỉ đơn thuần là sự kế thừa, nó cũng liên tục là những cuộc “vong thân”. Nói cách khác, đó cũng là quá trình sáng tạo đe tìm đến những giá trị cao hơn mang tính dân tộc. Nhà thơ ý thức rất sâu sắc về việc cần thiết phải tạo ra một “tiếng nói riêng” như là một yêu cầu không the thiếu của người lấy thơ làm nghiệp. Mặc dù tiếng nói ấy, lúc đầu còn lạ lẫm, xa lạ, khó quen, khó cảm nhưng qua thời gian sẽ được số đông chấp nhận. Đối với Mai Văn Phấn, “đổi mới thi pháp trước hết là nhằm chống lại sự thoái hóa, trơ mòn thẩm mỹ của người đọc, tạo những không gian thơ đa dạng, thiết lập hệ quy chiếu mới trong cách tiếp cận tác phẩm” [79,tr388].

Mai Văn Phấn không phải là người đầu tiên đề cập đến những cái mới trong thơ. Nhưng anh có những quan niệm về thơ rất đáng chú ý, nhà thơ quan niệm “Thơ ca thường được coi là ngôi đền thiêng cho người làm thơ, nhưng thực ra là cái chợ cho người đọc” “với mỗi người làm thơ, điều quan trọng là phải biết lạnh lùng với chính bản thân mình, dũng cảm nhìn lại một cách trung thực và chính xác, biết mình là quầy hàng khô hay anh chữa khóa trong một cái chợ” [79,tr.398]. Nói như vậy cũng có nghĩa nhà thơ Mai Văn Phấn cho rằng mỗi bài thơ sau khi ra đời phải được tách khỏi nhà thơ đe đến với độc giả, phát huy giá trị của nó, nhận sự đánh giá khách quan từ bạn đọc. Từ đó nhà thơ nhìn nhận lại chính mình, điều chỉnh thơ mình sao cho phù hợp với việc đáp ứng nhu cầu đổi mới thi ca của thời đại.

Mai Văn Phấn quan niệm về tính truyền thống bằng cái nhìn vận động, biện chứng, phù hợp với sự phát trien tất yếu của thời đại hội nhập: “Truyền thống không chỉ đơn thuần là sự kế thừa, nó cũng liên tục là những cuộc vong thân. Nói cách khác, đó là quá trình sáng tạo để tìm đến những giá trị cao hơn mang tính dân tộc. Bằng những quan niệm tiên tiến, đổi mới quyết liệt trong cách tiếp cận vấn đề, hoà đồng với hơi thở của đời sống đương đại, mỗi nhà thơ như vậy đều có trách nhiệm làm phong phú tính truyền thống”[79].

Có the nói, Mai Văn Phấn đã mạnh dạn từ bỏ hệ thống thi pháp cũ đe lột xác thành một nhà thơ mới. Thực tế cho thấy, mỗi hiện tượng hoặc trào lưu thơ ca khi mới xuất hiện thường được công chúng yêu thơ rất quan tâm. Những trào lưu như Thơ mới 1932 – 1945, thơ kháng chiến đã chiếm được tình cảm của đa số bạn đọc và các nhà phê bình văn học. Đó là dòng thơ chính thống, được phổ biến rộng rãi trên sách báo, trong nhà trường các cấp học. Nhưng có the nói, đó là những dòng thơ của thế kỷ XX. Nếu như thơ của thế kỷ XXI và cả những thế kỷ sau này nữa cũng chỉ dừng lại ở vinh quang của Thơ mới, thơ kháng chiến, lặp lại thi pháp của những dòng thơ này thì đó là những bieu hiện của một nền văn học lạc hậu nước nhà so với nền văn học hiện đại trên thế giới. Vì thế, chủ trương đổi mới, cách tân thơ luôn được đặt ra trong quá trình sáng tác của rất nhiều nhà thơ khao khát mang lại diện mạo mới cho thơ. ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Mỗi thời đại đều có quan niệm về thơ riêng của mình. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, thơ thiên về nội dung có tính chiến đấu, phục vụ chiến đấu, hướng tới quần chúng nhân dân. Người viết thường đề cao vai trò, sứ mệnh của thơ ca trong tiến trình cách mạng. Nhưng cho đến ngày nay, quan niệm về thơ thường thiên về hình thức. Mai Văn Phấn là người được tiếp xúc nhiều với nền văn hóa phương Tây, chịu ảnh hưởng của các trường phái văn học hiện đại trên thế giới từ khá sớm. Có lẽ chính vì vậy mà ý thức đổi mới thơ của anh mạnh mẽ, quyết liệt hơn rất nhiều so với những nhà thơ cùng thời. Thơ anh thường chú ý rất nhiều đến hình thức thơ. Từ việc đổi mới hình thức nhà thơ dụng công tạo nên những tầng lớp ý nghĩa mới, nội dung mới. Hơn nữa trong quan niệm của những nhà thơ tiến bộ, hình thức không còn là bình chứa nội dung, tự nó đã là nội dung, không chỉ là cái bieu đạt mà đồng thời là cái được bieu đạt (Theo Chủ nghĩa hậu cấu trúc). Nói Vincenzo Agnetti (1926 – 1981), nghệ sĩ tạo hình, nhà văn, nhà phê bình nổi tiếng của nghệ thuật ý niệm của nước Ý, “chữ làm lệch lạc vật thể nó mô tả nhưng chính nó lại được vật thể hóa” [5]. Hình thức là nơi bộc lộ rõ nhất tính tích cực của chủ the trong việc the hiện đời sống. Chất liệu tạo nên hình thức thơ chính là ngôn từ nghệ thuật, ở hình thức sơ khai là “con chữ”, “con âm”. Vì thế Mai Văn Phấn luôn the hiện quan điem: làm thơ sao cho đe khai thác hết sức bieu đạt của âm, của chữ “với tôi, thơ hay trong khoảng im lặng giữa các con chữ”, “Thơ hay cũng không nhất thiết lệ thuộc vào vần điệu, tiết tấu, phải dễ thuộc, dễ nhớ, vì thơ ngoài để thuộc lòng, còn để đọc và cảm nhận”

Với quan niệm về thơ như trên, thơ Mai Văn Phấn đã thách thức người đọc, chống lại kieu đọc tìm nghĩa, giải nghĩa thông thường ở bạn đọc truyền thống. Nó không đưa đến cho người đọc một cách hieu và một cảm xúc định san mà đòi hỏi người đọc phải là người đồng sáng tạo với tác giả, hơn nũa phải tự sáng tạo trên cơ sở những con chữ mà nhà thơ gợi ra, đòi hỏi độc giả phải tự trang bị cho mình một nền tảng kiến thức nhất định khi đọc thơ: “Thơ ca càng ảo bao nhiêu càng đem lại sự chân thực bấy nhiêu. Đó là cách gọi ra phần cảm chứ không phải làm rối tung ý tưởng lên” [79,tr.400]. Sự khó hieu của thơ Mai Văn Phấn có nhiều lí do nhưng nhìn chung lại nó nằm trong hệ thống của thơ hiện đại thế giới. T.S. Eliot đã rất có lí khi cho rằng, “đó là tâm lí tiếp nhận của người đọc chỉ định hiểu nghĩa ngay lần đọc đầu tiên còn thơ thì mới lạ quá còn nhà thơ thì giãi bày theo những cách riêng khuất khúc, tối tăm, nhà thơ lại lấy đi những điều mà người đọc thường hay tìm thấy khiến họ bị hoang mang, phải mò mẫm dò tìm cái vắng mặt, cố kiếm tìm một loại ý nghĩa mà nó không có ở đó và không hề có ý định ở đó” [36].

2.2.2. Cách tân trong quan niệm về nhà thơ của Mai Văn Phấn ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Mỗi nhà văn, nhà thơ đều có cách quan niệm riêng về bản chất của người nghệ sĩ và công việc sáng tác của họ. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ quan tâm đến những quan niệm liên quan đến ý thức cách tân của một nhà thơ tiêu bieu trong phong trào làm mới thơ ca hiện nay.

Theo quan niệm của nhà thơ Mai Văn Phấn, nhà thơ phải là người mang trọng trách sáng tạo ra cái mới, cái lạ. Thực ra quan điem này không mới, năm 1943, nhà văn Nam Cao trong tác phẩm Đời thừa đã từng viết: “Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”. Từ xa xưa, các nhà thơ nhà văn phương Đông phương Tây đã quan niệm như vậy. Tuy nhiên, như đã nói ở phần trước, sáng tạo ra cái mới luôn là phẩm chất hàng đầu của văn chương ở bất kỳ thời đại nào. Cái mới trong thời đại Thơ mới của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử… là bước đột phá so với thơ thời trung đại, nhưng đến sau Cách mạng tháng Tám và đặc biệt sau khi hòa bình lập lại trên đất nước ta, nó không còn mới nữa. Tự các nhà văn, nhà thơ có nhu cầu bứt phá khỏi ảnh hưởng của thơ ca truyền thống, thậm chí cực đoan hơn muốn đoạn tuyệt với truyền thống như một số ít các nhà thơ. Tuy nhiên như chúng tôi đã trình bày ở trên, Mai Văn Phấn không chủ trương phủ nhận truyền thống, mà thậm chí anh còn quan niệm: nhà thơ cách tân đổi mới không với mục đích gì khác là làm giàu thêm giá trị thơ ca dân tộc. Do vậy, khi đọc thơ Mai Văn Phấn chúng ta vẫn nhận thấy những âm hưởng quen thuộc trong việc lựa chọn đề tài, cách the hiện nội dung và trên hết là những va đập quen thuộc trong âm hưởng cuộc sống, hiện thực.

Đe tạo ra cái mới cho thơ, đòi hỏi mỗi nhà thơ phải có tinh thần trách nhiệm trong công việc sáng tác của mình, phải lao động nghiêm túc và có tinh thần học hỏi. Mai Văn Phấn đã hết sức quan tâm và nhiều lần nhấn mạnh điều này: “Sáng tạo thi ca, với tôi không đến ngẫu nhiên, gặp hoàn cảnh, may mắn, hay sự hồi đáp chóng vánh kiểu “tức cảnh sinh tình”… Mọi yếu tố cần thiết cho sự xuất hiện một bài thơ tôi thường chuẩn bị kỹ lưỡng, có khởi thuỷ, định hình trên lộ trình tới kết quả” [79]. Mỗi nhà thơ đều có cách sáng tác riêng, nhưng đều phải công phu rèn tập thì mới mong đem lại sức sống cho tác phẩm của mình. Điều quan trọng hơn cả đó là làm sao nhà thơ “luôn mang giá trị biệt lập, độc sáng, không trùng hợp với những người khác, và, không lặp lại chính mình”. Theo Mai Văn Phấn đây là một đòi hỏi rất cao và khó nhất đối với mỗi nhà thơ trong hành trình sáng tạo. Đây là một nhận định đúng bởi vì trong thực tế, những bài thơ được viết một cách quá dễ dàng mà hay toàn diện là rất hiếm và thường chỉ có ở những nhà thơ đã có cả quá trình làm việc nghiêm túc với nghề, khả năng sáng tạo đã trở thành thường trực trong tâm thức.

