Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn là đề tài mà tác giả lựa chọn làm bài Luận văn Thạc sĩ của mình. Một nền văn học hiện đại, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nhu cầu tự thân của bất kỳ dân tộc nào trên thế giới. Trong tiến trình phát tri n của mình, văn học Việt Nam đã tạo ra được những cuộc cách tân nghệ thuật làm sôi động đời sống văn học trong và ngoài nước. Đ làm được điều này, công đầu phải k đến đội ngũ sáng tác. Họ là những người tiên phong, với những khát vọng sáng tạo đã đưa đến cho nền văn học nước nhà những luồng gió mới và được tác giả triển khai ngay trong đề tài: Một Số Cách Tân Nghệ Thuật Trong Thơ Mai Văn Phấn.
3.1. Khái niệm cấu trúc và cấu trúc nghệ thuật
Theo từ đien tiếng Việt “Cấu trúc là toàn bộ những quan hệ bên trong giữa các thành phần tạo nên chỉnh thể” còn theo Từ đien thuật ngữ văn học, cấu trúc là “tổ chức nội tại, mối quan hệ qua lại của các yếu tố của tác phẩm mà sự biến đổi một yếu tố nào đó sẽ kéo theo sự biến đổi của các yếu tố khác”. Như vậy có the hieu cấu trúc của một văn bản nói chung, đặc biệt thơ ca gồm có nhiều yếu tố tạo thành một chỉnh the, nó vận động theo một quy tắc nội tại và có sự tương tác giữa các yếu tố này. Trải qua các thời kỳ lịch sử, thơ Việt cũng hình thành lịch sử phát trien cấu trúc tương ứng với từng giai đoạn văn học.
Thời kỳ trung đại, thơ ca thường được cấu trúc theo một khuôn mẫu có san. Do vậy, thơ thường được quy vào mấy loại thơ: thơ bốn câu bảy chữ, thơ tám câu bảy chữ, thơ ngũ ngôn, song thất lục bát… Vì vậy, thơ trung đại ít có sự sáng tạo và có mô hình cấu trúc giống nhau, giữa các nhà thơ khó tìm ra sự khác biệt, nó cũng làm giảm đi tính sáng tạo của nhà thơ, thơ rất dễ sa vào công thức, sáo mòn, xơ cứng. Cũng bởi chính vì vậy mà thơ trung đại không tập trung vào khai thác cấu trúc, mà chỉ chú ý tới việc gọt giũa câu chữ và sự hoàn mỹ của niêm, luật, đối… Kieu cấu trúc cơ bản của thơ trung đại là kieu song song và đối ngẫu. Thơ mới 1932-1945 xuất hiện như một luồng gió mới trên thi đàn văn học Việt. Quan niệm thẩm mĩ của thời đại mới khác với thời trung đại cùng với sự xuất hiện của “cái tôi” cá nhân với nhu cầu khẳng định, bộc lộ. Cấu trúc thơ lãng mạn là kieu cấu trúc tuyến tính, loại cấu trúc này phù hợp với nhu cầu bộc lộ, tuôn trào cảm xúc cái tôi lãng mạn. Cấu trúc này luôn chịu sự chi phối của mạch thơ. Cùng với sự phát trien của khoa học hiện đại, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cấu trúc trong thơ hiện đại. Thơ hiện đại chủ trương xóa bỏ tính hoàn bị liên tục của cấu trúc thơ giai đoạn trước đe tạo ra tính ngắt quãng, những bước nhảy không theo lôgic thông thường. Cấu trúc gián đoạn đi cùng với nghệ thuật lắp ghép, cắt gián. Cấu trúc lập the diễn đạt một thế giới hỗn độn, đa diện, đa chiều, một thế giới ngẫu nhiên và trình diễn… Cấu trúc thơ hiện nay là một cấu trúc phi tuyến tính, lập the, gián đoạn, lắp ghép. Đó là kieu cấu trúc gợi nhiều hơn là tả, cấu trúc của những mệnh đề rời rạc, không có mối liên hệ với nhau, những hình ảnh bị tách ra khỏi chỉnh the, phát tán ngẫu nhiên sắp xếp theo sự vận động của dòng ý thức. Có the lấy thơ của Hoàng Hưng làm ví dụ: ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
- Biển hà hát. Tóc mướt. Vòng cong. Riu ríu cánh bàng bàng. Chấm chấm nở. Phanh phanh Núm núm…
- Chập chũng thái dương, bật thình lình năm dây đầy hốc mắt. Đi trong nước đổ, lá đá, vũng bập bùng, gió máy, trán trân trân dây chằng mồng tơi thắt cổ. Hát trong vần vũ. Mưa chim.
- Tay vo giấy. Sáng ù xe cộ. Săn tiếng. Trôi dạt. Óc tim trơ. Dù giăng gọng xé. Thét còi. Hồn tiêu tán chở vàng lang thang góc ghế. Xòe tóc nhăm nhe vứt tưởng lục. Du
3.2. Cách tân trong cấu trúc bài thơ của Mai Văn Phấn
3.2.1. Cấu trúc thơ Mai Văn Phấn – Cấu trúc thơ tự do
Trong tác phẩm văn chương, cấu trúc thường được bieu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, với mức độ vừa phải của luận văn, trước hết, chúng tôi nghiên cứu cấu trúc thơ Mai Văn Phấn ở cấp độ số câu thơ và dòng thơ trong một bài.
Quan sát xu hướng vận động của hình thức thơ sau năm 1975, chúng tôi nhận thấy nhiều the nghiệm mới mẻ về cách tổ chức câu thơ, bài thơ. Ranh giới của các the loại, của các hình thức tổ chức lời thơ đang mờ dần. Thơ tự do, thơ văn xuôi rất phát trien. Cách tổ chức câu thơ của các nhà thơ đương đại linh hoạt hơn các nhà thơ trước đây nhiều. Các câu thơ hiện nay dồn chứa nhiều thông tin, nhiều giọng điệu, nhiều chủ đề, nhiều quan hệ. Câu thơ được co duỗi, tự do, phóng khoáng.
Người đọc có the dễ dàng nhận thấy một nhà thơ Mai Văn Phấn ngoài việc sử dụng thành thạo the thơ lục bát của dân tộc, cũng rất hiện đại qua những bài thơ được viết theo cấu trúc không vần, một kieu cấu trúc hiện đại mà ở đó có sự phối hợp giữa cấu trúc thơ tự do ngẫu hứng và cấu trúc của câu thơ văn xuôi hiện đại. Trước đây, đa phần các quan điem nghiên cứu về hình thức thơ đều cho rằng thơ Mới là thơ tự do. Tuy nhiên gần đây đã có quan niệm cho rằng thơ Mới không cùng khái niệm với thơ tự do. Chúng tôi tán thành với quan điem này bởi lẽ: trước đây thơ Mới ra đời đe đả phá Đối, Đien, Phá, Thừa… trong thơ Đường luật và tư tưởng phong kiến, thì sau đó thơ tự do chống thơ Mới là lẽ tất yếu theo quan điem cái mới thay thế cái cũ. Quan trọng hơn cả là thơ tự do khác thơ Mới ở nội dung, chứa đựng những rung cảm mới của con người và hình thức không bị chi phối bởi số câu, chữ, vần điệu như thơ Mới. Do đó thơ tự do thoát khỏi những ràng buộc của thơ Mới đe bay cao.
Với cách nhìn nhận như trên, chúng tôi nhận thấy thơ Mai Văn Phấn chính là cấu trúc thơ tự do, thực tế những sáng tác thơ anh đã chứng minh. Một số lượng không nhỏ những bài thơ của Mai Văn Phấn được viết theo cấu túc tự do hiện đại.
Ánh sáng đã ngủ yên/ Ta đang hồi sinh/ Trong vòng tay của đêm/ Như có lá mầm.
Nở trong nụ hôn/ Tiếng em gọi vang/ Nơi bến xưa/ Miệng chum/ Bờ vực…/ Anh chạy về/ Rì rầm sóng tóc/ Xuyên qua màn âm dương/ Nhựa trong lá mầm bắt đầu chảy/ Máu trong huyết quản bắt đầu chảy/ Những lạch nguồn bắt đầu chảy…/ Chạm bờ ánh sáng/ Anh quỳ xuống/ Em hiện thân trong chiếc áo thiên thần/ Lấy một ít nước gọi lên máu và sữa cỏ/ Em dịu dàng rửa tội cho anh.
Trường hợp của “Nghi lễ cuối cùng” chỉ là một ví dụ, chúng tôi có the thống kê rất nhiều bài thơ khác của Mai Văn Phấn được làm theo cấu trúc của thơ tự do: Một lần thi pháp, Cát bụi và tôi, Được quyền nghĩ những điều đã ước, Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ,… Rõ ràng, những vần thơ đó đã hướng tới một chân trời biệt lập, tràn ngập tự do, tự do sáng tạo trong một cấu trúc mới. ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Sự tự do hóa hình thức thơ đến mức triệt đe như vậy dẫn đến hệ quả là câu thơ mang dáng dấp văn xuôi, thơ Mai Văn Phấn còn có khá nhiều bài được làm theo cấu trúc thơ văn xuôi – một kieu cấu trúc hiện đại so với cấu trúc truyền thống. Có the thống kê nhiều bài thơ của Mai Văn Phấn được làm theo kieu cấu trúc này: Lúc mặt tròi mọc, Viết cho cây sáo, Nước mắt, Em cho con bú, Đêm ở Thny Khuê, Bừng tỉnh trên tàu, Ký sự mùa thu, Hãi phòng trước năm 2000, Trường ca Người cùng thời, Những bông hoa mùa thu… So với thơ văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều, Hoàng Nhuận Cầm, Thanh Thảo… thì thơ văn xuôi của Mai Văn Phấn mang âm điệu trữ tình riêng khá đặc trưng:
Miệng anh còn thơm trái cây và hương trà em uống. Chiếc bánh ngọt pha kem lẫn với quế chi. Anh còn nhớ chiếc ghế rộng lắm. Khi bờ vai trổ những bông hoa, môi anh thắp ngọn đèn linh thiêng góc tối. Bông hoa chỉ nói được phần nhỏ nhoi lòng đất rộng. Lòng đất rung chuyển khi bông hoa đứng yên.
Ánh sáng đã rách. Nếu một sớm. Thật phản cảm khi thấy nhau giống con cá mắt lồi. Em hắt về anh nhiều dị ảnh bông hoa. Dễ loạn trí nếu phải sống trong một thế giới loạn thị. Không, ta vẫn còn giọng nói. Mỗi âm tiết lúc ấy hiện lên một sự thật. Sự thật hiển nhiên đảo lộn mọi quy ước phổ thông…
Yêu nhau. Là những nghi thức dâng tụng trời đất. Bây giờ là mùa xuân. Anh mệnh Kim và em mệnh Hỏa. Từ lửa làm ra Thổ, ra Mộc, ra Thủy. Đất rùng mình. Sông chảy. Ngàn vạn lá mầm từ thân thể nở bung.
Những tác phẩm làm theo cấu trúc thơ văn xuôi kết hợp với những bài thơ làm theo lối cấu trúc của thơ tự do ngẫu hứng đã tạo nên một kieu cấu trúc không vần độc đáo đặc trưng trong thơ Mai Văn Phấn:
“Nhỏ lên đá sắc/ Cơ thể em đau/ Thánh thót mở toang từng giọt/ Trong hơi ẩm nồng nàn/ Hạt nắng chảy vào em/ Mùa nước về rạng rỡ/ Con ong rạch đường bay/ Gió lên thẳng đứng/ Cây cao vươn bóng anh/ Chim bồ câu ra ràng/ Sương đêm côn trùng tỉnh dậy/ Lũ nấm rơm mở mắt/ Trùm lên non nớt xanh”. (Giai điệu xuân)
Nhìn vào những sáng tác theo cấu trúc tự do này, chúng ta thấy người viết đã bỏ qua hết những vần điệu đe tìm về với sự tự do trong cảm hứng, những câu thơ thực sự thoát khỏi mọi sự ràng buộc đe trở thành thơ tự do, thơ không có vần điệu. Mai Văn Phấn dụng công tìm kiếm khả năng the hiện tối đa ý tưởng bằng nhiều cấu trúc câu thơ dài ngắn khác nhau. Có lúc câu thơ được dồn nén, cô đặc, có lúc lại chảy tràn bung phá. Cảm xúc dạt dào của thi sĩ đã vượt qua mọi luật lệ, khuôn khổ của câu thơ truyền thống. Ở giai đoạn gần đây, Mai Văn Phấn lại càng sử dụng nhiều những câu thơ tự do. Độc giả có the dễ dàng nhận thấy vẻ đẹp hiện đại trong những câu thơ dài, ngắn, trúc trắc không vần.
“Giọng em không vượt qua mà làm cho chúng bé lại, mở thông những cánh cửa sang nhau/ Anh nghe em nhờ rễ sâu mở những vỉa tầng linh thiêng trong đất ấm”. (Nghe em qua điện thoại)
Khai sinh/ Sau tiếng quạ kêu/ Ra đi không cưỡng lại/ Gói bọc được mở ra/ Sự băng hoại không thể cất giấu/ Thày lang đốt sách cuối vườn/ Tân dược trong kho đều quá hạn sử dụng/ Những phù thủy chịu hình phạt/ miệng bị đóng bởi những móc sắt/… / Khai sinh Mực đổ dưới chân và máu/ vón cục ở yết hầu, phế quản/ Viết một nét lên trang đầu/ thấm suốt cả ngàn trang sách… (Biến tấu con quạ)
Khảo sát các sáng tác của Mai Văn Phấn, chúng tôi thấy, trong tổng số 74 bài thơ của ba tập thơ Hôm sau, Và đột nhiên gió th i và Bầu trời không mái che thì 100% các bài thơ được sáng tác theo the thơ tự do. Như vậy, khi nhà thơ đã trút bỏ mọi ràng buộc về niêm luật, vần luật, không chú ý tới quy định số chữ trong câu, không cần sự cân đối, đều đặn về nhịp… thì cũng có nghĩa câu thơ đã được tự do hóa triệt đe. Cấu trúc câu thơ được nới rộng, kết cấu trùng điệp hình ảnh giúp cho nhà thơ tạo nên được nhiều bức tranh cùng một lúc, những thước phim nối tiếp nhau… Do đó, người đọc không bị cuốn theo dòng cảm xúc như khi đọc những bài thơ ngâm vịnh, mà phải đọc theo nhịp điệu gồ ghề, trúc trắc, đọc chậm rãi, ngẫm nghĩ đe có the nắm bắt các ý tưởng sâu sắc của nhà thơ.
