Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: điều tra và đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá tại thành phố nam định và các huyện lân cận, hiện trạng khai thác phát triển du lịch tại đây dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá trong nội thành Nam Định và các huyện lân cận.

2.1.1. Quan niệm về sức hấp dẫn.

Sự giàu có về tài nguyên du lịch có thể giúp một địa phương trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn, nhưng ngay cả khi không được sự ưu đãi của tài nguyên, địa phương đó vẫn có thể biến mình trở thành điểm thu hút khách du lịch. Vậy làm thế nào để tăng tính hấp dẫn của điểm đến du lịch luôn là vấn đề được các nhà làm du lịch quan tâm và nó trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế du lịch.

Trước hết có thể khẳng định, điểm đến ở đây là điểm du lịch, khu du lịch,… Có thể nhận thấy trong các khái niệm về điểm du lịch, khu du lịch đều nhấn mạnh đến sức hấp dẫn:

Theo Khoản 6, Điều 1 Luật Du lịch Inđônêxia đã xác định điểm du lịch như sau: “Trước hết đó là một vị trí có tài nguyên du lịch và có sức hấp dẫn, sức hút đối với con người…”.

Theo Luật Du lịch Việt Nam, khu du lịch được công nhận khi có đủ các điều kiện quy định trong đó phải có: “Tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn với ưu thế cảnh quan thiên nhiên, có khả năng thu hút lượng khách cao”.

Vậy yếu tố nào tạo nên sứ hấp dẫn thu hút khách trong du lịch? Cho đến nay chưa có một khái niệm cụ thể nào về sức hấp dẫn, còn rất nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu sức hấp dẫn trong du lịch – Đó có thể là hệ thống tài nguyên thiên nhiên độc đáo; hệ thống di sản văn hoá vật thể, phi vật thể mang sắc thái riêng của vùng, miền; có thể là một đô thị với hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng đông bộ, với các khu vui chơi giải trí đa dạng, các khu mua sắm sầm uất, hay một vùng mang yếu tố địa lý đặc biệt, hấp dẫn và các yếu tố khác như hoạt động bảo tồn, tôn tạo… tất cả các yếu tố đó nếu được khai thác, đầu tư sẽ trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1.2. Vai trò của sức hấp dẫn.

Sức hấp dẫn có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển du lịch, đó chính là giá trị, yếu tố đặc biệt, nổi trội của điểm đến. Trong đó sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch tác động mạnh mẽ đến khách du lịch, là mục đích chuyến đi của du khách, là động lực để “giữ chân” khách lưu lại lâu hơn, góp phần vào việc tăng tỷ lệ khách du lịch quay trở lại. Du khách mong muốn quay trở lại điểm du lịch đó lần thứ 2, thứ 3,… bởi du khách chính là yếu tố cần của du lịch. Để khai thác hiệu quả thị trường này thì chỉ có sức hấp dẫn của điểm đến mới làm được.

2.1.3. Đặc điểm và yếu tố tạo ra sức hấp dẫn.

  • Đặc điểm:

Sức hấp dẫn có khả năng đáp ứng cho việc phát triển du lịch, là yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu để thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú, kích thích họ tiêu dùng nhiều hơn, du khách mong muốn quay trở lại điểm đến.

Sức hấp dẫn có tính tổng hợp và thưòng được xây dựng bằng nhiều yếu tố: yếu tố đặc biệt nổi trội hay là chính là giá trị của bản thân điểm đến (hệ thống tài nguyên thiên nhiên độc đáo, di sản văn hoá vật thể, phi vật thể đặc sắc,…), yếu tố địa lý đặc biệt (khí hậu mát mẻ, môi trường trong lành,…), yếu tố thực trạng hoạt động du lịch, khai thác, bảo tồn, tôn tạo), hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, sự đầu tư, quy hoạch nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch; chất lượng dịch vụ được cấu thành bởi cơ sở vật chất kỹ thuật với số lượng và chất lượng nguồn lao động.

Sức hấp dẫn trong phát triển du lịch không cố định mà bất biến. Nó phải được khai thác đúng đắn tiềm năng, hiệu quả, bền vững và việc nâng cao tính hấp dẫn của điểm đến là rất quan trọng.

Sức hấp dẫn không thể đo đếm một cách định lượng. Nó chỉ được xác định một cách định tính thông qua việc nghiên cứu sở thích của du khách; bằng thứ hạng xếp loại theo các tiêu chuẩn của các cơ quan quản lý Nhà nước; bằng cách tính số điểm theo phương pháp xây dựng thang điểm, hệ số điểm cho các thành phần của tài nguyên du lịch. Vì vậy, việc xác định sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch nhân văn phức tạp hơn so với tài nguyên du lịch tự nhiên. Bởi tiêu chuẩn đánh giá chủ yếu dựa vào cơ sở định tính xúc cảm và trực cảm. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

  • Yếu tố tạo ra sức hấp dẫn.

Yếu tố bên trong: chính là những giá trị tự thân của tài nguyên du lịch.

“Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”.

Đối với tài nguyên du lịch tự nhiên: đóng vai trò quan trọng đối với nhiều loại hình du lịch, sức hấp dẫn được tạo ra bởi phong cảnh, sự đa dạng của địa hình, sự đặc sắc và độc đáo của các hiện tượng và di tích tự nhiên, sự thích hợp của khí hậu, …

Sức hấp dẫn của một vùng, một điểm hoặc một khu vực có thể được đánh giá với các mức độ thuận lợi theo các chỉ tiêu sau :

  1. Rất hấp dẫn: Có 4 hiện tượng tự nhiên trên 5 phong cảnh đẹp, đa dạng (ở trên đỉnh núi, các độ cao trên núi, thác nước, hang động, hồ nước, bãi biển, các đảo, …)
  2. Khá hấp dẫn: Có 3 hiện tượng tự nhiên đặc sắc, độc đáo (rừng, suối nước khoáng,…) đáp ứng được 3 đến 5 loại hình du lịch .
  3. Hấp dẫn trung bình : Có 3 đến 5 phong cảnh đẹp, đa dạng, có 1 hiện tượng di tích tự nhiên đặc sắc; đáp ứng 3 đến 5 loại hình du lịch.
  4. Kém hấp dẫn: Có 1 đến 2 phong cảnh đẹp; đáp ứng 1 đến 2 loại hình du lịch.

Tài nguyên du lịch tự nhiên cũng được đánh giá bằng cách cho điểm:

  1. Vị trí thuận lợi: 4 x 2 = 8 điểm.
  2. Có lịch sử kiến tạo địa chất, cấu tạo địa hình: 4 x 2 = 8 điểm.
  3. Có phong cảnh đẹp, quy mô lớn kết hợp với nhiều tài nguyên có giá trị: 4×2=8 điểm.
  4. Có tài nguyên nước và sinh vật phong phú: 4 x 2 = 8 điểm.
  5. Môi trường tự nhiên tốt và vẫn giữ nguyên được những giá trị nguyên sinh: 4 x 2 = 8 điểm.
  6. Việc tuyên truyền quảng cáo được tiến hành tốt : 4 x 2 = 8 điểm.
  7. Khu du lịch tự nhiên được đánh giá là điểm du lịch quốc tế: 4 x 2 = 8 điểm. + Đối với tài nguyên du lịch nhân văn, sức hấp dẫn được tạo ra bởi các giá trị có thể cảm nhận khi nhìn thấy (giá trị kiến trúc nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ …) hoặc sau khi nghe thấy ( giá trị giáo dục, giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, …)

Việc đánh giá các giá trị lịch sử văn hóa tiến hành bằng cách cho điểm:

Trong đó thang điểm để đánh giá có 4 bậc: Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Loại tốt : 4 điểm; Loại khá : 3 điểm; Loại trung bình : 2 điểm; Loại yếu :1 điểm. Và theo hệ số trên có thể đánh giá một di tích lịch sử như sau:

  1. Vị trí rất thuận lợi : 4 x 2 = 8 điểm.
  2. Lịch sử hình thành và phát triển trên 500 năm : 4 x 2 = 8 điểm.
  3. Có phong cảnh đẹp, quy mô lớn kết hợp nhiều tài nguyên có giá trị : 4×3=12 điểm.
  4. Nội thất các hạng mục công trình được giữ gìn tôn tạo, bảo vệ tốt: 4 x 3=12 điểm.
  5. Có giá trị kiến trúc độc đáo: 4 x 3 = 12 điểm.
  6. Việc tổ chức tôn tạo, bảo vệ, khai thác được tiến hành tốt, đúng nguyên tắc : 4 x 3 = 12 điểm.
  7. Gắn liền với giá trị văn hóa đặc sắc (tôn vinh những người có công với nước hoặc các thành phần gắn liên với sự hình thành của một truyền thuyết, của một tôn giáo) nơi diễn ra lễ hội lớn : 4 x 2 = 8 điểm.
  8. Môi trường tự nhiên và nhân văn có chất lượng tốt, không bị xâm hại: 4×2=8 điểm.
  9. Việc nghiên cứu tuyên truyền, quảng cáo được tiến hành tốt : 4 x 2 =8 điểm.
  10. Di tích được xếp hạng loại quốc tế : 4 x 3 = 12 điểm.

Những yếu tố bên ngoài tài nguyên du lịch góp phần quan trọng trong việc khai thác hợp lý di tích, bảo tồn và phát huy sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch .

Đường lối chính sách phát triển du lịch: Chính sách phát triển đúng đắn, phù hợp, thuận lợi là một nhân tố quan trọng, tạo điều kiện nguồn tài nguyên du lịch tăng thêm sức thu hút du khách .

Điều kiện kinh tế – xã hội : Một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển du lịch. Kinh tế càng phát triển tạo điều kiện cho việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, hạ tầng du lịch đem lại tính thẩm mỹ cho cảnh quan, tăng thêm sức hấp dẫn. Tình hình an ninh, chính trị ổn định cũng là một yếu tố thu hút du khách, du khách cảm nhận được bầu không khí yên ổn, tính hữu nghị giữa các dân tộc .

Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch : Mang tính quyết định sự phát triển du lịch của mỗi quốc gia cũng như mỗi địa phương, việc khai thác, bảo tồn, tôn tạo tài nguyên có hiệu quả hay không phụ thuộc vào cách quản lý của mỗi địa phương. Nếu được khai thác và bảo tồn, tôn tạo tốt sẽ phát triển du lịch bền vững, tăng tính hấp dẫn của tài nguyên, ngược lại sẽ làm mất các giá trị quý giá của tài nguyên . Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Chất lượng nguồn nhân lực: Trình độ chất lượng lao động du lịch luôn là mối quan tâm của các quốc gia về du lịch. Yếu tố con người làm du lịch là yếu tố tác động trực tiếp đến cảm nhận của khách du lịch trong chuyến tham quan. Bởi họ là những người tiếp xúc trực tiếp với du khách, người bạn đồng hành trong suốt chuyến đi với du khách. Với vai trò quan trọng đó, đòi hỏi nguồn nhân lực du lịch phải được đào tạo chuyên sâu về chất lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và cả nội lực của bản thân .

