Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận Văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
I)Giới thiệu về NHNo &PTNTTP Hà Nội:
1.Sự hình thành và phát triển:
Tháng 3/1998,hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp, Ngân hàng nông nghiệp thành phố Hà Nội (NHNoHN) được thành lập trên cơ sở tách chuyển từ NHNN tại thành phố Hà Nội và 12 huyện ngoại thành, ra đời sau nghị định 53/HĐBT ban hành ngày 26/3/1988 và hai pháp lệnh 1990/NHNN có hiệu lực. Đây là một ngân hàng thương mại quốc doanh, là ngân hàng thành viên và hạch toán phụ thuộc của NHNoVN hoạt động trên địa bàn Hà Nội.
Tháng 9/1991,quốc hội khoá IX đã phân định lại địa giới hành chính các tỉnh- thành phố,huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội được tách chuyển về các tỉnh khác nên qui mô và phạm vi hoạt động của NHNoHN bị thu hẹp. Đứng trước tình hình đó kết hợp với định hướng mở rộng mạng lưới kinh doanh, NHNNo đã chuyển hướng kinh doanh tập trung khai thác địa bàn nội thành Hà Nội bằng cách thành lập thêm 8 ngân hàng quận nội thành nhằm khai thác hết nguồn vốn còn đang nhàn rỗi trong dân cư, cho vay, cung cấp cac dịch vụ phát triển kinh tế thủ đô đồng thời làm nhiệm vụ của ngân hàng phục vụ người nghèo trên địa bàn theo mô hình ngân hàng phục vụ người nghèo. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
- Với tên gọi:Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội.
- Tên giao dịch quốc tế:The branch for Agriculture and Rural Development Bank of Ha Noi.
- Trụ sở đặt tại:Số 77-Lạc Trung-Hai Bà Trưng-Hà Nội
NHNoHN là ngân hàng cấp thành phố, có địa bàn hoạt động rộng. Hà Nội là trung tâm kinh té xã hội của cả nước, tập trung nhiều quan hệ kinh tế buôn bán lớn, nhiều doanh nghiệp hoạt động.Do vậy hoạt động của NHNoHN tuân theo luật ngân hàng.Các hoạt động chủ yếu của NHNoHN :
- Nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ.
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt nam và ngoại tệ cho mọi thành phần kinh tế.
- Cho vay uỷ thác theo các chương trình của chính phủ trong và ngoài nước
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nước,mua bán ngoại tệ,tài
- trợ ngoại thương,bảo lãnh và tái bảo lãnh.
- Thực hiện dịch vụ thanh toán chuyển tiền nhanh qua mạng vi tính trong phạm vi toàn quốc và qua hệ thống mạng Swift trên toàn thế giới.
- Thực hiện dịch vụ chi trả kiều hối,giao nhận tiền tận nơi cho đơn vị,thu,chi ngân phiếu,tiền mặt và thực hiện các nghiệp vụ khác. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố HN
2.1 Về cơ cấu tổ chức bộ máy
Hiện nay ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố HN có chi nhánh trên 7 quận của thành phố Hà Nội và một ngân hàng khu vực (khu vực Tam Chinh)Dưới chi nhánh quận có quỹ tiết kiệm (hiện có 20 quỹ ) Tại trụ sở chính tính đến ngày 31/12/02 có 297 cán bộ gồm một giám đốc và hai phó giám đốc và gồm các phòng ban sau:
2. 2 Chức năng , nhiệm vụ của các phòng ban
Banh lãnh đạo: gồm 1 Giám đốc và 2 Phó giám đốc. Giám đốc là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Tổng giám đốc NHN0&PTNT Việt Nam. Quyền và nghĩa vụ của Giám đốc được thể hiện trong quyết định 169/QĐ/HĐQUá TRìNH của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam. Giúp việc cho Giám đốc là các Phó Giám đốc trong chỉ đạo điều hành, tham gia chỉ đạo một số nghiệp vụ do Giám đốc phân công và thay mặt Giám đốc khi được uỷ quyền.
Phòng Kế hoạch: Đây là phòng có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu xây dựng các kế hoạch, hỗ trợ đắc lực cho ban lãnh đạo Ngân hàng trong việc ra các quyết định kinh doanh chiến lược của Ngân hàng Nhiệm vụ phòng ban:
- Nghiên cứu và đề xuất chiến lược khách hàng, chiến lược huy động vốn trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh theo định hướng kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam.
- Tổng hợp, theo dõi các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh và quyết toán kế hoạch đến các chi nhánh NHN0&PTNT trên địa bàn này, xây dựng các báo cáo trình giám đốc. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
- Cân đối nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn và điều hoà vốn kinh doanh đối với chi nhánh NHN0&PTNT trên địa bàn.
- Làm đầu mối thực hiện thông tin phòng ngừa rủi ro và xử lý thông tin tín dụng.
Phòng kinh doanh: Phòng kinh doanh thông qua các nghiệp vụ chuyên môn là cho vay và đầu tư, tiến hành.
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng, phân loại khách hàng và đề xuất các chính sách ưu đãi tín dụng đối với khách hàng.
- Thẩm định và cho vay theo cấp uỷ quyền nhằm mở rộng hoạt động, đảm bảo an toàn và hiệu quả.
- Tiếp nhận và thực hiện các chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và ngoài nước, trực tiếp làm dịch vụ uỷ thác nguồn vốn thuộc Chính Phủ, bộ, ngành và các cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
- Tổng hợp, báo cáo định kỳ và thường xuyên theo dõi, tư vấn cho Giám đốc về những lĩnh vực do phòng phụ trách.
Phòng thanh toán quốc tế:
- Thực hiện công tác thanh toán ngoài nước của chi nhánh, nghiên cứu xây dựng và áp dụng các kỹ thuật thanh toán hiện đại.