Chúng tôi nhận thấy, cách tổ chức, cấu trúc bài thơ của Mai Văn Phấn cũng có nhiều nét độc đáo. Bên cạnh những bài thơ ngắn theo cách tổ chức thông thường, có nhiều bài thơ được được nhà thơ đánh số I, II, III… thay cho tên bài thơ. Hình thức the hiện này cho thấy một quan niệm của nhà thơ không muốn bị gò bó, khuôn chặt trong một chủ đề nhất định, đồng thời tạo ra một khoảng tự do, rộng rãi cho tưởng tượng và tiếp nhận. Hình thức thơ tự do có the giúp nhà thơ bieu hiện những cảm xúc sôi trào, bùng vỡ, đang vận động mãnh liệt hoặc những chiêm nghiệm, những triết lý hiện sinh. Xuất phát từ ý thức muốn muốn tiếp cận đời sống hiện tại, nơi tất cả còn đang vận động, biến đổi, va chạm vào nhau, thơ Mai Văn Phấn đã chối bỏ cái hình thức khuôn khổ, trơn tru, đều đặn. Từ đó tạo cho thơ mình sự cơ động, linh hoạt đe có the nắm bắt được sự bộn bề của đời sống.
Nhìn chung, cho dù là những bài thơ làm theo cấu trúc thơ không vần hay cấu trúc thơ tự do, cấu trúc thơ văn xuôi thì chúng ta vẫn thấy được một Mai Văn Phấn với kieu tư duy thơ hiện đại, một sự sáng tạo trong việc sử dụng nhiều cấu trúc khác nhau ở những tác phẩm thơ của mình. Thực tế đó cho chúng ta thấy một Mai Văn Phấn luôn khao khát thử nghiệm và sáng tạo không ngừng, một nghệ sĩ quyết tâm dấn thân thực thụ với quyết tâm đổi mới, cách tân thi ca đích thực.
Có thể bạn quan tâm:
3.2.2. Cấu trúc văn bãn thơ Mai Văn Phấn: Cấu trúc gián đoạn ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Sự phát trien mạnh mẽ của các trường phái lí thuyết phê bình văn học thế kỉ XX đưa đến rất nhiều hướng tiếp cận văn bản nghệ thuật, trong đó hướng tiếp cận theo trường phái cấu trúc – kí hiệu học Tartu – Moscow, đứng đầu là Yu.Lotman, đã đưa đến những cách kiến giải ý nghĩa văn bản tác phẩm khá thuyết phục. Theo đó, người đọc có the dựa vào tính chức năng của cấu trúc nghệ thuật từ những yếu tố lớn nhất bao trùm tác phẩm đến những yếu tố nhỏ nhặt nhất dường như thuần túy bên ngoài của cấu trúc nghệ thuật theo Juri Lotman cũng là yếu tố có mang nội dung, chuyen tải một hành trang ý nghĩa. Tiếp cận cấu trúc văn bản thơ Mai Văn Phấn theo cách đó là một hướng nghiên cứu khoa học rất khả thi cho nghiên cứu văn học nhằm chỉ ra sự biến đổi của cấu trúc văn bản thơ Mai Văn Phấn so với thơ của những người trước và cùng thời với anh. Đó là một vấn đề lớn và cần được khai thác chuyên sâu, trong khuôn khổ của một mục nhỏ trong chương này, luận văn chỉ đi vào tìm hieu cấu trúc đặc trưng của thơ Mai Văn Phấn là cấu trúc gián đoạn the hiện trên các cấp độ câu thơ, đoạn thơ và bài thơ đe thấy được những cách tân quan trọng của Mai Văn Phấn đối với cấu trúc thơ ca tiếng Việt.
Mô hình cấu trúc song song là mô hình tiêu bieu cho thơ ca cổ đien, trật tự giữa các từ, các đoạn mang tính tương đồng hoặc đối xứng về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa the hiện sự đóng kín và ý niệm tuần hoàn của thế giới, con người và vũ trụ tồn tại trong tương quan thống nhất với nhau. Do đó trong ý thức các nhà thơ cổ đien, bài thơ là một cấu trúc khép kín mang tính trật tự cao. Mô hình chặt chẽ với những quy ước nghiêm ngặt về đăng đối, niêm, luật, chức năng của từng liên thơ… là ví dụ cho tính khép kín, hoàn chỉnh tự thân của cấu trúc thơ cổ đien. Các nhà thơ lãng mạn phá vỡ tính đối xứng ấy, giải phóng thơ ca ra khỏi nhiều khuôn phép gò bó, cứng nhắc, từ đó có the linh hoạt, cơ động hơn trong việc nắm bắt, miêu tả những cảm xúc của chủ the, the hiện dòng cảm xúc trực tiếp của tâm hồn. Điều đó chịu sự chi phối từ chính quan niệm về thời gian tuyến tính của con người hiện đại với tư duy duy lí, vì vậy trong thơ có sự nối tiếp của các hình tượng theo lôgic của lí trí nhằm giải thích và bieu đạt thế giới theo chiều thời gian và lôgic nhân – quả. Khi con người ý thức được sự bất lực của lý trí tìm đến sự lí giải từ sự chi phối của vô thức, tiềm thức đối với hoạt động của đời sống con người thì mô hình cấu trúc tuyến tính đó không the nào chuyen tải được những bất thần nhảy vọt của ý thức. Tính cách gián đoạn của đời sống được ý thức như là một thuộc tính, trong mọi bieu hiện của cuộc sống con người. Thơ ca do đó, cũng được cấu trúc lại dựa trên sự gián đoạn, bất ngờ, phi lôgic của hình ảnh thơ và mạch cảm xúc. Thơ hiên đại phá vỡ sự mạch lạc, liên tục của dòng cảm xúc và liên tưởng. Những mối liên kết lôgic của bài thơ không còn bieu lộ rõ trên bề mặt nữa. Bài thơ, bởi thế, trở nên tối tăm, khó hieu, song mặt khác, kết cấu bài thơ được tự do, phóng khoáng hơn.
Trước Mai Văn Phấn, Thanh Tâm Tuyền, Xuân Thu Nhã Tập đã làm đứt mạch tuyến tính ấy khi đặt cạnh nhau những hình ảnh thơ ít có sự liên hệ với nhau về ý nghĩa. Người ta vẫn thường dẫn câu thơ của Nguyễn Xuân Sanh làm ví dụ: “Lẵng xuân bờ giũ trái xuân sa/ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”. Nhưng những tìm tòi mới của các nhà thơ trong nhóm này mới dừng lại ở mức sơ khai, các hình ảnh thơ mới the hiện được sự “nhảy cóc” trên bề mặt ngôn từ, tận cùng của sự phá vỡ đó chưa phải là một sự phát xuất trong chính nhận thức của con người về bản chất của đời sống.
Cấu trúc thơ của Mai Văn Phấn the hiện rõ tính gián đoạn, từ trong một câu thơ đến một đoạn thơ, bài thơ:
“Em ken vào anh mịn màng cỏ mọc/ giàn hoa leo vươn tay quấn quýt/ gọi đại dương mở miệng sông hồ/
Dầu đèn và ngọn lửa nhỏ/ tai nghe và tiếng sấm xa/ làm bút mực chạy trên giấy trắng/ chiếc cột cao dựng xuống nền nhà/ con mãnh sư nuốt con thú nhỏ/ thép ra lò, đá núi nung vôi.
Gọi trái xanh níu cành chín rục/mặc con dơi treo mình ngủ trong chiều muộn/gió về vi vút bông lau (…) ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Chiếc kẹp tóc anh khắc gọt bằng gỗ, chọn dáng cây mọc thẳng vươn cao/ Mây đổ về tay anh nặng trĩu, trên vai em khép lại tóc mềm/ Nắng rực rỡ xoải trên thềm gạch đỏ” (Những bông hoa mùa thu).
Xét ngay trong từng câu thơ, những từ ngữ đứng cạnh nhau theo một lối phi giải thích, bởi trước hết lời thơ Mai Văn Phấn bị tước bỏ hết các loại từ làm nhiệm vụ liên kết, chỉ còn hiện hữu những hình dung từ không rõ chiều chuyen ý làm cho câu thơ mờ tối lại. Không những thế, những hình ảnh thơ lại mang tính siêu thực, chính vì thế đọc câu thơ chiều diễn giải bị mờ đi. Xét giữa các câu thơ với nhau cũng thấy điều tương tự. Ở đây đơn vị câu thơ không được tính đến, sự ngắt câu được ngắt theo nhịp hình ảnh. Cả bài thơ là những hình ảnh chồng xếp xáo trộn: cỏ mọc, giàn hoa leo, đại dương, sông hồ, ngọn lửa, sấm xa, giấy trắng, cột cao, nền nhà, mãnh sư, thép, đá, trái xanh, con dơi, bông lau, chiếc kẹp tóc… Nếu ta cố đi tìm một sự liên kết giữa các từ với nhau thì người đọc chỉ thấy càng rơi vào mê hồn trận của từ ngữ vì không the hieu như thế nghĩa là như thế nào. Nhưng nếu đặt toàn bộ các hình ảnh, các bieu tượng ấy vào một tổng the, lắng nghe những “âm vang” của nó, lớp nghĩa hàm ngôn của bài thơ được gợi ra từ sự suy nghiệm của người đọc. Bài thơ còn có the đặt tên là “Sự sống”, sự sóng đôi và liên kết của hàng loạt cặp hình ảnh là đe tạo ra sự sống ấy cho vũ trụ này: em – anh, hoa leo – giàn; đại dương – sông hồ; dầu đèn – ngọn lửa; tai – tiếng sấm; bút mực – giấy trắng; mãnh sư – thú nhỏ; thép – Lò; đá – vôi… Bài thơ có bốn khổ, bốn cấu trúc nhỏ lồng ghép, sự gắn kết giữa chúng rất mờ nhạt, nhảy cóc, tưởng như phi lý. Nhưng cấu trúc toàn bài, với kieu quan hệ liên kết – sóng đôi lại ngầm thông báo chủ đề của bài thơ: Tất cả vạn vật đều cần đến nhau. Chỉ khi chúng liên kết với nhau theo hàng triệu kieu quan hệ thì sự sống mới tồn tại.
Như vậy, nên đứng xa ra, nhìn bài thơ như một bức tranh mà Mai Văn Phấn đã hiện thực hóa bằng hệ thống danh từ dày đặc của mình. Đó là những ấn tượng về đời sống đã đi vào tiềm thức. Không the khôi phục bài thơ bằng cách lấp đầy những khoảng trống đó, vì nó là hình ảnh của đời sống, mà đời sống luôn luôn là những phiến đoạn rời rạc.
Người ta cho rằng một hiện tượng văn học hiện đại có the tìm thấy mối liên hệ của nó với các loại hình nghệ thuật khác như âm nhạc hội họa hơn là với chính nó trong truyền thống. Rất nhiều những bài thơ như trên của Mai Văn Phấn không giống với những bài thơ truyền thống mà khi câu thơ tạo ra những khoảng trắng thì không phải là khoảng trắng đó vô nghĩa, sự vắng mặt của nó cũng có ý nghĩa như sự có mặt của từ, câu, hình ảnh khác. Trong bài Cửa mẫu, Mai Văn Phấn đưa ra một loạt hình ảnh không cùng một trường nghĩa khiến cho câu thơ rời rạc, phi lôgic:
Con sơ sinh trên đất/ Bơi qua sông con nòng nọc đứt đuôi/ Tập vỗ cánh, quạt gió vào lòng tổ/ Bật lá mầm bay đi thênh thang/ Hơi nước bến sông/ Không gian đặc thời gian nhầm lẫn/ Ngọn khói lên cao/ Biết mình bơi trong biển sương/… Đặt con lên đất/Lòng sông đau xé thâu đêm/ Thiên nhiên láng ướt/ Thân cây rã rời từng đốt/ Nước xiết/ Chảy nhanh hơn/ Con bật khóc cuốn đi lưới nhện/ Tiếng con vạc khàn khàn/ Tàn tro lóe sáng/ Mặt trăng run/ Nhặt viên sỏi vẽ lên mặt đất/ Một cánh đồng/ Chú bê non ngơ ngác…
Mỗi câu một hướng đến một ý, có khi hai câu nhưng rồi câu tiếp theo lại hiện lên một trường nghĩa mới. Sự gián đoạn ấy rất khó đe người đọc hình dung được nhà thơ đang nói về điều gì. Những khoảng trắng giữa các câu thơ mách bảo với ta rằng có điều gì đó đang chuyen động ngầm ở nơi vắng chữ. Sự đứt đoạn của hình ảnh tạo nên những cú nhảy bất ngờ, những đan kết không chờ đợi, đặc điem có tính phiến đoạn của mỗi câu và cách thức chuyen đổi từ “con sơ sinh” đến các hình ảnh thiên nhiên the hiện sự thức tỉnh âm thầm, đau đớn mà quyết liệt trong con người đe phá vỡ trật tự hiện hữu. Các thủ pháp lắp ghép, cắt dán, đồng hiện được sử dụng nhiều trong thơ, không ham phân tích, lý giải các sự vật hiện tượng như trong Thơ Mới, nhiều bài thơ của Mai Văn Phấn giống như những bản khung ý tưởng chưa được trien khai cụ the:
“Trên cao em con cá trúng xiên, con chim trúng đạn/Vũ điệu nhịp nhàng nở đóa hoa/Nước ấm nóng mở đầu nghi lễ thanh tẩy/Lăn trơn anh chuỗi hạt xổ tung/Vòm ngực thả trái cây sắp rụng/Lũ cuốn, đá lở, sạt đồi/Con thú giật tung dây trói/Nghiền không gian thành sữa thơm, dưỡng chất/Bầu vú cương lên căng mọng/Nuôi nấng trẻ thơ trên khắp thế gian” (Hình đám cỏ – Nhịp IV).