Hợp tác đầu tư phát triển du lịch : Du lịch là ngành kinh tế mang tính quốc tế hóa cao, nhiều tổ chức du lịch thế giới được thành lập, việc hợp tác đầu tư vào các dự án quy hoạch du lịch giữa các vùng, các quốc gia góp phần làm tăng tính hấp dẫn của điểm đến với du khách và thuận lợi cho phát triển du lịch .

Chất lượng môi trường sống, truyền thống văn hoá của dân tộc.

Những điều kiện ảnh hưởng tới tâm lý và sở thích của du khách : văn hóa, trình độ học vấn, tình cảm, nghề nghiệp, độ tuổi … là yếu tố quan trọng hình thành lên thị hiếu và sở thích của du khách, là tiêu chuẩn để đánh giá cuộc sống. Trình độ học vấn văn hóa nâng cao sẽ thúc đẩy lòng ham hiểu biết, giao lưu, hình thành thói quen đi du lịch ngày càng rõ rệt. Nhu cầu thị hiếu và sở thích của mỗi người khác nhau sẽ tác động đến việc lựa chọn những điểm đến, loại hình du lịch khác nhau, du lịch sinh thái hay văn hóa… Do đó việc nghiên cứu yếu tố khách là rất quan trọng trong khai thác, xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn mới mẻ để đáp ứng tối đa nhu cầu của du khách.

2.2. Sức hấp dẫn tự thân của các di tích lịch sử văn hoá ở Nam Định.

2.2.1. Khu di tích Đền Trần.

Khu di tích nằm cách trung tâm thành phố Nam Định hơn 3km về phía Bắc là thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định. Một làng quê trù phú thanh bình nằm ven sông Vinh, sơn thuỷ hữu tình. Đó chính là quê hương của dòng họ Trần, sống bằng nghề chài lưới. Với chất biển “Ăn sóng nói gió”, dòng họ này đã dần dần bước chân vào vũ đài chính trị, thay thế nhà Lý suy yếu, bằng một triều đại mới đầy sinh khí, đã thổi vào xã hội Đại Việt những luồng gió mới, ba lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên, xây dựng một nền quân chủ cường thịnh. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Ngoài việc củng cố xây dựng kinh đô Thăng Long một trung tâm kinh tế chính trị của cả nước thì nhà Trần luôn hướng về quê cha đất tổ của mình, dành nhiều ưu đãi cho vùng đất đó. Đặc biệt nhà Trần là triều đại phong kiến Việt Nam duy nhất có chế độ Thái thượng hoàng, làm cho nhà Trần thêm gắn bó với quê hương. Từ năm 1239, vua Trần Thái Tông đã cho xây dựng cung điện ở đây để lấy chỗ đi lại về thăm quê, công việc này được giao cho Phùng Bá Chu thi công. Đến năm 1262, Tức Mặc được đổi thành phủ Thiên Trường. Đây là một vùng đất rộng lớn trù mật bao gồm thành phố Nam Định, Hà Nam, chín xã phía nam huyện Lục Bình, huyện Nam Ninh, Nam Định ngày nay và phía nam huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình. Từ đây, Tức Mặc đã được tiến hành xây dựng nhiều hạng điện, đền đài lộng lẫy như cung Trùng Quang, nơi Thái Thượng Hoàng về ngự, điện Trùng Hoa để các vua Trần về vấn an vua cha, cung Đệ nhất, cung Đệ nhị, cung Đệ tam và cung Đệ tứ để hoàng tộc và quan lại ở cùng với kho nội khố và hàng loạt các công trình khác nằm rải rác trên bốn xã ngoại thành Nam Định hiện nay là Lộc Vượng, Lộc Hạ, Mỹ Trung, Mỹ Phục. Các cung nằm án ngữ các con sông Hoàng Giang và Vị Hoàng, bao lấy cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa. Có thể nói, Tức Mặc thời Trần là một kinh thành phồn hoa chỉ đứng sau Thăng Long.

Trải qua gần 7 thế kỷ với biết bao thăng trầm của lịch sử, sự tàn phá của chiến tranh, của thiên nhiên nhiệt đới ẩm, hành cung Thiên trường xưa với những cung điện nguy nga, lầu son gác tía đã trở thành phế tích, chỉ còn lại nền móng đào quanh nơi đây và những tên địa danh ghi lại dấu ấn thủa xưa. Trên nền cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa xưa, nhà Lê đã cho xây dựng đền Thiên Trường làm nơi thờ 14 vị hoàng đế nhà Trần. Bên cạnh đền Thiên Trường, sau này nhân dân có xây dựng thêm đền Cố Trạch làm nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, gọi chung là đền Trần.

  • Đền Thiên Trường.

Theo “Trần Thị Đại Tông từ đường”, văn bia, câu đối tại đền Thiên Trường thì đền được xây dựng vào năm Chính Hoà thứ V (1695), ban đầu chỉ có 3 lớp nhà bằng gỗ lim, lợp tranh. Đến năm 1705 nơi đây được chính thức gọi là “Trần miếu” trải qua nhiều triều đại, đền được trùng tu mở rộng có quy mô như ngày nay. Công trình được xây dựng theo một trục thần đạo tạo sự cân xứng, đăng đối, tiện bài trí đồ thờ tự, song lại mang dáng dấp cung điện. Đền có kiến trúc “nội Công, ngoại Quốc”, gồm chính điện, thiêu hương tiền đường và các công trình khác, tạo nên một chỉnh thể thống nhất với 9 toà nhà gồm 31 gian, các công trình kiến trúc được nằm ẩn hiện dưới những hàng cây cổ thụ, tạo cho khu đền thêm cổ kính, u tịch. Đền gồm:

Hệ thống cửa ngũ môn: Giữa cổng chính có hai chữ “Trần miếu”, hệ thống cửa gồm những trụ cao uy nghi có đôi voi phục; Hệ thống sân rộng có các hồ nước soi bóng những hàng cây cổ thụ.

Qua hệ thống sân rộng là đã tới Tiền đường, là một công trình gồm 5 gian, có vì giữa là theo lối câu đầu kẻ bẩy, hai vì bên làm theo kiểu chồng rường bổ trụ, có hệ thống cột được đặt trên những chiếc chân tảng đá chạm hoa sen. Phía ngoài tiền đường là hệ thống cột, bố cục hoa văn cầu kỳ có treo những đôi câu đối thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc tạo sức mạnh của nhà Trần, có giá trị muôn thuở trong việc an dân trị quốc. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

  • Dân vi bảng thiên niên sách
  • Công tại tâm vạn có trường
  • Có nghĩa là: Dân là gốc nước, ngàn năm lên sách lược Công ở lòng người, muôn thuở báo dài lâu

Chính điện có mái cong, công trình có 4 đại trụ chịu lực, được tạo dáng kiểu bút đồng thanh thoát, kê trên những chân tảng bằng đá vuông, chạm hoa sen 16 cánh. Tại chính điện có nhiều đồ thờ: Bộ ngai ba tầng bằng gỗ vàng sơn son thiếp vàng, đỉnh hương bằng đồng, bức cuốn thư,… Qua toà chính điện, du khách sẽ tới Thiêu hương được làm theo kiểu mái cong với 4 mái cong được chạm khắc mây tán hài hoà tạo cho công trình mềm mại, duyên dáng, huyền bí. Bên cạnh đó di tích đền Thiên Trường còn có 2 nhà nhỏ mà địa phương gọi là ống muống nằm ở hai đầu hồi toà tiền đường với hai dãy dải vũ ở hai phía đông tây sân rồng tạo cho kiến trúc của đền thêm uy nghi, bề thế.

  • Đền Cố Trạch.

Được xây cạnh đền Thiên Trường. Tương truyền năm 1852 trong lần trùng tu lớn đền Thiên Trường nhân dân đã đào được tấm bia đá có đề dòng chữ “Hưng Đạo Thần Vương Cố Trạch” – nhà cũ của Hưng Đạo Vương, nên đã xây dựng đền thờ ông nơi đây đặt tên “Cố Trạch”.

Đền Cố Trạch mang dáng dấp của đền Thiên Trường, song quy mô khiêm tốn hơn, kiến trúc thời Nguyễn bao gồm các bộ phận nhà đại bái, thiêu hương, cung đệ nhị, cung đệ nhất. Tại đền Cố Trạch các đồ thờ hầu hết được sơn son thiếp vàng, trong cung đệ nhị có tượng Đức Thánh Trần ngồi trên Long Ngai, và bức tranh Thánh Trần đặt trên khán thờ lớn cao hơn 3m có giá trị về mặt nghệ thuật lịch sử. Kiến trúc đền Cố Trạch cùng với việc bài trí thờ tự nơi đây tuy không mấy nổi bật, nhưng nó thể hiện giá trị truyền thống cao đẹp của người dân Việt Nam: uống nước nhớ nguồn. Đền Cố Trạch kết hợp với đền Thiên Trường tạo nên một quần thể kiến trúc hài hoà trên vùng đất tổ của nhà Trần ở vùng Tức Mặc, Nam Định.

Khu di tích Đền Trần được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia năm 1962. Và dựa theo cách đánh giá sức hấp dẫn các di tích lịch sử bằng cách cho điểm thì đền, chùa Trần được 86 điểm, là điểm du lịch hấp dẫn du khách. Không chỉ thu hút du khách trong nước về đây thăm quan, dâng hương mà còn thu hút ngày càng đông khách quốc tế đến thăm quan, nghiên cứu tìm hiểu giá trị lịch sử kiến trúc của khu di tích.

2.2.2. Chùa Phổ Minh. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Chùa Phổ Minh hay còn gọi là chùa Tháp Phổ Minh, có tên chữ là “Phổ Minh tự” với ý nghĩa mang ánh sáng của phật pháp phổ độ toàn thể chúng sinh.

Chùa toạ lạc trên khu đất rộng xấp xỉ 2 ha thuộc xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định, cách đền Trần khoảng 300m về phía Tây. Chùa thờ chư Phật, Bồ tát và thờ tượng Trúc Lâm Tam Tổ: Tổ Trần Nhân Tông nhập niết bàn, Tổ Pháp Loa và Tổ Huyền Quang. Chùa được vua Trần Thánh Tông cho dựng vào năm 1262 ở phía Tây cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường. Các bản văn khắc trên bia cho biết chùa có từ thời Lý, được mở rộng với quy mô lớn vào thời Trần. Cụm kiến trúc chính của chùa bao gồm 9 gian tiền đường gắn với thiêu hương 3 gian, thượng điện 3 gian. Qua sân hẹp, dãy ngang 11 gian kết hợp với hành lang mỗi bên 11 gian tạo thành quần thể “Nội Công ngoại Quốc”. Chùa Phổ Minh mở đầu kiến trúc Phật giáo thời Trần. Các công trình kiến trúc và chạm khắc ở đây còn giữ được dấu ấn của thời Trần, thời Mạc như: bộ cánh cửa bằng gỗ lim chạm rồng (mỗi tấm cao 1,92m, rộng 0,79m) ở nhà bái đường, tháp Phổ Minh, đôi sấu ở tam quan, rồng ở thành bậc tiền đường, tháp và tượng Bà chúa Mạc (tài liệu ở chùa ghi là Công chúa Mạc Ngọc Lâm),… Chùa xưa có một vạc lớn bằng đồng được xếp vào “Thiên Nam tứ đại pháp khí” (vạc Phổ Minh, tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Quỳnh Lâm) nay không còn.

