Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Pháp luật Việt Nam về Bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của ngân hàng thương mại trong pháp luật Việt Nam cho các bạn.

2.1. Một số vụ việc về cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ của ngân hàng thương mại

Để hiểu rõ thực tiễn pháp luật Việt Nam về hoạt động cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ, trước hết cần xem xét một số vụ việc hiếm hoi, tiêu biểu về việc sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm khoản vay trong các ngân hàng thương mại Việt Nam, cụ thể:

2.1.1. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cho vay có bảo đảm bằng biện pháp chấp quyền đối với tác phẩm điện ảnh.

Năm 2009, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) ký kết hợp đồng tín dụng với Công ty Latsata MultiMedia Corporation (“Latsata”) đặt tại thành phố Hồ Chí Minh, với tài sản đảm bảo là “các quyền tài sản phát sinh từ bản quyền trong 46 bộ phim điện ảnh Siêu Thị Tình Yêu “. Hợp đồng thế chấp được ký kết vào ngày 30 tháng 7 năm 2009 (thỏa thuận không công khai). Ngày 13 tháng 11 năm 2011, Latsata và BIDV đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Phòng Đăng ký Giao dịch Bảo đảm Thành phố Hồ Chí Minh. Các tài liệu liên quan đến bộ phim cũng được liệt kê trong báo cáo tài chính, bao gồm: (1) Thỏa thuận chuyển nhượng phim vào ngày 2 tháng 6 năm 2010, (2) Thỏa thuận chuyển nhượng bản quyền ngày 29 tháng 12 năm 2009, và (3) Xác nhận phê duyệt phim và phát hành ngày Ngày 2 tháng 6 năm 2010.

Các dữ kiện về vụ việc là chưa đầy đủ, song rõ ràng là người vay là người được chuyển nhượng quyền sử dụng phim và các quyền liên quan trong phim và sử dụng các quyền này để thế chấp khoản vay của BIDV.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.2. Ngân hàng Agribank cho vay có bảo đảm bằng quyền sử dụng thương hiệu và nhãn hiệu thương mại

Năm 2013, ngân hàng Agribank (Chi nhánh Nam Hà Nội) đã cho Công ty Liên doanh Lifepro Vietnam (“Lifepro”) vay số tiền lên đến 150 triêu USD để tài trợ cho dự án Luxfashion của Lifepro – sự phát triển của một nhà máy dệt may quy mô lớn với tổng đầu tư 305 triệu USD, được đầu tư xây dựng tại KCN Gián Khẩu (tỉnh Ninh Bình). Nhưng đến tháng 8-2012, nhà máy bất ngờ ngừng hoạt động. Lãnh đạo cao cấp của công ty cùng toàn bộ chuyên gia nước ngoài đã biến mất một cách bí ẩn.

Trong khi đó, khoản nợ vay Agribank đầu tư dự án Luxfashion tính đến ngày 1210-2012 là hơn 3.099 tỷ đồng hiện vẫn chưa thể xử lý được. Liên quan đến khoản cho vay này, Agribank đã xác lập cùng Cty liên doanh Lifepro Việt Nam 2 hợp đồng thế chấp tài sản. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Cụ thể, ngày 8-4-2012, kí Hợp đồng thế chấp số 01 trị giá 1.518 tỷ đồng, tài sản thế chấp được hình thành từ vốn vay và vốn tự có. Trong đó, gồm toàn bộ công trình kiến trúc, dây chuyền máy móc, thiết bị giai đoạn I và II, giá trị quyền sử dụng đất, lô máy móc thiết bị hoàn tất sản phẩm.

Tiếp đó, ngày 14-4-2012, một hợp đồng thế chấp khác được kí kết với tài sản thế chấp cũng được hình thành từ vốn vay và vốn tự có trong tương lai gồm nguyên phụ liệu nhập khẩu, các bộ chứng từ xuất hàng chờ thu tiền, các khoản phải thu của khách hàng… với tổng trị giá 64 triệu EURO và 14,9 triệu USD.