- Phòng chuyên thực hiện những nghiệp vụ: thanh toán xuất nhập khẩu, mở L/C, chuyển tiền nước ngoài cho các cá nhân và các Doanh nghiệp, thanh toán nhờ thu, thanh toán biên mậu với các nước có chung biên giới, thanh toán quốc tế thông qua mạng SWIFT và cho vay tài trợ xuất nhập khẩu…
- Tạo điều kiện cho việc thanh toán nhanh nhất, chính xác kịp thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- áp dụng công nghệ thanh toán hiện đại
Phòng kế toán có nhiệm vụ:
- Ghi chép thống kê các giao dịch, hạch toán kế toán, thanh toán.
- Lập các báo cáo, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán kế hoạch thu, chi tài chính.
- Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán, kế toán, quyết toán và các báo cáo theo quy định.
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong nước, bao gồm các bộ phận thanh toán qua Ngân hàng bằng nội tệ, thanh toán bù trừ, thanh toán liên ngân hàng.
- Quản lý và sử dụng các thiết bị thông tin, điện toán phục vụ nghiệp vụ kinh doanh theo quy định chung.
Phòng ngân quỹ có nhiệm vụ:
- Chuyển tiền theo lệnh của các phòng ban khác cho khách hàng, lưu tiền mặt trong kho để đáp ứng nhu cầu chi trả, cho vay đối với khách hàng của Ngân hàng. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
- Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam.
- Chấp hành các quy định về an toàn kho quỹ và định mức kho theo quy định.
Phòng tổ chức cán bộ và đào tạo: được tách ra từ phòng hành chính nhân sự (cũ) do yêu cầu thay đổi cho phù hợp với thực tế kinh doanh tại Ngân hàng .
Nhiệm vụ của phòng:
- Xây dựng quy định lề lối làm việc trong đơn vị và mối quan hệ với tổ chức Đảng, Công đoàn, chi nhánh trực thuộc địa bàn.
- Đề xuất mở rộng mạng lưới kinh doanh trên đại bàn.
- Thực hiện công tác quy hoạch cán bộ , quản lý hồ sơ cán bộ, và các phong trào thi đua khen thưởng.
- Đề xuất bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các cán bộ trong phạm vi quyền hạn của mình.
- Tổ chức liên hệ các khoá đào tạo cán bộ, đề cử cán bộ đi học trong và ngoài nước.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc chi nhánh giao.
Phòng hành chính: nằm trong bộ máy giúp việc cho Giám đốc và phục vụ cho các phòng nghiệp vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc NHN0&PTNT Hà Nội. Phòng được hình thành ngay từ khi NHN0&PTNT Hà Nội đi vào hoạt động và đã có những đóng góp quan trọng trong việc trợ giúp ban lãnh đạo ra các quyết định đúng đắn kịp thời phục vụ cho hoạt động kinh doanh.
- Xây dựng chương trình công tác bán hàng, hàng quý và đôn đo có các phòng ban thực hiện theo chương trình đã được giám đốc phê duyệt. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
- Lưu trữ các văn bản pháp luật có liên quan đến ngân hàng và văn bản định chế của Ngân hàng Nông nghiệp.
- Trực tiếp quản lý con dấu của chi nhánh. Thực hiện công tác văn thư, phương tiện giao thông, bảo vệ, xây dựng cơ bản, mua sắm văn phòng phẩm…
- Thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, quảng cáo tiếp thị theo chỉ thị của Ban lãnh đạo.
- Chăm lo đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho cán bộ công nhân viên trong ngân hàng.
- Chăm lo đời sống vật chất, văn hoá tình thần cho các cán bộ công nhân viên trong ngân hàng.
Phòng vi tính: được thành lập vào tháng 12 năm 2001 xuất phát từ yêu cầu hội nhập, và nhanh chóng hiện đại hoá công nghệ trong ngân hàng.
Nhiệm vụ của phòng:
- Tổng hợp thống kê và lưu trữ số liệu thông tin liên quan đến hoạt động của chi nhánh.
- Xử lý các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hạch toán kế toán, kế toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ và tín dụng các hoạt động khác phục vụ cho hoạt động kinh doanh.
- Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê và cung cấp số liệu thông tin cho quy định.
- Quản lý, bảo dưỡng và sửa chữa máy móc thiết bị tin học.
- Làm dịch vụ tin học.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao.
Phòng kiểm tra, kiểm soát nội bộ có nhiệm vụ:
- Kiểm tra công tác điều hành của chi nhánh và các đơn vị trực thuộc trên địa bàn.
- Kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy trình nghiệp vụ kinh doanh, độ chính xác của báo cáo tài chính và việc tuân thủ các nguyên tắc chế độ về tài chính kế toán theo quy định của Nhà nước và ngành ngân hàng.
- Thực hiện giám sát việc chấp hành các quy định của Ngân hàng Nhà nước nước đảm bảo an toàn trong hoạt động tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng.
- Đồng thời cáo cáo và đề xuất các biện pháp xử lý khắc phục lên giám đốc chi nhánh.
- Phòng kiểm tra, kiểm soát làm việc tại NHN0&PTNT Hà Nội song là một bộ phận đôc lập.
Ngoài ra trung tâm còn trực tiếp điều hành một mạng lưới chi nhánh gồm 7 chi nhánh cấp quận (Ba Đình, Cầu Giấy, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Tây Hồ, Thanh Xuân), 3 chi nhánh ngân hàng khu vực (gồm: Tràng Tiền. Chương Dương, Tam Trinh) cùng với các phòng giao dịch, quầy tiết kiệm trên toàn thành phố.
2.3 Tình hình kinh doanh của ngân hàng: Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
2.3.1 Tình hình vốn và nguồn vốn của ngân hàng
Trong những năm qua , bằng nhiều hình thức phong phú như tiến phong phú, nên nguồn vốn huy động của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố HN không ngừng tăng lên khách hàng. Đến nay mạng lưới khách hàng đã được mở rộng , đến hầu hết các quận trong thành phố .