Tháp Phổ Minh được xây vào năm 1305, gồm 14 tầng, cao 21,2m, nặng khoảng 700 tấn, mặt quay hướng Nam. Mặt bằng tháp được bố cục vuông, cạnh đáy của đế dài 5,21m, cửa các tầng ở 4 phía được trổ theo lối cuốn tò vò. Nền tháp và tầng thứ nhất xây bằng đá, những tầng phía trên xây bằng gạch. Dạng kiến trúc của tháp là dạng trung gian giữa loại tháp hoa sen (phần trên) và tháp tu-di-tọa (phần đế). Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục vào ngày 12 – 12– 2007 là Ngôi chùa có ngôi tháp bằng gạch cao nhất Việt Nam..

Chùa, tháp Phổ Minh là một công trình kiến trúc độc đáo, còn lưu giữ nhiều cổ vật mang phong thái kiến trúc điêu khắc của nhiều thời đại, có giá trị về nhiều mặt nên chùa đã hấp dẫn nhiều tín đồ phật tử, các du khách và nhiều nhà nghiên cứu đến yết bái, tham quan. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. Và qua tiến hành điều tra xã hội học và thăm dò ý kiến của du khách đến đây thì 75% khách nội địa cho là điểm du lịch hấp dẫn, 20% cho là rất hấp dẫn, 5% bình thường. Hầu hết du khách quốc tế nhận xét đây là điểm thăm quan hấp dẫn.

2.2.3. Đền Bảo Lộc. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Đền Bảo Lộc thuộc huyện Mỹ Lộc, ngôi đền được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XX. Kiến trúc công trình đền Bảo Lộc không mấy đặc sắc, chạm khắc không nhiều nhưng những mảng chạm ở đây lại rất tinh xảo như bức chạm phía trên bộ cánh cửa ở nhà tiền đường, hai bên là những mảng chạm khắc gỗ tinh xảo với các đề tài quen thuộc như tứ linh, long cuốn thuỷ,… Sáu bộ cánh cửa ở hậu cung cũng được chạm khá tinh xảo. Tất cả những mảng chạm hay kiến trúc của ngôi đền đều có niên đại từ thời Nguyễn. Trong đền không chỉ thờ bài vị mà có tới 2 pho tượng (một bằng gỗ, một bằng đồng) tạc Trần Hưng Đạo. Đền Bảo Lộc có giá trị lịch sử văn hoá lớn bởi công trình được xây dựng trên mảnh đất mà gần 7 thế kỷ trước triều đình cấp phong cho thân phụ người và là nơi Hưng Đạo Vương an giấc ngàn thu.

Như vậy, Đền Bảo Lộc cùng với đền Trần, chùa Tháp tạo thành một quần thể kiến trúc vừa có giá trị lịch sử cao, đồng thời lại là những điểm du lịch hấp dẫn, thu hút khách trong và ngoài nước.

2.2.4. Cột Cờ Nam Định.

Xây dựng vào thế kỷ XIX, cùng với Cột cờ ở Kinh thành Huế năm 1807, cột cờ Hà Nội năm 1812, cột cờ ở Thành Bắc Ninh năm 1838.

Căn cứ theo một số tư liệu như Đại dư thuế lệ thì cột cờ Thành Nam xây cùng thời với cột cờ Hà Nội. Cột cờ thành Nam Định cao 23,84m kiến trúc cao nhất trong Thành Nam được xây vào năm Gia Long thứ 11 (1812) ở phía nam nội thành, cách Vọng Cung khoảng 100m. Cột cờ được xây trên hai tầng bệ, cột hình vuông thu dần từ dưới lên. Hai phía đông và tây của tầng một có hai cầu thang xây bằng gạch 10 bậc dẫn lên tầng hai. Bốn mặt bệ đều xây lan can, trổ bốn cửa. Trên khuôn cửa đông có hai chữ Nghênh húc (đón ánh ban mai). Khuôn cửa nam có hai chữ Hướng quang (hướng theo đức sáng). Thân cột cờ cao 12,65m thu dần từ dưới lên với hai phần: Phần dưới hình trụ bát giáp và phần trên hình tròn. Từ phía Nam có cửa đi vào trong thân cột cờ, có cầu thang soáy ốc 54 bậc, được rọi bằng ánh sáng tự nhiên từ các cửa hình hoa thị trải đều ở mỗi cạnh trụ thân cột để dẫn lên đỉnh. Cột cờ xây bằng gạch nung già, màu đỏ sẫm, các góc vuông của hai tầng bệ xây bằng một loại gạch chuyên một đầu vát 450, còn các góc 1200 của thân cột trụ bát giác là một loại gạch riêng. Cột cờ Thành Nam gắn liền với nhiều dấu ấn lịch sử quan trọng. Ngày 27/3/1883, tàu chiến của Pháp từ sông Đào bắn phá vào trong thành. Đỉnh cột cờ là nơi tổ quan sát máy bay do đồng chí La Vĩnh Hào. Tự vệ nhà máy dệt chỉ huy làm nhiệm vụ viễn tiêu. Thời kỳ hoạt động bí mật, nhiều cán bộ, đảng viên vẫn lấy cột cờ làm nơi liên lạc và sinh hoạt để bàn kế chỉ đạo phong trào.

Cột cờ Thành Nam đã được bộ văn hóa thông tin ra quyết định số 313 ngày 28 tháng 4 năm 1962 công nhận là di tích lịch sử – Văn hóa cấp nhà nước. Cột cờ Thành Nam với gần hai thế kỷ tồn tại đã chứng kiến biết bao sự thay đổi của đất nước và quê hương. Đây là nơi đã gắn bó với nhiều thế hệ tuổi thơ Nam Định và trên hết nó là niềm kiêu hãnh của mỗi người dân Nam Định. Dựa trên việc đánh giá bằng cách cho điểm thì Cột cờ đạt 85 điểm và là điểm du lịch hấp dẫn, thu hút được cả khách du lịch nội địa và quốc tế. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

2.2.5. Chùa Cổ Lễ.

Chùa được xây dựng từ thế kỷ XI thời Lý Thần Tôn, thờ Phật và đức thánh tổ Nguyễn Minh Không. Ngôi chùa hiện nay do Hoà thượng Quang Tuyên tạo dựng vào năm 1920 và được trùng tu nhiều lần.

Du khách đến tham quan chùa Cổ Lễ thích phong cách kiến trúc chùa độc đáo. Chính điện được thiết kế theo kiến trúc hài hòa giữa phong cách truyền thống và hiện đại. Chùa Cổ Lễ hiện còn lưu giữ được một số cổ vật quý giá như tượng đức Phật bằng bạch đàn cao 4m, sơn son thếp vàng, trống đồng thời Lý, và đặc biệt là chùa có một quả đại hồng chung cao 3,2m, nặng 9 tấn, đúc vào năm 1936. Miệng chuông có họa tiết hình cánh sen, thân có họa tiết hoa lá, sông nước và một số văn tự bằng chữ Nho. Quả chuông này chưa được đánh một lần nào nhưng dân gian truyền miệng khi đánh lên thì cả tỉnh và một vài vùng lân cận sẽ nghe được tiếng ngân của đại hồng chung này. Trước chính điện là một phong cảnh non nước hữu tình. Dưới những tán cây rợp bóng mát chen lẫn nhiều quả núi nhân tạo, đường dẫn vào chính điện là hai chiếc cầu cong xuyên trong lòng hai quả núi đá lớn. Hơi chếch về bên phải là cây tháp Cửu Phẩm Liên Hoa dựng năm 1926 với 8 mặt, 12 tầng, cao 32 m gồm 98 bậc thang xoắn ốc, tương truyền rằng tín đồ phật tử, khách hành hương lên đến bậc thứ 98 này, sờ tay vào bức tượng trên đỉnh tháp thì cuộc sống sẽ luôn gặp may mắn.

Chùa Cổ Lễ được xếp hạng là “Di tích lịch sử văn hóa” là “Danh lam thắng cảnh quốc gia. Chùa Cổ Lễ là nơi biểu hiện sự kết hợp giữa đời và đạo, giữa phật giáo với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Dựa theo tiêu chí đánh giá sức hấp dẫn của di tích lịch sử văn hoá qua việc cho điểm thì chùa Cổ Lễ đạt 80 điểm, và là điểm du lịch hấp dẫn được du khách trong và ngoài nước quan tâm.

2.2.6. Chùa Vọng Cung Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Chùa toạ lạc ngay giữa trung tâm thành phố Nam Định, là một ngôi chùa lớn, một trung tâm Phật giáo của tỉnh Nam Định. Chùa có từ thời nhà Nguyễn, niên hiệu Gia Long, tính đến nay đã có lịch sử gần 200 năm. Chùa Vọng Cung trước kia là nơi đón tiếp các triều thần mỗi lần kinh lý tới nghỉ ngơi. Nhưng do chứng tích của chiến tranh chùa Vọng Cung đã bị san phẳng. Kiến trúc chùa hiện nay không còn lại bất cứ dấu vết nào của kiến trúc thế kỷ XIX mà hoàn toàn là kiến trúc mới của thế kỷ thứ XX với kiến trúc 2 tầng hiện đại, nhưng vẫn không mất đi vẻ đẹp truyền thống với mái cong và những ngọn bảo tháp sau chùa.

Có thể nói, chùa Vọng Cung là một tâm điểm thu hút đông đảo nhân dân trong tỉnh và du khách thập phương mỗi lần đến thăm thành phố Dệt Nam Định. Chùa Vọng Cung đạt 85 điểm trong thang điểm đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

2.2.7. Tượng đài Trần Hưng Đạo.

Tượng đài được đặt tại quảng trường 3/2, bên bờ hồ Vị Xuyên. Bức tượng được đúc bằng đồng nguyên chất với trọng lượng khoảng 21 tấn, có chiều cao 10,22m đặt trên bệ cao 6,5m. Để đưa được bức tượng lên độ cao như thế, nghệ nhân đã phải đúc tượng thành 9 khoanh. Bức tượng đài thể hiện được phẩm chất và tinh thần của người anh hùng dân tộc và cũng chính là tinh thần của một dân tộc quật cường, không chịu làm nô lệ. Tay trái (tay võ) được chống vào đốc gươm thể hiện sự tự tin. Đó chính là tinh thần chủ đạo của bức tượng, hai chân của người anh hùng được đặc tả một tư thế chắc chắn, đầu hơi xoay nghiêng so với vai. Đây là bức tượng đẹp, một công trình văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Vào những ngày mùng một, mười rằm hàng tháng, đã thành nếp tâm linh, nhiều bậc cao niên thường đến dâng hương, chiêm bái tượng người. Tượng đài đã biểu hiện sức mạnh vươn lên của tinh thần dân tộc, của lòng dân đối với người anh hùng.