Tài sản thế chấp thứ hai của hợp đồng này là quyền sử dụng 6 thương hiệu và nhãn hiệu thương mại mà Cty liên doanh Lifepro Việt Nam đã mua của FGF Industry Spa (Italia). Với 6 thương hiệu và nhãn hiệu này, Agribank đã nhận thế chấp cho khoản vay tới 70 triệu USD, tương đương 1.464 tỷ đồng.

Việc các lãnh đạo của Lifepro biến mất, bỏ lại khoản nợ hàng trăm triệu USD. Để khắc phục thiệt hại, ngày 25/12/2017, Công ty xử lý nợ của ngân hàng Agribank – Agribank AMC đã có thông báo bán đấu giá toàn bộ tài sản bảo đảm, bao gồm: nguyên phụ liệu dệt may, thành phẩm, bán thành phẩm may mặc trong các kho xưởng tại Công ty Liên doanh Lifepro Việt Nam, toàn bộ máy móc thiết bị tại Công ty Liên doanh Lifepro Việt Nam, toàn bộ các hạng mục công trình kiến trúc, kết cấu hạ tầng kỹ thuật gắn liền với đất của Công ty Liên doanh Lifepro Việt Nam và một số hạng mục đầu tư, lắp đặt tại nhà máy. Tuy nhiên lại không đề cập đến việc xử lý tài sản bảo đảm đối với quyền sử dụng 06 nhãn hiệu, thương hiệu thời trang được cấp phép.

Việc không xử lý tài sản bảo đảm này được các chuyên gia pháp lý lý giải như sau:  Việt Nam cho phép ngân hàng sử dụng thương hiệu là tài sản bảo đảm khoản vay. Tuy nhiên, theo quy định tại Luật Sở hữu Trí tuệ (2005) của Việt Nam, chỉ có chủ sở hữu thương hiệu được pháp luật công nhận mới có quyền cho phép đối tượng khác khai thác thương hiệu ấy. Luật Sở hữu Trí tuệ cũng không có điều khoản công nhận quyền sở hữu thương hiệu có được từ việc mua lại tài sản thế chấp là thương hiệu bị ngân hàng phát mại. Như vậy, Agribank sẽ khó bán được 6 thương hiệu đã nhận thế chấp của Lifepro Việt Nam. Vì người mua tài sản phát mại (là 6 thương hiệu này) sẽ không được công nhận Quyền sở hữu trí tuệ để khai thác các thương hiệu ấy tại Việt Nam và trên toàn thế giới.

Như vậy, qua hai vụ việc trên, thấy rằng pháp luật Việt Nam cho phép các ngân hàng áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, thông qua hệ thống các quy định pháp luật hiện hành là chưa đủ để áp dụng trên thực tế, đặc biệt liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm. Vậy pháp luật Việt Nam đã có quy định nào làm cơ sở cho hoạt động cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ? Còn những khoảng trống nào trong hệ thống pháp luật cần phải khắc phục để tạo thuận lợi cho việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay? Phần tiếp theo của bài viết sẽ phân tích và làm rõ hai câu hỏi trên.

2.2. Cơ sở pháp lý cho việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

2.2.1. Pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Việt Nam

Việt Nam là một nền kinh tế phát triển năng động, có nhu cầu rất lớn về vốn nên vai trò của các Ngân hàng thương mại là hết sức quan trọng. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng luôn ẩn chứa nhiều rủi ro và có ảnh hưởng lớn đến lợi ích của người gửi tiền, hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. Do đó các hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại nói riêng, được nhà nước quy định chặt chẽ theo các quy định pháp luật. Trong đó văn bản pháp lý quan trọng nhất, trực tiếp điều chỉnh hoạt cơ cấu tổ chức và động cho vay của Ngân hàng thương mại là Luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Theo quy định tại khoản 3, Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Ngân hàng thương mại thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng như kinh doanh, cung ứng thường xuyên các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Trong các hoạt động trên, cho vay là một hoạt động ngân hàng truyền thống quan trọng của Ngân hàng thương mại. Cho vay ”là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay hoặc cam kết cho vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi” (khoản 16, Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng)

