Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của ngân hàng thương mại trong pháp luật Việt Nam cho các bạn.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, nguồn vốn là một trong các yếu tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại, phát triển và thành công của các tổ chức kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Các ngân hàng thương mại với hoạt động cho vay của mình đã hỗ trợ một phần không nhỏ để đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp. Hoạt động cho vay có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong việc hỗ trợ cho các chủ thể kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Tuy nhiên, hoạt động cho vay đang bị kìm hãm do tài sản bảo đảm cho khoản vay được các ngân hàng chấp nhận chủ yếu là bất động sản, máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông,… là các tài sản hữu hạn về mặt số lượng và ẩn chứa nhiều rủi ro bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế . Các tổ chức ngân hàng gần như “bỏ quên” quyền sở hữu trí tuệ – một loại tài sản có giá trị, đang ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của các doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế. Theo số liệu thống kê về cơ cấu tài sản theo giá trị thị trường của 500 công ty S&P, tài sản IP tăng nhanh qua từng năm, tài sản vô hình của nhóm công ty 17%, hữu hình 83%. Đến năm 2010, tài sản vô hình tăng lên 80%, trong khi tài sản hữu hình chỉ còn lại 20% và ước tính tháng 01/2015, tài sản vô hình đã tăng lên 84%, trong kho tài sản hữu hình chỉ còn lại 16%. Trong đó tại Việt Nam, theo Báo cáo Top 50 Thương hiệu hàng đầu Việt Nam về tài sản vô hình và giá trị thương hiệu năm 2017 của Brand Finance, giá trị thương hiệu trong các doanh nghiệp Việt Nam gia tăng đáng kể, lên đến hàng tỷ đô la Mỹ như Vinamilk, Vingroup, Viettel,… Nếu được chấp nhận áp dụng trong việc bảo đảm khoản vay thì các Tài sản trí tuệ sẽ góp phần rất lớn trong việc tháo gỡ vướng mắc của hoạt động cho vay và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp.
Cho vay có bảo đảm bằng quyền sở hữu trí tuệ đã xuất hiện từ lâu, được một số ngân hàng của một số nước phát triển áp dụng và đạt được hiệu quả. Đây cũng là xu hướng chung của các nước phát triển trong việc khai thác, tận dụng giá trị của Quyền sở hữu trí tuệ. Việt Nam đã có những ý tưởng về mô hình bảo đảm tiền vay này với các quy định pháp luật dân sự làm nền tảng, các bài viết, bài nghiên cứu, các cuộc hội thảo,… tuy nhiên các ngân hàng vẫn chưa đạt được nhiều kết quả khả thi với sự thiếu vắng quy định pháp luật điều chỉnh. Đề tài này cũng thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu, tuy nhiên chưa có nhiều các bài nghiên cứu chuyên sâu làm rõ về các khía cạnh trong vấn đề này hoặc các bài viết chưa có tính hệ thống, chưa đưa ra bức tranh toàn cảnh về Bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Nên cần tiếp tục nghiên cứu về mô hình này cả về lý luận, thực tiễn để làm rõ những bất cập trong các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành. Có sự tham khảo, nghiên cứu pháp luật của các nước đi trước để rút ra những định hướng giải quyết cho vấn đề của Việt Nam. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Như đã nêu ở trên, việc nhận bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ mới diễn ra trong thời gian gần đây, tại một số ngân hàng thương mại của một số nước đang phát triển. Do đó, đây vẫn còn là một vấn đề mới mẻ và phức tạp ở cả trên thế giới và Việt Nam.
Bởi vậy, số lượng các bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này còn khá hạn chế. Các nội dung được tác giả đề cập đến trong luận văn này chủ yếu được xây dựng trên cơ sở đúc rút từ kinh nghiệm làm việc thực tế và tham khảo thực tế hoạt động của các ngân hàng thương mại.
3. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, người viết muốn làm rõ cơ sở lý luận cho việc áp dụng các biện pháp Bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của ngân hàng thương mại, thực trạng pháp luật Việt Nam đối với vấn đề mới mẻ này, kinh nghiệm pháp luật của một số nước để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật. Trên cơ sở phương pháp luận, bài viết được vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp so sánh luật học, phương pháp tổng hợp.
5. Kết cấu khóa luận
Bài khóa luận có kết cấu gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Phần nội dung với kết cấu được chia làm 3 chương:
- Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về Bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của ngân hàng thương mại.
- Chương II. Pháp luật Việt Nam về Bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của ngân hàng thương mại trong pháp luật Việt Nam. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
- Chương III. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về Bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của ngân hàng thương mại.
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TÍN DỤNG BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Với nhu cầu của đời sống, sản xuất, kinh doanh, các hoạt động của một số thương gia như đổi tiền, giữ tiền hộ và thu tiền hộ,… qua thời gian và sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đã phát triển thành các nghiệp vụ ngân hàng như hiện nay và được các Ngân hàng thương mại thực hiện.
Mặc dù đã hình thành từ lâu đời, song giữa các nhà nghiên cứu, các tổ chức liên quan đến lĩnh vực ngân hàng chưa có sự thống nhất về khái niệm ngân hàng thương mại. Có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng thương mại được đưa ra tùy thuộc vào cách thức tiếp cận, điều kiện kinh tế của từng quốc gia, các nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện,… Có thể đề cập đến một số khái niệm về Ngân hàng thương mại theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới như sau:
Theo pháp luật của nước Pháp, “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”.
Theo pháp luật Mỹ, Ngân hàng thương mại được định nghĩa là “loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và thanh toán… và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”
Như vậy có thể hiểu Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, chuyên thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ bằng cách cung cấp các dịch vụ về tài chính cho khách hàng là tổ chức, cá nhân như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán và các dịch vụ tài chính khác. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Trong đó nguồn tiền để thực hiện việc cung cấp các dịch vụ này đến từ sự luân chuyển nguồn tiền của khách hàng gửi tiền. Cụ thể: nguồn tiền có được từ hoạt động nhận tiền gửi sẽ trở thành nguồn vốn của hoạt động cho vay, thanh toán và các hoạt động khác. Ngược lại, khoản lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ các hoạt động trên sẽ được dùng một phần để chi trả tiền lãi cho người gửi tiền.
Sự phát triển của kinh tế, xã hội và đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển, các hoạt động của ngân hàng thương mại ngày càng phong phú, đa dạng. Ngoài các hoạt động ngân hàng truyền thống như nhận tiền gửi, cho vay thì các hoạt động ngân hàng mới được ra đời, áp dụng ngày càng phổ biến như thư tín dụng (L/C), chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán,… Các hoạt động ngân hàng vừa là động lực thúc đẩy ngân hàng phát triển, đồng thời là mục tiêu mà các ngân hàng hướng đến vì mục tiêu lợi nhuận và lợi ích khách hàng. Trong đó, hoạt động cấp tín dụng mà cụ thể là hoạt động cho vay có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của ngân hàng.
1.1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Trong số các nghiệp vụ cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại, cho vay là nghiệp vụ cấp tín dụng truyền thống, có ý nghĩa sống còn đối với các Ngân hàng thương mại và được các Ngân hàng thương mại hết sức chú trọng.
Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó Ngân hàng thương mại giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Xét về bản chất pháp lý, hoạt động cho vay là một hợp đồng, hay hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa bên vay và bên cho vay đối với một khoản tiền vay nhất định, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng thương mại và khách hàng mang bản chất là hợp đồng vay tài sản theo pháp luật dân sự, tuy nhiên hợp đồng tín dụng mang những đặc thù về chủ thể tham gia, đối tượng của hợp đồng và nguyên tắc hoàn trả:
Chủ thể: Trong hợp đồng vay tài sản, chủ thể của hợp đồng – bên vay và bên cho vay, là cá nhân, pháp nhân bất kỳ đáp ứng đủ năng lực chủ thể và điều kiện cho vay, trong đó một bên chủ thể có (có quyền sở hữu hoặc được trao quyền cho vay đối với tài sản) tài sản và một bên chủ thể có nhu cầu vay tài sản. Còn trong hợp đồng tín dụng, một bên chủ thể tham gia quan hệ, với vai trò là bên cho vay bắt buộc là Ngân hàng thương mại được nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ cho vay. Bên vay có thể là cá nhân, pháp nhân đáp ứng được các điều kiện cho vay như: mục đích sử dụng tiền vay, tính khả thi và hiệu quả của dự án, năng lực tài chính của bên vay tiền,… Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Đối tượng: Đối tượng của hợp đồng vay tài sản là các loại tài sản theo quy định của luật. Còn đối tượng của hợp đồng tín dụng là một loại tài sản đặc biệt tiền tệ.
Nguyên tắc hoàn trả: Nếu như trong hợp đồng vay tài sản, ngoài việc trả lại tài sản theo đúng số lượng, chất lượng thì việc trả lãi là do các bên thỏa thuận, không mang tính bắt bắt buộc thì trong hợp đồng tín dụng sẽ đặt ra yêu cầu trả đầy đủ gốc và lãi.
Cho vay là một hoạt động kinh doanh tiền tệ có tính rủi ro cao. Tính rủi ro này do nhiều yếu tố tạo nên, trong đó tiền tệ – đối tượng của hợp đồng tín dụng, là một yếu tố then chốt tạo ra tính chất rủi ro. Nguồn tiền mà Ngân hàng thương mại sử dụng để cho khách hàng vay có nguồn gốc là tiền có được từ hoạt động huy động vốn của khách hàng. Nên trong trường hợp bên vay không không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ, đúng hạn theo thỏa thuận thì Ngân hàng thương mại có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả. Đây là tình trạng rất nguy hiểm đối với một một Ngân hàng thương mại nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung. Bởi khi đó Ngân hàng thương mại phải đứng trước nguy cơ phá sản. Việc phá sản ngân hàng gây ra những tác động tiêu cực đến nhiều đối tượng, đó là quyền lợi của người gửi tiền, sự an toàn của toàn bộ hệ thống ngân hàng và sự phát triển ổn định của cả nền kinh tế.
Để phòng ngừa, giảm thiểu những rủi ro này, nhà nước và các ngân hàng thương mại đã áp dụng nhiều biện pháp hạn chế rủi ro khác nhau như: Các quy định nhà nước về các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng (hệ số an toàn vốn tối thiểu– CAR, giới hạn tín dụng, giới hạn góp vốn, mua cổ phần, kinh doanh bất động sản và chứng khoả; tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động; trích lập dự phòng rủi ro,… ) và biện pháp hạn chế rủi ro do tổ chức tín dụng và khách hàng tự thỏa thuận, trong đó có biện pháp bảo đảm tiền vay.
1.2. Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động cho vay trong ngân hàng thương mại Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
1.2.1. Quyền sở hữu trí tuệ – Đối tượng của biện pháp bảo đảm tiền vay
1.2.1.1. Khái niệm Quyền sở hữu trí tuệ
Hiện nay không có một khái niệm thống nhất về Quyền sở hữu trí tuệ, mà tùy theo cách tiếp cận khác nhau về Quyền sở hữu trí tuệ sẽ có khái niệm khác nhau. Cụ thể:
Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, là một tổ chức quốc tế có mục đích hỗ trợ nhằm đảm bảo quyền của người phát minh và chủ sở hữu Tài sản trí tuệ được bảo hộ trên toàn thế giới, thúc đẩy sở hữu trí tuệ và pháp luật về sở hữu trí tuệ phát triển, thì “Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền liên quan tới các tác phẩm khoa học, nghệ thuật và văn học; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người; các phát minh khoa học; các kiểu dáng công nghiệp; các nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh và tất cả các quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật”.
Theo Hiệp định các khía cạnh thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ (TRIPs), tiếp cận Quyền sở hữu trí tuệ dưới góc độ kinh tế, thương mại thì Quyền sở hữu trí tuệ là quyền được trao cho người tạo ra thành quả sáng tạo bởi trí tuệ của họ, Quyền sở hữu trí tuệ trao cho người sáng tạo một độc quyền trong việc sử dụng sáng tạo của họ trong một khoảng thời gian nhất định. Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm 2 mảng chính là quyền tác giả và quyền liên quan; sở hữu công nghiệp.
Như vậy, có thể hiểu Quyền sở hữu trí tuệ là các quyền của chủ thể đối với tài sản vô hình là thành quả của sự lao động trí óc, được nhà nước thừa nhận.
Đối tượng của Quyền sở hữu trí tuệ là Tài sản trí tuệ. Tài sản trí tuệ được đề cập đến là sự sáng tạo của trí tuệ như: tác phẩm văn học, nghệ thuật, sáng chế, thiết kế công nghiệp, tên gọi, biểu tượng và hình ảnh được sử dụng trong thương mại,… và được chia làm ba nhóm:
- Sở hữu công nghiệp bao gồm bằng độc quyền sáng chế, tên thương mại, thiết kế công nghiệp, chỉ dẫn địa lý,…
- Quyền tác giả (bản quyền) bao gồm các tác phẩm văn học (như tiểu thuyết, thơ, kịch), tác phẩm điện ảnh, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm nghệ thuật (tranh, ảnh và các tác phẩm điêu khắc) và thiết kế kiến trúc. Quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm các tác phẩm của nghệ sỹ biểu diễn (cuộc biểu diễn), bản ghi âm, ghi hình.
- Quyền đối với giống cây trồng.
Quyền sở hữu trí tuệ được chia làm hai nhóm quyền: quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân là những quyền thuộc về riêng cá nhân tác giả (người trực tiếp sáng tạo ra Tài sản trí tuệ), không thể chuyển giao cho bất kì ai dưới bất kì hình thức nào, ngay cả trong trường hợp tác giả không còn. Quyền tài sản là quyền được hưởng những lợi ích vật chất phát sinh từ Tài sản trí tuệ. Tùy thuộc vào pháp luật của từng quốc gia và từng đối tượng của Quyền sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân và quyền tài sản được pháp luật ghi nhận khác nhau.
1.2.1.2. Đặc điểm Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
- Tính vô hình: Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của chủ thể đối với Tài sản trí tuệ, là một tài sản vô hình, không thể nhận thức được thông qua các giác quan mà chỉ nhận thức được bằng lý trí. Do đó, Quyền sở hữu trí tuệ cũng mang tính chất vô hình.
- Quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ có giới hạn. Quyền sở hữu trí tuệ chỉ được bảo hộ trong phạm vi không gian và thời gian nhất định:
- Phạm vi bảo hộ theo không gian (hay Tính chất lãnh thổ): Quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật quốc gia nào công nhận thì có hiệu lực và được bảo vệ trong phạm vi quốc gia đó. Tuy nhiên trong một thế giới toàn cầu hóa, hợp tác phát triển thế giới ngày càng mạnh mẽ thì giới hạn về lãnh thổ được bảo hộ gần như xóa nhòa nhờ vào việc đăng ký quốc tế.