Mỗi câu thơ có tư cách độc lập, tự nó có tính chất như những phác thảo xuất thần của những ý tưởng vụt hiện, ngẫu hứng. Mỗi câu thơ dường như được tháo dời ra khỏi những chỉnh the khác nhau, rồi lại được liên kết lại tạo thành một chỉnh the mới. Xâu chuỗi những hình ảnh, những hiện tượng đó lại, chúng ta nhận thấy, bài thơ vẽ ra một bức tranh về một thế giới đứt gẫy, vụn vỡ. Đọc những câu thơ hiện đại, chúng ta sẽ rất khó cảm thụ bài thơ nếu chỉ đi theo mạch tuyến tính của bài thơ. Tiếp cận thơ hiện đại đòi hỏi chúng ta cần quan sát các hình ảnh thơ trong mối tương quan đồng hiện, từ đó phát hiện ra những mối liên hệ ở bề sâu. Nguyên tắc gián đoạn đã phá vỡ tính thống nhất liền mạch của dòng cảm xúc và liên tưởng trong bài thơ. Nhà thơ có the đem hòa vào bài thơ nhiều mạch cảm xúc, liên tưởng khác nhau, từ đó tạo ra sự giao thoa giọng điệu, điem nhìn khiến cho bài thơ có xu hướng đa tuyến.
Một đặc điem đáng chú ý của tính gián đoạn trong hình thức thơ Mai Văn Phấn đó là hiện tượng những câu thơ vắt dòng. Ở các the thơ cách luật, dòng thơ được quy định khá chặt chẽ: số chữ mỗi dòng, số dòng trong một bài, cấu trúc của dòng thơ, cách gieo vần… Câu thơ là dòng thơ diễn đạt trọn vẹn một ý, cứ trọn nghĩa là một câu. Sang đến thơ Mới, thơ thời kháng chiến đã có sự vắt dòng, câu thơ không nằm nguyên trên một dòng nữa mà chảy tràn từ dòng trên xuống dòng dưới. Chẳng hạn: Ơi! Kháng chiến, mười năm qua như ngọn lửa / Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường (Chế Lan Viên).
Ở đây chỉ muốn nhấn mạnh thêm một điều là sự vắt dòng ở các nhà thơ làm thơ tự do sau này cũng chỉ dừng lại ở việc tạo ra sự phụ thuộc về cấu trúc cú pháp và ý nghĩa dòng thơ, khác thơ cổ đien mỗi dòng thơ có cấu trúc cú pháp độc lập, ví dụ:
– Sông Đáy chảy vào đời tôi/ Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ mỗi chiều đi làm về vất vả (Nguyễn Quang Thiều).
– Ở giữa cánh đồng của mẹ / trong chiếc nôi màu thiên thanh / Mơ mơ cánh đồng thơ ấu / không không không cả bóng người (Dương Kiều Minh). ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Nhưng với Mai Văn Phấn, sự cắt ngang của dòng thơ, thậm chí không còn tính đến sự nguyên vẹn của các từ nữa mà nó san sàng trật khỏi dòng tại bất cứ điem nào trên bề mặt văn bản.
Nước mắt những người đàn bà góa bụa mà đông thành tinh thể, thì làng tôi có bao nhiêu hòn Vọng – Phu. Nhưng nước mắt chỉ thầm như sương muối, tháng ngày tàn héo xuân xanh, rồi bay về trời tụ thành mây hồng hoang. Đám mây hình những người đàn ông mơ màng… mà không, họ đang thao thức trên đầu ta từng mảng rêu phong. Nỗi đau tận cùng bỗng nhiên thánh hóa. Các anh về rồi lại ra đi. Bởi sấm đã rung và chớp đã giật, mây chồng lên mây, người chất lên người.
Thương các chị mòn mỏi khóc bao đêm mà trời chỉ trả cho nước mắt đôi lần. Nước mắt bay ngang trời bầm tím! Từng mái gianh nghèo như mi mắt ai đẫm ướt. Các chị hứng mưa, giọt từng giọt như lần tràng hạt: Mưa!Mưa!Mưa!
Nụ hôn nào trong veo tan loãng thế. Các chị cầm tan nát đóa hoa mưa… (Nước mắt)
Về hình thức bên ngoài, nó bieu hiện trước hết là sự phá vỡ cấu trúc đầy đặn của câu thơ truyền thống, qua đó nói lên sự tràn đầy, bùng vỡ trong thế giới tâm hồn. Phương thức gián đoạn này gia tăng độ căng cảm xúc, sự đứt đoạn của ngôn ngữ the hiện sự đứt gãy trong tâm trạng, trong ý thức. Câu thơ không đứng yên trong phận vị của mình mà tràn ra, đổ xuống tạo nên một cấu trúc hỗn độn, và người làm thơ chấp nhận sự tàn phá và sự hỗn độn như một bộ phận của cái đẹp cuộc sống, đồng thời the hiện sự hoài nghi đối với đời sống.
Tóm lại, về cấu trúc thơ Mai Văn Phấn có bước chuyen biến rõ rệt so với cấu trúc thơ ca truyền thống. Đặc trưng rõ nét nhất đó là cấu trúc gián đoạn, chính nó chi phối tới việc tổ chức lời thơ của anh. Sự gián đoạn đó được hình thành trên sự đồng hiện, phân mảnh hoặc lắp ghép hình ảnh, khiến cho câu thơ, bài thơ mất đi quan hệ nhân quả theo chiều tuyến tính. Nếu mỹ học cổ đien coi văn bản như thế giới thì ngược lại với thời hiện đại, thế giới được nhìn như văn bản. Đó là nguyên nhân sâu xa của cấu trúc gián đoạn trong thơ Mai Văn Phấn.
3.3. Cách tân trong cấu trúc các hình ảnh – biểu tượng
Qua khảo sát hệ thống thơ Mai Văn Phấn, chúng tôi phân ra hai cấp độ: Hình ảnh và bieu tượng. Ở cả hai cấp độ này, Mai Văn Phấn đã đạt được những thành công nhất định. Từ việc sử dụng thành công các hình ảnh và bieu tượng đã tạo nên được một sức hút thật sự với bạn đọc.
3.3.1. Cách tân trong cấu trúc các hình ãnh ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Văn xuôi phản ánh đời sống thông qua tình huống, cốt truyện, nhân vật, chi tiết… còn cách thức của thơ là thông qua ngôn từ nghệ thuật, qua cấu trúc và đặc biệt là qua hệ thống hình ảnh. Hình ảnh “không chỉ là đối tượng được mô tả trong thơ mà còn là phương tiện biểu đạt tư tưởng tình cảm trong thơ”. Như vậy, hệ thống hình ảnh chính là phương tiện, là căn cứ trực tiếp mà thông qua đó giúp ta nhận thức được thế giới đời sống con người và cảm nhận tư tưởng tình cảm của nhà thơ. Những hình ảnh trong thơ bao giờ cũng phải là những hình ảnh được lựa chọn, nhào nặn thông qua ý tưởng chủ quan của người nghệ sĩ. Hệ thống hình ảnh trong thơ chịu sự chi phối bởi quan điem thẩm mỹ của thời đại, bởi trình độ văn hóa thẩm mỹ của con người thời đại đó. Ở thời kỳ văn học trung đại, do bị ảnh hưởng của hệ thống công thức ước lệ tượng trưng trong việc miêu tả sự vật hiện tượng nên thi ca thời kỳ trung đại không có nhiều hình ảnh mang dấu ấn của sự sáng tạo. Chính vì thế mà mùa thu bao đời vẫn chỉ là được miêu tả qua một số hình ảnh như lá ngô đồng rụng, rừng phong thu đã nhuốm màu quan san, hay nói tới vẻ đẹp của đấng trượng phu, quân tử, anh hùng phải là “Râu hùm, hàm én, mày ngài”… Đến thời thơ Mới, hình ảnh thơ là những hình ảnh tân kì, cách tân mới lạ với quan niệm thẩm mỹ mới mẻ về thiên nhiên và con người. Chẳng hạn như, ở Hàn Mặc Tử hay nói đến hình ảnh “trăng”, Nguyễn Bính hay dùng hình ảnh “cánh đồng”, “mảnh vườn”, Huy Cận là hình ảnh “sông dài”, “trời rộng”… nhưng ta có the thấy rõ rằng, đó vẫn là những hình ảnh của một thế giới thực mà con người có the tri giác được. Bước sang địa hạt của thơ hiện đại và đặc biệt là thơ đương đại, hình ảnh là một phương tiện gây ấn tượng mạnh mẽ nhất. Ta bắt gặp những hình ảnh thơ gây bất ngờ như: “Anh gặp em nhom nhem trong nhà tắm” (Bùi Hội). Độc giả thực sự bất ngờ khi các nhà thơ đương đại không ngần ngại đưa những thứ trần tục, biến dạng, méo mó đe chuyen tải tư tưởng, quan niệm thẩm mỹ phản ánh hiện thực, thách thức với những cái thi vị, trang trọng theo quan niệm truyền thống.
Khỏa thân trong chăn
Thèm chồng. Thèm chồng ở bên…. (Vi Thùy Linh)
Em cào ngực
không có anh trong da thịt Anh ở trong mồ hôi chân Gác trên bồn tắm
Đã thoa kem- hát rằng “sáng mùa đông” (Phan Huyền Thư)
Hôm nay Nga buồn như con chó ốm Như con mèo ngái ngủ trên tay anh Đôi mắt cá ươn sắp sửa se mình… (Nguyên Sa)
Như vậy, hình ảnh the hiện rõ quan niệm và ý thức thẩm mỹ của mỗi nhà thơ và mang dấu ấn thời đại. Do đó khi nói đến những cách tân thơ không the bỏ qua hình ảnh thơ.
Trong những sáng tác thơ của Mai Văn Phấn, chúng tôi nhận thấy nhà thơ sử dụng dày đặc hình ảnh, chất chồng lớp hình ảnh. Các hình ảnh được nhà thơ sử dụng một cách tự do, thoải mái, tạo ra được một giọng thơ độc đáo, góp phần the hiện những ý tưởng, chiêm nghiệm, cũng như bộc lộ được quan niệm thẩm mỹ mới mẻ. Anh đã có nhiều dụng công trong việc tạo ra được những hình ảnh mới lạ, những liên tưởng, so sánh đầy bất ngờ:
Anh là con cá miệng dàn dụa trăng Dời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động (Ngậm em trong miệng)
Giấc mơ giăng kín thinh không
Hạt mưa ngái ngủ ngã chồng lên nhau (Du ca)
– Tiếng em vọng ai quàng lên chiếc khăn ấm nhẹ Chạm và anh thuở khờ dại xưa
Ngắt bông hoa kẹp vào trang sách Chim non vươn lên thành tổ
Chênh vênh vòm lá treo mưa Em cười nói hồn nhiên trẻ nhỏ
Lất phất mưa anh phờ phạc ưu tư(…)
– Mình đã ngủ sâu hai chiếc chai đóng kín hai que diêm chen lấn giữa bao diêm
hai bức tranh lồng vào khung tranh hai kỷ vật cất trong rương tối
hai chiếc đinh đóng ngập trên tường (Hình đám cỏ)
Chiếc áo vừa giặt nhàu nhĩ, nước lặng lẽ bốc hơi tôi đâu có biết. Rồi những sợi vải mỏng manh lại phẳng phiu dưới bàn là nóng bỏng. Giặt – là, giặt – là… Đời sống đôi khi giống quả lắc chiếc đồng hồ quá cũ. Tôi tập nghĩ vẩn vơ để có thể nghĩ tiếp. (Anh tôi) ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Có the nói, khả năng sử dụng những hình ảnh liên tưởng, so sánh táo bạo là một trong những thế mạnh của Mai Văn Phấn. Chính nó đã tạo nên sự cuốn hút, sự độc đáo trong những tác phẩm của anh. Nhà thơ bằng một loạt những hình ảnh được sử dụng với tần suất cao, khiến cho người đọc phải huy động tư duy và liên tưởng tích cực trong quá trình tiếp nhận các ý tưởng thơ. Thơ Mai Văn Phấn ở tất cả các giai đoạn đều tận dụng khai thác tối đa ưu thế của các hình ảnh đe bieu lộ cảm xúc và ý tưởng thẩm mỹ. Ở phương diện này, Mai Văn Phấn và Nguyễn Quang Thiều mặc dù có sự tương đồng ở việc sử dụng các hình ảnh với tần suất cao, nhưng cũng có sự khác biệt khá cơ bản. Nguyễn Quang Thiều thường sử dụng các hình ảnh hừng hực mạnh mẽ, và thường đẩy chúng tới tận cùng giới hạn của chính nó “Con nhện cỏ giật mình chạy hút cuối đường tơ” hoặc cũng có the là những hình ảnh the hiện sự đổ vỡ, chia cắt… nhà thơ buộc sự vật phải the hiện cái mạnh mẽ nhất của đời sống tự nhiên. Nguyễn Quang Thiều thường phát huy hiệu quả thẩm mỹ của các hình ảnh đối lập, tương phản. Trong thơ Nguyễn Quang Thiều, sự trần tục luôn được đặt cạnh sự linh thiêng, cái bình thường luôn được đặt cạnh cái phi thường… chúng vừa đối lập nhau, vừa dung hòa nhau. Tả người đàn bà gánh nước sông, nhà thơ viết:
Một tay họ bám vào đòn gánh bé bỏng chơi vơi Bàn tay kia bấu vào mây trắng
Sự tương phản ấy làm nổi bật vẻ đẹp vừa yếu đuối, giản dị, lãng mạn.