Ngoài Luật các tổ chức tín dụng 2010, hoạt động cho vay của hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nói chung và Ngân hàng thương mại nói riêng được điều chỉnh bởi văn bản pháp luật chuyên ngành là Thông tư số 39/2016/TT- NHNN (Thông tư 39). Thông tư 39 ra đời nhằm thực hiện các quy định của Luật các tổ chức tín dụng, đồng thời chấm dứt tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn pháp luật khi có nhiều văn bản pháp luật cùng điều chỉnh về hoạt động cho vay trước đó. Thông tư 39 điều chỉnh mọi khía cạnh trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, bao gồm: khách hàng vay vốn, lãi suất, thời hạn cho vay, quy trình thủ tục cho vay, thỏa thuận cho vay, kiểm tra sử dụng tiền vay, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, và biện pháp bảo đảm tiền vay.

Như vậy, đối với hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại, Thông tư 39 có thể coi là văn bản pháp luật quan trọng, cơ bản nhất. Các ngân hàng thương mại căn cứ vào quy định trong thông tư để tiến hành các hoạt động cho vay, trong đó có thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Theo quy định tại Điều 15, Thông tư 39 về bảo đảm tiền vay:

“Điều 15. Bảo đảm tiền vay

  1. Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận. Việc thỏa thuận về biện pháp bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng với khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm và pháp luật có liên quan.
  2. Tổ chức tín dụng quyết định và chịu trách nhiệm về việc cho vay không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay.
  3. Khách hàng, bên bảo đảm phải phối hợp với tổ chức tín dụng để xử lý tài sản bảo đảm tiền vay khi có căn cứ xử lý theo thỏa thuận cho vay, hợp đồng bảo đảm tiền vay và quy định của pháp luật.”

Theo đó, việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay do Ngân hàng thương mại và khách hàng thỏa thuận. Cho vay là hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng có quyền tự chủ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm khi thực hiện hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ quy định của luật, trong đó có quyền tự quyết định việc biện pháp bảo đảm tiền vay hay không. Việc thỏa thuận về biện pháp bảo đảm tiền vay của Ngân hàng thương mại với khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm được quy định trong Bộ luật dân sự và pháp luật có liên quan.Tuy nhiên để tăng tỷ lệ tăng trưởng tín dụng và nâng cao chất lượng các khoản vay, hạn chế rủi ro không thu hồi được vốn thì các Ngân hàng thương mại thường thỏa thuận với người vay về áp dụng các biện pháp bảo đảm.

Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật dân sự 2015, văn bản hướng dẫn bao gồm Nghị định 163/2006/NĐ-CP, các văn bản sửa đổi, bổ sung Nghị định 163/2006/NĐ-CP và các quy định pháp luật chuyên ngành đối với từng loại tài sản bảo đảm.

Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên các quy định pháp luật hiện hành đã thừa nhận và mở đường cho việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay, cụ thể:

2.2.2. Quyền sở hữu trí tuệ là một tài sản bảo đảm tiềm năng Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

2.2.2.1. Cho phép sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm.

Cơ sở pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất cho việc sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm khoản vay là Bộ luật dân sự năm 2015. Mặc dù không có điều nào quy định riêng về việc bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ, nhưng việc Bộ luật dân sự thừa nhận Quyền sở hữu trí tuệ là một loại quyền tài sản và có thể dùng làm tài sản bảo đảm đã đặt nền tảng cho sự phát triển của hoạt động bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ.

Theo Điều 105  Bộ luật dân sự 2015 quy định về tài sản như sau:

1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. 