- Phạm vi bảo hộ theo thời gian: Quyền sở hữu trí tuệ chỉ được bảo hộ trong thời gian nhất định theo quy định của pháp luật quốc gia. Hết thời hạn bảo hộ, Quyền sở hữu trí tuệ sẽ thuộc về công chúng, mọi người đều có quyền sử dụng.
Tính độc quyền: Quyền sở hữu trí tuệ trao cho chủ sở hữu Tài sản trí tuệ quyền độc quyền trong việc cho người khác sử dụng hay không sử dụng Tài sản trí tuệ của mình. Tính độc quyền này cũng được thể hiện trong việc ngăn chặn người khác xâm phạm đến của mình.
1.2.1.3. Các quyền năng của chủ sở hữu Quyền sở hữu trí tuệ
Chủ sở hữu đối với Tài sản trí tuệ là người có các quyền đối với Tài sản trí tuệ, là chủ thể đã bỏ thời gian, tài chính của mình để tác giả có được tài sản, theo hợp đồng lao động, hợp đồng thuê, hoặc chính là tác giả nếu họ đồng thời bỏ tài chính ra để tạo ra tài sản. Chủ sở hữu là người nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận chuyển giao Quyền sở hữu trí tuệ từ chủ thể khác. Do đó, họ có các quyền năng của một chủ sở hữu đối với tài sản của mình.
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu đối với các Tài sản trí tuệ. Quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Quyền chiếm hữu Tài sản trí tuệ được thể hiện rất mờ nhạt và trong một số trường hợp nhất định là không có ý nghĩa. Đối với quyền sử dụng, tùy thuộc vào từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ mà việc sử dụng được thể hiện khác nhau. Quyền định đoạt đối với Tài sản trí tuệ được thể hiện gần giống như quyền định đoạt tài sản hữu hình.
Quyền sử dụng Tài sản trí tuệ là quyền của chủ sở hữu được sử dụng và hưởng lợi tức từ Tài sản trí tuệ. Chủ sở hữu Tài sản trí tuệ có thể thực hiện quyền sử dụng của mình thông qua các phương thức sử dụng Tài sản trí tuệ khác nhau như: tự mình trực tiếp khai thác, sử dụng Tài sản trí tuệ hoặc cho phép người khác khai thác, sử dụng Tài sản trí tuệ để đổi lại những khoản lợi tức nhất định thông qua việc cho thuê, license, chuyển giao công nghệ,…
Quyền định đoạt Tài sản trí tuệ là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu Tài sản trí tuệ cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu Tài sản trí tuệ của mình. Việc từ bỏ quyền sở hữu đối với Tài sản trí tuệ của mình được thực hiện bằng việc tuyên bố từ bỏ Quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ trong thời gian bảo hộ.Việc chuyển giao quyền sở hữu Tài sản trí tuệ cho người khác diễn ra phổ biến dưới các hình thức như chuyển nhượng, góp vốn bằng Quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng Tài sản trí tuệ để bảo đảm tiền vay,… Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Như vậy, các chủ sở hữu có đầy đủ các quyền của chủ sở hữu đối với Tài sản trí tuệ, bao gồm quyền dùng Quyền sở hữu trí tuệ của mình để bảo đảm cho các khoản vay với các ngân hàng thương mại.
1.2.1.4. Điều kiện để Quyền sở hữu trí tuệ trở thành tài sản bảo đảm
- Quyền sở hữu trí tuệ thuộc sở hữu của bên bảo đảm.
Việc chứng minh Quyền sở hữu trí tuệ của một chủ thể được thể hiện qua một số giấy tờ pháp lý liên quan đến Quyền sở hữu trí tuệ. Tùy thuộc vào đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ và việc chủ thể có Quyền sở hữu trí tuệ thông qua cách thức nào mà sẽ có những giấy tờ pháp lý thể hiện tương ứng.
- Quyền sở hữu trí tuệ phải còn trong thời hạn bảo hộ.
Điều kiện này của Quyền sở hữu trí tuệ là nhằm bảo đảm điều kiện đầu tiên của Quyền sở hữu trí tuệ. Bởi Quyền sở hữu trí tuệ là một quyền sở hữu có thời hạn, thời hạn bảo hộ do pháp luật quy định. Hết thời hạn bảo hộ, các đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ sẽ không còn là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm, mà thuộc quyền sở hữu của công chúng, mọi người đều có quyền sử dụng, khai thác đối với Tài sản trí tuệ đó mà không cần phải xin phép hoặc bị người khác cản trở, thậm chí cả người đã sáng tạo ra Tài sản trí tuệ. Do đó, một Quyền sở hữu trí tuệ chỉ được sử dụng làm tài sản bảo đảm khi thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, tức là còn thời hạn bảo hộ. Việc còn thời hạn bảo hộ cũng nhằm bảo đảm giá trị của Quyền sở hữu trí tuệ.
- Quyền sở hữu trí tuệ không phải là đối tượng của một tranh chấp bất kỳ
Khi một Quyền sở hữu trí tuệ là đối tượng của một tranh chấp, tranh chấp có thể là tranh chấp quyền sở hữu, tranh chấp liên quan đến hành vi xâm phạm quyền và bồi thường thiệt hại, thì một phán quyết được đưa ra có thể bất lợi cho bên bảo đảm, đồng thời đẩy tỷ lệ rủi ro của Ngân hàng thương mại lên cao. Do đó, để giảm thiểu rủi ro cho Ngân hàng thương mại, yêu cầu này đối với Quyền sở hữu trí tuệ là phù hợp.
1.2.2. Khái quát về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
1.2.2.1. Khái niệm biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại mang bản chất là hợp đồng vay tài sản. Nên biện pháp bảo đảm tiền vay cũng mang bản chất là các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Biện pháp bảo đảm là công cụ hữu hiệu nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm của bên có nghĩa vụ, vừa bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền. Trong giao lưu dân sự, đặc biệt là trong quan hệ kinh doanh – thương mại, biện pháp bảo đảm có vai trò rất quan trọng. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới (Civil Law và Common Law) có những cách tiếp cận khác nhau về giao dịch bảo đảm, dựa trên truyền thống lịch sử pháp luật, đó là tiếp cận theo hình thức hoặc chức năng.
Các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law như Pháp, Đức, Nhật Bản, Thái Lan,… tiếp cận theo hướng hình thức, tức là quan tâm đến việc phân biệt các biện pháp đảm bảo và đưa ra từng khái niệm riêng cho từng loại biện pháp bảo đảm mà không có một khái niệm chung. Do đó, giao dịch bảo đảm trong pháp luật của các nước theo hệ thống pháp luật này, được định nghĩa theo hướng liệt kê, bao gồm các biện pháp bảo đảm như: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh,…
Trong khi đó, các nước trong hệ thống pháp luật Common Law, tiêu biểu là Anh, Hoa Kỳ, Canada,.. tiếp cận giao dịch bảo đảm theo hướng chức năng – hướng đến một lợi ích bảo đảm. Theo đó, giao dịch bảo đảm là một hợp đồng xác lập lợi ích bảo đảm. Một lợi ích bảo đảm cung cấp cho bên nhận bảo đảm với sự đảm bảo rằng nếu bên bảo đảm không trả được nợ, người đó có thể được hoàn lại giá trị của khoản vay bằng cách sở hữu tài sản bảo đảm cụ thể (với tư cách là chủ nợ có bảo đảm), thay vì chỉ nhận một phần tài sản của người vay sau khi tài sản đó được chia trong số tất cả các chủ nợ. Các biện pháp bảo đảm cụ thể bao gồm: Bảo lãnh, cầm cố, thế chấp. Ngoài ra một biện pháp bảo đảm khác phổ biến trong hệ thống pháp luật Common Law, trong đó bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm thỏa thuận với nhau về việc bên bảo đảm trao cho bên nhận bảo đảm một quyền hoặc lợi ích trên tài sản của mình, lợi ích hoặc quyền đó được gọi là “đặc quyền”.