Đến ngày 31/12/02 tổng nguồn vốn ngân hàng đã huy động được là 2.322.760 triệu đồng , tăng 24% so với năm 2001
Bảng số 1: Tình hình huy động vốn của ngân hàng qua 2 năm 2001, 2002 như sau:
Qua số liệu đã cho ta thấy nguồn vốn của ngân hàng tăng lên với diễn biến tốt. Tuy ngân hàng có nhiều phương thức huy động vốn khác nhau nhưng chủ yêú vẫn là nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và dân cư. Trong tổng nguồn vốn huy động thì tiền gửi của khách hàng luôn chiếm tỷ lệ cao. Năm 2001 đạt giá trị 1.439.521 triệu đồng chiếm 77% tổng nguồn huy động. Đến năm 2002 là 1.392.443 triệu, chiếm 60% tổng nguồn huy động .
Tuy lượng tiền gửi của khách hàng có giảm đi về tỷ trọng song tiền gửi có kì hạn của khách hàng lại tăng lên từ 578.072 triệu đồng năm 2001 lên 607.593 triệu đồng năm 2002 nguồn tiền gửi có kỳ hạn này ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn tiền gửi không kì hạn, nhưng lại có thể sử dụng chúng cho vay với tỷ lệ lớn do có thời hạn ít biến động hơn. Tuy nhiên đây là nguồn vốn đễ bị biến động do ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố vi mô và vĩ mô như lãI suất, các quy định của chính phủ hay ngân hàng trung ương ….. Do đó ngân hàng luôn theo dõi tình hình biến động để có thể sử dụng triệt để nguồn vốn này, đồng thời phả luôn có khoản tiền dự trữ để đề phòng rủi ro xảy ra khi khách hàng rút tiền. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
Bên cạnh đó nguồn tiền gửi không kì hạn cũng chiếm một vị trí đáng kể trong tổng nguồn vố huy động được nhưng đang giảm xuống từ 861.488 triệu đồng, chiếm 46% tổng nguồn vốn huy động năm 2001 xuống còn 784.037 triệu đồng , chiếm 33% tổng nguồn vốn huy động. Nguồn tiền gửi không kỳ hạn ngân hàng trả lãi suất rất thấp , nhưng nó có đặc đIểm là không ổn định , khách hàng có thể đến rút ra bất cứ lúc nào , do đó ngân hàng luôn phải dự trữ với một tỷ lệ lớn đề phòng khách hàng rút tiền bất ngờ
Ngoài ra ngân hàng có nguồn vốn huy động từ phát hành các loại kì phiếu phục vụ thanh toán trong nền kinh tế , cũng góp phần không nhỏ vào nguồn vốn huy động và tỷ trọng đang tăng lên từ 424.665 tiệu đồng năm 2001 lên 930.317 triệu đồng năm 2002
Có thể thấy rằng , nguồn vốn huy động được của NHNo&PTNT thành phố HN hiện nay chủ yếu là khai thác trong dân cư . Tuy đã đạt được mục tiêu huy động nguồn tiền nhàn rỗi vào sản xất lưu thông song thực sự vẫn còn một nguồn tiền rất lớn trong đân cư .
2.3.2. Tài chính của ngân hàng
Song song với việc huy động vốn , việc đầu tư tín dụng cũng là một trong những mục tiêu mũi nhọn của chi nhánh NHNo&PTNTHN. Nhờ thực hiện hiện chính sách sử dụng vốn,chính sách khách hàng nên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng đã có mức tăng tưởng khá . Đến 31/12/02 dư nợ là 1.522.206 triệu đồng
Bảng số 2: Tình hình sử dụng vốn của ngân hàng
II. Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội: Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
1.Hoạt động tín dụng và nợ quá hạn:
a)Hoạt động tín dụng:
Như đã đề cập ở trên hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng đem lại phần lớn lợi nhuận trong hoạt động Ngân hàng. Do vậy trong định hướng hoạt động của mình Ngân hàng No &PTNTTP Hà Nội luôn chú trọng đến công tác tín dụng tuy vậy việc phát triển hoạt động tín dụng đòi hỏi phải cả lượng và chất.Trong diều kiện nền kinh tế nước ta những năm qua gặp nhiều khó khăn. Ngân hàng NNoHà Nội vẫn đạt được những kết quả đáng khích lệ. (Luận văn Ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hà Nội)
Cơ cấu hoạt động tín dụng cho vay:
Doanh số cho vay và doanh thu của ngân hàng No&PTNTTP Hà Nội trong năm 2001 tuy có tăng so với năm 2000 nhưng tốc độ tăng còn chưa cao phải sang đến năm 2002 thì mới phục hồi và tăng trưởng ở mức rất đáng kể . Sở dĩ tăng dần lên là do nền kinh tế đang phục hồi do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam tạo ra tâm lý lo sợ cho các nhà đầu tư nước ngoài khiến cho họ xin rút giấy phép đầu tư làm ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành lắp máy xây dựng … là những khách hàng đã có quan hệ với Ngân hàng, do đó trong năm 2000 quan hệ với các khách hàng này còn quá ít, tình hình trả nợ còn gặp nhiều khó khăn. Bước sang năm 2001 tình hình lại khó khăn hơn do nền kinh tế nước ta tăng trưởng chậm kéo theo là giảm phát, Ngân hàng nhà nước liên tục hạ trần lãi suất cho vay làm cho tình hình tài chính của các Ngân hàng thương mại thêm khó khăn hơn. Cạnh tranh Ngân hàng trong năm 2000 bước sang năm 2001 gay gắt chưa từng có, các Ngân hàng thương mại quốc doanh dư thừa vốn nên đua nhau hạ lãi suất cho vay và giành giật khách hàng, nhất là các doanh nghiệp nhà nước lành mạnh. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của NHNo&PTNTHà Nội. Tuy nhiên nhờ sự nỗ lực của toàn bộ nhân viên trong năm 2002 Ngân hàng đã đạt được kết quả đáng khích lệ .Trong năm 2002 doanh số cho vay của ngân hàng đã tăng 22.4% ,doanh số thu nợ tăng 2,5 % so với năm 2001. Kết quả đạt được đấy cũng cho thấy định hướng phát triển của NHNo &PTNTTPHN trong những năm qua là đúng đắn. Đó là duy trì khai thác tối đa quan hệ với các doanh nghiệp nhà nước và ngoài quốc doanh lành mạnh có các quan hệ tốt từ trước nhưng không tập trung sức cạnh tranh để lôi kéo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà chưa có quan hệ. Trong khi đó lại tập trung tiếp thị để xây dựng quan hệ với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tuy nhiên xét về mặt dư nợ thì dư nợ của Ngân hàng liên tục tăng lên trong những năm qua. Năm 2002 dư nợ tăng lên 21,3% so với năm 2001 hay tăng 54,6 % so với năm 2000. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
Mặt khác tỷ lệ dư nợ cho vay / tiền gửi của khách hàng cũng thường xuyên ở mức 70% (năm 2000 là 62,5%, năm 2001 là 64%, năm 2002 là 68%.) Điều này cho thấy Ngân hàng không ở tình trạng ứ đọng vốn như hầu hết các Ngân hàng khác. Trong đó tỷ trọng trung và dài hạn tăng lên rất nhanh từ 12,6% năm 2000 lên 29,4%năm 2001 và tăng nhanh vào năm 2002 là 37,2% tổng dư nợ

Dư nợ tín dụng và doanh số thu nợ đều tăng trong đó dư nợ trung và dài hạn tăng đều còn dư nợ ngắn hạn lại giảm. Do chủ trương của Ngân hàng trong các năm 2001 trở về trước là mở rộng đầu tư tín dụng cho khối khách hàng là doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp liên doanh có nhu cầu chủ yếu đầu tư trung và dài hạn vào máy móc thiết bị công nghệ và công nghệ máy móc. Tuy dư nợ ngắn hạn giảm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao do Ngân hàng chuyên cho vay cá nhân nhiều về mặt tiêu dùng đấy là do đặc thù của Ngân hàng.Tuy nhiên trong năm 2002 ngân hàng đã có chủ trương mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh để khai thác tối đa tiềm năng từ khối doanh nghiệp này.
Nếu xét theo các thành phần kinh tế thì có thể thấy rõ năm 2002 Ngân hàng đã mở rộng đối tượng cho vay tạo ra một cơ cấu cho vay hợp lý, hơn nữa góp phần làm tăng độ phân tán rủi ro cho ngân hàng và làm cho mức dư nợ của doanh nghiệp nhà nước ngày một tăng lên từ 80% tổng dư nợ năm 2000 lên 80,5% năm 2001 hay tăng 227518 triệu VND và doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng tăng đáng kể.Tuy nhiên quan hệ của ngân hàng với các doanh nghiệp tư nhân và hộ sản xuất còn chưa được mở rộng lắm do độ rủi ro ẩn chứa cao nhưng cũng là một vấn đề mà Ngân hàng cần có biện pháp để tạo ra một cơ cấu cho vay hợp lý hơn.
Tóm lại có thể thấy nổi bật lên trong quan hệ tín dụng của NHNo & PTNTTP Hà Nội với khách hàng là quan hệ với các doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng cũng đang dần dần từng bước mở rộng quan hệ cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
b)Tình hình nợ quá hạn:
Như các nhà quản lý Ngân hàng thường nói, lợi nhuận tỷ lệ thuận với rủi ro lợi nhuận cáng lớn thì rủi ro càng cao. Do đó bên cạnh những kết quả đáng khích lệ đã đạt được cũng giống như các Ngân hàng khác trong những năm qua NHNo &PTNTHà Nội cũng rơi vào tình trạng NQH cao. Điều này đã làm giảm hiệu quả sử dụng vốn cũng như vòng quay của vốn làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng,Ban lãnh đạo Ngân hàng đã có những biện pháp hợp lý để ngăn ngừa và xử lý NQH, làm cho tỷ lệ NQH trong tổng dư nợ giảm xuống và có những biểu hiện đáng mừng.
Chúng ta xem xét bảng sau để có cái nhìn tổng quát về tình hình NQH tại NHNo &PTNT Hà Nội:
Bảng 2: Diễn biến nợ quá hạn theo thời hạn vay
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy NQH trong 3 năm 2000, 2001, 2002 đều tăng dần lên cả về số tuyệt đối lẫn tương đối. Tổng dư nợ năn 2001 tăng 21,3% (275703 triệu) so với năm 2000 nhưng tổng NQH lạI cũng tăng lên một con số khá cao là 79%(17825 triệu). Có thể nói cuộc khủng hoảng tiền tệ ở khu vực xảy ra năm 1998 vẫn còn ảnh hưởng rất sâu sắc đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Kết quả còn ảnh hưởng đó là khiến cho hoạt động tín dụng ngân hàng năm 2002 tuy có khả quan hơn năm 1999 nhưng vẫn chưa đạt ở nức cao. Những ảnh hưởng đó còn kéo dài sang năm 2001 và đến tận đầu năm 2002. Bước sang năm 2002, tổng dư nợ của năm 2002 tăng một cách đáng kể 27,5% (431559 triệu) so với năm 2001. Nhưng kéo theo đó là tổng NQH cũng tiếp tục tăng theo 40%(16022 triệu) Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
Tuy nhiên thực trạng của vấn đề này là tuy NQH năm 2001, 2002 có tăng dần lên nhưng nguyên nhân chủ yếu là do các khoản vay từ những năm trước đã đáo hạn nhưng đến năm 2001 mới hạch toán chuyển sang NQH. Thực chất NQH là nó chỉ mang tình thời điểm chứ không phản ánh được toàn bộ hoạt động của ngân hàng.
Tuy vậy ta thấy tỉ lệ NQH tuy ngày càng tăng nhưng tỉ lệ NQH trong tổng. Dư nợ luôn ở mức dưới 3% điều này cho ta thấy ngân hàng luôn đảm mức dư nợ an toàn tín dụng mà ngân hàng nhà nước cho phép.