Hình ảnh ấy chất chứa cảm hứng nhân văn sâu sắc của nhà thơ.
Đối với Mai Văn Phấn việc sử dụng hình ảnh trong thơ cũng được coi như là một phương tiện truyền tải những ý tưởng, những cảm hứng nhân văn của mình. Tuy nhiên trong việc xây dựng và sử dụng hình ảnh trong thế giới thơ mình Mai Văn Phấn thường có xu hướng vươn tới một thế giới trầm lắng, dịu dàng và thanh bình. Thơ anh cũng chất chồng hình ảnh nhưng đó thường là những hình ảnh vừa hiện đại vừa mang âm hưởng bản sắc riêng của dân tộc, the hiện một tâm hồn thi sĩ nặng tình với cội nguồn, với quê hương, đất nước. Đọc thơ anh, chúng ta thường hay bắt gặp những hình ảnh là những sự vật, hiện tượng và vật dụng quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam: cỏ, cây, vườn, trăng, ngọn đèn, hoa, giấc mơ, mưa, tán lá, nắng, đất, mầm cây, thúng, mủng, giần, sàng, cánh cò, mùa thu, rơm rạ, mùa xuân…
Như vậy có the dễ dàng nhận thấy hệ thống hình ảnh trong thơ Mai Văn Phấn the hiện quan niệm hướng thơ tới một giá trị thuần khiết, gần gũi với đời sống, tâm thức người Việt, mang âm hưởng riêng của thơ Việt đương đại. Từ quan niệm đó, Mai Văn Phấn đã cố gắng dụng công phát huy tối đa hiệu quả thẩm mỹ của các hình ảnh khiến thơ anh không bị “Tây” quá. Đồng thời những kieu dạng hình ảnh thuần khiết dân tộc ấy cũng đã phần nào the hiện một quyết tâm, một khao khát cháy bỏng của nhà thơ Mai Văn Phấn, đó là đưa thi ca thoát khỏi những rào cản ngôn ngữ, hướng tới một nền thơ dân tộc không bị ảnh hưởng hay chi phối phụ thuộc bởi một nền văn học nào trên thế giới, một hướng thơ thuần Việt. Càng về giai đoạn gần đây, thơ Mai Văn Phấn càng the hiện rõ quan niệm đó, chúng ta có the dễ dàng nhận thấy qua một loạt những bài thơ của anh:
Chiếc lá kia rơi
Mặt đất sẽ trũng xuống
Vọng tiếng chuông xua mây đen Nắng sẽ hanh hao
Heo may run ngõ nhỏ sách mới thơm hơi trẻ thơ Mía ngọt trào lên ngọn
Những con sâu nhẫn nại tết vệt trứng óng ả quanh gốc cây già
Chú bê non chạm lưỡi mềm mặt cỏ Chiếc lá ấy rơi
Biết có ai được may mắn đến gần Thời khắc mùa thu về đích. (Thu đến)
Khi tiếp cận bài thơ, chúng ta có the dễ dàng nhận thấy sự đa dạng, đan chồng của các hình ảnh, mỗi câu thơ đều chứa đựng một hình ảnh. Điều đáng nói ở đây đó là các hình ảnh trong bài thơ đều là những hình ảnh quen thuộc, gần gũi trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người Việt: lá, mặt đất, chuông, nắng, heo may, ngõ nhỏ, sách mới, trẻ thơ, mía, con sâu, gốc cây, bê non, mùa thu… Tất cả những hình ảnh đó đều hướng tới bieu đạt cảm xúc dồn nén của nhà thơ khi mùa thu về với từng bieu hiện rất quen thuộc, gần gũi thân thương nhất. Tất cả những hình ảnh đó, trong thời khắc giao mùa được nhà thơ thâu tóm vào trong một hồn thơ đậm chất dân tộc. Bởi vậy khi đọc bài thơ độc giả không còn có cảm giác xa lạ, hay bỡ ngỡ mà như đang bước trên chính mảnh đất quê hương mình, được nhìn ngắm và sờ chạm vào từng sự vật hiện tượng quen thuộc nhất.
Mời bạn tham khảo thêm:
3.3.2. Cách tân trong cấu trúc các biểu tượng ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Bieu tượng là một khái niệm quen thuộc nhưng đây lại là một khái niệm vào loại phức tạp và chưa có sự đồng thuận trong cách hieu cũng như cách sử dụng. Tổng hợp những thành tựu mĩ học, lí luận văn học Macxit, các soạn giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa bieu tượng như sau: Trong nghĩa rộng bieu tượng the hiện “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật”. Theo nghĩa hẹp, bieu tượng là “một phương thức chuyển mã của lời nói” đặt bên cạnh ẩn dụ, hoán dụ hoặc là một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt “có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời”.
Chúng ta cần phân biệt bieu tượng khác với bieu hiện, vật liệu, phúng dụ, ẩn dụ… đó là những dấu hiệu của sự bieu nghĩa. Bieu tượng khác với dấu hiệu ở chỗ dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong cái bieu đạt và cái được bieu đạt (khách the hay chủ the) vẫn xa lạ với nhau, trong khi bieu tượng giả định sự “đồng nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức”. C.G.Jung viết: “Cái mà chúng ta gọi là biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh, ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày, vẫn chứa đựng những mối quan hệ liên can, cộng thêm vào đó cái ý nghĩa quy ước và hiển nhiên của chúng. Trong biểu tượng có bao hàm một điều gì đó mơ hồ, chưa biết hay bị che giấu đối với chúng ta” [10,tr.29]. Như vậy, bieu tượng không phải là tất cả các hình ảnh. Có những hình ảnh chi mang tính định danh, gọi tên sự vật, sự việc đúng như nó có trong thực tế đời sống. Nhưng cũng có những hình ảnh mà khi chúng được lựa chọn đe đưa vào tác phẩm theo một cách tổ chức nghệ thuật đặc biệt thì chúng bỗng gợi lên vô số ý nghĩa rộng hơn và trừu tượng hơn, khác với ý nghĩa thự, ý nghĩa cụ the vốn có ban đầu. Đó được gọi là bieu tượng.
Như vậy, bieu tượng trong thơ là một vấn đề đã được đề cập tới từ lâu. Tuy nhiên đe sử dụng các bieu tượng như một biện pháp thường xuyên và mang tính hệ thống lại không phải là đặc điem phổ biến của tất cả các nhà thơ. Qua tiếp cận, khảo sát, chúng tôi nhận thấy thơ Mai Văn Phấn có sử dụng nhiều hình ảnh bieu tượng đa nghĩa. Chính những bieu tượng này đã góp phần tạo nên trong thơ anh một giá trị thẩm mỹ mới mẻ và hiện đại. Đọc thơ Mai Văn Phấn chúng ta dễ dàng nhận thấy, hệ thống bieu tượng xuyên suốt hành trình sáng tác thơ anh được chính nhà thơ dụng công xây dựng và bieu đạt rất rõ nét. Đó là những bieu tượng được dùng trở đi trở lại nhiều lần với dụng ý nghệ thuật riêng. Có the nói đó là những bieu tượng được nhà thơ lấy cảm hứng từ truyền thống thơ ca dân tộc và tiếp thu những “mẫu gốc” trong kho tàng văn hóa của nhân loại. Do đó một đặc điem trong các bieu tượng thơ của Mai văn Phấn đó là vừa mang đậm những bản sắc của văn hóa truyền thống, vừa hòa chung nhịp điệu, dòng chảy của nền văn hóa thế giới. Từ đó đã góp phần the hiện một phong cách thơ vừa độc đáo, vừa mới mẻ. Qua khảo sát những sáng tác của Mai Văn Phấn, chúng tôi nhận thấy một số bieu tượng được nhà thơ tạo dựng thành công và sử dụng với tần xuất cao, đó là các bieu tượng: Lá, cây, mầm, cánh đồng, dòng sông, mưa, giấc mơ, con thuyền, cỏ, chim, hoa, trăng… Các bieu tượng này đan cài, đồng hiện trong thơ Mai Văn Phấn một cách tích cực và thường trực, tạo thành một chuỗi hình tượng xếp chất chồng bên nhau, góp phần hỗ trợ đắc lực nhà thơ phản ánh một thế giới riêng. Đó là một thế giới đa tầng, đa nghĩa đầy biến ảo, hàm chứa những khát khao, mong ước, những trăn trở, suy tư và chiêm nghiệm về con người và cuộc sống hiện thực. Đó là một thế giới thơ của riêng Mai Văn Phấn có đầy đủ bầu trời, có nắng, mưa, cây, cỏ, lá, hoa, trăng sao có cả những con thuyền, dòng sông, cánh đồng và có cả những giấc mơ mơ về một hiện thực, tương lai tươi sáng. Và hơn thế nữa, thế giới được thu nhỏ bằng các bieu tượng đó còn là phương tiện quan trọng đe nhà thơ bộc bạch quan niệm thẩm mỹ và ý tưởng nghệ thuật của mình.
Với phạm vi của một mục nhỏ của luận văn, chúng tôi xin được tiến hành điem qua một vài hình ảnh xuyên suốt trong sáng tác của nhà thơ đã trở thành những hình tượng đầy ám ảnh, có sức sống bền lâu và mở ra nhiều ý nghĩa tượng trưng trong cảm nhận của mỗi người.
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, trong sáng tác của Mai Văn Phấn, nhà thơ đã xây dựng được một hệ thống bieu tượng bằng những hình ảnh thiên nhiên, gần gũi, tươi mới, sống động. Đó là một tập hợp các bieu tượng gồm: cỏ cây, hoa lá, mưa, dòng sông, cánh đồng…
Trong bieu tượng văn hóa thế giới: “cỏ” là “biểu tượng của tất cả những gì chữa khỏi bệnh, tái lập sự sống, trả lại sức khỏe, sự cường tráng và khả năng sinh sản. Tương truyền các thần linh đã phát hiện ra những hiệu năng trị bệnh của chúng. Mircea Eliade đã gắn liền biểu tượng cây thảo với biểu tượng Cây đời (…). Cây cỏ làm cho sự sinh đẻ được dễ dàng, gia tăng khả năng di truyền và đảm bảo sự thịnh vượng, giàu có”.
Người đọc có the dễ dàng nhận thấy, Mai Văn Phấn rất ưa chuộng cỏ cây, hoa lá. Có the nói hình ảnh này đã xuất hiện một cách hồn nhiên trong thơ Mai Văn Phấn. Trong thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn, cỏ cây, hoa lá đã tạo nên những sắc nét riêng. Là phận cỏ cây, thế nhưng hình ảnh ấy khi đi vào thơ anh dường như không bieu tượng cho phận người mong manh, nhỏ bé dễ bị chà đạp, dập vùi, cái mà chúng ta đã từng bắt gặp trong sáng tác của nhiều nhà thơ trước đó và cả sau này:
Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau (Nguyễn Du) ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Có mấy ai nhớ về ngọn cỏ Mọc vô tình trên lối ta đi (Xuân Quỳnh)
Dẫu người đi đã mòn đường
Cỏ thì phận cỏ khiêm nhường vậy thôi (Trần Hoa Khá)
Từ ý nghĩa bieu trưng ban đầu của cỏ cây, hoa lá là tượng trưng cho sự sống, Mai Văn Phấn đã gửi gắm vào đó cả tình yêu dành cho thiên nhiên. Cỏ hoang trong thơ Mai Văn Phấn không gợi lên sự hoang tàn, héo úa mà ngút mắt, mênh mang gieo vào lòng ta những nghĩ suy, chiêm nghiệm đầy triết lí:
- Thôi đừng giỗ cỏ lên trời
- Khi tan mộng mị biết ngồi với ai
- Ghé môi vào miệng thời gian Cho hơi thở mọc vô vàn cỏ non (Tản mạn về cỏ)
Những dòng lục bát đều đều với nhịp điệu chậm nhẹ dường như tạo nên trong ta ấn tượng về những làn sóng trên khoảng xanh của cỏ thời gian âm thầm lan xa, xa mãi. Thời gian cứ chạy về phía trước, cỏ cứ vượt lên. Sợi dây liên tưởng của nhà thơ đã nối kết cỏ với thời gian cuộc đời con người. Cỏ mênh mông, bao phủ, lặng lẽ, âm thầm hàn gắn những khoảng trống, những vết cắt đất đai. Thời gian kia vô thủy vô chung, lặng lẽ, lấp vùi bao biến thiên dời đổi, âm thầm làm vơi bớt những vết thương lòng. Thế nên, bieu tượng cỏ trong những trang thơ của Mai Văn Phấn còn tượng trưng cho sức sống mãnh liệt, bền bĩ, cho lòng nhân hậu và cả sự lãng quên…
- Thiên nhiên động tiếng mùa sang Dấu chân trong cỏ mỡ màng trổ hoa
- Nhỏ nhoi giữa đất giữa đời Lương tâm cỏ mịn cây tươi giữ gìn (Trái tim giải thoát)
Cùng với bieu tượng cỏ, trong thơ Mai Văn Phấn còn có các bieu tượng cây, hoa, lá, mầm, cánh đồng… tất cả gọp lại tạo nên một “hệ sinh thái” trong thơ anh. Đó là hệ sinh thái của màu xanh của cỏ, của cây, của lá, của cánh đồng, tất cả được bắt nguồn, được nuôi dưỡng từ đất.