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

Như vậy, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Các loại tài sản cụ thể được liệt kê như vật, tiền, giấy tờ có giá là tài sản hữu hình, con người có thể hình dung, xác định được nó một cách rõ ràng. Tuy nhiên, quyền tài sản là một loại tài sản vô hình trừu tượng. Để làm rõ tài sản này, Điều 115 Bộ luật dân sự quy định quyền tài sản như sau:

“Điều 115. Quyền tài sản

Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”

Theo đó, một quyền được xác định là quyền tài sản nếu đáp ứng một tiêu chí “trị giá được bằng tiền”. Hay nói cách khác, “trị giá được bằng tiền” là một tiêu chí để xác định phạm vi quyền tài sản, tránh được sự nhầm lẫn với quyền nhân thân. Đây là một sự thay đổi so với quy định về quyền tài sản trong Bộ luật dân sự 2005, khi bộ luật này quy định “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả Quyền sở hữu trí tuệ”. Như vậy tiêu chí “có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự” đã bị loại bỏ. Sự thay đổi này làm mở rộng khái niệm quyền tài sản, mở rộng các đối tượng được xác định là quyền tài sản.   Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Các quyền tài sản điển hình được pháp luật ghi nhận bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. So với Bộ luật dân sự 2005, ngoài việc quy định cụ thể quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản, Bộ luật dân sự 2015 đã định nghĩa lại quyền tài sản liên quan đến Quyền sở hữu trí tuệ. Bộ luật dân sự 2015 quy định chỉ quyền tài sản đối với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ mới là quyền tài sản. Việc xác định lại quyền tài sản liên quan đến quyền sở hữ trí tuệ là đúng đắn, phù hợp với sự phân loại quyền chủ thể và các quy định pháp luật có liên quan. Vì theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ 2005, Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền nhân thân của tác giả và quyền tài sản của chủ sở hữu, chủ thể khác. Việc quy định quyền tài sản là Quyền sở hữu trí tuệ, tức là bao hàm cả quyền nhân thân là một sự thiếu sót cơ bản trong việc phân loại quyền tài sản. Quyền nhân thân và quyền tài sản là hai loại quyền tách biệt của một chủ thể với các tính chất, đặc điểm hoàn toàn khác nhau. Quyền nhân thân là quyền gắn liền với một cá nhân, gắn liền với các giá trị danh dự, nhân phẩm của cá nhân và chỉ dành riêng cho cá nhân nên không xác định giá trị thông qua tiền và không thể chuyển giao cho người khác. Quyền tài sản là quyền của một chủ thể đối với một tài sản cụ thể, gắn liền với tài sản nên có thể chuyển giao giữa các chủ thể và trị giá được bằng tiền.

Việc xác định đúng nội hàm của Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ, quy định quyền tài sản là quyền tài sản đối với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ đã tạo sự thống nhất cho hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, khái niệm về quyền tài sản là quyền tài sản đối với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ còn quá dài, không thuận tiện cho việc sử dụng nên cần phải được nghiên cứu rút gọn. Do đó, trong bài viết này, để thuận tiện cho việc sử dụng, gọi tên, người viết sử dụng tiếp tục thuật ngữ “quyền sở hữu trí  tuệ” để chỉ quyền tài sản đối với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ.

Như vậy, qua các phân tích trên, thấy rằng quyền tài sản đối với Quyền sở hữu trí tuệ là một trong các loại tài sản theo quy định của luật dân sự.

Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của một loại tài sản thông thường, trở thành đối tượng của các giao dịch mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, góp vốn, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ,… Do đó có thể dùng Quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm thực nghĩa vụ.

2.2.2.2. Tài sản bảo đảm – Quyền sở hữu trí tuệ, được điều chỉnh tương đối đầy đủ.

Do yêu cầu hội nhập quốc tế, Việt Nam đã xây dựng nên một khuôn khổ pháp lý cho sở hữu trí tuệ tương đối đầy đủ và ngày càng hoàn thiện hơn, để làm cơ sở cho các chủ thể thực hiện các Quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ ngân hàng. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các quyền đối với Quyền sở hữu trí tuệ là Luật sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (gọi tắt là Luật sở hữu trí tuệ). Luật sở hữu trí tuệ điều chỉnh hầu như toàn bộ các vấn đề có liên quan đến đối tượng của sở hữu trí tuệ như điều kiện bảo hộ, chủ sở hữu, nội dung và thời gian bảo hộ, chuyển giao Quyền sở hữu trí tuệ,… Trong đó có quy định về quyền tài sản đối với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ, làm cơ sở cho các bên thực hiện giao dịch bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ.