Xét một cách tổng thể có thể thấy chất lượng tín dụng của NHNo &PTNTTP Hà Nội trong năm 2002 đã tăng lên đáng kể. Để đạt được điều đó có một phần không nhỏ của cán bộ nhân viên tín dụng, họ đã có trách nhiệm cao, thực hiện tốt qui chế, thể lệ tín dụng đồng thời phản ánh trình độ của cán bộ tín dụng ngày càng được nâng cao.
Đối với NHNo & PTNTTPHà Nội khách hàng có quan hệ vay mượn được phân theo thời hạn: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Trong cơ chế thị trường Ngân hàng làm nhiệm vụ tiếp sức cho các thành phần kinh tế có vốn hoạt động. Ngân hàng tập trung phát triển ngày càng nhiều khoản cho vay trung và dài hạn tuy nhiên tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ của Ngân hàng lại tập trung chủ yếu vào các khoản cho vay ngắn hạn. Điều này cho thấy rủi ro trong tín dụng Ngân hàng rất cao phần lớn nguyên nhân của nợ quá hạn cho vay ngắn hạn cao là do thời hạn vay vốn ngắn Ngân hàng cũng như khách hàng xác định thời gian cho vay không chính xác, thêm vào đó là việc khách hàng làm ăn thua lỗ, do hàng hoá ứ đọng không bán được để thu vốn để trả nợ Ngân hàng dẫn đến bị chiếm dụng vốn, vỡ nợ..,cố tình chây ỳ không trả nợ Ngân hàng để sử dụng vào mục đích kinh doanh có lợi khác. Đó cũng chính là nguyên nhân làm cho tỷ trọng cho vay ngắn hạn của Ngân hàng ngày càng ít đi. Như vậy dự án đầu tư theo kế hoạch dài hạn là tương đối có hiệu quả.
Mặc dù vậy tín dụng trung dài hạn do có thời gian đáo hạn dài nên chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn. Bước vào cơ chế thị trường cạnh tranh khốc liệt doanh nghiệp không thể tránh khỏi những khó khăn, gặp không ít thất bại trong kinh doanh dẫn đến rủi ro cho Ngân hàng. Do vậy tỷ lệ NQH trung và dài hạn trên tổng nợ quá hạn thấp không có nghĩa là các khoản cho vay trung và dài hạn có ít rủi ro bởi các khoản vay này chưa đến ngày đáo hạn. Điều này đỏi hỏi cán bộ tín dụng NHNo&PTNTTP Hà Nội phải thường xuyên theo dõi các khoản cho vay để sớm phát hiện ra những dấu hiệu xấu.
Phân loại NQH theo các thành phần kinh tế: Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
- Bảng 3: Cơ cấu NQH theo các thành phần kinh tế:
- Biểu đồ 2: Diễn biến NQH theo thành phần kinh tế:
Qua số liệu trên cho ta thấy nợ quá hạn của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) năm 2000 là 1823 triệu chiếm 80,7% tổng NQH. Sang đến năm 2001 tiếp tục tăng lên 3351 triệu và chiếm 82,9% tổng nợ quá hạn và năm 2002 tỉ lệ NQH cũng tăng lên là 46566 triệu nhưng lại chỉ chiếm 82,7% Tổng nợ quá hạn.
Điều này cho ta thấy tuy nợ quá hạn của các doanh nghiệp nhà nước có tăng nhưng không đáng kể bởi xét về mức tăng thì NQH của các DNNN có tăng cao nhưng xét về mặt tỉ lệ thì NQH của các DNNN chỉ giao động từ 2% đến 2,2% mà thôi.Mà như ta đã biết NQH chỉ mang tính chất thời điểm chứ không phản ánh được toàn bộ hoạt động của ngân hàng hơn nữa không chỉ có riêng NQH tăng mà ngay cẩ tổng dư nợ của ngân hàng và mức cho vay của ngân hàng cũng tăng lên đó là một điều tất yếu.
Hơn nữa xét trong mối tương quan với tổng dư nợ của ngân hàng thì ta thấy dư nợ của các DNNN chiếm tỉ trọng cao nhất khoảng từ 70% đến 75% .Nếu xét tỉ lệ NQH/Tổng dư nợ thì tỉ lệ đó lần lượt là :2000-1,9%:năm 2001-2,7%,năm 2002-3,5%.Đây là tỉ lệ tuy không phải thấp nhưng cũng không phải là cao so với hoạt động của ngân hàng hơn nữa nó vẫn luôn ở dưới mức an toàn cho phép.
Sở dĩ NQH của khối DNNN ở mức khá cao như vậy là do các doanh nghiệp thường xuyên làm an thua lỗ, kém hiệu quả.Điển hình là một số công ty:Công ty thương mại du lịch và dịch vụ hàng không nợ 14160 triệu,công ty kinh doanh và sản xuất vật tư hàng hoá nợ 23415 triệu,công ty thương mại lâm sản Hà Nội nợ 15552 triệu,công ty xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư giao thông vân tải nợ 8584 triệu…vv. Điều này cho thấy ngân hàng cần cố găng hơn nữa trong việc xử lí các khoản NQH đã phát sinh và công tác phòng ngừa NQH.