Chúng ta có the xem bieu tượng “Đất” trong thơ Mai Văn Phấn được nhà thơ dụng công xây dựng như một bieu tượng “mẫu gốc” đe từ đó phái sinh ra các bieu tượng khác, tạo nên được một thế giới thơ đầy sự sống, dồi dào, tươi trẻ, luôn sinh sôi nảy nở và có mối liên hệ mật thiết với nhau trong quy luật của tự nhiên
Con đang khai hoa đậu quả Ngự trên ngực mẹ, ngực cha Cây bám vững vào mặt đất Rễ sâu cành là la đà (…)
Âm hưởng xa xưa chảy vào miệng đất
Dòng sữa ứ lên cỏ cây tiếng muông thú côn trùng Bông lúa cúi đầu tạ gió mưa hòa thuận
Hạnh phúc nhận ra mình trước mầm cây, giọt sương
hay lá mục
Ta run lên trong nhịp đập thiên nhiên
(Trường ca Người cùng thời)
Một sinh quyen hài hòa thống nhất được Mai Văn Phấn dựng lên trong thơ anh bằng các bieu tượng thiên nhiên, vừa gần gũi, vừa triết lý, vừa bieu đạt sâu sắc cho ý tưởng nghệ thuật của nhà thơ.
Vươn thẳng
Tán cây quang hợp mặt trời Lá chồng lên nhau hoan hỉ Bật dậy thở chung dòng nhựa
Máu từ đất đai chạy qua bàn chân Miệng ngậm hương đêm lồng lộng Đưa anh đi mất hút bến bờ(…) Phủ che lá cỏ
Gió biển ngái mùi lòng mẹ(…)
Bé thơ vườn trẻ lá rơi rất nhẹ chia nhau làm tiền khôn ngoan xiên ngang dại khờ đi dọc tiếng nói chân thành làm ta bật khóc. (Hình đám cỏ – Nhịp VI)
Thật vậy, sự sống của thiên nhiên truyền dẫn vào sự sống của con người, trong sự hoan hỉ của dòng nhựa, của lá chồng lên lá, và nhận thấy máu từ đất đai chạy qua bàn chân. Ở đâu kia ngoài xa khơi từng làn gió biển ngai ngái mùi lòng mẹ, phía sau khu vườn bé thơ nhặt lá chia nhau làm tiền, làm nhói lên sự xa xót nỗi niềm thế tục với khôn ngoan xiên ngang dại khờ đi dọc tiếng nói chân thành làm ta bật khóc.
Trong nỗ lực của một nhà thơ cách tân thơ đe tìm về truyền thống, tìm hướng đi mới cho thi ca Việt Nam, Mai Văn Phấn đã tìm ra một cách đẹp đe giải phóng chính mình khỏi áp lực của truyền thống, khẳng định sự tự do thực sự của thơ ca. Mai Văn Phấn đi theo con đường của người làm thơ lần tìm cội rễ, trở lại nằm áp tai xuống đồng đất đe nghe cỏ cây sinh sôi, nảy nở. ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Bên cạnh các bieu tượng phái sinh được bắt nguồn từ bieu tượng đất như trên, Trong các sáng tác của mình nhà thơ Mai Văn Phấn cũng sử dụng bieu tượng “Nước” với tần suất rất cao như một bieu tượng “mẫu gốc” đe từ đó sinh ra các bieu tượng phái sinh đồng vị với nước như: Sông, mưa, sương, hơi nước… Tính chất của “nước” trong bieu tượng văn hóa thế giới: có ba chủ đề chính: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh đã được hiện diện qua những dòng thơ mà thời gian của tình yêu thật tinh khôi trong thơ Mai Văn Phấn
Anh cùng em tái sinh từ nước trong, khí sạch Nụ hôn bay lên tắm rửa bình minh (Người cùng thời)
Ở châu Á, nước là “nguồn gốc sự sống và là yếu tố tái sinh thể xác và tinh thần, là biểu tượng của khả năng sinh sôi, nảy nở, của tính thanh khiết, tính hiền minh, tính khoan dung và đức hạnh”. Nước được coi là vật chất nguyên thủy của vũ trụ.
Mai Văn Phấn đã sử dụng những bieu tượng đó trong thơ mình nhằm truyền tải gửi gắm những thông điệp về tình yêu, sự sống, đồng thời giãi bày những cảm thức sâu sắc của mình trước thiên nhiên và con người. Có lẽ chính vì vậy mà trong thơ anh luôn trở đi trở lại những hình ảnh này.
“Một giọt nước vừa tan Một mầm cây bật dậy Một quả chín vừa buông Một con suối vừa chảy”
(Nghe em qua điện thoại)
“Em và anh tụ thành nước mát
mưa xuống những nụ hôn làm lại thế gian” (Những bông hoa mùa thu, 2)
“Giọt nước buồn bay lên đám mây
Nghe quả trứng ấm nóng lăn qua cơ thể Đôi sẻ nâu vội vàng giao hoan chớp mắt” (Hình Đám Cỏ, II) “Ánh trăng khuya rơi vào chén nước Thoáng long lanh cứu rỗi bao người” (Hình Đám Cỏ, VII)
Qua những ví dụ trên, chúng ta có the thấy, từ bieu tượng nước, Mai Văn Phấn đã the hiện được một nguồn mạch thơ được khơi nguồn từ những gì quen thuộc gần gũi, bình dị nhất. Nhưng cũng chính từ đó những cảm xúc về tình yêu, về cuộc sống về cội nguồn. Chúng tôi muốn dừng lại ở đây đe tìm hieu kỹ hơn một bieu tượng phái sinh của nước nhằm làm rõ hơn sự mới mẻ, sáng tạo, cũng như ý thức lao động chuyên nghiệp và sự tìm tòi cách the hiện không ngưng nghỉ của nhà thơ. Đó là bieu tượng “dòng sông”.
Theo Từ đien bieu tượng văn hóa thế giới, trong văn hoá nhân loại, với đặc điem bản the là một dòng chảy không ngừng nghỉ, chảy xuống từ trên núi cao, quanh co qua những thung lũng, biến mất trong những hồ và bien, dòng sông tượng trưng cho đời người với chuỗi liên tiếp những mong ước, những tình cảm, những ý định và thiên hình vạn trạng những bước ngoặt của chúng. Ý nghĩa bieu trưng này đã được lưu giữ lại trong thơ Mai Văn Phấn nhưng được đẩy lên một mức độ cao hơn, trở thành triết lí về cái vô thường
Mía cứ ngọt âm thầm trong bóng tối
Giấc mơ thành dòng sông chảy giữa hai mùa (Hát giữa hai mùa)
Những bờ vai thức dậy và bắt đầu chuyển động. Tiếng phù sa vỗ về dẫn dắt từng con nước, hay lòng tay các vua Hùng giản dị dưới lòng sông.
Tiếng sét trong cơn mưa đóng dấu bàn chân hay nghi lễ cho ta nhận mặt. Mây êm ái bay qua khoảng không thơ ngây vừa được cắt rốn. Xin thấm đẫm ơn sâu các dòng sông đã đem ta vào thế kỷ sau (Người cùng thời)
Dòng sông, với tính năng làm sạch, trở thành bieu trưng cho sức mạnh thanh tẩy. Theo truyền thuyết Ấn Độ, dòng sông trên cao chính là bieu tượng của nước thượng giới, nó tẩy uế tất cả, nó cũng là bieu tượng của công cụ giải thoát. Đối với Mai Văn Phấn, dòng sông còn là bieu tượng của truyền thống, cội nguồn dân tộc, là điem xuất phát, là nơi dung chứa những trầm tích lịch sử và văn hóa dân tộc.
Dưới đây, chúng tôi tiến hành lập bảng kết quả khảo sát một số bieu tượng từ 74 bài thơ trong ba tập thơ gần đây nhất của Mai Văn Phấn gồm: Hôm sau; Và đột nhiên gió th i; bầu trời không mái che:
Nhìn vào bảng thống kê bieu tượng của 3 tập thơ trên, chúng tôi nhận thấy có 254 lần bieu tượng “đất” và “nước” được sử dụng và 579 lần các bieu tượng phái sinh xuất hiện trên tổng số 74 bài thơ. Cụ the hơn ở tập thơ
Hôm sau với 27 bài thơ nhà thơ Mai Văn Phấn đã sử dụng 36 lần các bieu tượng mẫu gốc “đất” và “nước” và 60 lần các bieu tượng phái sinh từ 2 bieu tượng đó. Việc sử dụng các bieu tượng trong thơ Mai Văn Phấn càng về giai đoạn gần đây càng được sử dụng với tần xuất cao, ở hai tập thơ Và đột nhiên gió th i; bầu trời không mái che, nhà thơ sử dụng 208 bieu tượng mẫu gốc “đất” và “nước” và 519 lần các bieu tượng phái sinh trên 47 bài thơ. Nhìn vào kết quả khảo sát trên chúng ta có the thấy, với hai bieu tượng gốc là “đất” và “nước” cùng một số bieu tượng phái sinh khác, chúng ta có the khẳng định rằng, nhà thơ Mai Văn Phấn đã xây dựng có ý thức và sử dụng rất hiệu quả các bieu tượng thơ trong các sáng tác của mình. Thông qua việc sử dụng các bieu tượng đó, Mai Văn Phấn the hiện rõ quan niệm sáng tác luôn luôn trung thành với tuyên ngôn thơ: “Muôn năm con người! Muôn năm thiên nhiên!”. Con người và thiên nhiên là hai chủ the trung tâm trong sáng tác của anh. ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Bên cạnh đó, ta còn thấy trong các sáng tác, một Mai Văn Phấn tin tưởng mãnh liệt vào những giấc mơ. Nhà thơ sử dụng bieu tượng giấc mơ với tần suất cao như một phương tiện hữu hiệu đe truyền tải thông điệp, giãi bày cảm xúc, bộc bạch những trăn trở suy tư. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, ở tập thơ Hôm sau bieu tượng giấc mơ được Mai Văn Phấn sử dụng 18 lần/ 27 bài thơ ; tập thơ Và đột nhiên gió th i là 9 lần/27 bài và ở tập Bầu trời không mái che là 16/20 bài, với hàng loạt bài thơ tiêu bieu như: Chỉ là giấc mơ, Ở những đỉnh cột, Giấc mơ vô tận, Kể lại giấc mơ... nhà thơ đã the hiện một quan niệm riêng thông qua bieu tượng đó. Nếu như các nhà siêu thực ở châu Âu thời kì trước tìm đến với giấc mộng và xem nó như một phương tiện có sức mạnh toàn năng, có the thay thế cho tư duy duy lý, giúp con người đi hết chiều sâu của chính mình, tự bộc lộ tính chất toàn vẹn trong một thực tại siêu đẳng ở đó hành động và mộng mơ, cái bên trong và cái bên ngoài, cái vĩnh cửu và khoảnh khắc… Tất cả trộn lẫn, gắn kết với nhau, thì nhà thơ Mai Văn Phấn đã sử dụng huyễn tưởng và giấc mơ trong thơ mình đe bieu đạt những u uất của sự sống mà con người đang từng ngày bươn trải trong thế giới phẳng này.
Ở bài Chỉ là giấc mơ, Mai Văn Phấn hình như đang phiêu lưu trong một ảo giác khủng khiếp, ở đó đầy rẫy những bất công, lừa lọc, hèn hạ, xấu xa, đê tiện, ác độc… mà đỉnh cao là sự tha hóa của con người đến mức trở nên ngang hàng với thế giới loài vật, đồ vật.
Và rồi Mai Văn Phấn lại có thêm một Giấc mơ vô tận mang tính chất dự báo cho những bất trắc, sóng gió của cuộc sống con người ngay từ khi họ mới chào đời:
Mưa thôi làm anh lạnh đổ vào giấc mơ gần sáng những con sóng đục ngầ vỗ vào bãi sú lúc sinh anh.
Đồng thời giấc mơ ấy còn mang theo dự báo về sự chết chóc thê thảm của loài người như đặt một dấu chấm hết cho những chuỗi ngày dài con người sống khổ đau trên trần thế:
Gió lùa về làm khăn trắng quấn quanh gốc sú trên đỉnh trời linh cữu nhấp nhô.
Đọc Ở những đỉnh cột, chúng ta thấy Mai Văn Phấn luôn sống trong sự trăn trở, bất an trước sự tha hóa của con người, sự phi trật tự của xã hội. Trong cuộc hành xác ấy, bằng những vần thơ của mình, nhà thơ đã the hiện một niềm ước mong thường trực: anh mong mỗi con người có the tìm thấy cho mình một chỗ dựa tinh thần, một bến đỗ bình yên, một động lực sống mạnh mẽ giữa cuộc đời đầy bất trắc này. Và cũng với những vần thơ ấy, có lẽ nhà còn muốn đánh thức những phẩm chất tốt đẹp nơi con người, muốn chỉ cho họ thấy rằng: con người muốn sống thực sự có ý nghĩa thì trong mọi hoàn cảnh họ phải đấu tranh một cách kiên cường từng phút, từng giây với cái ác, cái xấu, cái giả dối, cái thấp hèn… dù cho cái giá phải trả là những thương tích, mất mát, đớn đau. Và với những giấc mơ như trong bài Kể lại giấc mơ, Nếu… tác giả được tự do thả mình trong tưởng tượng, giả định. Đó là những câu chuyện phi lôgic, hoang tưởng, nhưng chúng ta nhận ra trong những câu chuyện ấy sự hoảng loạn tinh thần, sự hoài nghi của nhà thơ trước hiện thực cuộc sống của con người trong xã hội hiện đại và bộc lộ những khát khao thường trực hết sức chính đáng và giàu tính nhân văn cao cả.