Mai Văn Phấn quan niệm rằng, ở mỗi nhà thơ trong hành trình sáng tạo của mình không the thiếu quá trình tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, vốn sống… quá trình nỗ lực không ngừng tự tạo lập một đời sống nội tâm biệt lập và mới mẻ, biến hóa đa dạng hơn nhiều so với bất cứ hoạt động sống thông thường nào. Từ đó, nhà thơ phải “Tự mở” cho mình cánh cửa vào thế giới nghệ thuật riêng. Quá trình tích lũy đến mức “tự mở” được không gian nghệ thuật riêng biệt sẽ giúp nhà thơ biết nghi vấn, cật vấn những giá trị cũ, trước hết của chính mình ở những giai đoạn trước, sau đó có khả năng định hình, định vị thơ đương đại chúng ta đang ở đâu, sẽ đi tới đâu

Những quan niệm trên của nhà thơ cho thấy, Mai Văn Phấn rất chú trọng đầu tư, tìm tòi chiều sâu giá trị của thơ ca, đầu tư công sức vào kỹ thuật làm thơ, tức là chú ý triệt đe khai thác giá trị của hình thức thơ ca trong việc bieu đạt nội dung sao cho phù hợp với xu thế phát trien chung của thời đại. Và việc sáng tạo là một quá trình tiến trien không ngừng đòi hỏi nhà thơ luôn phải nỗ lực tìm cách vượt qua chính mình, những gì mình đã sáng tạo ra trước đó. Chính điều đó đã làm cho sáng tác của Mai Văn Phấn có nhiều cái mới lạ, độc đáo so với thơ ca đương thời.

Một điem nữa rất đáng quan tâm trong quan niệm về nhà thơ của Mai Văn Phấn, đó là mối quan hệ giữa nhà thơ và những sáng tác của họ. Về điem này, nhà thơ Mai Văn Phấn trong một lần trả lời phỏng vấn cho rằng: “Văn chương là hành trình đơn độc đi tìm cái đẹp. Tác phẩm văn học, trước hết quay lại hoàn thiện nhân cách, quan niệm thẩm mỹ và định hướng cho chính nhà văn ấy”. Như vậy có the thấy, Mai Văn Phấn quan niệm rất rõ, nhà thơ là người tự do sáng tạo, là người lao động nghệ thuật nghiêm túc, cầu tiến trong nghề nghiệp của mình. Nhà thơ phải là người mang lại sinh khí mới cho những vấn đề đã quen thuộc, sáo mòn có san. Và hơn cả nhà thơ luôn xác định rõ trách nhiệm, gánh nặng trên vai của người thi sĩ khi dấn thân vào con đường “vong thân”. Nếu e ngại dư luận, nhà thơ sẽ không the đạt được mục đích đề ra. Nhà thơ luôn ý thức được rằng: “Đổi mới thi pháp trước hết là từ chối ve vuốt những sở thích của người đọc, nhằm tạo những sóng từ khác, những mã số khác trong không gian thơ vừa được khám phá” [79,tr.378]. Như vậy, trong hành trình đổi mới thơ, nhà thơ phải là người dám thử và dám chấp nhận những sức ép từ công chúng, tự tin vào con đường mình đã chọn, và phải biết kiên trì chờ đợi “lãi âm”. Nhà thơ phải “có đủ kiến thức thi ca, có nền tảng văn hóa & xã hội sâu rộng, có bản lĩnh khám phá và cả lòng dũng cảm, bình tĩnh trước sức ép công luận, dám chấp nhận đơn độc trên con đường mới, mở ra một không gian thơ khác, tạo tiếng nói khác” [79,tr.382]. Tức là nhà thơ ngoài việc tích lũy kiến thức, vốn sống, kinh nghiệm, còn phải biết dũng cảm tiên phong trong công cuộc đổi mới thơ ca, dám hi sinh vì nghệ thuật, vì đời sống tinh thần nhân loại. Những quan niệm trên cho thấy, Mai Văn Phấn rất tự giác trong việc làm mới thơ Việt đương đại.

2.3. Tù sự cách tân trong quan ni m ngh thuật đến một mô hình thế giới ngh thuật mới trong thơ Mai Văn Phấn

Từ xưa tới nay, thơ hay bao giờ cũng phải gây được sự đột biến thực sự, nghĩa là phải tạo ra được sự liên tưởng bất ngờ, đột ngột tạo ra sự độc đáo và thú vị. Đối với thơ hiện đại điều quan trọng nhất đe nhà thơ đánh dấu tài năng của mình là phải tạo ra được cái mới in đậm dấu ấn sáng tạo của cá nhân người nghệ sĩ, phải xây dựng được một thế giới nghệ thuật độc đáo, đẹp và mang đậm tính nhân văn của riêng mình, có được một cấu trúc đặc thù. Từ đó đòi hỏi người đọc phải có một cách tiếp cận mới đe “giải mã” thế giới nghệ thuật đặc thù ấy. Nhà thơ Mai Văn Phấn đã phần nào làm được điều đó.

2.3.1. Kiểu nhân vật trữ tình đắm say một cách “tỉnh táo” ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Chúng ta thường bắt gặp trong thơ truyền thống những kieu nhân vật trữ tình được các nhà thơ gửi gắm trong đó những tình cảm đắm say, trực tiếp bộc bạch tình cảm cảm xúc một cách duy cảm, duy mỹ:

Làn thu thuỷ nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Ta thấy Nguyễn Du đã miêu tả vẻ đẹp Thuý kiều không dài, chỉ vài câu thôi, vậy mà ta như thấy hiện ra trước mắt một thiếu nữ “tuyệt thế gia nhân”. Mắt nàng thăm thẳm như làn nước mùa thu, lông mày uốn cong xinh đẹp như dáng núi mùa xuân; dung nhan đằm thắm đến hoa cũng phải ghen, dáng người tươi xinh mơn mởn đến mức liễu cũng phải hờn. Khi đọc đến đoạn này ta không chỉ rung động, thán phục mà có một cảm giác xốn xang khó tả bởi nàng Kiều Xinh đẹp quá. Thủ pháp ước lệ, nhân hoá là biện pháp tu từ phổ biến trong văn học cổ được tác giả sử dụng xuất sắc, kết hợp với việc dùng đien cố “nghiêng nước nghiêng thành”, tác giả đã làm cho ta không chỉ đọc, chỉ nghe, chỉ cảm nhận, mà như thấy tận mắt nàng Kiều. Nàng quả là có một vẻ đẹp “sắc sảo mặn mà” Ta có the nói là “có một không hai” làm mê đắm lòng người. Sở dĩ nhà thơ miêu tả Thúy kiều như vậy là do xuất phát từ một quan niệm bất biến về Thúy kiều – một cô gái nết na nhan sắc tuyệt trần, một nhan sắc không tỳ vết và cùng với đó là một thái độ trân trọng, ngưỡng mộ của nhà thơ được bộc lộ trực tiếp không giấu diếm.

Hay ở đoạn thơ sau trong bài Mẹ Tơm của Tố Hữu, tính duy cảm duy mỹ vẫn được the hiện khá rõ:

Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa

Một buổi trưa nắng dài bãi cát

Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa

Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát

Các hình ảnh tượng trưng diễn tả tâm trạng nhà thơ: có tiếng gió, tiếng hát trong lòng. Đó là tình cảm bâng khuâng náo nức, xôn xao và biết bao êm ái vui sướng trong lòng người trở về quê cũ, nơi đã từng nuôi giấu mình trong những tháng năm hoạt động cách mạng. Tình cảm của nhà thơ dành cho Mẹ Tơm được bộc bạch thật thắm thiết không cần tiết chế.

Trong thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn, nhà thơ thường nén chặt cảm xúc, tình cảm, tiết chế tới mức tối đa. Đe từ đó trái tim và trí tuệ cùng lên tiếng, nhân vật trữ tình trong thơ Mai Văn Phấn thường là kieu nhân vật tuy cũng rất say sưa cùng cảm xúc nhưng cũng rất “tỉnh táo” phản ánh thế giới bên ngoài cũng như bộ lộ tình cảm nội tâm. Thơ Mai Văn Phấn không mô phỏng đời sống rồi đặt vào đó ý tưởng, cảm xúc mà thường tạo áp lực, dồn nén cảm xúc đe từ đó thiết lập một thế giới riêng. Đó là những khoảng không như chỉ mình ông thấy, rất độc đáo và có phần biệt lập. Trong bài trả lời phỏng vấn Báo The thao & Văn hoá số 11 ngày 6/02/2004, Mai Văn Phấn nói về không gian thơ của mình như sau: “Bây giờ sáng tạo trong một quan niệm riêng, tôi thực sự thấy tự do tuyệt đối, được “làm vua” những “con chữ” của mình”. ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Trong những sáng tác của anh, chúng ta có the nhận ra một nhân vật trữ tình hiện hữu với những cảm xúc nồng nàn rất đắm say, đang thả hồn mình theo mạch thơ bất tận và dường như mạch thơ ấy không có điem dừng bởi nó đang vận động hối hả cuộn xiết, đuổi bắt những hình ảnh thơ liên tiếp bật ra từ những ý tưởng. Tuy nhiên, chúng ta vẫn luôn cảm nhận được sự kiem soát tâm trạng hết sức “tỉnh táo” của nhà thơ. Có the dẫn ra một bài thơ tiêu bieu cho những cách tân ở giai đoạn gần đây của Mai Văn Phấn đe làm minh chứng: “Luôn tin có em trong miệng anh/Nơi không chiến tranh, dịch hạch/Mũi tên bắn lén tẩm độc/Thị phi, cạm bẫy, lọc lừa Lối em đi không còn gai nhọn Bão tràn qua anh dựng tường ngăn/ Bình yên trong miệng anh/Em thúc nhẹ bờ vai/Vòm ngực, ngón chân vào má/Huyên thuyên và hát thầm/Hồn nhiên cho lưỡi và răng anh chạm vào cơ thể/Anh là con cá miệng dàn dụa trăng/Rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động” (Ngậm em trong miệng).