Sang đến khoản cho vay đối với các DNNQD thì các khoản NQH ở thành phần kinh tế này luôn chỉ dao động ở mức 16-18%.Tỉ lệ NQH của DNNQD/Tổng NQH lần lượt các năm là:2000-18,2%,2001-16,2%,2002-16,5%.Trong khi đó tỉ lệ dư nợ của các DNNQD/Tổng Dư Nợ là:2000-10,3%,2001-10,2%,2002-20,3%.Như vậy tỉ lệ NQH tỉ lệ thuận với tổng dư nợ tức tổng dư nợ càng tăng thì tỉ lệ NQH cũng tăng theo. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
Ở năm 2000 tỉ lệ NQH đạt ở mức cao nhất là do thực tế các khoản cho vay đối với các DNNQD đã đến hạn từ năm 1999 và nhiều khoản chưa trả nợ được nhưng sang năm 2000 mới hạch toán. Sở dĩ như vậy là do trong những năm qua Doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thành lập một cách ồ ạt mở rộng quy mô song lại tách rời khả nănng tài chính các doanh nghiệp còn quá ít vốn thậm chí còn không có vốn hoạt động kinh doanh hay ra đời bằng vốn ảo ( chủ yếu hoạt động bằng vốn vay hay vốn đi chiếm dụng ), không tự chủ được về vốn nên kinh doanh thua lỗ, đó chưa kể rủi ro đạo đức có thể xảy ra. Cùng với sự phát triển của đất nứơc, trong những năm qua nước ta có thêm nhiều công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn, tuy nhiên công ty cổ phần do mới thành lập hay do chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang và đặc biệt là các công ty trách nhiệm hữu hạn hoạt động vẫn chưa thực sự có kết quả do vậy tỷ lệ các khoản nợ quá hạn của thành phần kinh tế này còn cao.Do vậy trước tình hình NQH của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát sinh,ngân hàng đã tiến hành nhiều biện pháp thu hồi nợ nên cuối cùng đã đạt được những kết quả đáng mừng trong năm 2002.Điều này chứng tỏ ngân hàng đã thấy được tiềm năng và nội lực của thành phần kinh tế này và có xu hướng đầu tư một cách có hiệu quả.
Các khoản nợ của các hộ sản xuất và cho vay khác ở ngân hàng không chiếm tỉ trọng cao cả về dư nợ lẫn tỉ lệ NQH. Chứng tỏ ngân hàng không chú trọng lắm đến việc mở rộng các khoản cho vay với thành phần kinh tế này.Tuy nhiên ngân hàng cũng nên xem xét để khai thác tiềm năng từ thành phần kinh tế này và cần nâng cao kĩ năng,nghiệp vụ của cán bộ tín dụng để luôn hạn chế rủi ro và tỉ lệ NQH ở mức thấp nhất có thể.
Căn cứ vào thời gian NQH:
- Bảng 4: Cơ cấu NQH theo thời gian quá hạn:
- Biểu đồ: Diễn biến NQH theo thời gian quá hạn Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
Qua số liệu bảng trên ta thấy NQH<180 ngày,NQH từ 180 ngày-360 ngày,NQH>360 ngày ngày càng tăng dần lên.Năm 2000 NQH<180 ngày là 15654 chiếm 69,4% thì năm 2001 tăng lên ở mức 33215 triệu chiếm 82,2% tổng NQH .Sang năm 2002 NQH<180 tăng lên ở mức 45274 triệu nhưng chỉ chiếm 80,3% tổng NQH.NQH từ 180-360 ngày năm 2000 là 2500 triệu chiếm 11,1% tổng NQH vậy mà năm 2001 lại tăng lên 3500triệu nhưng lại chỉ chiếm 8,7% tổng Nợ quá hạn.Đến năm 2002 NQH từ 180-360 ngày vẫn tăng đạt mức 4852 triệu nhưng cũng chỉ chiếm 8,6% tổng nợ quá hạn.Và cũng như vậy các khoản NQH >360 ngày năm 2000 NQH >360 ngày là 4450 triệu chiếm tới 19,5%tổng NQH,năm 2001 NQH >360 ngày lại giảm và ở mức 3669 triệu chỉ chiếm 9,1% và sang năm 2002 NQH>360 ngày tiếp tục lạI tăng ở mức 6279 triệu và chiếm 11,1 % tổng NQH như vậy nếu xét về mặt tỉ lệ thì năm 200 NQH>360 ngày vẫn chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn so với 2 năm còn lại.Nhưng nếu xét về mặt số tuyệt đối thì tỉ lệ NQH năm 2002 lại đạt ở mức cao nhất.Sở dĩ năm 2002 NQH tăng lên đặc biệt là NQH>360 ngày càng tăng lên khá mạnh là do các món nợ từ năm 2001 chưa xử lí được nhiều,nhất là tỉ lệ NQH>360 ngày là khá lớn gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xử lí,làm ứ đọng và thậm chí có nguy cơ làm mất vốn của ngân hàng đòi hỏi ngân hàng phải có biện pháp để xử lí.
Nói chung tỉ lệ NQH của ngân hàng tuy có tăng nhưng không đáng kể đặc biệt nếu xét tỉ lệ NQH/Tổng dư nợ thì ta càng thấy rõ điều này và càng thấy ngân hàng hoạt động vẫn hiệu quả.Điều này chứng tỏ ngân hàng đã tích cực áp dụng những biện pháp khác nhau nên đã hạn chế được số NQH ở mức có thể chấp nhận được.
Căn cứ và nguyên nhân phát sinh NQH:
Bảng 5:Cơ cấu Nợ quá hạn theo nguyên nhân phát sinh:
Đứng từ góc độ này để phân tích NQH sẽ cho ta đánh giá kết quả công tác phòng ngừa NQH và cũng là một cơ sở để đưa ra phương thức xử lí nợ quá hạn.