Như vậy hiện nay không có một khái niệm chung dùng cho biện pháp bảo đảm, pháp luật mỗi quốc gia đều có một khái niệm riêng về biện pháp bảo đảm. Tuy nhiên, qua phân tích trên thì có thể hiểu, biện pháp bảo đảm là một giao dịch hoặc biện pháp thiết lập một lợi ích bảo đảm hoặc một đặc quyền cho bên có quyền, nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Vậy biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng là sự thỏa thuận giữa ngân hàng thương mại và khách hàng về việc thiết lập một lợi ích bảo đảm hoặc một đặc quyền cho ngân hàng, nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng.
1.2.2.2. Đặc điểm
Biện pháp bảo đảm tiền vay mang mang bản chất là một giao dịch, do vậy, bao gồm các đặc điểm cơ bản của một giao dịch nói chung. Đồng thời, biện pháp bảo đảm tiền vay vẫn mang những đặc điểm riêng, giúp phân biệt giao dịch bảo đảm với các loại giao dịch khác, cụ thể: Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Biện pháp bảo đảm là sự thỏa thuận xác lập đặc quyền hoặc lợi ích đối với tài sản thuộc sở hữu của người vay (hoặc bên thứ ba) hoặc một cam kết thực hiện nghĩa vụ thay thế của người thứ ba cho ngân hàng.
Xuất phát từ mục đích của biện pháp bảo đảm tiền vay là nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người vay, một lợi ích hoặc đặc quyền sẽ được thiết lập trên tài sản thuộc sở hữu của người vay cho ngân hàng. Theo đó, ngân hàng có quyền truy đòi tài sản hoặc kiểm soát lưu thông và quyền ưu tiên thanh toán so với các chủ nợ không có tài sản bảo đảm khác khi xử lý tài sản bảo đảm.
Biện pháp bảo đảm tiền vay là giao dịch phụ bên cạnh giao dịch chính là giao dịch cho vay giữa ngân hàng và người vay
Biện pháp bảo đảm tiền vay là nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người vay khi đến hạn thực hiện, do đó, một trong các căn cứ phát sinh biện pháp bảo đảm là giao dịch cho vay, nội dung của biện pháp bảo đảm (thời hạn bảo đảm, nội dung, hiệu lực của giao dịch bảo đảm) phải phù hợp với giao dịch cho vay, nghĩa vụ trả nợ chấm dứt cũng làm chấm dứt nghĩa vụ bảo đảm.
Khi nghĩa vụ được bảo đảm (giao dịch được bảo đảm) vô hiệu, hủy bỏ, đơn phương chấm dứt thì nghĩa vụ bảo đảm (biện pháp bảo đảm) cũng không phát sinh hiệu lực. Trong trường hợp giao dịch được bảo đảm vô hiệu, bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt và các bên chưa thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của mình thì biện pháp bảo đảm đương nhiên chấm dứt. Tuy nhiên, nếu các bên đã thực hiện một phần giao dịch được bảo đảm thì biện pháp bảo không bị chấm dứt mà tồn tại cho đến khi các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Biện pháp bảo đảm tiền vay được xác lập dựa trên sự thỏa thuận của hai bên và trên cơ sở pháp luật.
Biện pháp bảo đảm tiền vay là một dạng của giao dịch dân sự, do đó, nó tuân theo các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự là tự do, tự nguyện thỏa thuận. Theo đó các bên trong giao dịch bảo đảm được tự do thỏa thuận để xác lập quyền và nghĩa vụ của mình. Nếu có sự đe dọa, cưỡng ép, lừa dối của một hoặc hai bên thì giao dịch bảo đảm có thể bị tuyên bố vô hiệu.
Mục đích của việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay là nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro cho ngân hàng .
Hoạt động cho vay của ngân hàng là một hoạt động mang nhiều rủi ro, rủi ro thường xuất hiện từ phía người vay và gây thiệt hại cho phía ngân hàng khi người vay không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Do đó, để nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng theo thỏa thuận, hạn chế sự tùy tiện, không tự giác thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người vay, biện pháp bảo đảm tiền vay đã được ra đời để phòng ngừa rủi ro.
Đồng thời, với một đặc quyền hoặc lợi ích trên tài sản bảo đảm, ngân hàng có thể thu hồi được khoản tiền cho vay từ chính giá trị của tài sản bảo đảm. Hay nói cách khác, biện pháp bảo đảm tiền vay tạo cơ sở kinh tế, pháp lý để ngân hàng thu hồi số tiền vay, hạn chế rủi ro khi người vay không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
1.2.3. Biện pháp bảo đảm Quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
1.2.3.1. Các biện pháp bảo đảm cụ thể:
- Bảo lãnh:
Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm có sự tham gia của bên thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết việc thực hiện nghĩa vụ đối với ngân hàng (bên nhận bảo lãnh) thay cho người vay (bên được bảo lãnh) trong trường hợp người vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo thỏa thuận).
Đối tượng của biện pháp bảo lãnh là cam kết trả nợ của bên bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh. Cam kết này có thể đơn thuần dựa trên uy tín của bên bảo lãnh hoặc một sự cam kết được bảo đảm bằng tài sản của bên bảo lãnh. Trong bảo lãnh đơn thuần, bên nhận bảo lãnh tin tưởng vào uy tín, khả năng thực hiện cam kết của bên bảo lãnh. Nên tài sản của bên bảo lãnh nói chung, Quyền sở hữu trí tuệ của bên bảo lãnh nói riêng không có ý nghĩa trong biện pháp bảo lãnh. Đối với bảo lãnh bằng tài sản, ngân hàng chưa thực sự tin tưởng vào uy tín và một cam kết đơn thuần của bên bảo lãnh mà cần một sự chắc chắn hơn nữa bằng tài sản của bên bảo lãnh. Bên cho vay yêu cầu bên bảo lãnh sử dụng tài sản của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh của mình. Biện pháp bảo lãnh bằng tài sản của bên bảo lãnh thực chất là biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ của người khác hay nói cách khác là biện pháp cầm cố, thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba.
- Cầm cố tài sản:
Cầm cố là biện pháp bảo đảm bằng việc người vay giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên ngân hàng nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Phương thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong biện pháp cầm cố là hạn chế quyền định đoạt tài sản của người vay, đồng thời xác lập một đặc quyền lên tài sản cầm cố cho phía ngân hàng, bằng việc giao tài sản cầm cố cho phía ngân hàng chiếm giữ, quản lý.
Tuy nhiên, tùy theo pháp luật của từng quốc gia mà biện pháp bảo đảm cầm cố tài sản có những đặc trưng riêng và có khả năng áp dụng đối với tài sản bảo đảm là Quyền sở hữu trí tuệ.