Quả là hết sức độc đáo, mới lạ khi nhà thơ tưởng tượng, sáng tạo nên hình ảnh thơ tưởng tượng em “Bình yên trong miệng anh” “Hồn nhiên cho lưỡi và răng anh chạm vào cơ thể”. Tuy nhiên, khi ta hieu được rằng nhà thơ làm thơ trước hết xuất phát từ cảm xúc, đáp ứng nhu cầu thiết tha, rạo rực của một con tim đang yêu say đắm, muốn chiếm lĩnh trọn vẹn người mình yêu, sở hữu tâm hồn, the xác và hơn cả là mong muốn chở che, bao bọc trọn vẹn cho người yêu nhỏ bé, mỏng manh kia của minh. Tuy nhiên không phải vì thế mà nhà thơ thả trôi cảm xúc của mình mà tỉnh táo với một ý tưởng thơ hết sức táo bạo, không giãi bày trực tiếp, huy động tối đa trí tuệ đe lên tiếng cùng con tim đang thổn thức. Khi đó ta sẽ thấy rằng nhà thơ đã rất có lí khi đặt người đọc vào trong không gian thơ lạ lẫm, thậm chí biệt lập với thế giới cảm xúc của họ. Đó là một thế giới đa tầng, đa ngã đầy biến ảo đòi hỏi người đọc phải thực sự huy động tối đa trí tưởng tượng phong phú của mình đe tiếp nhận, đe đồng điệu với tâm hồn nhà thơ, đồng sáng tạo với những gì nhà thơ còn đang đe ngỏ chờ bước chân khám phá, chiếm lĩnh của người đọc khi tiếp cận không gian thơ đầy rẫy những điều mới mẻ, hấp dẫn. Với bài thơ này, người đọc phải “Hiểu” rồi mới “Cảm”, một quy trình “Ngược” so với cách tiếp nhận thơ truyền thống là từ “Cảm” đến “Hiểu”. Cũng như nhà thơ đe có được một không gian thơ phù hợp với bước đi của thời đại, phản ánh được đời sống tâm hồn, theo đuổi đến cùng cái đẹp mình đã nhìn và cảm thấy, vươn tới tự do, bác ái, công bằng… thì người đọc đe cảm nhận được và đồng sáng tạo được với nhà thơ, phải không ngừng tích lũy kinh nghiệm, vốn sống, trau dồi không ngừng những tri thức văn hóa truyền thống. Và đặc biệt cả nhà thơ và độc giả phải biết “hoài nghi” lớn về những giá trị cũ đe khao khát làm ra cái mới phù hợp với quy luật của sự đa dạng và vô biên, tìm được tiếng nói đích thực của thế hệ mình.

Có the thấy rõ rằng, chủ trương thiết lập thế giới nghệ thuật riêng của nhà thơ với một dung lượng cảm xúc được dồn nén trong cả vùng thẩm mỹ của toàn bài thơ được the hiện rất rõ nét. Những dòng mạch cảm xúc dâng trào, thúc ép nhà thơ phải bộc bạch, giãi bày một cách chân thực, sinh động nhất, nhưng đe làm được điều đó nhà thơ đã không “phó mặc” cho tình cảm mà còn huy động trí tuệ với biên độ mở rộng vốn có của nó đe đạt hiệu quả tốt nhất, tạo ra tiếng nói khách quan trong thơ, khơi gợi được những liên tưởng, tưởng tượng từ phía người tiếp nhận. Điều đó được nhà thơ the hiện rất rõ ràng qua lời tâm sự về thơ: “Thơ hiện nay thường ít tập trung vào những điểm chập nổ, những câu thơ nhói sáng mà gây sức ép lớn ở vùng bị ảnh hưởng để làm nên độ vang vọng và chân thực nhất của sự vật”. Đây thực sự là một quan niệm mới mẻ và hiện đại, trái ngược với quan niệm thơ ca truyền thống coi nghệ thuật “điểm nhãn”, “thần cú” như một yếu tố quan trọng đe bộc bạch, giãi bày tình cảm, cảm xúc theo hướng một chiều từ tác giả tới người đọc. Chính bởi xuất phát từ quan niệm như trên mà thơ Mai Văn Phấn luôn tập trung giãi bày những dòng cảm xúc chân thực, sống động bằng một lối bieu đạt hết sức dung dị, nhưng được bao chứa dưới một ý tưởng hết sức đặc biệt. Điều đáng nói ở đây đó là từ cảm xúc chân thực, nhà thơ điều khien những “con chữ” thiết lập nên một thế giới, một không gian nghệ thuật thơ của riêng mình độc đáo, thách thức độc giả cùng chiêm nghiệm, tìm tòi, khám phá những tầng vỉa cảm xúc đó, đồng thời đồng sáng tạo với nhà thơ. Có the nói thiết lập không gian thơ với những hình ảnh độc đáo riêng biệt không giống ai, không hòa trộn với người khác, không hòa lẫn và không chịu sự chi phối bởi một khuynh hướng sáng tác nào trên thế giới là một quan niệm hết sức tiến bộ, mới mẻ, the hiện một tâm huyết của một nhà thơ luôn khao khát làm mới mình, làm mới, làm giàu cho truyền thống văn học Việt Nam.

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

2.3.2. Mai Văn Phấn chủ trương xây dựng một không gian – thời gian nghệ thuật riêng ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Không gian – thời gian nghệ thuật chính là môi trường hoạt động của chủ the trữ tình trong thơ đồng thời phản ánh cảm quan của người nghệ sĩ về thế giới. Cái nhìn hoài nghi hay thuần khiết, chân thực hay ảo tưởng được the hiện rõ nét trong cách người nghệ sĩ xây dựng các chiều kích không gian, thời gian. Không gian và thời gian nghệ thuật luôn là một yếu tố hàng đầu khi ta muốn khám phá thế giới nghệ thuật của một nhà thơ từ góc độ thi pháp học. Khi tiến hành nhận diện gương mặt thơ Mai Văn Phấn chúng ta cũng không the bỏ qua hai yếu tố trên. Sự đa dạng của các loại hình không gian, thời gian là sự phản ánh chân thực nhất diện mạo riêng của cõi vô thức của siêu thực trong thế gián cách với cõi thực vốn đã được văn chương khám phá từ lâu.

  • Kiểu không gian đa diện – biến ảo

Trong hành trình sáng tạo, nhà thơ Mai Văn Phấn hết sức chú trọng tới việc xây dựng một không gian độc đáo, riêng biệt trong thơ mình “Trách nhiệm của mỗi nhà thơ là khám phá cho được không gian nghệ thuật của chính mình, nếu muốn thực sự tồn tại trong không gian mới của thời đại. Cách lập ngôn của nhà thơ không đơn thuần là giọng nói, mà chính là cách thiết lập không gian” [79,tr.375]. Xuất phát từ nhận thức trên, Mai Văn Phấn chủ trương xây dựng trong thơ anh kieu không gian đa diện – biến ảo, một loại không gian khả năng chuyen tải được một cách linh hoạt những dụng ý nghệ thuật, những đa diện, phồn tạp của cuộc sống, đồng thời tạo được độ khơi gợi lớn lao đối với người đọc. Trong thơ Mai Văn Phấn, bieu hiện rõ nhất của không gian đa diện – biến ảo là không gian vụt hiện chập chờn giữa thực và ảo và không gian vô thức siêu thực.

Kieu không gian vụt hiện là một trong những yếu tố cơ bản làm nên diện mạo của cảm xúc khi nhà thơ đe nó được tự do hoàn toàn trong cõi vô thức không có đường biên và tìm được cho mình những cách thức hiện hình rất riêng. Muôn màu, muôn vẻ, kieu không gian vụt hiện là kieu không gian hiện ra không theo một trật tự lôgic thông thường của hiện thực khách quan mà thực sự là cuộc dạo chơi của các mảng màu, hình khối. Lớp lớp các miền không gian xuất hiện trong từng bài, thậm chí từng câu theo cuộc tuần du của cảm xúc, những mối liên hệ cố hữu, những bước di chuyen hien nhiên cần phải có giữa các miền không gian ấy đều trở nên nhạt nhòa. Cùng với lối tư duy “nhảy cóc”, cảm xúc liên tục chuyen “kênh”, không gian theo đó cũng liên tục chuyen vùng. Ở trong thơ Mai Văn Phấn, kieu không gian này xuất hiện rất phổ biến. Nó làm nên một diện mạo riêng trong thơ anh. Cách xuất hiện các miền không gian đầy vẻ ngẫu nhiên khiến cho cảm giác người đọc liên tục được làm mới, mỗi bài thơ là một chuỗi những ngạc nhiên, tác giả đưa người đọc tuần du tới những miền không gian xa lạ, gợi mở những liên tưởng độc đáo. Chúng ta thử điem lại một số bài thơ thành công nhất của Mai Văn Phấn, có the thấy kieu không gian vụt hiện đã trở thành bản sắc độc đáo. Bài thơ Hình đám cỏ trong tập thơ Bầu trời không mái che là một bức tranh thiên nhiên với nhiều sự vật, sắc màu. Không gian bài thơ được dựng lên như một khối vuông rubic với sự chuyen màu linh hoạt theo từng góc nhìn, theo mỗi chiều xoay. Theo dấu âm thanh, không gian được nới rộng dần từ “Bước sơn dương gõ lên mặt đất” phiêu lãng cùng với cỏ cây, nắng mới, núi cao, tảng đá, mặt trời, bức tường rồi chợt bơ vơ dừng lại nơi vòm cây, tổ chim hơi thở ban mai… Có the nói cả bài thơ với IX nhịp thơ, người đọc có the nhận thấy khá nhiều dấu ấn của hội họa. Nhà thơ giống như một họa sĩ với tình yêu bất tận dành cho các con chữ. Bài thơ Hình đám cỏ thực sự là một thách thức với trí tưởng tượng của người đọc khi ở cả IX nhịp thơ hình ảnh này chưa qua, hình ảnh khác đã vội xô tới, không gian này vừa vừa mới khép lại thì lớp lớp không gian khác đã kịp mở ra: “Góc phố lặng yên nép vào hơi thở/Đất chuyển mùa/Hàng lan can bên kia bông hoa/… Gốc cổ thụ cũng trong suốt… Muốn dừng lại bên đường/ Nằm lên cỏ/Trời cao mong leo lên cây/ Nhìn xuống tiếc nuối cát”. Trong sức hấp dẫn của vẻ đẹp thiên nhiên vạn vật, không gian thơ mất đi mọi đường biên chỉ còn lại “Mơ giăng cỏ mượt” lạc vào “Con đường ngủ yên lá cây” hay hiền lành êm dịu như “Môi sương ngậm vạt cỏ đầm”. Mất đi độ kết dính trong liên hệ giữa các mảng không gian trong Bức ãnh, trái cây và giấc mơ cũng mở ra một loạt những cảm giác khi nhà thơ đặt cạnh nhau những mảnh ghép ít mối liên hệ “Những bức cảnh thiếu sáng”, “Những trái cây chín ép” với “giấc mơ rụng cánh trước cơn mưa”. ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Bên cạnh không gian vụt hiện như trên, trong thơ Mai Văn Phấn chúng ta thấy cũng thường xuất hiện một kieu không gian bất phân thực – ảo. Nếu như không gian vụt hiện là sự hữu hình hóa con đường cảm giác của cái tôi say đắm thì không gian bất phân thực ảo là môi trường nuôi dưỡng cái tôi ấy. Đời sống, tình cảm, tâm trạng trong thơ hiện lên với diện mạo đặc trưng hơn cả bằng những miền không gian không the gọi tên. Những mảng màu, hình khối cho tới địa danh được gọi về từ cõi tâm linh, từ những miền kí ức ngủ quên, thường hiện lên trong màu sắc hư ảo, khó xác định được thuộc quá khứ, hiện tại hay tương lai, đó là hình ảnh của cõi mơ, hay vẫn là hình ảnh của cõi thực được khúc xạ qua con mắt vô thức. Không gian này khá đặc trưng cho thơ Mai Văn Phấn – thi sĩ có những lúc dường như sống với cõi mơ nhiều hơn cõi thực. Trong những khoảnh khắc phiêu du, nhà thơ thoát li khỏi đời thực đe “bừng ngộ”những gì đã sống qua nhưng bị vùi sâu vào quên lãng. Nhờ vào cơ chế vụt hiện của tiềm thức và sự dẫn dắt mà chuyện thực và mộng đều có the lý giải đến tận cùng. Không gian nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn chủ yếu đồng hiện qua hư cấu, tưởng tượng được bao phủ bởi một màn sương quá khứ mờ ảo, mất đi địa chỉ cụ the đe trở thành những bieu tượng.