Quần thể Kiến trúc khu tượng đài cùng với Nhà văn hóa 3/2 ở đây khá đẹp, không gian thoáng mát và rất phù hợp để nghỉ ngơi, vui chơi và thư giãn. Dựa trên việc đánh giá bằng cách cho điểm thì khu tượng đài Trần Hưng Đạo đạt 86 điểm, qua tiến hành điều tra xã hội học với du khách đến đây thì 85% cho là hấp dẫn, 10% rất hấp dẫn, 5% bình thường. Như vậy, đây là điểm du lịch hấp dẫn, thu hút được khách du lịch nội địa và cả quốc tế.

2.3. Đánh giá sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa ở nội thành Nam Định và các huyện lân cận.

2.3.1. Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hóa ở Thành phố Nam Định và các huyện lân cận ở vị trí trung tâm và khoảng cách giữa các vị trí.

“ Có đất nào như đất ấy không

Phố phường tiếp giáp với bờ sông”. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Khi đọc hai câu thơ trong bài thơ “Đất vị Hoàng” của nhà thơ Tú Xương chúng ta có thể thấy được phần nào nét khái quát về vị trí địa lý của thành phố Nam Định. Thành phố Nam Định nằm ở phía Bắc của tỉnh Nam Định, được thành lập cách đây hơn 744 năm, với 744 năm kiến trúc thành phố Nam Định đã để lại một kho tàng lịch sử quý báu, có giá trị. Khi đến đây du khách sẽ thấy được những nét kiến trúc Pháp vẫn còn hiện diện ở nhiều di tích .

Thành phố Nam Định là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Nam Định. Việc đi lại, tham quan các cụm di tích lịch sử văn hóa và các công trình kiến trúc ở nội thành và các huyện lân cận rất thuận lợi. Tại trung tâm thành phố bến xe cổng hậu quy mô rộng, nhiều xe, khách đi lại thuận tiện, nhiều khu đô thị mới mọc lên, như khu đô thị mới Hòa Vượng. Cơ sở hạ tầng trong khu đô thị đủ loại, y tế, chợ, khách sạn 4 sao 20 tầng nối liền với trung tâm thành phố. Phía Nam thành phố tập trung nhiều làng nghề như trồng hoa, làm bún. Có bến xe Đò Quan quy mô nhỏ nhưng xe chất lượng cao, an toàn, tạo được niềm tin với khách, liền kề với bến xe là chợ, hầu hết là chợ quy mô nhỏ nhưng hàng hoá đầy đủ không thiếu thứ gì. Vì thế việc phục vụ cho du khách về nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, mua sắm rất dễ dàng. Ngoài thăm quan ngắm cảnh, du khách còn được thưởng thức những món ăn ngon nổi tiếng Nam Định ở Làng văn hóa ẩm thực Hoàng Gia, nhiều loại bánh kẹo cổ truyền mang hương vị rất riêng mà du khách có thể mua về làm quà .

Các cơ sở vui chơi giải trí trong thành phố ngày càng đa dạng, bên cạnh đó là các khu công viên giải trí như khu Công viên văn hoá Tức Mặc, sân vận động Thiên Trường, Nhà thi đấu Trần Quốc Toản. Gần với điểm tham quan Cột Cờ Nam Định là khu công viên nhỏ và nhà triển lãm của tỉnh, khá thuận lợi trong quỹ thời gian tham quan của du khách đến các điểm du lịch văn hoá trong nội thành. Đặc biệt chất lượng môi trường tại các khu điểm du lịch ngày nay đã được cải thiện hơn, môi trường trong sạch và khá nhiều cây xanh, môi trường trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch được đa dạng và nâng cao hơn, song vẫn đảm bảo được yếu tố văn hoá trong cơ cấu các sản phẩm du lịch.

Vì ở vị trí trung tâm nên hiện nay hệ thống cơ sở hạ tầng Nam định đang được các cấp chính quyền quan tâm, các đường giao thông nối liền với các quốc lộ được đầu tư mở rộng rất thuận lợi cho phục vụ du lịch, dễ dàng trong việc đi lại của khách từ nội thành Nam Định đến các điểm tham quan lân cận thành phố. Quốc lộ 10 là tuyến liên tỉnh nhưng rất dễ dàng để du khách đến nhiều nơi trong khu vực như Hồ truyền thống, ở hồ truyền thống có bảo tàng cổ vật, du khách nên ghé thăm để hiểu hơn về mảnh đất văn hiến này, các cửa hàng ăn uống xung quanh đây khá nhộn nhịp, thu hút nhiều khách.

Hiện nay, khu văn hoá du lịch Đền Trần đã được tu sửa, đường sá được làm rộng, tốt và đẹp, đáp ứng nhu cầu đi lại, vãn cảnh tham quan du lịch. Đi ngược lên một quãng đường không xa là khu đền Bảo Lộc. Ngày nay công tác phục vụ thăm viếng, thăm quan khu du lịch văn hoá Đền Trần không chỉ thực hiện trong những ngày lễ hội mà đã trở thành công việc thường xuyên, khá thuận lợi cho du khách. Khu Ngã sáu Năng Tĩnh là cửa ngõ về các huyện Vụ Bản, Ý Yên và Ninh Bình,… Quý khách có thể ghé thăm và mua sắm lưu niệm tại các làng nghề, thăm các khu di tích lịch sử văn hoá Phủ Giầy, Đền thờ Trạng Nguyên Lương Thế Vinh và hệ thống các Chùa – Đền – Phủ tiêu biểu khác mang đầy giá trị nhân văn của Nam Định. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Khi đến với Nam Định, du khách sẽ không cảm thấy nhàm chán khi ghé thăm thành phố bởi sự đa dạng của tài nguyên nơi đây sẽ đáp ứng mọi nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn và phương tiện vận chuyển khá thuận lợi để đưa du khách từ các di tích lịch sử văn hoá đến với các khu du lịch sinh thái ở bãi biển Thịnh Long và Quất Lâm, có thể thoải mái tắm biển, dạo chơi trên bờ biển, hay đi chợ và đặc biệt thưởng thức hải sản. Đặc biệt hơn nữa khi đến Nam Định du khách không nên bỏ qua cơ hội khám phá Vườn quốc gia Xuân Thuỷ, để chiêm ngưỡng toàn cảnh hệ sinh thái đất ngập nước vùng cửa sông.

Có thể nói, khu trung tâm thành phố Nam Định tuy không rộng lắm nhưng đủ các loại hình hạ tầng phục vụ khách du lịch như các khu vui chơi giải trí, siêu thị, chợ, làng văn hoá, cơ sở hạ tầng lưu trú, giao thông,… Do đó vị trí trung tâm và gần trung tâm đã đưa đến cho các di tích lịch sử văn hoá ở đây sức hấp dẫn nổi trội hơn, có khả năng thu hút khách du lịch hơn, chiếm nhiều ưu thế hơn so với các di tích khác trong toàn tỉnh. Yếu tố vị trí đặc biệt này còn tạo ra nhiều cơ hội cho các di sản văn hoá vật thể được đầu tư, bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá lịch sử theo đúng ý nghĩa thực sự của nó. Thêm vào đó, các di tích lịch sử văn hoá còn nằm trên tuyến du lịch Hà Nội – Hưng Yên – Thái Bình – Nam Định, gần chùa Keo trên tuyến du lịch sông Hồng; tuyến du lịch Hà Nội – Hà Nam – Ninh Bình – Nam Định, gần điểm du lịch xung quanh như Phủ Giầy, Nhà thờ Phú Nhai. Với mật độ tập trung cao tạo ra sức hấp dẫn lớn, thuận lợi cho du khách sử dụng sản phẩm du lịch.

2.3.2. Đánh giá sức hấp dẫn về cảnh quan của các di tích lịch sử văn hoá tại thành phố Nam Định và các huyện lân cận với khách du lịch.

Do phát huy được vốn kiến trúc truyền thống vào việc tu sửa, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các công trình tín ngưỡng nên hệ thống các di tích lịch sử văn hoá ở Nam Định như khu di tích văn hoá Đền Trần, khu hồ truyền thống, Bảo tàng cổ vật đã trở thành những công trình đẹp có giá trị nhiều mặt. Ghé thăm thành phố du khách còn được chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn lịch sử như nhà số 7 Bến Ngự, những công trình kiến trúc cổ trên đường Hùng Vương.

Phố lớn của Nam Định là Trần Hưng Đạo. Tượng Hưng đạo Vương Trần Quốc Tuấn được đặt trước Nhà hát 3/2, bên bờ hồ Vị Xuyên của thành phố. Tại đây du khách sẽ được chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của quá khứ và hiện tại. Tượng đài Trần Hưng đạo được xây dựng với quy mô hoành tráng, cùng với chất liệu quý đã thể hiện được tấm lòng thành kính, luôn hướng về nguồn cội của nhân dân Nam Định. Tượng đài được đánh giá là rất đẹp, có “thần”, trong đó khuôn mặt và đôi bàn tay của Trần Hưng Đạo được thể hiện khá thành công. Xung quanh tượng đài là các hạng mục như cây nến, bồn hoa, 14 cột cờ biểu thị cho 14 đời vua Trần, cọc biểu trưng cho chiến thắng Bạch Đằng, thảm cỏ, sân đường, hệ thống điện chiếu sáng phù hợp với toàn cảnh trên Quảng trường rộng hơn 1ha đã góp phần bổ trợ tăng thêm vẻ đẹp, sự tôn kính của tượng đài. Khu vực tượng đài và toàn bộ Quảng trường nhà hát 3/2 là công trình văn hoá hoành tráng, có tầm cỡ thế kỷ. Đây không chỉ là điểm thăm quan nổi tiếng mà thực sự đã trở thành nơi hội tụ đời sống tâm linh của nhân dân trong và ngoài tỉnh.

Nếu như ở Hà Nội xưa có những phố phường nào thì thành phố Nam Định cũng hầu như có những phố cổ đó như Hàng Vàng, Hàng Nâu,… tuy hiện nay những con phố đó đa phần không giữ lại được tên cổ nhưng phần nào vẫn giữ được dáng vẻ cổ kính của nó. Du khách có thể vừa đi dạo vừa chiêm ngưỡng những con phố mang tên cổ như Hàng Tiện, Hàng Thao, Hàng Cấp,… ở đây buôn bán tương đối sầm uất, khi đến đây du khách thấy được một thành phố Nam Định đã thay đổi rất nhiều. Và nếu như Hải Phòng có hoa phượng nổi tiếng với tên gọi thành phố Hoa Phượng đỏ thì hoa gạo là loại cây đặc trưng của Nam Định. Loài hoa đỏ cháy tạo một dáng vẻ quyến rũ, cảnh quan riêng biệt khi du khách dạo chơi bên bờ hồ Vị Xuyên, ngã tư Cửa Đông hay ghé thăm Văn miếu. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Có một địa điểm mà chắc chắn mọi du khách sẽ không thể nào bỏ qua khi đến Nam Định bởi nó đã đi vào lịch sử và trở thành biểu tượng của thành phố đó chính là Cột Cờ Nam Định. Do sự tương đồng đặc biệt về lịch sử, kiến trúc và văn hoá nên khi thăm Cột Cờ Hà Nội nhiều người vẫn có cảm giác như ở Nam Định và ngược lại khi thăm Cột Cờ Nam Định lại tưởng như mình đang ở Hà Nội. Quang cảnh của Cột Cờ Nam Định hẳn sẽ làm du khách nhớ đến Thủ đô, hình dáng Thăng Long nghìn năm văn hiến lại hiện lên giữa thành phố Nam Định. Cột Cờ được đặt gần trụ sở cơ quan hành chính của địa phương, Cột Cờ vững chãi, cân đối, uy nghi và cao. Mô hình kiến trúc là một ngọn tháp lục lăng, bên trong rỗng có cầu thang xoắn đưa lên đỉnh. Điều đặc biệt từ trên lầu Vọng Canh của Cột có thể nhìn sang vùng đất Thái Bình, bên kia sông Hồng, thậm chí tới tận Ninh Bình, bên kia sông Đáy.