Ta có thể dễ dàng nhận thấy NQH phát sinh chủ yếu do nguyên nhân từ phía khách hàng và chiếm tỉ trọng ngày càng tăng trong tổng NQH của ngân hàng.Nợ quá hạn quá hạn do nguyên nhân phát sinh tứ phía khách hàng cũng đang có dấu hiệu giảm dần dặc biệt trong năm 2001 nếu xét về tỉ trọng thì nợ quá hạn do phía khách hàng đã giảm từ 72 % năm 2000 xuống còn 63,5% năm 2002.Sở dĩ có kết quả đó là do NQH ngân hàng đã ngày càng nâng cao khâu thẩm định cũng như việc thực hiện các nguyên tắc cho vay và kiểm soát sau khi cho vay. Trong 3 năm tình hình nợ quá hạn tuy ở mức không cao lắm song không vì thế mà ngân hàng chủ quan bỏ qua các bước trong khâu cho vay, ngân hàng luôn luôn cố gắng thực hiện tốt từ khâu thẩm định cũng như việc thực hiện các nguyên tắc cho vay và kiểm soát sau khi vay qua đó đã có những bước chuyển biến đáng kể. Do vậy trong 3 năm qua tất cả đều không phải do nguyên nhân từ phía ngân hàng. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
Về phía khách hàng,thông thường khách hàng không trả được nợ là do ba nguyên nhân chính: kinh doanh thua lỗ, do sử dụng vốn sai mục đích,và do cố ý lừa đảo. Trong năm 2000, 2001, 2002 tỷ lệ nợ quá do khách hàng làm ăn thua lỗ ngày càng tăng điều đó cũng phần nào phản ánh được tình hình khó khăn trong kinh doanh trong những năm gần đây của nước ta.Như ta đã biết trong cơ chế thị trường ngày nay, các doanh nghiệp ngoài việc phải cạnh tranh với nhau, rất khốc liệt thì còn có mối liên hệ rất mật thiết với nhau. Do vậy, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng lẫn nhau.Vì vậy ngân hàng nên tư vấn cho khách hàng trong lĩnh vực am hiểu, cũng vì lý do kinh doanh gặp nhiều khó khăn mà có nhiều khách hàng đã sử dụng vốn sai mục đích đã ký kết trong hợp đồng tín dụng.
Ngoài ra, nợ quá hạn còn phát sinh do các nguyên nhân khách quan trong đó chủ yếu là do cơ chế chính sách thay đổi. Nước ta đang trong tiến trình đổi mới, nên hệ thống pháp luật còn chưa được đồng bộ còn nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên có sự thay đổi cơ chế chính sách để thích ứng với nền kinh tế thị trường. Trong những trưòng hợp đó ngân hàng đã có chính sách đúng khi có các biện pháp “cứu cánh” cho doanh nghiệp nên đã giúp cho nhiều doanh nghiệp là khách hàng của mình thoat khỏi tình trạng nguy cấp,giảm đáng kể NQH do nguyên nhân này trong năm 2002 và tiến tới sẽ giảm nhiều hơn nữa trong năm 2003.
Tóm lại ta thấy tình hình NQH của NH NN&PTNT TP Hà Nội trong 3 năm qua đã có những thay đổi đáng kể từ chỗ nợ quá hạn đang ở mức khá cao nhưng dù vậy vẫn vẫn luôn giữ ở mức cho phép đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng ,trong đó nợ quá hạn chủ yếu tập trung ở các món vay ngắn hạn.Các khoản nợ phát sinh chủ yếu từ các năm trước và trong 2 năm gần đây do công tác cán bộ được cảI tiến nhiều cũng như những thay đổi hợp lí trong chính sách của ngân hàng mà NQH phát sinh mới giảm đáng kể và không ở tình trạng quá suy yếu. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
2.Các biện pháp phòng ngừa và xử lí nợ quá hạn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội:
a)Các biện pháp phòng ngừa:
Như ta đã biết, NQH là một trong những rủi ro khó có thể tránh khỏi của tất cả các ngân hàng. Một trong những nguyên nhân là do các ngân hàng có biện pháp phòng ngừa khác nhau và mỗi một biện pháp lại đem lại một kết quả khác nhau.Trong đó các biện pháp thường được áp dụng ở ngân hàng No&PTNTTP Hà Nội là:
Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý:
Chính sách tín dụng của Ngân hàng là một hệ thống các biện pháp nhằm mở rộng hay thu hẹp hoạt động cho vay
Nghiên cứu khách hàng:
Mục tiêu kinh doanh hàng đầu của các Ngân hàng thương mại là lợi nhuận, song trên con đường tìm kiếm lợi nhuận tối đa đó, các Ngân hàng thương mại luôn gặp phải một rào cản đó là rủi ro. Để phòng ngừa, hạn chế rủi ro các NHNoHN đã áp dụng nhiều biện pháp trong đó biện pháp cơ bản có vị trí quan trọng số một là phải phân tích, đánh giá một cách toàn diện khách hàng trước khi cho vay, nếu khách hàng được đánh giá là tốt thì được Ngân hàng cho vay.
Thiết lập hệ thống thông tin khách hàng: Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
Ngoài việc nghiên cứu thu thập thông tin về các doanh nghiệp trong hồ sơ khách hàng, NHNo&PTNTTP Hà Nội còn thu thập thông tin từ trung tâm rủi ro, NHNN và các NHTM khác.Ngoài ra,các số liệu của cơ quan thông kê,báo chí… liên quan đến doanh nghiệp cũng là một nguồn thông tin quý giá mà ngân hàng sử dụng để đánh giá khách hàng .
Phân tán rủi ro:
Quán triệt quan điểm “không bỏ chung trứng vào một rổ”, NHNo &PTNT TP HN luôn tiến hành đa dạnh hoá các hình thức cho vay, lĩnh vực cho vay.
Đối với những khoản vay lớn mà ngân hàng khó xác định khả năng và mức độ rủi ro thì ngân hàng sẽ tiến hành liên kết với các ngân hàng khác thực hiện cho vay đồng tài trợ.