Không gian vụt hiện và chập chờn giữ thực và ảo liên tục được trở đi trở lại trong thơ Mai Văn Phấn. Trong không gian ấy có sự đan cài, kết nối một cách đứt quãng các hình ảnh vừa thực vừa ảo. Những hình ảnh hiện thực bất ngờ “nhảy cóc” đến ở bên những hình ảnh của “giấc mơ” thật khó tìm ra ý nghĩa của văn bản ngôn từ nghệ thuật này khi ta kết nối hệ thống hình ảnh ấy theo tư duy tuyến tính thông thường của cách đọc truyền thống. Bài thơ “Em đừng thức giấc” là minh chứng cho kieu loại không gian này.

Ở hai câu đầu, ta bắt gặp những hình ảnh của một không gian hiện thực thật rõ ràng và chính xác: “Ngôi nhà và mặt hồ phẳng lặng/Con chim Tiểu Mi ngoài khung cửa nhìn em”. Một không gian gia đình thơ mộng, một chi tiết nghệ thuật xuất hiện đã tô đậm thêm sự đáng yêu và vẻ đẹp yên bình cho không gian này “Con chim Tiểu Mi ngoài khung cửa nhìn em”. Nhưng đến năm câu thơ tiếp, thì một không gian ảo đột ngột xuất hiện tưởng chừng như chẳng có liên quan gì về mặt ngữ nghĩa với không gian hiện thực ở hai câu đầu. Cấu tứ của bài thơ đã có sự nhảy cócbất ngờ và không the đoán định trước:

“Trong giấc mơ có anh/Bên em không hề biết/Anh xoài mình khắp những tán cây/Con dốc ven hồ, Vạt hoa trinh nữ/Con thú hoang nhảy nhót trong mơ”.

Không gian giấc mơ của em dược phác họa và thật lạ lùng khi nhân vật trữ tình “anh” đã ở trong giấc mơ ấy mà “em” không biết gì. Một giấc mơ lồng trong giấc mơ khi anh hóa thành gió, hay thành một sinh the khổng lồ đe “xoài mình” ôm choàng, bao phủ lên “khắp những tán cây”, “con dốc ven hồ”, “vạt hoa trinh nữ…”. Khát khao được yêu thương em tong đời thực như không đủ, hòa nhập vào em trong thực tại như không thỏa đã vụt hiện mình thành hành động “xoài mình” đe âu yếm trong giấc mơ của “em”. Thủ pháp so sánh ngầm đã lược bỏ từ so sánh “như” đe làm xuất hiện hình ảnh “Con thú hoang nhảy nhót trong mơ”. Nếu xét theo lôgic thông thường thì quan hệ giữa hình ảnh với các hình ảnh trước nó là phi lôgic. Nhưng trong không gian chập chờn giữa thực và ảo này, sự vụt hiện hình ảnh trên là hoàn toàn hợp lý: nhân vật trữ tình “anh” đã ở trong giấc mơ của “em” đe “xoài mình”, ôm choàng lấy, nằm ngả lên những bức tranh thiên nhiên thật thơ mộng xuất hiện trong giấc mơ của “em”, đe rồi anh ta thấy mình biến thành “Con thú hoang nhảy nhót” trong không gian giấc mơ huyền ảo ấy.

Đến bốn câu kết, vẫn là một không gian chập chờn giữa thực và ảo được phác họa:

“Hít hà…/Sinh cho thế gian những đứa con bụ bẫm/Và thêm nhiều nữa tán cây/Những vạt hoa trinh nữ…”.

Động từ Hít hàmở đầu khổ thơ như là một hệ quả tất yếu của hành động “anh xoài mình”, nó gián tiếp gợi tả vẻ thèm khát sung sướng khi thưởng thức vẻ đẹp của tạo vật, của chính “Con thú hoang nhảy nhót trong mơ” ke trên. Thủ pháp tỉnh lược được vận dụng tối đa đe tạo ra những mảng không gian, những “phiến đoạn” hình ảnh tưởng chừng như rời rạc xuất hiện cạnh nhau, nhưng đằng sau hình thức nghệ thuật tưởng chừng phi lý ấy là sự hợp lý. Anh thấy mình hóa thành con thú hoang nhảy nhót trong mơ đe rồi hít hà…những “tán cây”, “con dốc”, “vạt hoa trinh nữ” và đối tượng được đắm say hơn cả tất yếu phải là “em” đe một kết quả tất yếu sau những khát khao yêu thương này là “Sinh cho thế gian những đứa con bụ bẫm”. Bên cạnh những “đứa con” ấy, khát vọng yêu thương và mơ hồ cả những khát khao tính dục bất ngờ mở ra những biên độ mới trong không gian giấc mơ của em: hãy thêm nhiều nữa “tán cây” “những vạt hoa trinh nữ…”, hãy thêm vào giấc mơ của em nhiều hơn nữa cái đẹp, sự sống và đặc biệt là sự thanh sạch qua bieu tượng “những vạt hoa trinh nữ”. Trong xã hội hiện đại hôm nay, mặt trái của cơ chế thị trường đã khiến cho một bộ phận không nhỏ con người tha hóa ngày một “đục ngầu hơn” trong đời thực, trong suy nghĩ và tất yếu là trong cả giấc mơ của họ, đặt vào bối cảnh ấy, khát vọng ke trên của nhà thơ càng giàu thêm giá trị nhân văn, và sâu thẳm trong đó là sự lo âu, bất an trước sự tha hóa của con người, trong đó có the có cả “em” nữa.

Bên cạnh bài thơ “Em đừng thức giấc” kieu không gian vụt hiện và chập chờn giữa thực và ảo còn xuất hiện trong một số bài thơ khác như: Tin nhắn giao thừa. Nhịp II, III, V trong Hình đám cỏ… Không gian vụt hiện thực sự là một thách thức đối với những ai có thói quen đọc thơ là quyết tâm đi đến tận cùng của nghĩa. Sự chắp vá của không gian cũng như sự đứt nối của cảm xúc đều cho thấy cái mông lung, hư ảo trong cõi vô thức. Nó từ chối mọi sự cắt nghĩa rõ ràng nhưng cũng là một động lực đe người ta phải háo hức kiếm tìm, khám phá.

Không gian vô thức – siêu thực chính là bài toán giải tỏa sự bế tắc, phẳng lỳ, nhàm chán của diễn biến tâm lý con người ở vào thời điem lịch sử rất khó định danh vì bị chi phối bởi tinh thần thời đại. Siêu thực còn là giải pháp đưa con người vào trạng thái huyễn tưởng, tìm về vô thức, kích hoạt những vùng tối đang ngủ yên, thức tỉnh đe chúng tham gia tối đa vào quá trình tư duy sáng tạo. Không gian vô thức là không gian được tạo dựng bằng những “vật liệu” đặc biệt, những hình ảnh từ cõi vô thức, tiềm thức vụt hiện và kết nối cho những kieu quan hệ ngữ nghĩa không bình thường nếu so sánh với các kieu quan hệ nhân – quả; đẳng lập; bổ sung ý nghĩa trong thơ truyền thống. Không chỉ có thế, hệ thống hình ảnh của không gian vô thức này lại được Mai Văn Phấn rọi chiếu “ánh sáng” siêu thực vào nó. Với những cách khám phá mới, bieu hiện mới đã mang lại những kích cỡphi thường, dị biệt. Sự kết hợp của chúng đã tạo ra không gian vô thức – siêu thực trong thơ Mai Văn Phấn. Một không gian có cấu trúc như khối vuông rubic đầy biến ảo, đa diện, đa tầng và đa nghĩa. Bài thơ Mùa trăng là một trong nhiều ví dụ làm sáng tỏ cho kieu không gian nghệ thuật này. Bài thơ được chia làm ba khổ và đánh số thứ tự I, II, III. Sự kết hợp của ba tieu không gian ấy đã tạo lập một không gian nghệ thuật độc đáo: ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

“Trăng đã về bên kia

Phủ lên những nụ hôn khác

Màn sương, mùi cỏ khác

Nơi ấy một dòng kênh

Bóng con thuyền nhỏ qua cầu

Bờ đá nằm im nghe mồ hôi lạ

Giọt giọt trăng khuya

Bàn tay em tìm trăng

Từng ngón đêm lóe sáng

Một con đường thanh sạch

Thức dậy làm hương

Cuỗi thanh âm tràn dâng ngày

Men theo trăng, cười nói trăng

Nghẹn thở một màu trong suốt”.

Ở ba câu đầu là hình tượng trăng xuất hiện trong một không gian mơ hồ, không xác định “Trăng đã về bên kia”, vậy “bên kia” là ở đâu , một địa điem mang tính phiếm chỉ và chỉ xuất hiện tong mối tương quan với bên này gần gũi hơn, queb thuộc hơn với chủ the trữ tình. “Trăng” vốn là bieu tượng muôn đời của cái đẹp, nhưng đã dời xa “bên này” đe “phủ lên những nụ hôn khác – màn sương, mùi cỏ khác”, phải khát khao cái đẹp nhiều lắm mới bâng khuâng khi vầng trăng ra đi và ban tặng “ánh sáng” của nàng cho những đối tượng khác thuộc những miền không gian khác.