Điều 2071 Bộ luật dân sự Pháp quy định: “Cầm cố là một hợp đồng theo đó người có nghĩa vụ trao cho người có quyền một vật nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ”. Với quy định này nước Pháp đã cho phép mọi loại tài sản là tài sản cầm cố, không kể là tài sản hữu hình hay vô hình, động sản hay bất động sản. Ngoài ra, đối với quyền tài sản, nước Pháp coi việc “trao” loại tài sản này của bên có nghĩa vụ cho bên có quyền là việc trao các giấy tờ sở hữu của tài sản. Do đó, pháp luật Pháp cho phép cầm cố Quyền sở hữu trí tuệ. Một số quốc gia khác cũng có quy định tương tự Pháp như: Áo, Bỉ, Cộng hòa Séc, Đức, Italy, Hà Lan, Ba Lan,…
Trong khi đó, pháp luật của một số quốc gia như Mỹ, Anh và xứ Wales, Ireland, Slovakia, Tây Ban Nha,… yêu cầu đối với biện pháp cầm cố tài sản là chuyển giao tài sản về mặt vật lý cho bên có quyền. Do đó, tài sản cầm cố phải là tài sản hữu hình, một tài sản vô hình như Quyền sở hữu trí tuệ, không thể cầm nắm, chuyển giao trực tiếp được thì không thể là đối tượng của biện pháp cầm cố tài sản. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
- Thế chấp tài sản:
Thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo đó bên thế chấp dùng tài sản (là bất động sản hoặc động sản tùy pháp luật từng quốc gia ghi nhận) thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tài sản thế chấp không có sự chuyển giao tài sản mà do bên thế chấp tiếp tục sở nắm giữ, sử dụng và định đoạt trong một số trường hợp. Khi bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình đi thế chấp, bên nhận thế chấp đã xác lập một vật quyền lên tài sản, do đó bên nhận thế chấp có quyền ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản và quyền theo đuổi bất kể tài sản do ai nắm giữ.
Các hệ thống pháp luật khác nhau (Common Law và Civil Law) và các quốc gia khác nhau trong cùng một hệ thống pháp luật cũng có những cách tiếp cận khác nhau đối với biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản, đó là yêu cầu đối với tài sản thế chấp…
Theo pháp luật của một số nước theo hệ thống pháp luật Civil Law như Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, bang Louisiana (Hoa Kỳ) – có truyền thống pháp luật đặc biệt nghiêng về Civil Law,… thế chấp là một quyền tài sản đối với bất động sản được sử dụng đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ, do đó, biện pháp thế chấp không áp dụng đối với loại tài sản là Quyền sở hữu trí tuệ.
Điều 2118 Bộ luật dân sự Pháp quy định:
“Chỉ có thể đem thế chấp:
- Những bất động sản trong thương mại và những vật phụ của bất động sản được coi là bất động sản;
- Quyền hưởng hoa lợi trên một tài sản và những vật phụ trong thời gian có quyền hưởng hoa lợi.”
Trong khi một số quốc gia khác đi theo hệ thống pháp luật Civil Law như Thái Lan, Tây Ban Nha, Trung Quốc và trong đó có Việt Nam không hạn chế phạm vi tài sản áp dụng đối với biện pháp thế chấp, theo đó Quyền sở hữu trí tuệ là một động sản vô hình, không thể chuyển giao về mặt vật chất là phù hợp để làm tài sản thế chấp.
Điều 702 Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan quy định:
“Hợp đồng thế chấp là hợp đồng qua đó, một người gọi là người thế chấp nhượng một tài sản cho một người khác, gọi là người nhận thế chấp như một bảo đảm, để thi hành một nghĩa vụ, nhưng không giao tài sản đó cho người nhận thế chấp.
Người nhận thế chấp có quyền được trả tiền đối với tài sản thế chấp ưu tiên trước những chủ nợ thường, bất luận là quyền sở hữu đối với tài sản đó đã được chuyển nhượng cho một người thứ ba hay chưa”.
Các quốc gia theo hệ thống pháp luật Common Law như: Mỹ, Anh và xứ Wales, Ireland, Hungary, Slovakia,… và một số nước theo hệ thống Civil Law như Tây Ban Nha không quy định bắt buộc tài sản thế chấp là bất động sản, nên quy định cho phép sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ là tài sản thế chấp. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
- Đặc quyền:
Trong pháp luật Anh-Mỹ tồn tại khái niệm đặc quyền “charge” (luật của Anh) hoặc “lien” (luật của Mỹ). “Đặc quyền là một quyền hoặc lợi ích pháp lý mà chủ nợ có được trên một tài sản của một người khác tồn tại cho đến khi nghĩa vụ được bảo đảm bởi đặc quyền này được hoàn thành”. Đặc quyền bao gồm đặc quyền chấp hữu, hay đặc quyền đặc định (quyền cầm giữ tài sản) “artisan’s lien” và đặc quyền không chấp hữu, hay đặc quyền thả nổi (đặc quyền không cầm giữ tài sản) “mechanic’s liens”.
Đặc quyền đặc định là đặc quyền được thiết lập trên một tài sản được đặc định hóa như đất đai, nhà cửa, máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông,… Do đó chủ sở hữu tài sản bị hạn chế quyền tự do định đoạt tài sản trong kinh doanh cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ của mình.
Đặc quyền thả nổi là đặc quyền được thiết lập trên một hoặc một tập hợp tài sản không được đặc định hóa, có thể thay đổi theo thời gian như: hàng hóa lưu chuyển trong kinh doanh, hàng tồn kho,…. Bên có nghĩa vụ không bị hạn chế quyền định đoạt đối với tài sản mà có thể tự do giao dịch đối với tài sản, tuy nhiên phải bảo đảm luôn có tài sản bảo đảm và tài sản bảo đảm phải có giá trị.
Đặc quyền có thể phát sinh theo thỏa thuận của các bên hoặc được quy định bởi pháp luật. Đặc quyền được thiết lập trên một tài sản hoặc một tập hợp tài sản, đặc định hoặc không đặc định, không phân biệt là động sản hay bất động sản. Như vậy, khi xác lập các hợp đồng tín dụng, ngân hàng và bên vay có thể thỏa thuận xác lập một đặc quyền lên Quyền sở hữu trí tuệ của bên vay.
Như vậy, qua việc tìm hiểu quy định về biện pháp bảo đảm của một số quốc gia, đối chiếu đặc trưng của từng biện pháp bảo đảm cụ thể với đặc điểm của Quyền sở hữu trí tuệ, ta thấy rằng các biện pháp bảo lãnh không phù hợp để áp dụng khi muốn dùng Quyền sở hữu trí tuệ để bảo đảm cho khoản vay. Đối với biện pháp cầm cố, thế chấp, tùy thuộc quy định pháp luật của từng quốc gia đối với đặc trưng của biện pháp bảo đảm và tài sản bảo đảm mà có cho phép hoặc không cho phép áp dụng biện pháp cầm cố, thế chấp đối với Quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, các nước theo hệ thống pháp luật Common Law với chế định “đặc quyền” trên tài sản bảo đảm, có thể thỏa thuận xác lập một đặc quyền trên Quyền sở hữu trí tuệ tuệ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
1.2.3.2. Đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ và quyền ưu tiên
Giao dịch bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ là sự thỏa thuận giữa ngân hàng và người vay về việc xác lập một quyền hoặc lợi ích bảo đảm đối với Quyền sở hữu trí tuệ của bên vay cho ngân hàng, do đó, giao dịch chỉ làm phát sinh hiệu lực đối với hai bên chủ thể của giao dịch. Để giao dịch có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba, thông tin về giao dịch bảo đảm cần được công khai hóa. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Công khai hóa giao dịch bảo đảm được thực hiện dưới nhiều hình thức như đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền, hoặc chiếm hữu trực tiếp tài sản bảo đảm. Việc áp dụng hình thức công khai thông tin nào phụ thuộc vào pháp luật của từng quốc gia và loại giao dịch bảo đảm cần công khai. Đối với biện pháp thế chấp tài sản và thỏa thuận xác lập “đặc quyền”, bởi khi mà áp dụng các biện pháp bảo đảm này, phía ngân hàng không cầm giữ và quản lý trực tiếp tài sản bảo đảm nên một thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm là cần thiết để công khai hóa thông tin cho bên thứ ba biết. Còn trường hợp cầm cố, việc nắm giữ và kiểm soát tài sản cầm cố đã trực tiếp công khai hóa thông tin và xác lập cho ngân hàng quyền ưu tiên thanh toán đầu tiên khi xử lý tài sản bảo đảm.