Bên cạnh những bieu tượng khá gần gũi như trên, nhà thơ Mai Văn Phấn còn chủ động sáng tạo ra những bieu tượng mới mang đậm dấu ấn cá nhân, nhằm bieu đạt một thế giới thơ riêng biệt không the trộn lẫn. Đó là các hình ảnh tạo thành bieu tượng có liên kết “xa” đem đến hình ảnh siêu thực. Có the dẫn ra bài thơ “Ngậm em trong miệng” đe làm minh chứng.
Trong thơ truyền thống đe the hiện tình cảm yêu thương và ý thức chở che người yêu, các nhà thơ thường dùng một bieu tượng quen thuộc đã trở thành sáo mòn: Dấu em trong tim, bờ vai anh xin em ngả mái đấu,… Mai Văn Phấn đã khước từ “khuôn vàng, thước ngọc” ấy đe đưa ra một bieu tượng độc đáo: “Ngậm em trong miệng”. Phải đến 2 câu kết của bài thơ ta mới hieu hết ý nghĩa và cội nguồn dẫn đến nhan đề này. Có một số loài cá khi có nguy hiem sẽ há miệng đe đàn con chui vào trú ngụ, bình yên lại thả đàn con vào sông nước. Hiện tượng tự nhiên ấy chỉ là một gợi ý đe nhà thơ hình thành tứ thơ này, nhưng với một chủ đề hoàn toàn khác.
Năm câu đầu phác hoạ “miệng anh” như một không gian yên lành cho “em”, vừa là người con gái được yêu thương, vừa sẽ là cái đẹp khi liên hệ đến hai câu kết “Anh là con cá miệng dàn dụa trăng”. Ba hình ảnh mang tính siêu thực xuất hiện đe chứng minh “miệng anh” là một không gian yên lành cho “em” và cho cả cái đẹp mà “em” vừa thực vừa ảo cũng là một bieu tượng:
Hình ảnh thứ nhất: Luôn tin có em trong miệng anh nơi không chiến tranh, dịch hạch.
Hình ảnh thứ hai: Mũi tên bắn lén tẩm độc/ thị phi,cạm bẫy, lọc lừa. Hình ảnh thứ ba: Lối em đi không còn gai nhọn.
“Miệng anh” cũng là một hình ảnh mang tính siêu thực, các nguy hiem vốn hay rình rập ngoài đời với con người, với em cũng được triệt tiêu: chiến tranh, dịch hạch, mũi tên, gai nhọn… chúng mang tính tượng trưng nên không the cắt nghĩa theo lôgíc dụng lý thông thường. Càng không the băn khoăn về sự phi lý của chúng. ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Hai câu tiếp phác hoạ “miệng anh” là không gian chở che cho em và cái đẹp. Các hình ảnh xuất hiện cũng mang ý nghĩa tượng trưng:
Bão tràn qua anh dựng tường ngăn Bình yên trong miệng anh
Bốn câu tiếp xây dựng “miệng anh” thành không gian hạnh phúc cho em và cái đẹp.
Em thúc nhẹ bờ vai/Vòm ngực, ngón chân vào má/Huyên thuyên và hát thầm/Hồn nhiên cho lưỡi và răng anh chạm vào cơ thể.
Những động từ “thúc nhẹ”, “hát thầm” các tính từ “huyên thuyên”, “hồn nhiên” đã gợi tả về niềm hạnh phúc và tự do của “em”, của cái đẹp trong không gian đó.
Ở hai câu kết đột ngột chuyen ý và làm bừng sáng chủ đề bài thơ.
“Anh là con cá miệng dàn dụa trăng/Rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động” “Miệng anh” là một không gian siêu thực, nơi trú ngụ an toàn cho “em” và cho cái đẹp mà anh nâng niu. Đe rồi, một tư thế dũng cảm và “vong thân” xuất hiện: Anh là “con cá” không an phận theo “bầy đàn”, đi theo lối đi cũ.
“Con cá” có “miệng giàn giụa trăng” mà trăng muôn đời là bieu tượng của cái đẹp ấy đã một mình “quẫy vào biển động” đe đi tìm một thế giới mới, một con đường mới của riêng nó.
Có the nói, hệ thống bieu tượng trong thơ Mai Văn Phấn xuất hiện với tần xuất cao và có chủ ý nghệ thuật của tác giả. Khi tiếp cận thơ anh, ta nhận thấy tầng lớp các bieu tượng cùng các hình ảnh và được sắp xếp theo một trật tự lôgic riêng của tác giả. Với phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ có the điem qua một số những bieu tượng tiêu bieu đe từ đó rút ra kết luận về một Mai Văn Phấn rất độc đáo và cũng rất mới mẻ trong hành trình thơ đương đại.
3.4. Cách tân trong cấu trúc ngôn ngữ thơ của Mai Văn Phấn ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Ngôn ngữ luôn là yếu tố thứ nhất, là chất liệu xây dựng hình tượng trong văn chương. Không có ngôn ngữ thì không tồn tại văn học. “Thơ là tinh hoa tối cao của ngôn từ” (Gamawa), “thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó” (Jacobson), nghiên cứu phong cách văn chương, tất yếu không the bỏ qua yếu tố ngôn ngữ, phong cách văn chương sẽ quy định sự lựa chọn từ ngữ của tác giả. Hiện nay với quan điem cách tân thơ trong đó ngôn ngữ là một trong những dấu hiệu ban đầu dễ dàng nhận thấy nhất, các nhà thơ đương đại nhìn chung đều có chung quan điem là khước từ những quan niệm cũ về cách diễn đạt, mạnh dạn từ bỏ lối nặng nề, trang trí, ưa chuộng những uyen ngữ, sính tụng ca bị chi phối bởi cung cách thưởng thức thực tại được tô hồng một thời đe tiến tới thời kỳ dân chủ hóa, đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa của công chúng. Xu hướng chủ đạo trong đổi mới về ngôn ngữ diễn đạt trong thơ hiện nay là: Chấp nhận toàn bộ ngôn ngữ đời thường, thông tục; tiến tới một thái độ táo bạo và đầy can đảm trong việc sử dụng những ngôn ngữ mang tính thử nghiệm…
Mai Văn Phấn là một nhà thơ rất có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ thơ. Cho dù trong thơ anh chúng ta thấy xuất hiện rất nhiều những hình ảnh nhưng đó là những hình ảnh thơ đã được chọn lựa kỹ lưỡng, chắt lọc nhằm bieu thị ý tưởng của tác giả. Ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn the hiện một quan niệm mới, một tư duy rất mới mẻ về thơ ca và về đời sống. Nhà thơ bộc lộ một quan niệm rất rõ ràng và dân chủ về ngôn từ. Đối với anh, thơ hay không nhất thiết lệ thuộc và vần điệu, tiết tấu, phải dễ đọc, dễ thuộc, dễ nhớ bởi vì thơ ngoài đe thuộc lòng còn đe đọc và cảm nhận. Như vậy có the thấy, với Mai Văn Phấn mọi từ ngữ đều có the sử dụng đe sáng tạo thơ ca. Đây có the được xem là một điem rất tiến bộ và hiện đại của Mai Văn Phấn, the hiện sự ảnh hưởng, tiếp thu mạnh mẽ của anh đối với nền thơ hiện đại thế giới. Trên thế giới ý tưởng này đã có từ lâu. Tieu luận Thơ là gì của Roman Jakovson đã bàn về chất thơ, trong đó đưa ra quan niệm về tính thơ có the có trong mọi sự vật và trích dẫn câu nói của Antilyrik, có đại ý: Giữa câu văn một khu vườn rực rỡ hay một cái toilet thì cũng chẳng có gì là quan trọng. Tôi không còn phân biệt các sự vật theo vẻ kiều diễm hoặc xấu xí như các vị đã gán cho chúng. Thực tế cho thấy, hiện nay quan niệm về ngôn từ thơ ngày càng được nới rộng hơn. Người ta có the sử dụng những từ mà trước kia thơ kiêng kị, né tránh. Đó là những từ chỉ sự vật bình thường thậm chí thô tục. Ở Mai Văn Phấn chỉ sử dụng từ ngữ thông tục như một phương tiện đe bieu hiện cuộc sống chứ không có ý khiêu khích, bác bỏ những vẻ đẹp truyền thống của ngôn ngữ thơ như một số cây bút khác.
“Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật” (Biêlinxki). Và nhà thơ Mai Văn Phấn đang nói chuyện cuộc đời bằng cách the hiện nghệ thuật của mình. Không sơn quét tô vẽ bằng những ẩn dụ, ngoa dụ, Mai Văn Phấn chắt lọc hiện thực, chọn lấy những chi tiết chân thực nhất, đắt giá nhất và ghi lại bằng ngôn ngữ đời thường, không bieu tả những màu mè mỹ cảm, cảm xúc được giảm trừ tối đa.
“Đạo mạo xụt xịt trong khăn mùi xoa/Đạo mạo chỉnh lại con c… trong túi quần nơi hội họp/Đạo mạo xỉ mũi vào cửa kính/Đạo mạo moi tiền của gã ăn mày/Đạo mạo nghe trộm điện thoại/Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang” (Đạo mạo).
Có the thấy, Mai Văn Phấn ở đây không tránh né đụng chạm đến những chi tiết trần trụi nếu chi tiết đó thực sự đắt giá, cũng san lòng dùng ngôn ngữ dung tục, đời thường, thực sự không dị ứng, không tách biệt phân cấp văn hóa cao thấp nhưng vẫn không bôi bẩn khuôn mặt thơ. Với “liều lượng” và “cách dùng” ngôn từ đúng chỗ, đúng nơi, hợp văn cảnh, Mai Văn Phấn đã vận dụng phong cách thơ hậu hiện đại mà không không làm người đọc ngoảnh mặt đi.
Là một trong những nhà thơ thuộc thế hệ sau năm 1975 khao khát cách tân thơ Việt, dĩ nhiên Mai Văn Phấn cũng là một thi sĩ đi đầu trong việc cách tân ngôn ngữ trong thơ. Đọc thơ của anh, ta bắt gặp một thứ ngôn ngữ mang dấu ấn riêng của Mai Văn Phấn. Loại ngôn ngữ cách tân, gần gũi với đời sống nhưng cũng không kém phần nhẹ nhàng tinh tế đe diễn tả những chuyen động của tâm hồn con người, của hiện thực cuộc sống. Với một thứ ngôn ngữ không quá chau chuốt, cầu kì như thơ Mới, cũng không qua thô bạo, gây sốc như trong thơ hiện đại. Ở Mai Văn Phấn, ngôn ngữ thơ mang dấu ấn của sự kết hợp giữa hai yếu tố ấy. Đọc thơ anh không khó đe chúng ta bắt gặp loại ngôn ngữ cách tân theo kieu:
“Em nhòa nắng mới ngây thơ/Ấm ran khắp tầng vũ trụ/Anh thành bông cúc thẫn thờ/Cuối mùa vàng lên vội vã”. ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Thời gian trước đây độc giả cho rằng, thơ hay giống như một tấm gương phản chiếu, là loại thơ soi vào thấy mình, thấy cuộc sống con người hiện lên sinh động với các chiều kích khác nhau ở trong đó, còn thơ dở thì có soi vào mãi cũng không thấy gì. Trong thời kỳ đương đại hiện nay, thơ hay là thứ thơ làm cho người ta phải kinh ngạc và thật sự rung động bởi một ý tưởng mới, một suy tưởng mới, một sức sống mới đang làm nên những dạng thức mới của ngôn ngữ thơ. Và, bài thơ Ghi ở Vạn lý trường thành của Mai Văn Phấn là một trong những bài thơ hay khi nó mang trong mình một dạng thức mới của ngôn ngữ thơ: “Mây xếp trên vai từng tảng đá nặng/ nhòe mắt cát/ thở đầy ngực cát/ Vạn lý trường thành còn xây dở?/ Trên không tiếng hoạn quan truyền chỉ/ Bắt được kẻ nào vừa vác đá vừa làm thơ/ đánh hộc máu mồm/ Khâm thử/ Ngước lên gặp một khuôn mặt bì bì/ Tay lạnh, mắt chì, giọng mỡ/ Mái Phong Hỏa Đài màu huyết dụ/ Hình thanh long đao dính máu đang kề cổ/ Còng lưng đẩy nắng đi/ Chồn chân đẩy gió đi/ Miễn sao gần được bông hoa/ Đang mởn mơ trong gió lớn/ Tâu Hoàng thượng/ thưa ngài/ báo cáo đồng chí/ Bỉ chức/ thảo dân/ em…/ Sẽ làm tròn bổn phận/ Đây là đỉnh trời/ hay đáy vực sâu/ chỉ thấy trên lưng lằn roi bỏng rát/ Mồ hôi du khách trên đá xám/ Nở thành hoa phù dung”. Đây là một trong những bài thơ hay nhất của Mai Văn Phấn. Bài thơ được xây dựng xung quanh một nhân vật trữ tình là một du khách đóng vai trò “trung tâm”, từ hình ảnh trung tâm ấy, ta lại thấy xuất hiện mấy hóa thân: thảo dân, nhà thơ, bỉ chức xuất hiện trong quan hệ bổ sung ý nghĩa với hàng loạt nhân vật thuộc những không gian, thời gian rất khác nhau. Đó là: Hoàng thượng, hoạn quan… Trong mối quan hệ bổ sung ý nghĩa thuộc những kênh thời gian, không gian khác nhau ấy đã tạo ra một cấu trúc đa tầng, đa nghĩa và đa thanh trong ngôn ngữ: tầng nghĩa hien ngôn bề mặt là du khách trong mối quan hệ là đi thăm quan Vạn lý trường thành. Tầng nghĩa hàm ngôn thứ nhất là phu xây Vạn lý trường thành gánh cát, gánh đá, với quân lính trông coi. Tầng nghĩa hien ngôn thứ hai là nhà thơ với nắng, gió, hoạn quan, giữa bỉ chức với Hoàng thượng. Nhiều tầng nghĩa xuất hiện trong nhiều kênh nghĩa khác nhau đã phá vỡ tư duy truyền thống, tạo ra một cấu trúc thơ mới lạ và đặc biệt mang đầy sức gợi người đọc. Người đọc có the tìm ra rất nhiều những kết quả khác nhau khi giải mã cấu trúc thơ khác nhau, giống như một khối vuông rubic của Mai Văn Phấn. Ở đây, nhà thơ không trao chân lý có san cho người đọc như trong thơ truyền thống. Mai Văn Phấn lại trao những khả năng đe người đọc tự giải “bài toán” thơ ấy. Và mỗi người đọc tùy theo trình độ của mình có the có một đáp số của riêng mình. Dĩ nhiên, nhà thơ cũng có định hướng kín đáo về một số đáp số có the có cho người đọc, nhưng không phải là tất cả.