Đến khổ thơ thứ hai, một không gian siêu thực xuất hiện như đe làm sáng tỏ hơn không gian “bên kia” ở khổ thứ nhất. Những hình ảnh siêu thực xuất hiện dòng kênh và “Bóng con thuyền nhỏ qua cầu”, đặc biệt thủ pháp siêu lạ hóa phác họa hai hình ảnh siêu thực như chẳng có gì liên kết với nhau: “Bờ đá nằm im nghe mồ hôi lạ – giọt giọt trăng khuya”. Phải tìm về với khổ thơ thứ nhất và không gian “bên kia” thì ta mới mơ hồ hieu được những hình ảnh độc đáo này. Khi trăng đã dời xa bên này đe “phủ” ánh sáng lên những “nụ hôn khác”, “màn sương, mùi cỏ khác”, thì chủ the trữ tình trong niềm tiếc nuối của mình đã hóa thân thành “bóng con thuyền nhỏ qua cầu” đe biến thành “Bờ đá nằm im” như mai phục, như rình xem trộm, đe giờ đây “nghe mồ hôi lạ” của kẻ khác đã được sự ân sủng của vầng trăng. Sự ân sủng ấy được gợi tả qua một hình ảnh đặc sắc xây dựng bằng thủ pháp chuyen đổi cảm giác, biến vô hình thành hữu hình “giọt giọt trăng khuya”. Chỉ trong miền vô thức mới có hành trình kiếm tìm mơ hồ ấy và mới có những hình ảnh siêu thực ấy.

Khổ ba và bốn tính siêu thực còn được đẩy lên cao hơn nữa theo hành trình kiếm tìm cái đẹp qua bieu tượng vầng trăng này:

“Bàn tay em tìm trăng Từng ngón đêm lóe sáng Một con đườngthanh sạch Thức dậy làm hương

Chuỗi thanh âm tràn dâng ngày Men theo trăng, cười nói trăng Nghẹn thở một màu trong suốt.”

Nếu như ở khổ thứ hai, ta bắt gặp sự kiếm tìm vô vọng của chủ the trữ tình khi “trăng” đã về bên kia, thì đến hai khổ thơ này, hành trình kiếm tìm của nhân vật “em” đã đến đích bởi hình như “trăng” đã tỏa sáng trong “em”, hay “em” hóa thành trăng?! Khi mà “Bàn tay em tìm trăng/Từng ngón đêm lóe sáng” thì chính em đã tỏa sáng như trăng rồi. Bởi hành trình kiếm tìm cái đẹp của em cũng chính là hành trinh của cái đẹp: “Một con đường thanh sach/Thức dậy làm hương”. Các hình ảnh của khổ bốn vụt xuất hiện sau khổ ba theo một lôgic “nhảy cóc” được tạo dựng bằng những liên tưởng rất xa xôi. Cách đọc và tiếp nhận thông thường không dễ giải mã những hình ảnh câu thơ này: “Chuỗi thanh âm tràn dâng ngày”, chuỗi âm thanh ấy là tiếng cười hay tiếng hát của em đe đêm thành bien, chuỗi âm thanh thành sóng “tràn dâng” từ đêm qua sang ngày hôm nay.

Hai câu kết, chủ the trữ tình như đã xuất hiện đe cùng bên em “Men theo trăng, cười nói trăng – Nghẹn thở một màu trong suốt”. Ta thấy có gì đó phảng phất những vần thơ về trăng của Hàn Mặc Tử nhưng ấm áp, tin yêu hơn, bởi trên hành trình kiếm tìm cái đẹp của nhà thơ đã có “em” đi cùng. “Em” cũng chính là “trăng” đe “anh” “men theo”, cười nói cùng vầng trăng thân thương bên cạnh và có lẽ cũng phải có một nụ hôn nồng cháy dành cho người con gái “trăng” ấy mới xuất hiện trạng thái kỳ diệu “Nghẹn thở một màu trong suốt” này.

Như vậy, nhà thơ như một nghệ sĩ đi trên dây, chập chờn giữa miền ý thức và miền vô thức và khi dấn bước trong một không gian vô thức “Mùa trăng” này, cái nhìn siêu thực đã đem lại cho các hình ảnh – bieu tượng trong không gian vô thức một vẻ đẹp mới và lạ. Các hình ảnh, bieu tượng ấy được kết nối bằng một lôgic mới: vụt hiện, nhảy cóc với những liên tưởng xa và lạ nên không dễ dàng nắm bắt theo tư duy lôgic thông thường. ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Bên cạnh bài thơ “Mùa trăng” ta còn thấy kieu không gian nghệ thuật này xuất hiện nhiều trong các bài như: Đỉnh gió, Con Chào mào, Những bông hoa mùa thu, Nhìn anh…

Nhà thơ Mai Văn Phấn đã tạo dựng không gian nghệ thuật theo nguyên tắc đặc thù của thơ siêu thực tức là dựa vào những hồi ức thơ ấu, những giấc mơ, những tưởng tượng khác thường. Có the nói đó là một thế giới những bức ảnh của thuở ấu thơ, của thế giới đời sống tâm linh người Việt, ảnh của con người đời thường, ảnh của động vật, cây cối… Tất cả được bày biện một cách khá tùy tiện mà ta không rõ đó là do bàn tay của một thầy phù thủy, một người đãng trí, kẻ mộng du hay một đứa trẻ thơ. Tấm này xếp cạnh tấm kia không chủ ý, hoặc ít thấy chúng có mối liên lạc với nhau. Bởi thế đọc thơ Mai Văn Phấn, cảm nhận đầu tiên của độc giả là thấy rất khó hieu. Không gian trong thơ Mai Văn Phấn hầu như không được xác định, không có giới hạn. Ở trạng thái vô thức, con người dường như thấy không gian quanh mình được nới rộng thêm ra, theo dòng tâm trạng, và nhiều khi qua ảo giác, Mai Văn Phấn đã tạo ra được những đường nét, hình khối không gian đẹp, nên thơ và khoáng đạt. Không gian thơ được mở ra theo chiều kích của tâm hồn và bởi chịu áp lực của cảm xúc, cấu trúc không gian không còn cân xứng, hài hòa mà trở nên chao đảo, xô lệch. Nhà thơ Mai Văn Phấn đã xây dựng được một cõi không gian riêng không bến, không bờ, trường cửu như một niềm khắc khoải nhớ nhung trong lòng người. Đến với thơ Mai Văn Phấn, người đọc phải dần từ bỏ thói quen an nhàn “Chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc” (Xuân Diệu) như trong thơ truyền thống. Bởi lẽ mỗi bài thơ là một cuộc chạy đua đến hụt hơi của dòng cảm xúc và người đọc phải trải căng các giác quan mới có the nhận biết và theo kịp được bước chuyen của ấn tượng và không gian.

Mai Văn Phấn hướng về một không gian hư ảo nhưng không phải là đe quay lưng với thực tại mà đe nghiệm sinh về bản thân mình trong cõi thực. Không gian bất phân thực ảo tạo ra một sắc thái cá nhân tuyệt đối, dựng lên thế giới riêng của nó đe cùng vui, buồn, cười, khóc, hoài vọng quá khứ. Từ đó hieu sâu hơn thực tại và dự cảm về tương lai. Chập chờn giữa ranh giới thực và hư, Mai Văn Phấn đã tạo nên cho thế giới nghệ thuật thơ một độ nhòe lôgic đầy gợi mở và mang đậm dấu ấn của cái tôi độc đáo, riêng biệt.

2.3.3. Kiểu thời gian đột biến và chạm đến siêu thực ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Trong các sáng tác của mình, ở các chặng đường thơ, Mai Văn Phấn chủ trương xây dựng một kieu thời gian phi tuyến tính. Quá khứ và hiện tại chỉ là khái niệm có tính tương đối trong những câu thơ được tâm thức gọi về. Tìm đến với vô thức là một cách đối thoại với hiện thực, nhà thơ lên tiếng phản biện những chân lý vĩnh hằng và và hoài nghi hiện tại. Quá khứ và hiện tại do đó luôn gặp nhau trong dòng thời gian – dòng tâm trạng – đầy bất ổn của họ. Thời gian nghệ thuật đa chiều là một phương diện làm nên tính phức tạp cho cõi thơ của Mai Văn Phấn. Trong thế giới thơ anh, chúng ta bắt gặp những đan cài đồng hiện của thời gian hiện tại và quá khứ. Điều đó cũng rất dễ hieu bởi nhà thơ Mai Văn Phấn luôn nghĩ con người ta sống không the tách rời quá khứ “Dĩ vãng quanh ta rưng rưng sương khói”. Với dân tộc cũng vậy “Lịch sử cùng cuộn chảy với bao mạch ngầm tha thiết ngàn sau”… Cho nên, muốn có khả năng đi tới không the không trang bị cho mình khả năng nhìn lại. Trong trường ca Người cùng thời Mai Văn Phấn the hiện rất rõ cảm thức của mình về hoài niệm quá khứ. Đó là một quá khứ bi tráng của dân tộc.

Trong lời hịch năm xưa lóe lên binh khí Xương cốt cha ông chôn bên xác quân thù Những câu thơ chờ ta hôm nay vuốt mắt Cọc sông Bạch Đằng đã nhổ hết chưa? (Người cùng thời)

Tác giả đã thật sự sống lại những năm tháng hào hùng của lịch sử ngàn xưa dân tộc, bằng cảm quan của thời đại mới:

Hình Tổ quốc nghìn năm đóng đinh vào ký ức/ Mang nét vẽ dáng tổ tiên ta đội nón đứng bên trời/ Giờ Tổ quốc cùng tôi mỗi buổi sớm lại tưng bừng tái hiện/ Mang khuôn mặt mình thời mọc tóc thay răng.

Thời gian trong thơ Mai Văn Phấn không phải là thứ thời gian tuyến tính, qua tiếp cận thơ anh, chúng tôi nhận thấy, nhà thơ Mai Văn Phấn luôn sống trong thời gian ba chiều: quá khứ, hiện tại, và tương lai, ba chiều thời gian gặp nhau ở một điem “chập nổ” là trái tim nhà thơ. Những mảnh vỡ thời gian của cả quá khứ, hiện tại, tương lai được nén chặt vào không gian thơ tưởng như phi lí nhưng lại là hợp lý theo một lôgic mới. Đó là cuộc sống thực như đang diễn ra, và anh tỏ ra hoàn toàn có lý. Anh đã thuyết phục người đọc nhờ cảm quan tinh nhậy đa chiều của mình, chuyen vào thơ những khoảng thời gian liên tục biến động chuyen đổi như chính tâm trạng bất an của tác giả trước một hiện thực còn rất nhiều băn khoăn trăn trở, nhà thơ tìm đến với hoài niệm của quá khứ. Từ đó nhà thơ giãi bày niềm mong mỏi hướng những giá trị nhân bản, tốt đẹp nhất:

Xưa có con tim nào hóa đá

Để cho một ngày đá hóa con tim Để bàn chân ta sáng lên ngọn lửa Thắp lên phần cháy dở đêm qua (Người cùng thời)

Có the nói, chạm tới bến bờ của siêu thực, thời gian trong thơ Mai Văn Phấn “vụt hiện” khi thì trở về quá khứ, lúc đắm mình trong hiện tại và ke cả là hướng tới địa hạt của tương lai của dân tộc và nhân loại:

Đã hé mở cánh cửa nền văn minh tâm học, những linh hồn tâm hồn có đủ lương năng, lương tri rời thể xác tìm nhau/ Vượt gấp nhiều lần tốc độ ánh sáng, trái tim hiền lành rung động các vì sao

Trong các sáng tác thơ của Mai Văn Phấn, thủ pháp đồng hiện giữa thực và ảo, thời gian quá khứ và hiện tại tạo ra một kết cấu song hành, vừa hiện thực vừa siêu thực, vừa truyền thống vừa hiện đại cho bài thơ. Đặc biệt ở phương diện thời gian nghệ thuật. Bài thơ Bức ãnh, trái cây và giấc mơ là một đien hình:

“Những bức ảnh thiếu sáng, những trái cây chín ép và giấc mơ rụng cánh trước cơn mưa, chầm chậm trôi ngược dòng kí ức”.