Như vậy việc đăng ký giao dịch bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa rất lớn đối với các bên trong giao dịch bảo đảm và bên thứ ba, đặc biệt là phía ngân hàng. Với việc đăng ký giao dịch bảo đảm, quyền lợi của các bên được công khai hóa, mọi người (đặc biệt là chủ thể có dự định giao kết hợp đồng liên quan đến Quyền sở hữu trí tuệ) có thể tiếp cận và nắm được tình trạng pháp lý của Quyền sở hữu trí tuệ, để đưa ra những quyết định phù hợp. Đồng thời, đăng ký giao dịch bảo đảm xác lập thứ tự ưu tiên thanh toán cho bên ngân hàng trong trường hợp một tài sản được dùng để thực hiện nhiều nghĩa vụ.
Trong trường hợp một tài sản được dùng để thực hiện nhiều nghĩa vụ, thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo hình thức công khai hóa giao dịch bảo đảm và thời gian đăng ký. Do đó, chủ nợ có bảo đảm được quyền ưu tiên thanh toán trước các chủ nợ không có bảo đảm; trong trường hợp có nhiều chủ nợ có bảo đảm thì thứ tự ưu tiên phụ thuộc vào thời gian đăng ký giao dịch bảo đảm, chủ nợ đăng ký giao dịch bảo đảm trước được ưu tiên thanh toán trước chủ nợ đăng ký sau.
Tuy nhiên, tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia mà việc đăng ký giao dịch bảo đảm không phải là điều bắt buộc, trong đó pháp luật Đức, Nhật Bản không bắt buộc đăng ký; còn pháp luật Pháp yêu cầu bắt buộc đăng ký giao dịch bảo đảm. Ngoài ra, tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia mà việc đăng ký giao dịch bảo đảm làm phát sinh một trong hai loại hiệu lực sau đây:
- Đăng ký giao dịch bảo đảm là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực, tức là điều kiện để xác lập quyền. (pháp luật Đức)
- Đăng ký giao dịch bảo đảm là điều kiện để vật quyền hay giao dịch bảo đảm có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba. (pháp luật Pháp, Nhật Bản,…)
1.2.3.3. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong thời hạn bảo đảm
- Đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ việc sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ
Trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ, tùy theo pháp luật của từng quốc gia mà ngân hàng và bên bảo đảm có những quyền và nghĩa vụ nhất định đối với tài sản bảo đảm và đối với bên còn lại. Tuy nhiên, với đặc điểm chung của các biện pháp bảo đảm là xác lập cho bên ngân hàng một quyền hoặc một lợi ích bảo đảm đối với Quyền sở hữu trí tuệ, thì bên ngân hàng thường có quyền kiểm soát lưu thông đối với Quyền sở hữu trí tuệ của bên bảo đảm, hay nói cách khác là quyền hạn chế quyền định đoạt tài sản của bên bảo đảm. Bên bảo đảm được giữ lại quyền sử dụng đối với tài sản bảo đảm. Theo đó, bên bảo đảm không được chuyển nhượng, trao đổi, tặng cho, góp vốn bằng tài sản bảo đảm nếu không được sự đồng ý của phía ngân hàng, nhưng được quyền trực tiếp khai thác Quyền sở hữu trí tuệ hoặc cho phép người khác, sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ. Việc cho phép người khác khai thác, sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ mang lại một khoản tiền, hay còn gọi là lợi tức. Vậy một vấn đề đặt ra là khoản lợi tức thu được từ tài sản bảo đảm trong thời hạn bảo đảm sẽ thuộc sở hữu của ai?
Đối với các loại tài sản bảo đảm là tài sản hữu hình thì hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm trong quá trình thực hiện biện pháp bảo đảm thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Điều này dựa trên nguyên tắc của các biện pháp bảo đảm chỉ làm hạn chế quyền định đoạt tài sản của bên bảo đảm, quyền sử dụng không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên đối với Quyền sở hữu trí tuệ – một loại tài sản vô hình, giá trị của tài sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan, không nằm trong tầm kiểm soát của chủ sở hữu tài sản, thì rủi ro của bên ngân hàng bị đẩy lên cao hơn. Do đó, để hạn chế rủi ro cho ngân hàng thì các khoản hoa lợi, lợi tức thu được từ việc cấp phép sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ thường được tự động gắn liền với lợi ích bảo đảm. Theo quy định tại § 9-203(f) của Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ về giao dịch bảo đảm (2010), nguyên tắc đính kèm một lợi ích bảo đảm trên tài sản bảo đảm đã trao cho bên được bảo đảm quyền đối với lợi tức thu được, tức là lợi tức thu được tài sản sản bảo đảm cũng nằm trong phạm vi bảo đảm. Điều 80 Luật bảo đảm của Trung Quốc (China’s Security Law) cũng có quy định tương tự: Trong trường hợp bên ngân hàng đồng ý chuyển nhượng hoặc cấp giấy phép về Quyền sở hữu trí tuệ, phí chuyển nhượng hoặc phí cấp giấy phép mà bên bảo đảm thu được sẽ được sử dụng để trả nợ, hoặc sẽ bị thu hồi và giao cho bên thứ ba quản lý theo thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố.
Như vậy ngân hàng và bên bảo đảm có thể thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm về việc lợi ích thu được từ việc cấp phép Quyền sở hữu trí tuệ sẽ được sử dụng để trực tiếp thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
- Trách nhiệm đối với rủi ro về Quyền sở hữu trí tuệ:
Quyền sở hữu trí tuệ với đối tượng là Tài sản trí tuệ luôn ẩn chứa nhiều rủi ro. Rủi ro đến từ nhiều nguyên khác nhau như nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan. Việc sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm cho khoản vay chỉ có ý nghĩa và thành công khi các bên nhận diện được các rủi ro và có những biện pháp để hạn chế và kiểm soát rủi ro. Các rủi ro cụ thể, bao gồm:
- Rủi ro về giá trị Quyền sở hữu trí tuệ.