Nằm cách thành phố Nam Định chưa đầy 4km về phía Tây Bắc là khu đền Trần thuộc thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng. Khu di tích đền Trần bao gồm đền Thiên Trường và đền Cố Trạch được xây sát cạnh nhau trên một khu đất cao ráo rộng khoảng 8ha, theo nối phong thuỷ. Khi du khách tới thăm đền Trần sẽ được chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc mang đậm phong cách truyền thống. Toàn bộ công trình được xây dựng theo một trục đối xứng vừa làm cho công trình đăng đối vừa tiện bài trí đồ thờ tự. Cho nên ngoài thăm quan di tích ngôi đền còn cung cấp cho du khách khá nhiều tư liệu về giá trị văn hoá, nghệ thuật kiến trúc Việt Nam truyền thống. Trước đền là một cột đồng uy nghi in bóng xuống mặt nước hồ xanh mát, xung quanh là những hàng cây cổ thụ toả bóng rợp mát xuống đền. Khi dừng chân đứng lại ở đây du khách sẽ cảm thấy một không gian trong lành, êm ả và cảm thấy lòng mình thật nhẹ nhàng.

Xuôi tiếp xuống phía Nam du khách có thể ghé thăm Chùa Keo – Cổ Lễ, nơi gắn liền với các truyền thuyết về Thánh sư Khổng Minh Không và những điển tích của Phật giáo kỳ thú, cùng với lối kiến trúc độc đáo và vẻ đẹp huyền bí. Chùa Cổ Lễ kiến trúc trải rộng theo hướng Tây Nam, có quy mô lớn, kết hợp hài hoà kiến trúc phương tây khá đa dạng, phong phú. Đến thăm chùa Cổ Lễ du khách sẽ thấy một kiến trúc nguy nga đồ sộ như tháp Cửu Phẩm Liên Hoa, Cầu cuốn, qua cầu còn có một dòng nước mát, du khách sẽ thấy lòng mình thanh tịnh hơn.

Một trong những điểm du lịch không thể thiếu trong chuyến tham quan các di tích lịch sử ở Nam Định đó chính là Chùa Tháp Phổ Minh, chùa có tên chữ là “Phổ Minh tự” với ý nghĩa ánh sáng của Phật pháp phổ độ toàn thể chúng sinh. Chùa toạ lạc trên khu đất rộng cách đền Trần khoảng 300m về phía Tây. Tuy sự nguy nga, lộng lẫy không còn như xưa nhưng chùa Phổ Minh vẫn xứng đáng là một trong những ngôi chùa cổ và đẹp của nước ta. Chùa có kết cấu Tam quan đi theo con đường nhỏ được lát gạch, tháp Phổ Minh dần dần hiện ra như một đoá sen khổng lồ đang muốn bay vút lên trời xanh. Có thể nói chùa tháp Phổ Minh còn lưu giữ khá đầy đủ những dấu ấn của các vương triều Trần, Mạc, Tây Sơn, Cảnh Thịnh, Nguyễn làm cho chùa Phổ Minh trở thành một cuốn biên niên sử sống của dân tộc. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Về với quần thể di tích lịch sử văn hoá ở Nam Định, du khách không những được thăm quan chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc, các hiện vật có giá trị lịch sử văn hoá mang đậm dấu ấn của các triều đại phong kiến Việt Nam mà còn được hoà mình vào không gian, cảnh quan xung quanh của những công trình kiến trúc để rồi trân trọng, giữ gìn những tinh hoa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Có thể nhận thấy, sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan và kiến trúc độc đáo đã tạo ra những giá trị văn hoá đặc sắc, tạo cho các di tích lịch sử văn hoá có sức hấp dẫn, khả năng thu hút du khách.

2.3.3. Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá nội thành Nam Định và lân cận về giá trị lịch sử văn hoá và tài nguyên phi vật thể.

Di tích lịch sử văn hoá là tài sản văn hoá quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hoá của mỗi nước.

Di sản văn hoá Nam Định được sáng tạo và kết tinh trong suốt tiến trình lịch sử của đất nước. Trong kho tàng đồ sộ giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể tạo nên nguồn tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh Nam Định thì giá trị văn hoá lịch sử truyền thống thời nhà Trần đã tạo cho mảnh đất này tiềm năng phát triển du lịch văn hoá tâm linh vô cùng phong phú. Ngoài quần thể di tích văn hoá nhà Trần tập trung tại thành phố Nam Định và huyện Mỹ Lộc còn có hàng trăm di tích gồm đền, phủ, chùa, miếu, lăng với các kiểu dáng kiến trúc đa dạng có liên quan đến tục thờ Đức Thánh Trần và khu di tích văn hoá lịch sử triều Trần trải rộng trên phạm vi các phường Lộc Vượng, Lộc Hạ (TP. Nam Định) và huyện Mỹ Lộc bao gồm 45 di tích lịch sử.

Về với khu di tích đền, chùa Trần du khách được thăm quan, chiêm ngưỡng hệ thống đền, chùa tháp mang những nét kiến trúc nghệ thuật truyền thống có giá trị lịch sử. Về lịch sử xây dựng của đền Thiên Trường, theo tư liệu “Trần Thị Đại Tông từ đường” cùng với truyền thuyết, văn bia, câu đối tại đền Thiên Trường thì công trình từ đường họ Trần đầu tiên được thành lập vào năm Chính hoà thứ 15 (1695). Điều tạo ra sự hoành tráng, đồ sộ, uy nghiêm của công trình chính là hệ thống cửa ngũ môn cao sừng sững và uy nghiêm như một cổng thành bảo vệ cho cung điện nhà Trần, tạo cho đền Thiên Trường có dáng dấp của một cung điện hơn là một ngôi đền thờ. Đền còn lưu giữ hệ thống cửa là bộ phận quan trọng nhất ở tiền đường có niên đại từ thế kỷ XVII trên có chạm khắc đôi rồng có vẻ uy nghi, đường bệ. Ngoài sự hấp dẫn của đôi rồng Lê ở bộ cánh cửa thì ta còn gặp cặp rồng Nguyễn chầu ngay bậc lên xuống tiền đường cũng khá đặc sắc. Trong đền còn khá nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị như bộ khám thờ 3 tầng, làm bằng gỗ vàng, sơn son thiếp vàng lộng lẫy với những mảng chạm khắc đẹp,… Tất cả đều có ý nghĩa lớn về mặt tư tưởng. Đền Cố Trạch có quy mô khiêm tốn hơn đền Thiên Trường, nhưng kết cấu cũng khá nhiều nét giống nhau. Giá trị của ngôi đền là bức tượng thánh Trần ngồi trên long ngai, được đặt ở toà đệ nhị. Bức tranh Đức thánh Trần được đặt trên khám thờ lớn, cao hơn 3m, thể hiện khí tiết của một nhà quân sự đại tài, có giá trị về mặt nghệ thuật lịch sử.

Về với di tích lịch sử văn hoá nhà Trần, du khách không những được thăm quan, tìm hiểu các công trình kiến trúc, các hiện vật có giá trị lịch sử mang đậm dấu ấn một triều đại hưng thịnh trong lịch sử nước ta mà còn được hoà mình trong những lề hội tái hiện quá khứ hào hùng và hào khí Đông A. Lễ hội ở đền Trần một năm có 2 kỳ. Vào đêm 14 rạng ngày 15 tháng giêng là lễ hội “Khai ấn” gồm phần lễ dâng hương và lễ Khai ấn. Lễ khai ấn được tổ chức vào dịp đầu Xuân mới hàng năm nhằm bảo tồn phát huy những giá trị văn hoá, giáo dục truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của cha ông ta. Lễ hội là dịp quảng bá nét đẹp của quê hương Nam Định và thu hút rất đông du khách trong nước và quốc tế. Nghi thức rước kiệu ấn từ đền Cố Trạch sang đền Thiên Trường và lễ khai ấn. Lễ hội từ 15 đến 20 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ của Trần Hưng Đạo gồm lễ dâng hương tưởng niệm và phần hội có các trò đấu vật, chọi gà, múa lân,… Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Một di sản văn hoá không thể không nhắc đến của Nam Định đó là chùa Cổ Lễ. Qua nhiều thập kỷ tồn tại, liên tục tu sửa và xây dựng nhưng chùa Cổ Lễ vẫn giữ được những nét kiến trúc cơ bản, quy mô kiến trúc rộng, hài hoà, được kết hợp với các yếu tố cổ truyền Việt Nam với kiến trúc gô tích Châu Âu. Chùa Cổ Lễ ngoài thờ Phật, còn thờ thiền sư Nguyễn Minh Không, đã từng chữa cho vua Lý Thần Tông thoát khỏi bệnh hiểm nghèo. Trong kháng chiến chống Pháp 1947, chùa là nơi làm lễ xuất phát cho 29 vị sư tự nguyện cởi áo cà sa ra mặt trận chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cũng như các di tích lịch sử văn hoá ở Nam Định, chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị cao về nghệ thuật lịch sử như gác chuông cao 2 tầng đúc năm 1936 là thiết kế của Hội kiến trúc sư Việt Nam; Chùa còn một trống đồng cổ thời Lý, một chuông đúc năm Cảnh Thịnh; 4 thuyền chải để bơi lội vào dịp lễ hội 16 – 9 âm lịch được tổ chức hàng năm, đây là hoạt động văn hoá thể thao giàu bản sắc dân tộc của cư dân ven biển.

Cột Cờ Nam Định là điểm đến có giá trị lịch sử văn hoá khá hấp dẫn của thành phố Nam Định. Gần 2 thế kỷ qua, Cột cờ Nam định đã đứng vững và vươn cao trong mưa bom, bão đạn, mưa nắng, chứng kiến và là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của quê hương, đất nước. Khách du lịch trong và ngoài nước thường đến đây thăm quan, tưởng nhớ về một thời kỳ hào hùng của dân tộc. Cột cờ được xây dựng từ năm 1833 thời Nguyễn, là biểu tượng khơi dậy tình yêu quê hương đất nước của mỗi người dân Việt Nam.