Thời điem “giấc mơ rụng cánh trước cơn mưa” giấc mơ kết thúc khi cơn mưa đến là thời gian hiện tại. Ngay sau đó, thời gian quá khứ xuất hiện, hồi tưởng lại giấc mơ “chầm chậm ngược dòng ký ức”, trong dòng kí ức ấy như những thước phim quay chậm, hiện lên hình ảnh “những bức ảnh thiếu sáng, những trái cây chín ép”. Hình ảnh từ quá khứ hiện về trong mơ nhợt nhạt thiếu sức sống.

“Theo ngọn gió mở cánh đồng buổi sớm, ùa vào những căn phòng lẫn bụi và ánh sáng, lau mồ hôi vừa tắm gội giấc mơ”.

Thời gian hiện thực còn có sự tiếp nối trong tính lôgic: từ giấc mơ của đêm trước đến buổi sáng hôm sau. Như không gian nghệ thuật có sự chuyen đổi đột ngột: Từ những hình ảnh “những bức ảnh thiếu sáng, những trái cây chín ép” trong dòng kí ức bỗng chuyen sang “những căn phòng lấm bụi và ánh sáng”. Những ngọn gió đồng trong lành ấy tạo ra hai hiệu quả vừa thực vừa ảo: Thực khi “lau mồ hôi”, ảo khi “tắm gội giấc mơ”. Hiệu quả thứ hai thật kì diệu được diễn tả bằng động từ “tắm gội”. Giấc mơ sau khi được tắm gộikhói bụi thời gian, khỏi những gì vẩn đục sẽ trở lên thanh sạch. ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

“Và như thế, cội nguồn trong gang tấc, lúc quay về là đi hết đời mình, hay chờ luôn hồi trở lại kiếp sau”.

Câu thơ diễn tả hệ quả của hoạt động “tắm gội giấc mơ” từ khổ trước. Thời gian nghệ thuật có sự đột biến phi thường: từ hiện tại đã trở về “cội nguồn trong ngang tấc”. Chỉ khi “giấc mơ” cả theo nghĩa hien ngôn và hàm ngôn (tức giấc mơ – đời người) trở nên thanh sạch, gột rửa hết bụi trần thế với mọi dục vọng. bằng gió đồng quê, thì ta đã trở về cội nguồn, trong trẻo, mộc mạc, chốn đồng quê của ông cha cũng là trở về với bản the của mình. Nhưng không phải ai cũng có cuộc hành hương ấy trong cuộc sống hiện đại hôm nay.

Còn nhà thơ trở về thì sao: “lúc quay về là đi hết đời mình” và những ai chưa tìm về được thì “hay chờ luân hồi trở lại kiếp sau”.

“Những linh hồn kia chưa kịp đầu thai, đang ngưng lại nơi không gian thờ phụng, bay lửng lơ rồi nấp vào bái vật giáo bất động”.

Thời gian nghệ thuật của bài thơ “đứt gãy”, nhà thơ như đang thoát ra khỏi mạch tư duy – cảm xúc đe ngắm nhìn “những linh hồn chưa kịp đầu thai” đã lỡ cả hai chuyến hành hương ảo: Chuyến 1: về “cội nguồn” bằng giấc mơ, bằng sự “tắm gội” cho giấc mơ nhờ “gió mở cánh đồng buổi sớm”. Chuyến 2: “chờ luân hồi trở lại kiếp sau” vì: “chưa kịp đầu thai”, các “linh hồn” ấy chờ đợi bằng cách “ngừng lại nơi không gian thờ phụng (…) bái vật giáo bất động”.

Thời gian được ghi lại bằng ấn tượng trực giác nên không gắn với những biến cố, hoàn cảnh cụ the nào mà trừu tượng hóa thành thời gian tâm trạng. Tính chất không xác định của của thời gian trong mối liên hệ với quá khứ và tương lai đã góp phần định hình điệu thơ man mác, u hoài, qui định những chiêm cảm nghệ thuật về thời thế. Chúng trở thành những khung thời gian ước lệ đặt trong mối liên hệ với thời gian đời người dằng dặc những buồn vui. Đây cũng là một đặc điem khó trộn lẫn của thơ Mai Văn Phấn.

2.4. Mai Văn Phấn với khát vọng vươn tới một khuynh hướng thơ hiện đại thuần Việt

Trong tieu luận: Thơ, giá trị cần đến, nhà thơ Mai Văn Phấn the hiện rõ quan điem sáng tác: “Hơi thở Việt được hiểu như một hệ thống sinh thái, tập hợp nhiều thực thể độc lập nhưng liên quan với nhau, bắt nguồn từ cội rễ văn hóa và bản sắc dân tộc. Tạo một nền thơ hiện đại, làm phong phú tính truyền thống là nhiệm vụ cốt tử của mỗi nhà thơ” [79,tr.375]. Như vậy theo Mai Văn Phấn, tính dân tộc là một yếu tố sống còn của nền văn học Việt, đặc biệt thơ ca, nó đóng vai trò như một “hệ sinh thái” đem lại sức sống cho thơ. Chúng ta cũng đã được biết rằng, yêu quê hương đất nước gắn bó với truyền thống dân tộc là một trong những đặc điem của văn học bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong cuốn Văn học và thời gian (Nxb văn học 2001) nhận định: “Truyền thống là các giá trị quá khứ mang ý nghĩa hiện đại”. Những người hiện đại không đơn giản là lặp lại những giá trị cũ, mà họ chủ động phát huy tích cực, làm mới những giá trị truyền thống đó. Thế hệ đi trước tạo dựng truyền thống thông qua sáng tạo, nhưng đe làm mới nó lại là công việc của người đời sau cũng thông qua vai trò sáng tạo của người nghệ sĩ. Do đó, những giá trị truyền thống sẽ trở nên phong phú hơn chứ không chỉ là truyền lại nguyên dạng. Tuy vậy cũng cần phải nhấn mạnh lại rằng, những giá trị truyền thống này chúng luôn gắn liền với tính dân tộc trong văn học, truyền thống văn học là động lực nuôi dưỡng những tình cảm nghệ thuật, ý thức thẩm mỹ của người nghệ sĩ. Giá trị truyền thống góp phần làm nên tài năng, nhân cách của người nghệ sĩ. ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Cũng như hầu hết những thi nhân Việt Nam khác, Mai Văn Phấn mặc dù ý thức cách tân thơ ca mạnh mẽ nhưng vẫn không đi ra ngoài từ trường của thi ca truyền thống. Đọc thơ Mai Văn Phấn chúng ta dễ dàng nhận thấy ở đó vẫn viết về những đề tài quen thuộc cùng với cảm hứng và hình ảnh thơ gần gũi với cuộc sống. Tuy nhiên, những đề tài, hình ảnh và cảm xúc ấy đã được khúc xạ qua tâm hồn Mai Văn Phấn, một thi sĩ hiện đại được tiếp xúc, học hỏi, giao lưu với nhiều tinh hoa của văn học trên thế giới nên nó trở nên mới mẻ. Quan điem xây dựng một nền thơ thuần Việt luôn được Mai Văn Phấn đặt lên hàng đầu trong cương lĩnh sáng tác của mình. Trong Tieu luận Thơ Việt Nam đương đại bu i ra đi và trở về, Mai Văn Phấn bộc bạch: “Tôi hâm mộ ai đó dám bước đi và biết quay về trên cội nguồn thơ Việt, với tâm thức của thời đại, biết vận dụng linh hoạt thi pháp các trường phái mà không đánh mất bản chất tâm hồn Việt, vốn sáng trong, chân thành, bao dung mà rất hiện sinh, tinh tế trong cảm nhận, nhân bản hồn hậu trong nghĩ suy về phận người[79,tr.385]. Như vậy có the thấy rằng, Mai Văn Phấn chủ trương thổi vào những giá trị truyền thống dân tộc một luồng sinh khí mới. Điều này được the hiện rất đậm nét trong những sáng tác của Mai Văn Phấn. Trước hết là ở đề tài.

Trong thời kỳ văn học trung đại, thơ ca thường chuộng “cảnh thiên nhiên” tức là thường viết về đề tài thiên nhiên, như trong tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh “Thơ xưa yêu cảnh đẹp thiên nhiên/ Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”. Thêm nữa, do gánh nặng của bậc “chính nhân quân tử” mà thi ca thường mang trọng trách “thi dĩ tải đạo”, “văn dĩ ngôn chí”. Cho đến cuối thời trung đại văn học mới chuyen dịch viết về những điều “sở kiến, sở văn”. Văn học hiện đại ngoài những cái đã có của văn học truyền thống nó còn viết nhiều đe giải phóng cái tôi cá nhân, song nhìn chung dù cho là văn học trung đại hay hiện đại thì đề tài muôn thuở của nó vẫn là quê hương, đất nước, dân tộc và đề tài tình yêu. Mai Văn Phấn là một thi sĩ của những sự đổi mới. Nhưng trước hết Mai Văn Phấn vẫn giữ lại tất cả những gì quen thuộc đã in sâu thành đề tài muôn thuở. Ai đọc thơ Mai Văn Phấn cũng đều rất ấn tượng với vẻ đẹp truyền thống của quê hương, vẻ đẹp ấy càng ở những bài thơ gần đây càng được nhà thơ the hiện đậm nét. Điều đó cho thấy, xu hướng cách tân thơ của Mai Văn Phấn là đưa thơ trở về với những giá trị riêng của một hồn thơ Việt: Cửa mẫu, Giai điệu xuân, Cốm hương, Thu đến, Nghé ơi, Đá trong lòng suối, Hình đám cỏỞ những bài thơ này, ta bắt gặp hồn cốt dân tộc được nhà thơ bộc lộ qua vẻ quen thuộc, gần gũi, giản dị, sáng trong.

Thu về e ấp/Cốm non lãng đãng sương giăng/Khăn áo ấy mịn màng da thịt/Dâng heo may lên trời/Nhịp cốm giã rộn mùa thóc nếp/ Thúng mủng dần sàng vỏ trấu hây hây/ Trái bưởi thơm dịu ngọt nắng hanh/Thanh khiết chùm hoa mộc/ Giữa đất trời ngó sen sau mưa/ Da diết nhớ từng vòng cuộn xiết/ Lá sen xanh ủ cốm em anh/ Chín nẫu chân mây mùa hạ/ Đêm ái ân lặng phắc ngọn đèn/ Trái hồng đượm trong hương cốm nõn (Cốm hương).