Luật sở hữu trí tuệ không có quy định cụ thể chỉ ra quyền tài sản đối với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ, mà chỉ quy định về từng vấn đề riêng lẻ như Quyền sở hữu trí tuệ, các đối tượng của Quyền sở hữu trí tuệ, các nhóm Quyền sở hữu trí tuệ với quy định về điều kiện bảo hộ, nội dung, giới hạn quyền, thời hạn bảo hộ, chủ sở hữu quyền và chuyển giao quyền. Do đó để hiểu được các loại Quyền sở hữu trí tuệ nào được dùng để làm tài sản bảo đảm cho khoản vay thì cả ngân hàng và người vay phải hiểu được loại tài sản này.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005, “QSHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với Tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”. Theo đó Quyền sở hữu trí tuệ gồm ba nhóm quyền là quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Mỗi nhóm quyền khác nhau có đối tượng khác nhau, đặc điểm, điều kiện bảo hộ, thời gian bảo hộ khác nhau, và bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản khác nhau. Quyền nhân thân là quyền được trao cho người trực tiếp tạo nên kết quả sáng tạo, gắn liền với người đó và không thể chuyển giao. Quyền tài sản là quyền trao cho người đã đầu tư thời gian, tài chính, các cơ sở vật chất, kỹ thuật để tạo nên kết quả sáng tạo. Cụ thể:  

Thứ nhất, quyền tác giả và quyền liên quan

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu (4, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ). Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.

Đặc điểm của quyền tác giả:

Chỉ bảo hộ hình thức thể hiện, không bảo hộ nội dung, giá trị của tác phẩm. Do đó, quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới hình thức vật chất nhất định.

Tác phẩm phải có tính nguyên gốc. Một tác phẩm được định hình dưới một dạng hình thức vật chất nhất định thì mới chỉ là điều kiện cần để phát sinh quyền tác giả đối với tác phẩm. Điều kiện đủ để một tác phẩm được bảo hộ đó là tính nguyên gốc. Nghĩa là tác phẩm đó phải do tác giả bằng trí tuệ của mình sáng tạo ra mà không sao chép từ một hay những tác phẩm khác.

Quyền tác giả được phát sinh khi tác phẩm có tính nguyên gốc và được thể hiện dưới một dạng vật chất nhất định, không phụ thuộc vào nội dung, giá trị của tác phẩm. Đây là nguyên tắc “bảo hộ tự động” của quyền tác giả. Chủ sở hữu tác phẩm không bắt buộc phải đăng ký quyền tác giả tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tác phẩm dù có đăng ký hay không đăng ký quyền tác giả đều được hưởng sự bảo hộ như nhau từ phía Nhà nước. Tuy nhiên, việc đăng ký quyền tác giả lại cần thiết và rất có ý nghĩa trong việc chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp xảy ra.

Quyền tác giả bao gồm: quyền nhân thân và quyền tài sản. Trong đó, quyền nhân thân gồm quyền nhân thân không gắn với quyền tài sản và quyền nhân thân gắn với quyền tài sản: Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Quyền nhân thân không gắn với quyền tài sản gồm: quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, bảo vệ toàn vẹn của tác phẩm (4, Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ). Các quyền này gắn với tác giả được bảo hộ vô thời hạn và không phải là đối tượng trong giao dịch bảo đảm tiền vay.

Quyền nhân thân gắn với tài sản như quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm (4, Điều 19, khoản 3 Luật sở hữu trí tuệ) và quyền tài sản. Quyền tài sản bao gồm: (1) Quyền làm tác phẩm phái sinh; (2) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng; (3) Sao chép tác phẩm; (4) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; (5) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; (6) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính. (Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005) Quyền nhân thân gắn với quyền tài sản và quyền tài sản được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả cộng với năm mươi năm sau khi tác giả chết. Quyền nhân thân gắn với quyền tài sản và quyền tài sản sẽ thuộc về chủ sở hữu tác phẩm.