Từ Nam Định qua những cánh đồng xanh mướt, xen lẫn rặng thông ngút ngàn đến huyện Vụ Bản, du khách được đến thăm quan quần thể di tích văn hoá Phủ Giầy. Khu di tích Phủ Giầy có giá trị cao về trình độ kiến trúc nghệ thuật cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đến với Phủ Giầy là đến với một di tích hoàn chỉnh yếu tố tín ngưỡng dân gian thuần Việt. Và cũng là một di sản văn hoá đã được Nhà nước công nhận theo quyết định số 09 VH – QĐ, năm 1975. Không gian kiến trúc Phủ Giầy vừa thể hiện tính cộng đồng của dân tộc vừa cho ta thấy được mong muốn hướng tới “Chân, thiện, mỹ” của cha ông ta. Quần thể di tích có 17 công trình, trong đó Phủ Vân Cát, phủ Thiên Hương và lăng Bà chúa Liễu là 3 công trình lớn. Ngoài ra phủ Giầy còn bảo tồn nhiều sập, nhang án, bài vị, ngai, kiệu từ đầu thế kỷ XVIII, du khách được chiêm ngưỡng những nét chạm khắc tinh xảo, công phu tại di tích dưới bàn tay tài hoa, điệu nghệ của người thợ Nam Định. Cùng với giá trị về tôn giáo, kiến trúc điêu khắc, còn là nơi diễn ra lễ hội với quy mô lớn ở nước ta. Lế hội bắt đầu từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch. Chính hội là ngày mồng 6 với lễ rước thánh mẫu Liễu Hạnh long trọng, đây thực sự là một tín ngưỡng văn hoá cộng đồng của đông đảo quần chúng. Đến với lễ hội Phủ Giầy mọi người như được gắn kết với nhau lại trong một cộng đồng tâm thức cùng thông cảm với nhau góp sức mình vào tổ chức lễ hội thật to lớn, thật sôi động, thật uy nghiêm để tỏ lòng thành kính. Trong số gần 20 di tích của quần thể di tích Phủ Giầy hình như có một sự quy chiếu, cộng hợp vào một trục chính là nghi thức thờ Mẫu mà trung tâm là Mẫu Liễu Hạnh. Du khách đi lễ Phủ Giầy có thể thăm viếng cảnh quan đền chùa, miếu phủ, lên núi thưởng ngoạn hay dự các cuộc vui chung mang tính chất văn hoá quần chúng để được giải toả tinh thần tâm hồn nhẹ nhàng hơn, vui vẻ và đặc biệt được hoà mình vào không khí hội hè vừa náo nhiệt vừa thấm đượm tính nhân văn. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

2.3.4. Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá ở Nam Định qua sự cảm nhận của du khách.

Khách du lịch là yếu tố quyết định trong việc hình thành nên cầu du lịch, là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá sự phát triển du lịch của một điểm du lịch cụ thể. Các chỉ tiêu về khách có thể cho biết nhiều thông tin, cụ thể là thước đo của sự phát triển du lịch, của sự nổi tiếng của điểm du lịch, của khả năng “cung” và đáp ứng nhu cầu của khách của điểm đến, đặc biệt là của sức hấp dẫn của điểm du lịch. Để có được những đánh giá cụ thể về khách, về mức độ hài lòng của du khách đối với điểm du lịch cần phải tiến hành điều tra xã hội học.

Sau khi tiến hành điều tra xã hội học, thăm dò ý kiến của cộng đồng khách du lịch nội địa với 100 phiếu, khách nước ngoài gồm: Trung Quốc, Pháp, Anh, Nhật, cho thấy khách du lịch tại Nam Định tập trung nhiều vào khách Nhật Bản, Pháp, Anh, Trung Quốc. Phần lớn khách du lịch có độ tuổi từ 19 đến 65 tuổi, nghề nghiệp chủ yếu là các công chức Nhà nước, các nhà kinh doanh, các nhà văn hoá, sinh viên, cán bộ nghỉ hưu chiếm số lượng lớn do họ có thời gian dỗi nhiều.

Thực tế cho thấy thị trường khách du lịch được mở rộng, khách du lịch tới Nam Định thuộc đủ mọi lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ. Việc khai thác các giá trị di sản văn hoá cho phát triển du lịch được nâng cao tính hấp dẫn, thu hút du khách. Và những cảm nhận, đánh giá của du khách là những điều kiện quan trọng góp phần cho việc khôi phục, phát triển nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong 100% phiếu điều tra khách nội địa thì 85% du khách quan tâm đến giá trị lịch sử văn hoá, những công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng ghi dấu lịch sử đất nước, bên cạnh đó là cảnh quan hài hoà với thiên nhiên. Hầu hết du khách đều đến đây với mong muốn được tìm hiểu về lịch sử, nhớ về cội nguồn, tỏ lòng thành kính biết ơn với các vị tiền hiền, anh hùng dân tộc, được tham gia các lễ hội truyền thống có liên quan đến những nghi lễ tôn giáo. Vì vậy, số du khách đến với lễ hội ở Nam Định luôn chiếm đến 65% trong cơ cấu khách du lịch. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Trong số phiếu thăm dò khách du lịch quốc tế. Đối với khách quốc tế đến từ các nước Châu Âu mà chủ yếu là khách Pháp, Anh họ đến đây với mong muốn được tìm hiểu nhiều hơn về đất nước và con người, về các giá trị văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Họ quan tâm nhiều đến các công trình kiến trúc do kiến trúc sư của họ thiết kê xây dựng như Bảo tàng, nhà hát, nhà thờ,… Không chỉ ở Nam Định mà các thành phố khác ở Bắc Bộ cho đến nay vẫn còn hiện diện một số nét quy hoạch và công trình kiến trúc mang phong cách Pháp, nếu như ở Hà Nội có nhà hát lớn, Hải Phòng có Quán hoa và con đường nào ở Hải Phòng cũng đều nhỏ – “Ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó”,… thì Nam Định có Cầu Ngói và những dãy nhà cổ thời Pháp.

Thành phần khách du lịch Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đều quan tâm đến giá trị văn hoá lịch sử truyền thống tại các di tích ở Nam Định như đền, chùa do họ có nhu cầu muốn thăm quan những nét văn hoá tín ngưỡng tương đồng, ảnh hưởng lẫn nhau trong lịch sử của khu vực và tìm hiểu, khám phá sự khác biệt giữa các công trình kiến trúc nghệ thuật Việt Nam với đất nước họ.

Như vậy, du lịch có ý nghĩa to lớn về mặt văn hoá, khách du lịch từ các nước đến sẽ đem đến những phong tục tập quán từ địa phương họ để giao lưu, địa phương làm du khách hiểu được yếu tố văn hoá mới. Nhìn chung du khách quốc tế đều có cảm nhận thân thiện với các điểm đến, họ cảm thấy an toàn do an ninh ổn định giúp cho chuyến đi của họ được nhẹ nhàng, họ được nghỉ ngơi thư giãn thực sự.

Đánh giá các di tích lịch sử văn hoá tại điểm du lịch thành phố Nam Định và các huyện lân cận qua việc cho điểm.

Dựa theo thang điểm đánh giá sức hấp dẫn của nguồn tài nguyên du lịch nhân văn thì các di tích lịch sử văn hoá tại đây có sức hấp dẫn nổi trội thu hút khách du lịch nội địa cũng như khách du lịch quốc tế đến thăm quan, tìm hiểu.

  1. Vị trí địa lý thuận lợi: 4 x 2 =8 điểm.
  2. Lịch sử hình thành và phát triển trên 500 năm: 4 x2 = 8 điểm.
  3. Có phong cảnh đẹp, quy mô lớn, kết hợp nhiều tài nguyên có giá trị: 4 x 3 =12 điểm.
  4. Nội thất các hạng mục công trình được giữ gìn tôn tạo và bảo vệ tốt: 4 x 3 = 12 điểm.
  5. Có giá trị kiến trúc độc đáo: 4 x 3 = 12 diểm
  6. Việc tổ chức tôn tạo, bảo vệ và khai thác được tiến hành tốt: 4 x 2 = 8 điểm.
  7. Gắn liền với những giá trị văn hoá đặc sắc: 4 x 2 = 8 điểm.
  8. Môi trường tự nhiên và nhân văn có chất lượng tốt: 4 x 2 = 8 điểm.
  9. Việc tuyên truyền quảng cáo: 2 x 2 = 4 điểm.
  10. Di tích được xếp hạng quốc gia: 3 x 2 = 6 điểm.

Tổng số: 86/100 điểm. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Như vậy cùng với những nhận xét, đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá tại Nam Định với khách du lịch ở các yếu tố căn bản quan trọng trên đều được điểm tốt, các di tích lịch sử văn hoá ở đây hội tụ khá đầy đủ các yếu tố của một điểm đến hấp dẫn, qua đó thấy được sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá tại Nam Định vừa có tính tổng hợp, vừa mang tính đặc trưng nhưng trong hoạt động khai thác và nguồn nhân lực du lịch còn hạn chế. Để khai thác và phát huy hiệu quả hơn nữa những giá trị văn hoá hướng tới mục tiêu phát triển du lịch, việc quy hoạch tổng thể tài nguyên môi trường, đầu tư bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, cũng như tài nguyên du lịch nói chung là vấn đề then chốt của du lịch Nam Định, góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế của Nam Định lên một bước.

2.4. Thực trạng hoạt động du lịch tại các di tích văn hoá trong khu nội thành Nam Định và lân cận.

2.4.1. Hiện trạng tổ chức quản lý và khai thác các di tích lịch sử văn hoá tại thành phố Nam Định và các huyện lân cận.

Việc khai thác di tích lịch sử văn hoá của địa phương trong hoạt động du lịch là hiện tượng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên việc gắn kết các di tích lịch sử văn hoá với khai thác du lịch không phải là việc dễ thành công.

Những năm qua, phần nhiều những tiềm năng phát triển du lịch của Nam Định vẫn ngủ yên, hoặc có đầu tư khai thác cũng mới chỉ dừng ở phần nổi, bước đầu khai thác những gì sẵn có. Việc liên kết khai thác xây dựng các tuyến du lịch nối liền các di sản văn hoá, danh lam thắng cảnh chưa thực sự được chú trọng. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Gắn liền với các di tích lịch sử văn hoá vật thể ở Nam Định là kho tàng di sản văn hoá phi vật thể, với khoảng 100 lễ hội truyền thống. Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú về đời sống văn hoá tinh thần của mỗi một cộng đồng người. Khách du lịch đến Nam Định không chỉ thăm quan di tích mà còn tham dự các lễ hội. Nhìn chung việc khai thác hoạt động du lịch trong dịp lễ hội ở đây những năm qua đã được phát huy. Du khách đến với lễ hội chợ Viềng, hội Phủ Giầy và lễ hội Khai ấn đền Trần vào mỗi dịp xuân về. Việc tổ chức lễ hội Phủ Giầy, chợ Viềng,… đã và đang góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tinh thần độc đáo của đất nước và quê hương đồng thời đáp ứng nhu cầu văn hoá, tín ngưỡng, thăm quan du lịch của nhân dân địa phương và đông đảo du khách thập phương.