Độc giả khi tiếp nhận bài thơ bắt gặp một thế giới của người Việt hiện lên thật sinh động, một lãnh địa thơ không lẫn vào với ai khác của Mai Văn Phấn. Chất liệu hình ảnh của bài thơ là những gì thân thuộc thân quen nhất trong đời sống sinh hoạt của người Việt, đó là mùa thu, cốm non, thúng mủng, dần sàng, vỏ trấu, trái bưởi, ngó sen, trái hồng… Nhưng điều đáng nói ở đây đó là nhà thơ Mai Văn Phấn đã thực sự đưa được những hình ảnh, vật dụng bình thường, quen thuộc nhất vào thơ, phản ánh được qua đó những giá trị văn hóa của một đất nước vốn khởi thủy với nền nông nghiệp lúa nước. Những cảm xúc của mùa thu xưa nay bao giờ cũng là một nguồn mạnh vô tận đối với các thi sĩ, Mai Văn Phấn cũng không phải ngoại lệ, tuy nhiên nhà thơ đã không đi lại lối mòn trong đại lộ thơ trung đại hay Thơ Mới mà tự mình nhà thơ đã mang lại luồng sinh khí mới, diện mạo mới cho mùa thu dân tộc. Đó không phải là “lá ngô đồng rụng” hay “con nai vàng ngơ ngác”, những hình ảnh mang đậm tính chất đien phạm, mà là những hình ảnh dung dị đời thường nào cốm, hồng, bưởi, sen… gợi nhắc đến những hương vị đặc trưng nhất của của mùa thu trong tâm thức của người Việt. Thế giới thơ ấy chan chứa tình cảm yêu thương và trân trọng nhất từ một hồn thơ chan chứa cảm xúc chân thật và trách nhiệm với những giá trị văn hóa tinh thần của người Việt. Những giá trị ấy nuôi dưỡng tâm hồn người Việt, nuôi dưỡng tình cảm người Việt, nuôi dưỡng tình yêu đôi lứa, tình yêu thương con người thủy chung, sáng trong. Đe bieu đạt những giá trị truyền thống đó tác giả Mai Văn Phấn đã the hiện sự hiện đại mới mẻ của mình không chỉ bằng việc sử dụng những hình ảnh bình dị thân quen gợi cảm xúc chân thật, mà nhà thơ còn sử dụng lối diễn đạt cảm xúc của mình bằng mạch thơ chuyen động nhanh, dứt khoát,chồng lấn các thi ảnh trong một mạch thơ:

Hơi nước ban mai vườn khuya Dâng cao bờ cỏ mượt

Mịn màng hơn lớp lông tơ Xanh lên gió ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Nghé tìm mẹ

Thở vào mây tiếng ruộng mạ, mầm cây Gõ móng trên mặt đất

Trái bóng tròn vội vã nảy lên

Con dế trũi, con ngựa trời tung đôi càng chắc mẩy Nắng sớm dọi mình nhé

Lan xa âu yếm mắt nhìn Giao mùa vòm lá chật căng Nấp dưới gầm cầu đợi nghé

Tôi chạy theo cuôn lại bóng mình Bàn chân chạm bật cao mặt cỏ. (Nghé ơi)

Bài thơ lấy cảm hứng từ một hình tượng quen thuộc trong đời sống Việt – hình tượng nghé, một bieu tượng quen thuộc trong nền văn minh lúa nước của Việt Nam. Bằng mạch thơ không vần tự do phóng khoáng, nhịp điệu nhanh, dứt khoát nhà thơ Mai Văn Phấn đã sử dụng hàng loạt những hình ảnh chồng lấn: vườn khuya, bờ cỏ, lông tơ, cỏ xanh, nghé con tìm mẹ, mây, ruộng mạ, mầm cây, mặt đất, trái bóng, con dế, nắng sớm… nhằm diễn tả cảm xúc dồn nén của mình khi gợi tả tới một nét văn hóa mang đậm hồn cốt người Việt. Hình tượng chú nghé con ngộ nghĩnh ngây thơ, mịn màng đáng yêu gợi nhắc đến thế giới tuổi thơ trong lành, thuần khiết với những “trái bóng tròn”, “con dế trũi” trong tâm thức mỗi người con đất Việt. Hơn ai hết nhà thơ Mai Văn Phấn trân trọng những giá trị thuần Việt đó đe rồi thơ ông cả hành trình kiếm tìm và sáng tạo cốt chỉ đe tìm về “bản chất tâm hồn Việt, vốn sáng trong, chân thành, bao dung mà rất hiện sinh”.

Trong hệ thống những sáng tác của nhà thơ Mai văn Phấn, tính dân tộc, tính thuần Việt còn được the hiện trong những bài thơ mà ở đó nhà thơ tập trung bieu hiện đời sống tâm linh, tín ngưỡng, văn hóa Việt. Bài Cửa Mẫu được xem như một ví dụ đien hình.

Trong tín ngưỡng dân dã của người Việt và một số tộc người khác, tục thờ Nữ thần, thờ Mẫu và Mẫu Tam phủ – Tứ phủ (Đạo Mẫu) có vai trò và vị trí khá quan trọng, nó đáp ứng những nhu cầu và khát vọng của đời sống thường nhật của con người, do vậy, nó phổ biến khá rộng khắp, từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi tới miền núi. Nhưng riêng ở miền Bắc Việt Nam tín ngưỡng đó nâng lên thành Đạo, vừa dân dã vừa linh thiêng… Từ Đạo Mẫu, ngoài những nghi lễ thờ cúng, nó còn sản sinh và tích hợp nhiều giá trị văn hóa – nghệ thuật, tạo nên một thứ văn hóa Đạo Mẫu, chứa đựng nhiều sắc thái văn hóa độc đáo của dân tộc. Bài Cửa Mẫu còn bieu hiện phong tục, tập quán, những nét văn hóa của châu thổ sông Hồng.

Trong quan niệm người Việt, “Mẫu” là khởi nguồn của mọi sự sống trên thế gian, là Đấng Sáng thế đầy quyền năng, là nguyên nhân của quy luật sinh tồn. Hình tượng “Mẫu” là bieu trưng của cảnh khai thiên lập địa. Vũ trụ lúc ấy tối tăm mù mịt, là một khối hỗn độn vô hướng của nước, lửa và những sinh vật bán khai. Giữa buổi hồng hoang ấy, bà mẹ hoài thai sinh ra đứa con mang dáng dấp Con Người. Hình tượng “con” ở đây còn bao hàm cả khái niệm vũ trụ (ánh trăng, mây mù, mưa nguồn chớp be, bóng đêm, vầng mặt trời, đáy nước, đàn chim, con nòng nọc, lá mầm…). “Cửa Mẫu” không có thời gian, không gian cụ the mà là những khái niệm giả định, được đo đếm bằng những đại lượng “ảo” do chính “Mẫu”, một thứ bieu tượng siêu hình không the cắt nghĩa rõ ràng được, quy định.

“Cửa Mẫu” gồm có 9 khúc, mỗi khúc đều được gắn với những hiện tượng, những quy luật trong nhận thức vạn vật tương thông. Mỗi khúc vừa hé mở lại vừa khép kín những bí mật của vũ trụ, lúc thì như là sự giải thích, lúc lại như những câu sấm truyền tối nghĩa bằng thủ pháp ẩn dụ. Có the nói, “Cửa Mẫu” là một cố gắng tự khám phá thế giới tâm hồn, tìm vào tầng vô thức khám phá bí mật của Tạo Hóa. “Cửa Mẫu” không giải thích mà chỉ nêu hiện tượng cùng mối quan hệ rất bình thường của các quan hệ ấy. Có vẻ như, khi viết “Cửa Mẫu”, Mai Văn Phấn đang trong trạng thái “lên đồng”. Tác giả sau khi được Mẫu nhập vào đã biến thành một chủ the hoàn toàn khác, có khả năng cảm thấy, nhìn thấy những thứ mà người trần mắt thịt bất lực. Ngôn ngữ “Cửa Mẫu” dồn nén, trơn tru, kéo dài thành những trường đoạn với hàng loạt câu ngắn phảng phất loại ca từ chầu văn, diễn tả thế giới mông lung nửa thần thánh nửa trần tục.

Yếu tố triết lý được loại bỏ ngay từ đầu, thay vào đó là những nghiệm sinh được đúc rút qua quá trình sống của các thế hệ được di truyền lại. Như vậy, “Mẫu” được tôn vinh như là thủy tổ của muôn loài, Cửa mẫu chính là khởi nguồn của sự sống trên Hành Tinh Xanh. Hình tượng “Con” ẩn dụ vạn vật trong cuộc đấu tranh sinh tồn trong lịch sử tiến hóa. “Mẫu” là đấng toàn năng, khi sinh thành ra “Con” cũng là lúc Người trao cho nó cẩm nang thoát hiem. Hình ảnh “Con” vừa có tính cá the, vừa mang tính quần the, là hiện thân của sức quật cường trong hành trình tự khám phá mình đe đến tương lai. Đây là những vần thơ cảm nhận sự huyền vi của Tạo hóa khi vạn vật đang sinh thành:

Da thịt con yêu trải sâu đêm tối ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Dựng tầng mây mưa nguồn

Con lặng lẽ đi qua vầng mặt trời đáy nước

Nhìn hướng bầu trời mở đôi cánh

Và sự sống nguyên thủy qua hình ảnh đảo ngược gây hiệu ứng siêu thực:

Ngọn cây vươn mỏ con chim

Đang cúi xuống mớm vào miệng con từng hớp gió

Vượt lên trên hết là quy luật sinh diệt của vạn vật do “Mẫu” tạo nên cho thế giới tự nhiên, dạy “Con” thích ứng với hoàn cảnh:

Tiếng hạt vỡ trong ngực

Bơi qua sông con nòng nọc đứt đuôi Tập vỗ cánh, quạt gió vào lòng tổ Bật lá mầm bay đi thênh thang

“Mẫu” vừa là vũ trụ vĩ mô vừa là vũ trụ vi mô được nhận thức như là một ý niệm vô thủy vô chung. Nơi sinh ra cũng là nơi kết thúc của mỗi cá the bởi phương thức cộng sinh. Phương pháp siêu thực kết hợp với biện pháp đảo trang, hòa đồng một cách ngẫu hứng côn trùng, thảo mộc, muông thú và con người trong trật tự khá hỗn loạn:

Đặt con lên đất

Lòng sông đau xé thân đêm

Con bật khóc cuốn đi lưới nhện Tiếng con vạc khàn khàn

Tàng tro lóe sáng Mặt trăng run

Biện pháp xen kẽ tư duy trực cảm của con người thời hiện tại với hành vi mang tính di truyền đẩy thời gian về trục quá khứ, nén chặt không gian sinh tồn, làm cho người và vật thay đổi vị trí của nhau. Đó chính là không gian hiện sinh, thời gian siêu thực được bieu đạt bằng ngôn ngữ thơ.