Đẩy mạnh công tác cán bộ tín dụng:
Ngân hàng luôn chú trọng đào tạo,nâng cao năng lực quản lí,chủ động trong công việc của cán bộ tín dụng. Bước sang năm 2003 ngân hàng vẫn sẽ tiếp tục có những kế hoạch mở những lớp tập huấn cho cán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng, khuyến khích cán bộ tín dụng tự đào tạo.
b)Các biện pháp xử lí:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, phòng tín dụng có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng và đôn đốc khách hàng trả nợ gốc và lãi theo đúng các điều kiện cam kết trong hợp đồng tín dụng và các qui định của thể lệ tín dụng,quy trình quy phạm nghiệp vụ tín dụng của NHNo&PTNT TP Hà Nội. Có thể nói, nhờ áp dụng các biện pháp đúng đắn ngân hàng đã không những giúp được khách hàng mà còn giúp cho chính ngân hàng. Đồng thời nó sẽ giúp cho quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng càng thêm chặt chẽ bở khách hàng nào cũng muốn thiết lập quan hệ với ngân hàng đã giúp đỡ mình trong lúc khó khăn. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
Dãn nợ:
Là hình thức kéo dài thời gian trả nợ (nhưng tối đa không quá 12 tháng),nếu hết khả năng gia hạn thì hoãn chuyển sang nợ quá hạn,hoặc tùy mục đích sử dụng vốn được xác định lại là trung hạn thì chuyển sang cho vay trung hạn,hoặc khách hàng đưa thêm tài sản mới để thế chấp,cầm cố bổ sung bảo đảm món vay thì bổ sung thời hạn cho vay.
Thúc nợ:
Là biện pháp đệm,chuẩn bị cho các bước khởi kiện qua việc kết hợp với chính quyền địa phương để áp lực thu hối nợ.
Gán nợ:
Là hình thức trừ cân nợ bằng cách NHNo &PTNT Hà Nội mua lại tài sản thế chấp,cầm cố của người vay với giá hợp lí.
Khởi kiện: Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
Là bước xử lí sau cùng khi các bước xử lí trên được thực hiện nhưng vẫn không thu hồi được nợ.
Việc xử lí tài sản thế chấp ở NHNo &PTNTTP Hà Nội chủ yếu dựa trên 3 phương thức:
Nhận gán nợ:nói chung phương thức này chưa được áp dụng nhiều tạI\i ngân hàng.Hơn nữa hiện nay nếu ngân hàng muốn nhận tài sản gán nợ còn phải tổ chức định giá với sự tham gia của các cơ quan thi hành án,viện kiểm soát nhân dân,chính quyền địa phương,phòng tài chính,phòng xây dựng quận, huyện nơi có tài sản thế chấp nên khá phức tạp.
Phát mại tài sản thế chấp qua trung tâm đấu giá:Việc phát mại tài sản thế chấp theo cách này thường rất tốn kém.Mặt khác,khi ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án chuyển việc giải quyết tài sản thế chấp qua trung tâm đấu giá thì công tác thi hành án rất chậm và gặp nhiều khó khăn,thậm chí bị ép giá. Do vậy, người đi vay sẽ bị thiệt thòi nhiều và không chấp nhận.Hơn nữa,theo hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thì “Mọi công dân đều có quyền về nhà ở”. Điều đó buộc ngân hàng nếu bán tài sản thế chấp phải tính đến chỗ ở cho người đi vay là một điều không dễ và làng làm giá trị thu được của ngân hàng sau khi phát mại tài sản giảm.
Thuyết phục người đi vay tự bán tài sản thế chấp: Bằng cách làm này sẽ khắc phục được hầu hết nhược điểm của 2 phương án trên.
c) Đánh giá công tác phòng ngừa và xử lí nợ quá hạn tại NHNo &PTNTTPHN:
Kết quả đạt được:
Nhờ áp dụng các biện pháp phòng ngừa NQH một cách thích hợp trong 2 năm qua NQH của ngân hàng phát sinh không đáng kể,chất lượng tín dụng của các khoản vay mới tăng lên rõ rệt. Đồng thời việc xử lí các khoản NQH đã phát sinh có kết quả rất khả quan. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
Đạt được những kế quả nói trên là do được sự chỉ đạo hợp lí của NHNo &PTNTTP Hà Nội cũng như nỗ lực không ngừng của lãnh đạo và toàn thể cán bộ nhân viên tín dụng cũng như các cán bộ trong ban xử lí nợ,cụ thể các mặt làm được là:
Cơ chế cho vay được sửa đổi hoàn thiện hơn. Công tác thẩm định trước khi cho vay được thực hiện nghiêm túc hơn . Đồng thời gắn được trách nhiệm của mỗi cán bộ tín dụng đối với các khoản cho vay mà mình thực hiện các khoản cho vay đều được trưởng phòng tín dụng trực tiếp thông qua. Do đó trong 2 năm qua hầu hết như không phát sinh nợ quá hạn đối với các khoản cho vay mới.
Tồn tại chủ yếu:
Bên cạnh những mặt đã đạt được Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông Hà Nội cũng có những tồn tại nhất định cần khắc phục để đảm bảo cho các khoản vay được an toàn hơn:
Hệ thống thông tin khách hàng chưa hoàn thiện các thông tin không được cập nhật thường xuyên vừa chậm vừa thiếu không đáp ứng được nhu cầu. Các kênh thông tin khác nhau như phương tiện thông tin đại chúng chỉ dừng ở mức chung chung không thể phản ánh được thực trạng nội bộ. Ngoài ra, quan hệ trao đổi thông tin với các Ngân hàng khác chưa rộng.
Công tác kiểm toán nội bộ giữ một vai trò khá quan trọng trong quản lý kinh doanh Ngân hàng nhưng lại chưa được coi trọng. Việc kiểm nội bộ có tác dụng kiểm tra lại các hoạt động của Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng của Ngân hàng nói riêng (kiểm tra quá trình ghi chép sổ, lập các biểu, báo cáo.. .) giúp kịp thời phát hiện những sai phạm của bản thân Ngân hàng, của cán bộ tín dụng để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời, Ngân hàng nên chú trọng công tác này.
Hiểu biết của cán bộ tín dụng về các lĩnh vực này còn hạn chế. Do vậy việc tư vấn cho khách hàng ít và gặp nhiều khó khăn trong quá trình kiểm tra trước và sau khi cho vay.
Các biện pháp áp dụng trong việc xử lý còn chưa phong phú, đa dạng cần phải có thêm một số biện pháp khác để việc xử lý nợ quá hạn đạt kết quả cao hơn. Luận văn: Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng Agribank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp phòng ngừa nợ quá hạn tại Agribank

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Luận văn Ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn tại Ngân hàng Agribank