Có the nói, anh đã biết cách khai thác được đặc thù của ngôn ngữ thơ trong chuyen động đổi mới của những con chữ. Đây chính là sự khác biệt giữa một số cây bút cách tân đã nhân danh cái mới đe “lạ hoá” thơ đến mức phản -thơ với những tác giả có xu hướng tìm tòi nhằm nâng cao vẻ đẹp của ngôn- ngữ- thơ bằng những ý tưởng mới. Trong bài thơ “Vẫn trấn tĩnh tien khách ra ngõ” mở đầu cho tập thơ Hôm sau, Mai Văn Phấn đã dựng một tứ thơ khá mới lạ theo cách ke chuyện pha chút “liêu trai” khá dí dỏm, khôi hài: “Pha xong ấm trà/ quay ra/ ông khách không còn ở đó/Gọi điện thoại/ ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Người nhà bảo ông mất đã bảy năm/Nhầm lẫn (!)/ Nhà mình/mọi sự đảo lộn/ Không nhớ bức chân dung hạ xuống bao giờ…/ Đâu rồi chiếc đồng hồ chạy bằng dây cót?/Bộ ấm chén giả cổ ai cho?/Ghé sang hàng xóm/ thử hỏi mấy loại thực phẩm/ loại tăng giá/ loại còn giữ giá/Trong nhà/ Trà vẫn nóng/ Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi/ Luồng tử khí cao chừng một mét sáu mươi dựng đứng trước mặt/chốc lại cúi gập”.
Trong đoạn thơ trên, cái hàm ý sâu xa mà nhà thơ muốn khơi gợi nằm chính trong sự xuất hiện có the nói là bất thường của một chân dung, một nhân vật không còn tồn tại trong đời sống nhưng vẫn luôn lảng vảng ở xung quanh chúng ta như một ám ảnh bắt ta phải nghĩ tới. Diện mạo chân dung ấy rất có the là của một ông khách hàng xóm mà cũng có the còn là một chân dung ngộ nhận nào khác, tùy theo sự liên tưởng của mỗi người.
Trong thơ truyền thống thường sử dụng mối quan hệ nhân – quả, bổ sung ý nghĩa của những cặp hình ảnh sóng đôi và chúng liên kết với nhau trong tư duy tuyến tính quen thuộc của người Việt, ví dụ: trong ca dao và trong thơ Xuân Quỳnh, chúng ta thường bắt gặp các hình ảnh: thuyền là anh; bien là em… Thơ Mai Văn Phấn, sử dụng tư duy phi nhân quả, nhiều lần khước từ tư duy tuyến tính mà sử dụng tư duy nhảy cóc, tạo ra mối liên hệ cho sự vật hiện tượng rất xa nhau. Trong bài Vẫn trấn tĩnh tien khách ra ngõ ke trên là một ví dụ: một ông khách đã mất 7 năm nay bỗng nhiên vào nhà ngồi lặng thinh không nói gì, không nhận trà, cũng không từ chối… một lối tư duy phi nhân – quả, nhảy cóc bằng lối liên tưởng xa độc đáo của riêng nhà thơ.
Có the nhận thấy, trong các sáng tác của mình, Mai Văn Phấn không hề có ý định chơi chữ, tách, ngắt bất thường, lên xuống hay tháo dời chữ ra. Anh chỉ “làm chữ” trong vùng ảnh hưởng từ trường của riêng mình, tạo áp lực riêng trong không gian thơ the hiện ý tưởng của mình, nhằm hướng tới một khát vọng riêng. Chính điều này làm nên vẻ độc đáo, mới lạ và riêng biệt trong thơ anh, nhưng chính điều này đã hạn chế độc giả tìm đọc thơ anh, nhưng nhà thơ không vì thế mà “thỏa hiệp”, không vì thế mà“ve vuốt sở thích” của độc giả. Mai Văn Phấn thực sự quyết liệt trên con đường sáng tạo anh lựa chọn và hạnh phúc trong mỗi câu thơ “nhói sáng” lên những “ý tưởng” soi rọi vào hiện thực, dẫu đôi khi có làm biến dạng hiện thực đến mức giả định, không the tin.
Một đặc điem dễ nhận thấy trong việc sử dụng từ ngữ của Mai Văn Phấn, đó là bên cạnh việc sử dụng các danh từ với tần xuất cao, anh cũng sử dụng khá nhiều các động từ trong một số bài thơ. Đây là điem đổi mới của thơ Mai Văn Phấn, trong thơ truyền thống, các nhà thơ thường sử dụng nhiều tính từ đe bieu thị các trạng thái tình cảm, tạo nên một thứ thơ thuần khiết, dịu dàng. Đó là lối thơ “duy tình”, “duy cảm”. Thơ Mai Văn Phấn đa phần là thứ thơ ke chuyện, thơ triết lý. Do đó, danh từ và động từ tràn ngập, chiếm ưu thế.
Hôn em hút hết bóng đêm/Vừa nứt trái cây chín rục/Cây trúc cây tre thêm đốt/Đống lửa bùng lên bởi những que cời/Một con còng trước bình minh lột xác/Giữa em là anh/một con hoẵng vừa sinh trên cỏ ướt/một thế giới đang vội vàng hoàn hảo/Vươn thẳng/Tán cây quang hợp mặt trời/Lá chồng lên nhau hoan hỉ/Bật dậy thở chung dòng nhựa/Máu từ đất đai chạy qua bàn chân… Nhịp VI – Hình đám c
Ngựa hoang tung vó trên thảo nguyên/kéo mây làm gió, sấm chớp/nước từ đáy sâu trào lên mặt đất/dồn thành ao chuôm thành hồ nước lớn/cuộn chảy vào sông suối, vào cơ thể/dâng lên ngực, lên đỉnh tóc anh/Biến anh thành bó đuốc, que diêm, sáp nến… (Những bông hoa m a thu)
Trên đây, chúng tôi dẫn ra hai đoạn thơ của Mai Văn Phấn, cái bieu đạt ở đây là những hiện tượng của sự vật, hiện tượng, cuộc sống của cuộc đời hiện lên rất giản dị, gần gũi, không xa lạ . Tất cả được nhà thơ ghi lại bằng một thứ ngôn ngữ bình thường, đời thường, không tô điem cầu kỳ mà vẫn tạo được hiệu ứng tối đa, diễn đạt được đúng cái ý tưởng cần thiết. Căn cứ vào chức năng từ loại, thống kê, chúng tôi nhận thấy sự xuất hiện danh từ, tính từ, động từ như sau: ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Ở đoạn thơ số 1 có 39 từ và tần số danh từ, tính từ, động từ là: 22/40, 3/40, 14/40.
Ở đoạn thơ số 2 có 27 từ và tỉ lệ trên là: 18/27, 1/27, 6/27
Như vậy là tần số cao thuộc về danh từ. Tính từ xuất hiện rất ít ở cả hai đoạn thơ . Danh từ xuất hiện nhiều nói lên các bài thơ chủ yếu là miêu tả, liệt kê sự việc, đưa ra trước mắt người đọc một “bức tranh”, trong khi đó tính từ bị giảm thieu, tức là hạn chế sức bieu cảm. Cả hai đoạn thơ đều không có một tính từ chỉ màu sắc nào thế nhưng tất cả vẫn gây được hứng thú cho người đọc. Không sử dụng đảo ngữ hay chơi chữ, các biện pháp tu từ vốn là thế mạnh của thơ trước đây dường như bị triệt tiêu, ngữ điệu và nhịp điệu dường như không còn vai trò ý nghĩa. Cái thuyết phục người đọc ở đây là tính khách quan trong câu thơ, chất thực trong cuộc sống được đảm bảo bởi những hình ảnh quen thuộc của cộng đồng, của thiên nhiên quanh ta: cây trúc, cây tre, con còng, cây, lá, đất đai, trái cây, con còng, con hoẵng, thảo nguyên, mây gió, sấm, chớp, ao chuôm, sông suối, hồ… văn bản thơ vì thế không còn đẹp và sang trọng như trước đây. Có the nói trong thơ Mai Văn Phấn, hệ thống danh từ và động từ tỏ ra rất hữu hiệu trong việc trợ giúp nhà thơ dựng cảnh, ke những câu chuyện bằng thơ. Dường như nhà thơ không chỉ miêu tả đời sống mà còn muốn cắt nghĩa đời sống ấy. Bên cạnh đó Hệ thống động từ chiếm một tỷ lệ khá lớn trong thơ anh cũng góp phần diễn tả đời sống hiện thực với những vận động, trôi chảy mãnh liệt với tất cả những phồn tạp nó theo một quy luật vận động tự nhiên, một hành trình kiếm tìm đấu tranh vật vã, đe đi tới cái đẹp đích thực theo quan niệm của nhà thơ.
Khác với phong cách hàn lâm của mỹ học cổ đien, Mai Văn Phấn xem thơ như một thứ phương tiện thông tấn chuyen tải thông điệp đời thường bằng chính ngôn ngữ đời thường. Đây được xem là một điem nổi bật trong xu hướng cách tân ngôn ngữ thơ của các nhà thơ đương đại. Nói tới ngôn ngữ đời thường là nói tới một thứ ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, tự nhiên, thậm chí là thô ráp. Đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ không chỉ giúp nhà thơ chuyen tải được một thứ tình cảm nhiều cung bậc, lắm nỗi niềm của nhà thơ, mà còn là cách định hướng tình cảm và nhận thức của người đọc một cách khá hiệu quả. Cách viết này của Mai Văn Phấn làm người đọc đến với cuộc sống trong thơ trực tiếp hơn, trách nhiệm của người đọc tăng lên và khiến họ phải suy nghĩ nhiều hơn. Đây là thứ ngôn ngữ sống động, cập nhật, giàu sắc thái bieu cảm, dễ tiếp nhận, bao hàm cả chức năng thư giãn nhằm giải tỏa những căng thẳng trong thời đại được coi là Hậu hiện đại. Đọc tập thơ Hôm sau, ta có the thấy, phần lớn các bài đều đặc sắc và gây ấn tượng mạnh bởi những phát hiện bất ngờ hiện diện ngay trong từng chuyen động của đời sống, nhưng không phải ai cũng nhận ra. Điều thú vị là, mỗi câu chuyện đời thường như thế đều hàm chứa yếu tố triết lý, nhưng đó là kieu triết lý hồn nhiên trong mối tương quan liên đới chứ không phải là áp đặt máy móc. Tuy nhiên, Mai Văn Phấn không dừng lại ở việc đưa ngôn ngữ đời sống bình dân vào thơ. Đọc thơ Mai Văn Phấn, người ta dễ dàng nhận ra, sáng tác của anh là sự kết hợp uyen chuyen của ít nhất ba phong cách. Trong thơ Mai Văn Phấn, chúng ta khó có the khẳng định anh chịu sự ảnh hưởng của trường phái thơ nào là chủ đạo. Mà trong thơ anh là sự kết hợp tân cổ đien, hậu hiện đại, thậm chí cả siêu thực, tất cả không loại trừ nhau mà luôn bổ sung cho nhau, hòa quyện vào nhau, chuyen hóa thành phẩm chất mới cả định tính lẫn định lượng tạo cho thơ Mai văn Phấn một giọng điệu riêng độc đáo, mới lạ và hấp dẫn.
“Mùa thu đổ những dòng thép nóng/Chảy về chầm chậm rót vào khuôn…/Vọng tiếng reo trên nguồn rừng góc bể/Hay tự nơi nào vừa tan chảy u mê/Nơi thánh đường không ai thờ phụng/Phi lý lỗi thời mọi toan tính suy tư/Mọi bền chặt đã đến giờ tan loãng/Nung nấu réo sôi từng vật thể tế bào”.
(Quyền lực mùa thu)
Ở Mai Văn Phấn khả năng mổ xẻ tâm lý phơi bày những ý tưởng cũng như hành vi con người cũng là một thế mạnh và cũng hết sức mới mẻ. Khác với thơ truyền thống, bị những quy ước nghiêm ngặt thuộc phạm trù mỹ học cổ đien chi phối, với thơ cách tân, tác giả có the viết về đủ mọi lĩnh vực đến từng ngóc ngách của đời sống, ke cả những hành vi nhếch nhác vốn được giấu kín trong bộ nhớ. Cũng như các nhà thơ viết theo khuynh hướng Hậu – hiện – đại, chủ trương đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ đe thơ hòa nhập với cộng đồng, không có vùng được coi là cấm kỵ, Mai Văn Phấn luôn tìm cách diễn đạt tác phẩm làm sao mới mẻ nhất, tinh tế nhất, vì thế cũng ấn tượng nhất.