Cách viết “thong dong”, không lệ thuộc vào bất kỳ khuynh hướng nào, không bị ảnh hướng các trào lưu của chủ nghĩa hiện đại phương Tây, ke cả Hậu hiện đại và Tân hình thức hiện nay… là một đặc điem dễ nhận thấy trong thơ Mai Văn Phấn. Câu thơ buông xuống như câu nói thường ngày trong đời sống sinh hoạt, nhưng dựng người đọc lên bằng cảm xúc trong sáng, giản dị, hướng người đọc tới một chân trời thơ mới mẻ:

Bông hồng sớm nay mình anh thấy Tiếng chim hót tỉnh giấc

Tạ ơn con đường dẫn anh đi Mây trên cao

Lá cây rơi

Cả những gì chưa hiện hữu (Hình đám cỏ)

Cảm giác như Mai Văn Phấn không làm thơ, không khổ công trong chọn và luyện chữ, nhưng áp lực cảm xúc và ý tưởng đã được chuẩn bị từ trước. Xóa nhòa ranh giới giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ đời sống là mục đích sáng tạo của anh ở giai đoạn gần đây:

Lay gọi anh bằng câu quen thuộc Ngày đến rồi!

Tung gối chăn về bình minh khác Chân phương câu nói hàng ngày (Hình đám cỏ).

Đọc thơ Mai Văn Phấn, ta bắt gặp ở đó một thế giới được xây dựng bằng các bieu tượng mờ nhòe theo lôgic mơ hồ đa nghĩa. Trong các bài thơ hay viết theo cách viết truyền thống, ta gặp một thế giới ít nhiều quen thuộc, minh bạch với các bieu tượng sáng rõ, đơn nghĩa và dù đa nghĩa thì vẫn nằm trong “vùng kiểm soát” của chúng ta. Ví dụ: “Mặt trời” là bieu tượng của chân lý, “mưa” là kỉ niệm, là giọt thời gian rơi, là nỗi buồn, “sông” là đường đời, là số phận, “hoa” là cái đẹp,… Cái nhìn duy lí tuyến tính và mối quan hệ nhân quả cho ta cách tiếp nhận theo tư duy “đường thẳng”, hợp lí, quen thuộc và có the dự đoán trước: sau câu thơ này, hình ảnh này sẽ xuất hiện câu thơ khác, hình ảnh khác như một tất yếu.

Nhưng đọc thơ Mai Văn Phấn từ 1995 đến nay (ở phần sáng tác trước đó, anh vẫn “truyền thống” dù đã thấp thoáng tín hiệu về một kieu tư duy mới) ta ngỡ ngàng trước cái lạ, cái mới và ban đầu không thích vì không hieu.

Chẳng hạn, ở giai đoạn sáng tác trước 1995, Mai Văn Phấn viết về tình yêu dù tài hoa vẫn cứ “truyền thống” mà thôi:

“Em thở êm như biển lặng tờ Hay đâu có bão ở trong mơ

Tay em, anh khẽ nâng trên ngực Như kéo con thuyền lên cát khô” (Em và bien)

Các hình ảnh, bieu tượng trong bài thơ như bien, bão, thuyền được xây dựng bằng logic quen thuộc với sự duy cảm, duy mĩ của thơ Việt truyền thống. Tất cả đe khẳng định tình yêu của “Anh” dành cho “Em”: yêu, che chở nâng niu “em” không chỉ trong đời thực mà trong cả giấc mơ em.

Nhưng sau 1995, cũng trong một bài thơ tình yêu, Mai Văn Phấn đã xây dựng một thế giới mới với các bieu tượng vốn quen thuộc, nay được đặt trong một trật tự mới nên mang ý nghĩa khác, lạ hơn và cũng hấp dẫn hơn.

Chúng mình hôn nhau trong hành lang hẹp trên cỏ xanh, trong những góc tối

trên tháp chuông, bên gốc cây cổ thụ…

Bốn bề nước tràn ướt chân lúc ấy gió thổi rất mạnh

Con sâu đo em đu lên người anh thì thầm gặm hết những xanh non

Con ong vẫn nhởn nhơ bay

thác đổ đều đều, mưa rơi rất chậm

nhưng tất cả ngọn cây đều bạt về một phía. (Gió thổi) ( Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn )

Hai khổ thơ đầu với năm câu thơ đậm chất văn xuôi như một đoạn nhật ký miêu tả lại địa điem, điều kiện thời tiết khi “chúng mình hôn nhau”. Có sự tiết chế tối đa cảm xúc, tình cảm chủ quan của người miêu tả này – một điều tối kị với “chất thơ” theo quan niệm truyền thống. Khổ ba với hai câu thơ là một bieu tượng độc đáo: “Em” thành “Con sâu đo đu lên người anh”, động từ “gặm” gắn liền với tính từ “non xanh” cho ta một nội dung quen thuộc trong một hình thức mới mẻ: con sâu đo em gặm hết non xanh ở anh bởi vì sau nụ hôn mê cuồng (ở mọi nơi, mọi lúc ấy) những ngây thơ vụng dại của “anh” đã không còn. Khổ 4 gồm 3 câu chỉ tả cảnh mà hoá ra lại gợi tả về anh“em”, tưởng là “gió thổi” nhưng không: “Nhưng tất cả ngọn cây đều bạt về một phía”, khi ong bay nhởn nhơ, thác đổ đều đều, mưa rơi rất chậm thì làm gì có gió mạnh?, thì ra vẫn sức trẻ và nụ hôn ấy làm tất cả ngọn cây bạt về một phía. Người làm nghiêng cây hay cây có linh hồn đang nghiêng theo người?! So sánh 2 bài thơ, ta gặp hai tư duy nghệ thuật – hai cách xây dựng bieu tượng đã khác xa nhau.

Có the coi mỗi bài thơ của Mai Văn Phấn là một ngôi nhà, các bieu tượng là vật liệu. Cách kết nối các bieu tượng ấy theo lôgic “nhảy cóc, liên tưởng xa và lạ” đã tạo ra một thế giới vừa quen vừa lạ, đặc biệt rất độc đáo.

Bài thơ “Nếu” là một bieu tượng lớn gồm 4 bieu tượng như: tôi, con chó, ba mét bảy nhăm xăng ti, mưa và mơ. Các bieu tượng ấy thoạt đầu rời rạc, tưởng như không có mối liên kết nào. Nhưng khi đặt chúng vào một tổng the, với mối liên hệ là lôgic “nhảy cóc, liên tưởng xa và lạ” ta chợt hieu: nỗi đau cho những thân phận được mặc định trong thế giới này. Người mơ giấc mơ của người, chó mơ giấc mơ của chó, và khoảng cách là ba mét bảy nhăm xăng ti – một khoảng cách là cố định, bất biến không the thay đổi. Chỉ khi có “mưa”– có sự trong lành và công bằng cho vạn vật của thiên nhiên, không ke sang hèn, thì “chúng” sẽ cùng “mơ”. Vậy nếu không có khoảng cách ấy? “Nếu tôi không ngủ trên giường” thì liệu có sự đổi vai giữa chó với người?!

Bài thơ “Anh tôi” ấy được viết theo logic ke trên, như một truyện siêu ngắn, đáp ứng đủ mọi yêu cầu của truyện. Nhưng các bieu tượng xuất hiện trong nó thật lộn xộn, phi logic (theo cách hieu quen thuộc). Nhân vật “Anh” nhờ giữ hộ “ký ức” đã phi lý. Nhân vật “tôi” 4 lần từ chối kèm theo 4 lần đưa ra giải pháp, đe rồi 3 lần “Anh nhìn tôi buồn lắm!”.

  • Lần 1: Khuyên anh lên vẽ tranh hoặc viết sách
  • Lần 2: Cắt rồi, khởi động lại, thu nhỏ, dừng đột ngột, ninh nhừ, nghiền thành bụi.
  • Lần 3: “Tôi” nhớ “người yêu”.
  • Lần 4: “Tôi” là quần áo và “tập nghĩ vẩn vơ để có thể nghĩ tiếp”.

Giữa ý nguyện của “Anh” và giải pháp, phản ứng của “tôi” “ông chẳng bà chuộc” không ăn nhập chút nào. Khổ kết bài thơ còn phi lý hơn: “Anh chờ tôi rửa tay” còn “tôi” thương anh và “nhìn bọt xà phòng ngầu lên trên da trơn ướt thật dễ chịu”.

Nếu từ bỏ tư duy lôgic quen thuộc và tiếp nhận tư duy mới, ta cảm nhận được nội dung đích thực sau các bieu tượng trong bài thơ này: nỗi cô đơn của mỗi người là không the trao gửi hay rũ bỏ. Mỗi con người (dù với anh em ruột thịt) là một sinh vật cô đơn vĩnh viễn và ích kỷ vĩnh viễn. Dù có “thương anh”, “tôi” vẫn mang ký ức của mình “mốc meo”, “thối giữa”, vẫn “nhớ người yêu” của mình, vẫn phải “giặt là, giặt là” “giống quả lắc đồng hồ đã cũ”,…

Trên đây, chúng tôi đã trình bày khái quát những đổi mới trong quan niệm nghệ thuật của Mai Văn Phấn trong tiến trình đổi mới thơ Việt Nam đương đại. Sự chuyen biến về tư duy, quan niệm về thơ ca và vai trò, trách nhiệm, sứ mạng của nhà thơ đã hướng nhà thơ Mai Văn Phấn đến những cảm xúc mới mẻ. Và từ sự đổi mới về cảm xúc, Mai Văn Phấn đã chủ trương xây dựng cho mình một thế giới nghệ thuật riêng độc đáo, một thế giới với không gian và thời gian mang đậm cá tính sáng tạo của riêng Mai Văn Phấn. Với một quan niệm nghệ thuật mới mẻ, tiến bộ, Mai Văn Phấn đã xác định được bản chất, chức năng của thơ ca, có được sự ý thức rõ ràng và quyết liệt trong ý thức nghệ thuật, đưa thơ về với đời sống, hướng tới một khuynh hướng thơ thuần Việt mang đậm dấu ấn, cốt cách tâm hồn người Việt Nam. Quan trọng là từ những đổi mới về quan niệm nghệ thuật của Mai Văn Phấn, người ta hieu rằng không the làm thơ như trước, và người đọc cũng nhận được một kinh nghiệm rằng không the đọc thơ như trước. Đó là những đóng góp quan trọng của Mai Văn Phấn trong hành trình đổi mới thơ ca hiện đại.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn: Hiện tượng độc đáo ở cách tân thơ VN Đương Đại

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537