Quyền liên quan: Khoản 3 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền liên quan là là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”. Tương tự như quyền tác giả, quyền liên quan cũng được bảo hộ theo nguyên tắc “bảo hộ tự động” tức là nó phát sinh ngay khi cuộc biểu diễn; bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình. Việc đăng ký bảo hộ quyền liên quan với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không phải là điều kiện bắt buộc.

Quyền tài sản của người biểu diễn bao gồm: Người biểu diễn được độc quyền thực hiện hoặc cho người khác thực hiện các quyền tài sản sau:  (1) Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;(2) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình; (3) Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng; (4) Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được. (Điều 29 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005) Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Quyền tài sản của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là độc quyền thực hiện hoặc cho người khác thực hiện các quyền tài sản sau: (1) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình; (2) Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được. ( Điều 30 Luật sở hữu trí tuệ 2005)

Quyền tài sản của tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau: (1) Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình; (2)  Phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình; (3)  Định hình chương trình phát sóng của mình; (4) Sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình. ( Điều 31 Luật sở hữu trí tuệ 2005).

Thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp

Quyền SHCN bao gồm sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn  (khoản 2 Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ), với các đặc điểm, điều kiện bảo hộ và thời hạn bảo hộ như sau:

Sáng chế: Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một số vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên (khoản 4, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ). Điều kiện để sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế là: có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp. Điều kiện để một sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích là: có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp. Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế và quyền sở hữu công nghiệp đối với giải pháp hữu ích được bảo hộ trong thời hạn bằng độc quyền có hiệu lực. Tại Việt Nam, bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 20 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ; bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm từ ngày nộp đơn hợp lệ.

Kiếu dáng công nghiệp: Kiểu dáng công nghiệp là hình thức bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này. Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu đáp ứng được các điều kiện: có tình mới; có tính sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp. Chủ thể muốn được hưởng quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp tại Việt Nam phải làm đơn xin cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và nộp cho Cục sở hữu trí tuệ. Thời hạn bảo hộ bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp là 5 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ và có thể được gia hạn liên tiếp 2 lần, mỗi lần 5 năm. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Nhãn hiệu: Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Đặc trưng của nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của chủ thể khác.

Nhãn hiệu được phân chia thành các loại: nhãn hiệu thông thường (bao gồm cả nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ), nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu nổi tiếng. Chủ thể muốn được cấp văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu tại Việt Nam phải làm đơn xin cấp văn bằng bảo hộ và nộp cho Cục sở hữu trí tuệ. Văn bằng bảo hộ có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ và có thể được gia hạn liên tiếp nhiều lần, mỗi lần 10 năm. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ vô thời hạn và không phụ thuộc vào bất kỳ một thủ tục đăng ký nào. Khi góp vốn bằng nhãn hiệu thì việc chuyển giao quyền đối với nhãn hiệu không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Nhãn hiệu chỉ được góp vốn cho tổ chức, đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký nhãn hiệu đó (khoản 4, Điều 139 Luật sở hữu trí tuệ). Ngoài ra, quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được góp vốn cho các tổ chức không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó.

Tên thương mại: Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tên thương mại sẽ không được bảo hộ nếu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác đã được sử dụng từ trước trên cùng một khu vực kinh doanh và trong cùng một lĩnh vực kinh doanh, hoặc trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý đang còn hiệu lực bảo hộ từ trước khi bắt đầu sử dụng tên thương mại đó. Tên thương mại được tự động bảo hộ (không cần đăng ký) khi đáp ứng các yêu cầu nêu trên. Tên thương mại được bảo hộ chừng nào chủ sở hữu vẫn còn duy trì hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó. Tên thương mại được quyền góp vốn bằng việc chuyển giao quyền sở hữu tên thương mại đó cùng với cơ sở kinh doanh và không được quyền góp vốn bằng quyền sử dụng tên thương mại (khoản 4, Điều 142 Luật sở hữu trí tuệ).