Thực tế du khách đến đây chỉ nhìn, xem và lễ chứ hầu như họ không hiểu về nguồn gốc lễ hội, của những nghi lễ được tiến hành ở đây. Một tồn tại chung của lễ hội ở nước ta là phần “lễ” diễn ra công phu bao nhiêu thì phần “hội” lại diễn ra nghèo nàn bấy nhiêu, các hoạt động vui chơi dân gian chỉ dừng lại ở vài 3 hoạt động như: múa hát đình, hát văn, cờ người. Do phần hội tổ chức hầu như không đặc sắc nên phần lớn du khách chỉ đến chiêm bái là chủ yếu nên lễ hội chỉ có thể cuốn hút du khách trong thời gian nhiều nhất là một ngày, thời gian ở lại ít. Vì vậy mà dịch vụ sử dụng không nhiều, doanh thu đem lại thấp. Đơn cử như trong năm 2008 Nam Định đã đón hơn 1,4 triệu lượt khách du lịch nhưng doanh thu chỉ đạt 110 tỷ đồng. Ngoài dịp lễ hội việc khai thác các di tích vào hoạt động du lịch còn mang tính tự phát, quy mô nhỏ, hiệu quả chưa cao nên gây tình trạng lãng phí tài nguyên.

Bên cạnh đó các di tích hiện nay đang bị nhiều sức ép từ hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ du lịch. Công tác quản lý và khai thác du lịch tại các di tích lịch sử vẫn còn nhiều bất cập, tình trạng xâm hại, lấn chiếm di tích vẫn còn diễn ra, đảm bảo an toàn cho khách du lịch vẫn còn thiếu triệt để như tình trạng người ăn xin, trẻ lang thang nài nỉ xin tiền khách; tình trạng sử dụng khuôn viên khu di tích, cổng chùa để kinh doanh, bán hàng rong, mời mọc khách vẫn còn diễn ra làm mất vẻ mỹ quan, gây phiền hà, tạo ấn tượng không tốt cho khách thăm quan du lịch, nhất là khách nước ngoài bởi đây là chốn linh thiêng, bất khả xâm phạm nhưng thực sự thì hoàn toàn khác.

Các di tích trải qua thời gian dưới tác động của khí hậu khắc nghiệt, lâu ngày nắng mưa, mối mọt phá hoại khiến cho một số di tích bị xuống cấp. Hơn nữa hoạt động du lịch diễn ra ồ ạt, lượng khách du lịch tập trung quá đông vào mùa cao điểm, sức chứa quá tải làm cho môi trường xung quanh bị xâm hại, suy thoái. Hiện tượng bẻ cây bẻ cành, xả rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường, làm mất cảnh quan thoáng mát ở các di tích.

Dù một số di tích có được nâng cấp trùng tu làm mới lại nhưng nặng theo hướng bê tông hoá cốt thép, làm mất giá trị kiến trúc vốn có của di tích, điều này làm ảnh hưởng đến việc phục vụ phát triển du lịch bền vững, các thế hệ du khách không được chiêm ngưỡng và nâng cao giá trị nhận thức của mình một cách đúng đắn về ý nghĩa thực sự của di tích.

Tại các điểm di tích, đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên thông thạo ngoại ngữ rất thiếu khó khăn trong việc giới thiệu những gì khách quốc tế muốn biết.

2.4.2. Hiện trạng tổ chức quản lý và trù Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.ng tu các di tích lịch sử văn hoá tại điểm du lịch thành phố Nam Định và lân cận.

Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh là một bộ phận cấu thành quan trọng của di sản văn hoá Việt Nam. Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh uỷ, sự đầu tư kinh phí của UBND tỉnh, sự phối hợp quản lý của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương, việc khai thác và phát huy các giá trị văn hoá tại các di tích lịch sử Nam Định đã được cải thiện. Hàng năm các lễ hội gắn với các di tích được tổ chức chu đáo, tạo sự phấn khởi trong nhân dân, thu hút ngày càng đông khách du lịch đến thăm quan.

Tuy nhiên vấn đề đặt ra là một điểm đến phải hấp dẫn và phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi các yếu tố tài nguyên du lịch độc đáo, di sản văn hoá mang sắc thái riêng mà còn phụ thuộc vào công tác quản lý, bảo tồn, tôn tạo, trùng tu di tích của địa phương.

Năm tháng qua đi cùng với lớp bụi thời gian các di tích lịch sử văn hoá đã bị thiên nhiên làm hư hại. Mặc dù những năm qua, Nam Định đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho phát triển du lịch nhưng trên thực tế phần lớn là đầu tư cho hạ tầng giao thông, một phần là xây dựng các cơ sở lưu trú. Do đó công tác quản lý, tôn tạo, trùng tu, bảo tồn di tích chưa được chú trọng. Do sự hỗ trợ kinh phí từ phía Nhà nước cũng hạn chế, sự buông lỏng quản lý ở một số địa phương, biên chế cho cán bộ chuyên trách tại các điểm di tích hiện nay vẫn còn thiếu nên dẫn đến những bất cập trong việc quản lý trùng tu. Hoạt động tu bổ không làm đúng hướng dẫn hoặc không xin ý kiến chỉ đạo của các chuyên ngành, sự thiếu thống nhất trong lựa chọn phương pháp và vật liệu thay thế trong phục dựng, trùng tu nên nhiều trường hợp đã phá vỡ nguyên gốc của di tích. Tình trạng buôn bán trái phép cổ vật, xây dựng hoặc tu bổ tuỳ tiện, thương mại hoá các lễ hội làm mất đi giá trị thực của di sản văn hoá. Việc lưu giữ những hiện vật quý, có giá trị tại các di tích còn hiều bất cập thiếu tính chuyên môn, tuyên truyền.

Bên cạnh đó việc giáo dục ý thức bảo vệ di sản văn hoá ở các cộng đồng dân cư, các trường học và những người đang sống cạnh các khu di tích không được quan tâm triệt để. Nhiều di tích bị lấn chiếm biến thành nơi sinh hoạt, buôn bán làm cho kiến trúc cảnh quan di tích bị biến dạng, du khách cảm thấy nhàm chán, thất vọng. Trong nhịp sống hiện đại hoá hiện nay thì du lịch về nguồn càng phát triển có ý nghĩa quan trọng trong phát huy các di tích lịch sử thành nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ. Nhưng nếu chúng ta chỉ biết khai thác triệt để mà không quan tâm tới bảo vệ, tôn tạo và làm sống dậy nét văn hoá, giá trị lịch sử văn hoá thì không thể nào tạo được sức hấp dẫn, thu hút du khách, đáp ứng nhu cầu văn hoá và nhận thức cho du khách.

2.4.3. Hiện trạng về khách du lịch. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Du lịch Nam Định thu hút du khách không chỉ ở các khu nghỉ dưỡng, các di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng mà còn ở các lễ hội có quy mô lớn được tổ chức hàng năm, là hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần mang đậm đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”.

Ngoài mùa lễ hội, du khách đến thăm các di tích lịch sử văn hoá ở Nam Định với mục đích thăm quan, chiêm bái. Khách du lịch đến Nam Định thăm quan các di tích lịch sử có cả những đoàn khách công vụ, đoàn học sinh, sinh viên, cán bộ hưu trí,… khách công vụ có khả năng thanh toán cao, trong chuyến đi của mình họ kết hợp thăm quan, chiêm bái di tích. Các đoàn học sinh, sinh viên thường không nhiều, chủ yếu đến để thăm quan, tìm hiểu lịch sử di tích, nâng cao nhận thức.

Vào mùa lễ hội đền Trần, lễ hội Phủ Giầy thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, du khách trong nước và quốc tế. Họ thường đi theo đoàn khá đông, mục đích đi thăm quan ngắm cảnh, kết hợp với tham dự lễ hội. Đa phần du khách đều cho rằng các lễ hội diễn ra tại các di tích lịch sử văn hoá ở Nam Định đều rất hấp dẫn, có quy mô lớn. Vào mùa lễ hội, tại các di tích xảy ra tình trạng qua sức chứa, do lượng khách đông. Những năm gần đây, khách du lịch đi theo tour tăng, phong phú về đối tượng do xu hướng phát triển du lịch văn hoá tâm linh, du lịch về nguồn.

Đa phần cảm nhận của du khách trong và ngoài nước về các di tích lịch sử văn hoá ở Nam Định là điểm du lịch hấp dẫn. Tuy nhiên, hầu hết khách du lịch nước ngoài như Anh, Pháp, Nhật,… đều cảm thấy không an toàn khi tham gia giao thông tại đây, bên cạnh đó nhiều du khách cảm thấy không thoải mái khi bị chèo kéo, mời mọc của những người bán hàng.

2.4.4. Hiệu quả kinh tế – xã hội từ hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử văn hoá.

Tài nguyên du lịch khi được khai thác phục vụ mục đích du lịch đều đem lại một nguồn thu nhất định đối với ngành du lịch nói chung và cộng đồng địa phương. Nguồn thu này thu được từ hoạt động bán vé thăm quan, vé cho các dịch vụ vui chơi giải trí, từ việc bán các sản phẩm lưu niệm hay các đặc sản của địa phương,…

Nam Định thực sự là địa danh có tiềm năng lớn để phát triển du lịch văn hoá, có sức hấp dẫn đối với du khách. Nhìn chung hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động du lịch của Nam Định chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của vùng nhưng cũng đã góp phần tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm cho cộng đồng địa phương.

Do chưa khai thác sâu, tạo nhiều sản phẩm du lịch nên Nam Định vẫn chưa “giữ chân” và “kiếm tiền” được từ du khách. Bởi du khách đến thăm quan một di tích lịch sử văn hoá không chỉ để nhìn ngó di tích mà còn muốn tìm hiểu ý nghĩa lịch sử, quá trình hình thành, chọn mua sản phẩm lưu niệm của di tích đó. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Do nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch còn thiếu, sản phẩm du lịch mang đặc trưng địa phương còn đơn điệu, chưa đặc sắc nên chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng dịch vụ của du khách. Du khách đơn thuần chỉ đến thăm quan ngắm cảnh, việc mua sắm sử dụng dịch vụ còn hạn chế. Phần lớn doanh thu từ hoạt động du lịch của Nam Định chủ yếu từ dịch vụ lưu trú và ăn uống. Năm 2009 doanh thu của các cơ sở kinh doanh du lịch tăng 20% so với cùng kỳ năm 2008.

Doanh thu từ các di tích lịch sử văn hoá đối với du lịch còn thấp hơn so với các hoạt động du lịch biển. Vào mùa lễ hội khách du lịch đến đông, nhiều khách sạn tự ý nâng giá phòng lên gấp đôi, giá giữ xe, dịch vụ ăn uống cũng thi nhau tăng giá mà chất lượng lại kém hơn hẳn. Điều này kéo theo những bất cập từ hoạt động du lịch, du khách chưa chắc đã muốn quay lại, nhu cầu sử dụng dịch vụ giảm, làm cho doanh thu từ hoạt động du lịch không thu được hiệu quả cao.