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản ngày càng có giá trị, xong giá trị của nó lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, một phần nằm trong tầm kiểm soát của chủ sở hữu như: sự cải tiến và đổi mới Tài sản trí tuệ, các hoạt động nhằm nâng cao giá trị Quyền sở hữu trí tuệ,… và yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của chủ sở hữu như nhu cầu của thị trường, các sản phẩm tương tự có khả năng thay thế, khả năng bị xâm phạm Quyền sở hữu trí tuệ,…
Trong thời gian bảo đảm, rủi ro về giảm sút giá trị, thậm chí là mất giá trị của Quyền sở hữu trí tuệ là có khả năng xảy ra. Một ví dụ điển hình của rủi ro về giá trị Quyền sở hữu trí tuệ là các hành vi xâm phạm Quyền sở hữu trí tuệ. Sự xâm phạm Quyền sở hữu trí tuệ thường xảy ra với những sản phẩm mới, khi nó chưa được biết đến rộng rãi nhưng có một sản phẩm tương tự nhái lại trên thị trường đã được tung ra trước với giá thấp hơn giá của Tài sản trí tuệ này. Lúc này khi Tài sản trí tuệ được đưa ra thị trường muộn hơn, dù được bảo hộ bởi Nhà nước nhưng cũng đã giảm mất giá trị hoặc là không còn giá trị trên thị trường. Như vậy cơ sở kinh tế để bên ngân hàng thu hồi khoản nợ khi khách hàng không trả được nợ có thể không được bảo đảm. Tuy nhiên, vẫn chưa có quy định nào điều chỉnh trực tiếp vấn đề này để cân bằng lợi ích của hai bên. Do đó, để giảm thiểu rủi ro, phía ngân hàng có thể áp dụng một số phương án như quy định tỷ lệ cấp tín dụng trên giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn so với tài sản thông thường; chủ động, tăng cường phối hợp với bên bảo đảm trong việc kiểm soát, phát triển Quyền sở hữu trí tuệ; thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản về một tài sản bảo đảm thay thế,…
- Rủi ro pháp lý về quyền sở hữu đối với Quyền sở hữu trí tuệ của bên bảo đảm:
Quyền sở hữu của bên bảo đảm đối với Quyền sở hữu trí tuệ ngay từ ban đầu xác lập giao dịch bảo đảm đã được làm rõ (điều kiện của tài sản bảo đảm), tuy nhiên trong thời gian bảo đảm, rủi ro đối với quyền sở hữu đối với Quyền sở hữu trí tuệ vẫn có thể được đặt ra. Đó là trường hợp Quyền sở hữu trí tuệ của bên bảo đảm có thể bị khởi kiện trong một vụ án và một phán quyết của tòa án về bác bỏ quyền sở hữu của bên bảo đảm đối với Quyền sở hữu trí tuệ là có thể xảy ra. Theo đó, giao dịch bảo đảm xác lập trên Quyền sở hữu trí tuệ này có thể bị vô hiệu, khoản cho vay của ngân hàng có thể trở thành khoản vay không có bảo đảm. Để hạn chế rủi ro cho ngân hàng, việc nắm bắt tình hình pháp lý của tài sản bảo đảm trong thời gian bảo đảm là vô cùng quan trọng để hai bên có thể thỏa thuận về hướng giải quyết. Do đó, phía ngân hàng cần có sự quản lý tài sản bảo đảm bằng việc yêu cầu bên bảo đảm cung cấp thông tin về tài sản bảo đảm. Bên bảo đảm có nghĩa vụ cung cấp các thông tin liên quan đến tài sản bảo đảm và chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin mình cung cấp.
1.2.3.4. Xử lý Quyền sở hữu trí tuệ khi nghĩa vụ trả nợ bị vi phạm. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Trong một giao dịch bảo đảm cho một khoản vay, việc xử lý tài sản bảo đảm không phải bao giờ cũng được đặt ra. Bởi nếu bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình đầy đủ, đúng hạn, giao dịch bảo đảm sẽ được chấm dứt, quyền hoặc lợi ích bảo đảm trên tài sản bảo đảm chấm dứt. Tuy nhiên khi bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền vay thì việc xử lý tài sản bảo đảm được xem như là “giải pháp cứu cánh” cho khoản vay của ngân hàng. Do đó, xử lý tài sản bảo đảm là một vấn đề cốt lõi của giao dịch bảo đảm.
Tùy theo chính sách pháp luật của từng quốc gia mà bên ngân hàng có quyền áp dụng các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm khác nhau, trong đó có một số biện pháp truyền thống như: yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hoặc thu hồi tài sản bảo đảm thông qua một thủ tục tư pháp, bán đấu giá tài sản,… Tuy nhiên, việc xử lý tài sản bảo đảm có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác, thiện chí của bên bảo đảm, nhưng không phải lúc nào sự thiện chí cũng xuất hiện khi xử lý tài sản. Do đó, để phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, hiện đại hóa các biện pháp bảo đảm thì nhiều hình thức xử lý bảo đảm được đưa ra, trao nhiều quyền hơn cho bên có quyền.
Theo quy định tại § 9-601 của Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ về giao dịch bảo đảm (2010) đã trao cho chủ nợ quyền thực hiện các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm khi người vay vỡ nợ, theo đó ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp sau: giảm yêu cầu bồi thường, tịch thu tài sản thế chấp hoặc thực hiện yêu cầu bồi thường hoặc lợi ích an ninh bằng bất kỳ thủ tục tư pháp nào có sẵn, và các quyền này có thể được thực hiện đồng thời; Tự thu hồi tài sản theo nguyên tắc “without breach of the peace” – không xâm phạm đến đến hòa bình (có thể hiểu là hành vi không xúc phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể, sức khỏe, tài sản và quyền lợi hợp pháp khác); Xử lý tài sản bảo đảm bằng các hình thức bán, cho thuê, cấp phép,… với điều kiện phải thực hiện các quy định về thông báo và sử dụng số tiền thu được từ việc xử lý tài sản theo quy định của luật; Nhận tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ, với điều kiện được sự đồng ý của bên bảo đảm.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng quyền sở hữu trí
1.3.1. Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất thế giới, một trong những yếu tố góp phần dẫn đến sự hùng mạnh đó là Quyền sở hữu trí tuệ. Ngành công nghiệp giải trí, ngành công nghiệp xe hơi, các ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,… mang lại lợi nhuận cho nước Hoa Kỳ, thực chất là dựa trên nền tảng Quyền sở hữu trí tuệ. Để khai thác tối đa lợi ích mà sở hữu trí tuệ mang lại, Hoa Kỳ đã sử dụng sở hữu trí tuệ như là tài sản bảo đảm cho các khoản vay có bảo đảm đảm (QSHTT -Backed Financing). Việc cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ được dựa trên hai nền tảng chính là hệ thống pháp luật về bảo hộ và thực thi sở hữu trí tuệ mạnh và chế độ giao dịch bảo đảm hiện đại.
Chế độ pháp luật về giao dịch bảo đảm được điều chỉnh bởi Điều 9 Bộ luật thương mại thống nhất (Điều 9 UCC) được thông qua năm 1952 bởi 50 bang của Hoa Kỳ, phiên bản cập nhật mới nhất là bản năm 2010. Điều 9 UCC có thể được coi là phần hoàn thiện nhất của Bộ luật thương mại thống nhất. Việc ban hành Điều 9 đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử của luật giao dịch bảo đảm trên toàn thế giới, đánh dấu sự ra đi của chế độ giao dịch bảo đảm truyền thống và hiện đại. Điều 9 đã trở thành mô hình cải cách luật giao dịch bảo đảm ở nhiều quốc gia, cũng như là nền tảng để xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế và khu vực trong các giao dịch bảo đảm, ví dụ như Luật về Các giao dịch bảo đảm của Ngân hàng Châu Âu (EBRD) (2004) và Hướng dẫn Lập pháp của UNCITRAL về Giao dịch bảo đảm (2007). Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Theo Điều 9 UCC, Quyền sở hữu trí tuệ là một tài sản vô hình, các giao dịch bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của Điều 9 UCC đối với tài sản vô hình. Các quy định pháp luật cụ thể:
- Xác lập giao dịch bảo đảm:
Giao dịch bảo đảm với tài sản bảo đảm là Quyền sở hữu trí tuệ được xác lập theo thỏa thuận của các bên. Trừ trường hợp nội dung thỏa thuận trái pháp luật, thỏa thuận đương nhiên có hiệu lực đối rằng buộc đối với hai bên. Các tài liệu cần có để thiết lập một giao dịch bảo đảm là hối phiếu nhận nợ và hợp đồng bảo đảm có mô tả về tài sản bảo đảm và có chữ ký của con nợ. Để phát sinh hiệu lực với bên thứ ba, giao dịch bảo đảm phải được hoàn thiện “perfection”, tức là thực hiện thủ tục pháp lý nhất định để công khai hóa các thông tin về giao dịch bảo đảm cho người thứ ba biết. Phương thức hoàn thiện giao dịch bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ là đăng ký giao dịch bảo đảm tại văn phòng thư ký bang hoặc cơ quan tương đương nơi con nợ cư trú. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm rất đơn giản, thuận lợi vì mang tính chất lưu trữ thông tin và thông báo.