Đien hình là thói đạo đức giả. Minh chứng thuyết phục cho trường hợp này là “Bài học”, “Dậy trẻ con”, “Hắn”, “Đến trong ý nghĩ”, “Chuyện còn dài”… “Bài học” được khai trien như là một ca giải phẫu, phanh phui lục phủ ngũ tạng loại quan chức “xanh vỏ đỏ lòng” với tất cả những thói tham lam, bần tiện nhưng lại núp dưới chiếc mặt nạ “đạo mạo“:
“Cánh và khuỷu tay vẫn cứng/Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm/Đạo mạo múa tay trong bị”
Hãy xem cách ứng xử trong sinh hoạt thường nhật cũng như “nghệ thuật” giao tiếp của ông ta với những người xung quanh:
“Đạo mạo phát biểu chung chung/Đạo mạo nghiêng mình trống rỗng/Đạo mạo lấy trộm áo mưa/Đạo mạo thở mùi hôi vào/miệng người khác/Đạo mạo bọc nhầm một chiếc răng sâu/Đạo mạo tiểu tiện nơi công cộng/Đạo mạo xụt xịt trong khăn mùi xoa/Đạo mạo chỉnh lại con c… trong túi quần nơi hội họp(…)/Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang/Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học/Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương/Đạo mạo thả virus vào e-mail người khác/Đạo mạo đánh tráo bài thi/Đạo mạo tiêu tiền âm phủ…”.
Có the thấy ở đây xuất hiện hàng loạt dữ liệu về kẻ nói một đàng làm một nẻo xuất hiện như phép thống kê số học. Tác giả không cần phân tích, diễn giải, tự nó đã bao hàm kết luận về hệ quả của các hành vi trên. Đạo mạo vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân mang tính phổ quát khi những giá trị văn hóa bị tha hóa, lòng tin mù quáng bị lợi dụng biến thành thứ tôn giáo “nhất thần luận”. Các bài “Hội chứng từ một tin đồn”, “Cái miệng bất tử”, “Chuyện còn dài” cũng có cách lập tứ tương tự. “Hội chứng một tin đồn” được nhắc lại nhiều lần mệnh đề mở đầu bằng các cụm từ “Tôi không…”; “Hãy…”; “Xin anh (chị) đừng…”; “Nhớ không…“. “Bài học” dạy toàn cách ứng xử sơ đẳng ở trình độ vỡ lòng, nhưng thực chất không phải đe giáo huấn trẻ mẫu giáo mà đối tượng của nó chính là những kẻ đại loại như “Đạo mạo”.
Nói tóm lại, Trong những sáng tác gần đây, trong thơ Mai Văn Phấn ngôn ngữ hoa mỹ của thi ca được loại bỏ nhiều hơn, tác giả có ý thức đưa ngôn ngữ tiến gần văn xuôi, áp sát với những dòng chảy của đời sống. Đây là thứ ngôn ngữ phù hợp với the thơ văn xuôi và the trường ca mới của anh. Sự thay đổi trong cách sử dụng ngôn ngữ như vậy cũng là bieu hiện của sự chuyen biến trong nhận thức, trong tư duy thơ. Đặc điem ngôn ngữ thơ đó đã tạo được tiếng nói đa thanh, đa giọng điệu, đa hình ảnh, tạo cách nói khách quan trong thơ dù chỉ là “ảo giác khách quan” thay thế cách nói chủ quan của thơ truyền thống. Đưa thơ đến gần ngôn ngữ đời sống hiện đại. ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
KẾT LUẬN
Nền thơ ca Việt Nam sau năm 1975 là bức tranh khá phong phú và phức tạp. Những tiền đề xã hội – thẩm mỹ của thời đại đã tạo điều kiện cho các nhà thơ phát huy kieu tư duy, cách cảm xúc và ngôn ngữ bieu hiện mới. Những cách tân mới lạ của thơ sau năm 1975 thực chất là sự tiếp nối mạch ngầm sáng tạo thơ ca chảy qua nhiều thế hệ. Sự tìm tòi của các nhà thơ đương đại tuy chưa tạo ra được tác giả – tác phẩm lớn nhưng đó thực sự là những hướng gợi mở, hé lộ một giai đoạn phát trien mới của thi ca. Đặt Mai Văn Phấn vào bối cảnh đó, chúng ta nhận thấy cây bút này có một vai trò cách tân khá quan trọng, là một trong những hiện tượng độc đáo trong tiến trình đổi mới thơ Việt Nam sau năm
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số tập thơ Mai Văn Phấn đe thấy được sự vận động trong cảm xúc và thi pháp thơ của tác giả nói riêng và từ đó quan sát được một phần của tiến trình vận động của thơ đương đại nói chung. Mai Văn Phấn đã dần định hình được một phong cách khá độc đáo. Mỗi tập thơ là sự bứt phá, đổi mới khỏi chính mình của tác giả đe thực hiện sứ mệnh cách tân thơ Việt theo hướng đi tìm một diện mạo riêng cho thơ dân tộc, làm giàu thêm truyền thống thơ dân tộc. Trong Tham luận tại Liên hoan thơ châu Á – Thái Bình Dương lần thứ I tại Quảng Ninh và Hà Nội, 2/2012, nhà thơ Mai Văn Phấn bộc bạch “Tôi luôn khao khát và tin tưởng thơ chúng ta sẽ tạo được khuynh hướng hiện đại cách tân mang đậm bản sắc Việt. Nếu vẻ đẹp của thơ là đóa hoa thấm đẫm nhân văn thì quyền năng của thơ chính là sự tái tạo khả năng cảm xúc và suy tưởng, làm xuất hiện những giá trị tinh thần mới, một thế giới mới”. Và trong hành trình sáng tác của mình, nhà thơ đã không ngừng nỗ lực cách tân thơ, làm giàu thêm truyền thống thơ ca Việt Nam. Hành trình thơ ấy một mặt phản ánh sự sáng tạo bền bỉ, vốn kiến thức văn hóa dồi dào, mặt khác cũng khẳng định quy luật đổi mới tất yếu của thi ca đương đại.
Luận văn của chúng tôi tập trung tìm hieu một số đóng góp nổi bật của Mai Văn Phấn trên các phương diện: Sự cách tân trong quan niệm nghệ thuật, những sáng tạo độc đáo, mới lạ của cấu trúc thơ. Ở mỗi phương diện, chúng tôi thấy Mai Văn Phấn đều có ít nhiều đóng góp riêng. Với một quan niệm nghệ thuật khá sâu sắc, toàn diện về thơ, về người làm thơ, Mai Văn Phấn đã có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng một mô hình thế giới nghệ thuật mới mang đậm dấu ấn riêng biệt. Ở đó chúng ta bắt gặp kieu nhân vật trữ tình dắm say một cách “tỉnh táo” đe giãi bày cảm xúc, the hiện cái tôi cá nhân trong đời sống hiện đại. Bên cạnh đó, đóng vai trò khơi nguồn cảm xúc, cách xây dựng không gian – thời gian nghệ thuật của Mai Văn Phấn cũng rất độc đáo mới lạ so với thi pháp truyền thống, nhà thơ đã thiết lập một thế giới riêng với không gian đa tầng bậc và thời gian phi tuyến tính. Chạy theo sự ngẫu hứng của cảm xúc, không gian, thời gian khi đó chỉ là những khoảng ngưng ấn tượng, phút “vụt hiện” của những hình khối, mảng màu, quá khứ – hiện tại – tương lai nhập nhòa, thực – ảo khó phân định. Sự đa dạng của các loại hình không gian và thời gian là sự phản ánh chân thực nhất diện mạo riêng của thơ Mai Văn Phấn, diện mạo của một nhà thơ đã băng qua “sa mạc” của các khuynh hướng thơ trên thế giới đe đi tìm một lối thơ thuần Việt hiện đại.
Lấy quan niệm nghệ thuật làm định hướng, trên hành trình sáng tạo, cách tân thơ, Mai Văn Phấn đã có những tìm tòi mới mẻ về hình thức thơ ca. Anh đã đóng góp một tiếng nói riêng của mình trên con đường hiện đại hóa thơ ca dân tộc. Đe the hiện được nhiều cung bậc tình cảm, suy tư trước đời sống nhân sinh, thế sự, Mai Văn Phấn đã sử dụng rất linh hoạt các the thơ, trong đó thành công nhất là the thơ tự do. Thơ tự do của anh là sự kết hợp giữa thơ không vần và thơ văn xuôi đã làm nên một giọng điệu riêng biệt và mới lạ. Ở đó người viết đã bỏ qua hết những vần điệu đe tìm về với sự tự do trong cảm hứng, những câu thơ thực sự thoát khỏi mọi sự ràng buộc đe có the chuyen tải tốt nhất cảm xúc của nhà thơ, sự đa dạng, phức tạp của đời sống. Mai Văn Phấn dụng công tìm kiếm khả năng the hiện ý tưởng bằng nhiều cấu trúc câu thơ dài ngắn khác nhau. Có lúc câu thơ được dồn nén, cô đặc có lúc lại chảy tràn bung phá. Cảm xúc dạt dào của thi sĩ đã vượt qua mọi luật lệ khuôn khổ của thơ truyền thống. Sự gián đoạn trong cấu trúc câu thơ, bài thơ cũng là một đặc điem khác biệt của thơ anh so với thơ truyền thống. Sự gián đoạn đó được hình thành trên sự đồng hiện, phân mảnh hoặc lắp ghép hình ảnh khiến cho câu thơ mất đi quan hệ nhân – quả theo chiều tuyến tính. Phương thức này giúp gia tăng độ căng của cảm xúc. Sự cách tân trong hệ thống cấu trúc hình ảnh, bieu tượng và ngôn ngữ trong thơ Mai Văn Phấn cũng rất đáng chú ý. Trong thơ anh anh, hình ảnh được sử dụng với cường độ cao, câu thơ chất chồng những hình ảnh, nhưng đó thường là những hình ảnh vừa mang tính hiện đại vừa mang âm hưởng bản sắc riêng của dân tộc bình dị, gần gũi. Trong thơ Mai Văn Phấn, bieu tượng được nhà thơ sử dụng thường là những bieu tượng the hiện một thế giới thơ gần gũi, hài hòa với thiên nhiên, đời sống con người. Tiêu bieu trong thơ Mai Văn Phấn là các bieu tượng “đất”, “nước” và các bieu tượng phái sinh như: cây, lá, cỏ, cánh đồng, dòng sông, mưa… Bên cạnh đó bieu tượng “giấc mơ” được nhà thơ sử dụng khá nhiều the hiện sự hoài nghi của nhà thơ trước hiện thực cuộc sống của con người trong xã hội hiện đại và bộc lộ những khát khao thường trực hết sức chính đáng và giàu sức nhân văn. Ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn giản dị, đời thường, đồng thời cũng giàu màu sắc triết luận. Việc sử dụng nhiều động từ, danh từ và hạn chế đến mức tối đa tính từ đã giúp nhà thơ tiết chế tối đa cảm xúc, dễ dàng dựng cảnh, ke những câu chuyện bằng thơ, miêu tả và cắt nghĩa đời sống. ( Luận văn: Cách tân nghệ thuật ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn )
Với những tìm tòi và cách tân về cấu trúc thơ, hình ảnh, bieu tượng, ngôn ngữ thơ, tạo cho mình một giọng điệu thơ riêng, Mai Văn Phấn đã cho thấy một diện mạo thơ mới có the chuyen tải được những bộn bề, phức tạp của cuộc sống và tâm trạng với nhiều cung bậc tình cảm của cái tôi luôn mang nặng ý thức trách nhiệm với con người và cuộc sống, phù hợp với xu hướng phát trien chung của xã hội. Con đường cách tân thơ của nhà thơ Mai Văn Phấn đã bước đầu được đón nhận và đã tạo ra được những ảnh hưởng nhất định tới hành trình cách tân thơ Việt hôm nay và sau này.
Ý nghĩa thơ của Mai Văn Phấn là ở chỗ tác giả không tạo ra sự xa lạ, không tạo nên một cú sốc đối với người thưởng thức. Nỗ lực cách tân làm mới thơ mình của Mai Văn Phấn vẫn không tách dời với truyền thống. Có the nói rằng Mai Văn Phấn đã đưa truyền thống về với hiện đại và kéo hiện đại gắn bó thân mật với truyền thống. Mai Văn Phấn mang trên mình trọng trách làm mới những giá trị truyền thống, nối truyền thống với hiện đại khiến cho thơ Việt không còn khoảng cách giữa quá khứ – hiện tại – tương lai, hướng đến một nền thơ hiện đại thuần Việt, mang hơi thở Việt.
Đề tài “Một số cách tân nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn” là bước ban đầu đe chúng tôi tìm hieu sâu hơn về một nhà thơ cách tân và từ đó tìm hieu sâu hơn dòng mạch vận động của thơ Việt Nam hiện đại. Đối tượng khảo sát của đề tài đang còn nhiều biến động hứa hẹn nhiều cơ hội cho người nghiên cứu. Chúng tôi cũng xin đề xuất một số hướng nghiên cứu khác sau đây:
Khảo sát sâu hơn về một số phương diện của thơ Mai Văn Phấn trong sự so sánh đối chiếu với một số tác giả khác. Khảo sát các khuynh hướng cách tân tiêu bieu, các nhóm tác giả nổi bật hoặc một số tác giả đã định hình về phong cách của công cuộc đổi mới thơ sau 1975. Nghiên cứu chung về sự vận động của cái tôi trữ tình và những tìm tòi mới lạ về hình thức của thơ đương đại. Như vậy, còn có rất nhiều vấn đề đáng quan tâm và nghiên cứu. Những vấn đề đó chỉ có the được giải quyết trọn vẹn hơn ở những công trình nghiên cứu tiếp theo với quy mô sâu và rộng hơn.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Cách tân theo quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