2.4.5. Sản phẩm du lịch.

Mỗi quốc gia, mỗi địa phương muốn phát triển du lịch bền vững và có sức hấp dẫn với du khách phải tạo ra được các sản phẩm du lịch đặc thù, có yếu tố hấp dẫn, độc đáo. Là vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử văn hoá, Nam Định có tiềm năng văn hoá du lịch phong phú, đa dạng. Riêng loại hình di tích lễ hội, trên địa bàn tỉnh có 1655 di tích đền, chùa, phủ, miếu,… có giá trị lịch sử, văn hoá, kiến trúc độc đáo gắn với các lễ hội truyền thống mang đậm sắc thái địa phương. Như vậy sản phẩm du lịch đặc thù của Nam Định là du lịch văn hoá kết hợp với du lịch sinh thái. Du lịch thăm quan lễ hội, thăm quan di tích lịch sử gắn với thăm quan làng nghề, với du lịch biển và danh lam thắng cảnh.

Các di tích lịch sử văn hoá tại thành phố Nam định và các huyện lân cận tuy nằm ở vị trí trung tâm, hoạt động kinh tế, xã hội náo nhiệt nhưng vẫn giữ được vẻ cổ kính, trang nghiêm nên nó đã tạo ra sức hấp dẫn rất lớn với du khách.

Bên cạnh đó các sản phẩm du lịch dịch vụ tại đây đã được đa dạng, nâng cao chất lượng đáng kể. Nhà hàng đầy đủ tiện nghi, du khách tới thăm quan di tích lịch sử văn hóa ngoài tìm hiểu giá trị văn hóa, lịch sử, nghỉ ngơi, thư giãn nơi yên bình còn được thưởng thức những món ăn đặc sản của địa phương, được nghe hát ca trù, chèo văn và xem loại hình nghệ thuật múa rối nước.

Ngoài ra là các sản phẩm du lịch do các nhà lữ hành tạo ra cung cấp cho du khách góp phần quảng bá dịch vụ du lịch, đó chính là các tour du lịch hấp dẫn kết nối các di tích lịch sử văn hóa nội tỉnh Nam Định hoặc liên tỉnh với các địa danh nổi tiếng ở Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, thủ đô Hà Nội….

Một số tour Du lịch có thể khai thác Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Chương trình 1: Nam Định City tour ( 01 ngày).

7h00 sáng: Xe đón đoàn tại điểm hẹn, khởi hành đi thăm quan cụm di tích lịch sử Văn hóa Trần: Đền Trần, Chùa Tháp, Đền Bảo Lộc, nơi lưu giữ những chứng tích hào hùng về một triều đại hưng thịnh vào loại bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

11h30: Đoàn ăn trưa tại làng văn hóa ẩm thực Hoàng Gia, thành phố Nam Định, thưởng thức các món ăn đặc sản Nam Định.

13h30: Xe đưa quý khách ghé thăm tượng đồng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn uy nghi bên bờ hồ Vị Xuyên. Sau đó đoàn ghé thăm cột cờ Nam Định, một địa danh trở thành biểu tượng của thành phố.

15h00. Xe đưa quý khách trở về điểm xuất phát, kết thúc cuộc hành trình về với một thời lịch sử.

Bao gồm:

  • Xe ô tô du lịch đời mới, chất lượng cao, điều hòa.
  • Các bữa ăn theo chương trình: Ăn chính 60.000 đ/bữa, ăn phụ 15.000 đ/bữa/khách.
  • Vé tham quan chương trình.
  • Bảo hiểm du lịch 10.000.000 đ/ vụ.
  • HDV phục vụ chuyên nghiệp nhiệt tình, chu đáo và thân thiện.
  • Trang bị y tế và phục vụ nước trên xe.
  • Quà tặng du lịch cho cả đoàn.
  • Chụp ảnh kỷ niệm tại điểm tham quan.

Không bao gồm:

  • Đồ uống trong khi ăn.
  • Thuế VAT.

Chương trình 2: Tour liên tỉnh

Hà Nội – Nam Định – Thái Bình (1 ngày). Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

  • 6h00 sáng: Xe đón đoàn tại Hà Nội.
  • 9h30: Đến Nam Định, du khách tới thăm quan chùa Cổ Lễ nơi gắn liền với truyền thuyết về thánh sư Khổng Minh Không và những diện tích của Phật giáo kỳ thú, đền chùa ở Lộc Vượng theo quốc lộ 1A + quốc lộ 21.
  • 11h30: Du khách ăn trưa tại tại TP. Nam Định.
  • 13h00: Đoàn tiếp tục cuộc hành trình tời chùa Keo (Thái Bình), nổi tiếng nơi lưu giữ những kiến trúc cổ, nhiều di vật, đồ thờ quý. Sau đó xe đưa đoàn về Hà Nội theo quốc lộ 39 và quốc lộ 5.

Chương trình 3: Hải Phòng – Thành Phố Nam Định – Phủ Giầy ( 02 ngày).

Ngày 1:

  • 5h00 sáng: xe và HDV đón đoàn tại Hải Phòng.
  • 8h00: đến Nam Định, đoàn đến thăm quan chùa Phổ Minh, đền Thiên Trường, đền Cổ Trạch – cụm di tích lịch sử văn hóa Trần.
  • 11h30: Ăn trưa tại TP Nam Định.

1h30: Đoàn tiếp tục đi thăm thành phố, dạo quanh thành phố Nam Định, ghé thăm công viên Vi Xuyên nơi có tượng đài Trần Hưng Đạo, một công trình văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc – quê hương Thành Nam, tượng được đúc bằng đồng nguyên chất, đặt tại quảng trường 3 – 2 với quy mô hoành tráng. Sau đó xe đưa khách thăm quan cột cờ Nam Định, bảo tàng Nam Định.

Nghỉ đêm tại TP Nam Định.

Ngày 2:

7h00 sáng: Xe đưa đoàn ghé thăm làng trồng hoa cây cảnh Vị Khê – Nam Điền. Đến đây du khách sẽ gặp những bất ngờ hết sức thú vị khi chứng kiến những cây hoa lá tự nhiên vô tri vô giác, nhưng dưới bàn tay khéo léo của các nghệ nhân đã trở thành cá suất có hồn, đẹp mắt sống động lạ thường. Đoàn tiếp tục cuộc hành trình đến chùa Cổ Lễ.

11h30: Ăn trưa tại Nam Định.

13h30: Xe đưa quý khách hành hương về Phủ Giầy, thăm quan và làm lễ dâng hương tại đền Thượng Phủ Tiên Hương, Vân Cát, lăng mẫu Liễu Hạnh. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

17h00: Đoàn lên xe về Hải Phòng, kết thúc chuyến thăm quan đầy thú vị

2.4.6. Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch tại các điểm du lịch tại thành phố Nam Định và các huyện lân cận.

Có thể nói, Nam Định hội tụ tất cả những giá trị văn hoá đã ra đời và tồn tại qua nhiều thế kỷ, quần thể di tích lịch sử văn hoá ở Nam Định đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hoá truyền thống Việt Nam. Ngoài những di sản văn hoá vật thể, Nam Định còn có truyền thống tín ngưỡng khá phong phú cùng với đó là những hoạt động văn hoá nghệ thuật được tổ chức trong các dịp lễ hội, tạo nên những sản phẩm du lịch văn hoá độc đáo được khách du lịch trong nước và quốc tế ưa thích.

Nằm ở vị trí trung tâm Đền, chùa Trần, cột cờ Nam Định,… là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn và có sức lôi cuốn với du khách. Việc xây dựng, quản lý và khai thác các khu di tích lịch sử văn hoá tại đây đã mang lại nghĩa thiết thực trong việc phát triển du lịch địa phương. Đặc biệt hơn nữa là giáo dục cho các tầng lớp nhân dân tự hào về truyền thống đấu tranh cách mạng của đất nước.

Thực tế cho thấy du khách trong nước và quốc tế đến các di tích lịch sử văn hoá ở Nam Định ngày càng đông, nhất là mùa lễ hội, chứng tỏ được sức hấp dẫn của điểm đến này. Du lịch văn hoá và tâm linh cùng hòa quyện với nhau, nó đáp ứng nhu cầu tâm linh và mỹ cảm của con người. Trong những năm qua công tác quản lý di tích, việc bảo vệ tôn tạo và phát huy các giá trị văn hoá phục vụ khách thăm quan du lịch đã đạt được những kết quả đáng quan trọng. Bên cạnh đó việc phát huy, quảng bá những giá trị của di tích đến du khách gần xa để tạo được hiệu ứng xã hội cao, kích thích người dân tham gia vào việc bảo tồn, giữ gìn di tích.

Tuy nhiên tình trạng xâm hại lấn chiếm di tích vẫn còn diễn ra, một số di tích trải qua lớp bụi thời gian khiến cho di tích luôn bị xuống cấp, sự thiếu quan tâm của các ngành chức năng. Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích chưa chặt chẽ, xảy ra hiện tượng tự ý bổ tu di tích không tuân theo quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến việc giữ gìn yếu tố gốc và tính tâm linh của di tích. Đội ngũ làm công tác thuyết minh ở các di tích còn thiếu và yếu chưa đáp ứng được nhu cầu của du lịch. Có thể nói những yếu tố phần nào ảnh hưởng tới sức hấp dẫn của điểm đến, chất lượng sản phẩm du lịch đem bán cho khách không tạo được ấn tượng sâu sắc.

Vì vậy, nếu chỉ nhìn thấy lợi ích trước mất, chỉ coi trọng vấn đề khai thác để thu lợi nhuận thì nguồn lực nào cũng sẽ bị cạn kiệt nhanh chóng. Vấn đề đặt ra cần phải có sự đầu tư thích đáng để vừa nghiên cứu khai thác vừa có sự bảo tồn và bảo quản lâu dài nguồn di sản văn hoá quý giá của dân tộc. Có như thế mới tạo ra được các tour du lịch hấp dẫn và di tích lịch sử văn hoá trở thành những điểm thăm quan ý nghĩa với du khách khi đến Nam Định.

Tiểu kết chương 2 Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

Qua tìm hiểu, đánh giá tài nguyên du lịch của Nam Định, có thể nhận thấy Nam Định có nguồn tài nguyên du lịch đa dạng phong phú bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn có khả năng tổ chức các loại hình du lịch văn hoá, du lịch sinh thái.

Do đó, các diện tích lịch sử văn hoá trên địa bàn cả nước nói chung và Nam Định nói riêng là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn quý giá của dân tộc. Qua việc đánh giá, cảm nhận của du khách có thể thấy các diện tích lịch sử tại Nam Định hội tụ khá đầy đủ các yếu tố có thể khai thác để trở thành một địa điểm du lịch văn hoá tâm linh hấp dẫn.

Tuy nhiên việc khai thác các giá trị di sản văn hoá cho phát triển du lịch còn mang tính tự phát, chưa gắn với quy hoạch, còn nhiều bất cập, việc trùng tu, tôn tạo, bảo vệ các di tích thực hiện chậm, dẫn đến những di tích bị xuống cấp ảnh hưởng đến việc thu hút khách du lịch. Vì vậy, cần phải có các liên kết, chiến lược quy hoạch để tạo ra điểm đến hấp dẫn và phát triển bền vững. Khóa luận: Đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hoá

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537