- Quyền ưu tiên:
Quyền ưu tiên là vấn đề cốt lõi của giao dịch bảo đảm, đặc biệt là khi xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp một tài sản bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ. Quyền ưu tiên của chủ nợ được xác định theo vị thế của giao dịch bảo đảm và nguyên tắc ưu tiên theo thứ tự thời gian (the first in time). Đối với việc đăng ký giao dịch bảo đảm trí tuệ (cùng loại ưu tiên) thì thứ tự ưu tiên được xác định theo thứ tự thời gian, giao dịch nào đăng ký trước thì được quyền ưu tiên thanh toán trước.
- Xử lý tài sản bảo đảm:
Ngân hàng có thể áp dụng một trong số các hình thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại tại § 9-601 của Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ về giao dịch bảo đảm (2010), bao gồm: Giảm yêu cầu bồi thường, tịch thu tài sản thế chấp hoặc thực hiện yêu cầu bồi thường hoặc lợi ích an ninh bằng bất kỳ thủ tục tư pháp nào có sẵn, và các quyền này có thể được thực hiện đồng thời; Tự thu hồi tài sản theo nguyên tắc “without breach of the peace” – không xâm phạm đến đến hòa bình (có thể hiểu là hành vi không xúc phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể, sức khỏe, tài sản và quyền lợi hợp pháp khác); Xử lý tài sản bảo đảm bằng các hình thức bán, cho thuê, cấp phép,… với điều kiện phải thực hiện các quy định về thông báo và sử dụng số tiền thu được từ việc xử lý tài sản theo quy định của luật; Nhận tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ, với điều kiện được sự đồng ý của bên bảo đảm.
1.3.2. Trung Quốc Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Trung Quốc đã rất tích cực trong việc ban hành các quy định cụ thể điều chỉnh việc sử dụng tài sản Quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản thế chấp trong cho vay có bảo đảm, được gọi là “cầm cố Quyền sở hữu trí tuệ”. Trung Quốc là nước duy nhất ban hành các quy tắc riêng về cầm cố sở hữu trí tuệ vào những năm 1990, và các quy tắc này gần đây được thay thế bằng những cam kết mới trong năm 2009 và 2010 với các nội dung cụ thể:
- Các yêu cầu chính thức đối với biện pháp cầm cố Quyền sở hữu trí tuệ:
Pháp luật Trung Quốc tiếp cận theo hướng bảo vệ lợi ích của các ngân hàng cho các doanh nghiệp vay dựa trên tài sản là Quyền sở hữu trí tuệ. Do đó, luật pháp Trung Quốc sẽ tạo ra nhiều biện pháp bảo vệ, bao gồm các thủ tục về giao kết hợp đồng cầm cố Quyền sở hữu trí tuệ và các yêu cầu về tính hợp lệ đối với tài sản bảo đảm được cầm cố. Tất cả các hợp đồng cầm cố Quyền sở hữu trí tuệ phải bằng văn bản và phải được đăng ký với cơ quan quản lý Quyền sở hữu trí tuệ có liên quan. Các hợp đồng này chỉ có hiệu lực sau khi đăng ký. Tài sản cầm cố là Quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu nghiêm ngặt:
- Bên cầm cố phải là bên có quyền sở hữu đối với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ được ghi nhận trong hồ sơ của cơ quan có liên quan.
- Thời hạn bảo hộ sở hữu trí tuệ chưa hết hạn, hoặc phải được gia hạn thường xuyên trong trường hợp thế chấp nhãn hiệu.
- Không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc tính hợp lệ của sở hữu trí tuệ.
- Thời hạn của khoản vay không thể vượt quá thời hạn bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Trong thời hạn cam kết, nếu cơ quan có liên quan phát hiện thấy rằng bất kỳ yêu cầu nào nêu trên không được đáp ứng thì sẽ huỷ bỏ việc đăng ký cầm cố, và việc đăng ký sẽ bị vô hiệu ngay từ đầu.
- Quyền của ngân hàng và bên cầm cố. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Người vay không thể định đoạt quyền sở hữu trí tuệ hoặc cấp phép Quyền sở hữu trí tuệ mà không có sự chấp thuận của bên ngân hàng. Trong trường hợp bên ngân hàng đồng ý chuyển nhượng hoặc cấp giấy phép về Quyền sở hữu trí tuệ, phí chuyển nhượng hoặc phí cấp giấy phép mà người đòi nợ thu được sẽ được sử dụng để trả nợ, hoặc sẽ bị thu hồi và giao cho bên thứ ba quản lý theo thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố. Điều này cho thấy rằng lợi tức thu được từ tài sản bảo đảm cũng được bao gồm trong phạm vi của cầm cố Quyền sở hữu trí tuệ. Nếu người nợ giao quyền hoặc cho phép sở hữu sổ cầm cố mà không có sự chấp thuận của bên được bảo đảm thì việc chuyển nhượng hoặc giấy phép sẽ bị coi là không hợp lệ và người vay sẽ phải chịu trách nhiệm về “hậu quả tổn thất” của bên ngân hàng.
Ngoài ra, cơ quan quản lý có thẩm quyền tiến hành hỗ trợ bên ngân hàng trong việc quản lý Quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian bảo đảm. Trong thời hạn bảo hộ bằng sáng chế và thời gian áp dụng biện pháp cầm cố Quyền sở hữu trí tuệ sẽ không xử lý các thủ tục cho việc từ bỏ quyền, chuyển nhượng hoặc cấp phép bằng độc quyền sáng chế nếu người cầm cố không thể chứng minh được sự chấp thuận của bên ngân hàng cho việc từ bỏ, chuyển nhượng hoặc cấp phép đó cũng sẽ thông báo cho bên hàng khi một quyền về bằng sáng chế bị hủy bỏ hoặc chấm dứt trong thời hạn của cam kết, hoặc khi người sáng chế không nộp lệ phí hàng năm để duy trì bằng sáng chế. Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Các luật và quy định nói trên cho thấy Trung Quốc có các quy tắc cứng nhắc, cả về nội dung và thủ tục, liên quan đến việc sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản đảm bảo trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, các quy tắc này rất cấp tiến và tiên phong so với các nước đang phát triển khác, hỗ trợ cho các khoản vay được tiếp cận đến chủ thể cần vốn, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh, dựa trên tài sản bảo đảm là Quyền sở hữu trí tuệ.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