Bí mật kinh doanh: Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện: (i) không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; (ii) khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó; (iii) được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh gồm: bí mật về nhân thân, bí mật về quản lý nhà nước; bí mật về quốc phòng, an ninh; thông tin bí mật khác liên quan đến kinh doanh. Bí mật kinh doanh được bảo hộ mà không cần phải nộp đơn đăng ký và được bảo hộ khi bí mật kinh doanh đáp ứng đủ các điều kiện bảo hộ như đã nêu trên và không phải là bí mật về nhân thân, bí mật về quản lý nhà nước, bí mật quốc phòng, an ninh, thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (Thiết kế bố trí): Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là cấu trúc không gian của phần tử mạch và mối liên kết của các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn (khoản 15, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ). Thiết kế bố trí được bảo hộ nếu đáp ứng hai điều kiện: có tính nguồn gốc và có tính mới thương mại. Tính nguyên gốc: thiết kế bố trí là kết quả lao động sáng tạo của chính tác giả và chưa được những người sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất mạch tích hợp bán dẫn biết đến một cách rộng rãi tại thời điểm tạo ra thiết kế bố trí đó. Tính mới thương mại: thiết kế bố trí chưa được khai thác thương mại tại bất kỳ nơi nào trên thế giới trước ngày nộp đơn đăng ký. Để được hưởng quyền đối với thiết kế bố trí tại Việt Nam thì tác giả phải làm đơn xin cấp Bằng độc quyền thiết kế bố trí tại Cục sở hữu trí tuệ. Đây chính là cơ sở ghi nhận quyền chủ sở hữu và chủ thể quyền có quyền góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với thiết kế bố trí vào mục đích kinh doanh.

Các quyền tài sản của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là quyền nhận thù lao theo quy định (Khoản 3 Điều 122 Luật sở hữu trí tuệ 2005).

Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có các quyền tài sản sau đây: (1) Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định; (2) Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp; (3) Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định. (Khoản 1 Điều 123 Luật sở hữu trí tuệ 2005).

Thứ ba, quyền đối với giống cây trồng

Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu (Khoản 5 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005).

Đối tượng của quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch. Trong đó: Vật liệu nhân giống là cây hoặc bộ phận của cây có khả năng phát triển thành một cây mới dùng để nhân giống hoặc để gieo trồng. Vật liệu thu hoạch là cây hoặc bộ phận của cây thu được từ việc gieo trồng vật liệu nhân giống.

Để được bảo hộ thì giống cây trồng được bảo hộ là giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển thuộc Danh mục loài cây trồng được Nhà nước bảo hộ do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành, có tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp. Bằng bảo hộ giống cây trồng có hiệu lực kể từ ngày cấp đến hết 25 năm đối với giống cây thân gỗ và cây nho; đến hết 20 năm đối với các giống cây trồng khác.

Chủ bằng bảo hộ có quyền sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng các quyền sau đây liên quan đến vật liệu nhân giống của giống đã được bảo hộ (1) Sản xuất hoặc nhân giống; (2) Chế biến nhằm mục đích nhân giống; (2) Chào hàng; (3) Bán hoặc thực hiện các hoạt động tiếp cận thị trường khác; (4) Xuất khẩu;  (5) Nhập khẩu; (6)

Quyền lưu trữ để thực hiện các quyền khác. (Khoản 1 Điều 186 Luật sở hữu trí tuệ 2005).

Như vậy, mỗi nhóm Quyền sở hữu trí tuệ với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ riêng đều có những đặc điểm và điều kiện bảo hộ, cơ chế bảo hộ khác nhau và chủ thể của quyền được hưởng các quyền và nghĩa vụ khác nhau khi tham gia vào quan hệ pháp luật, đặc biệt khi tham gia và trở thành đối tượng của giao dịch bảo đảm.

Do đó, chỉ các quyền tài sản liên quan đến Quyền sở hữu trí tuệ được phép làm tài sản bảo đảm chỉ bao gồm: Các quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác đối với phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá; Quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu công nghiệp đối với gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn; Quyền tài sản của tác giả, chủ văn bằng bảo hộ giống cây trồng đối với vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.

Tuy nhiên, trong hoạt động cho vay của các ngân hàng, mặc dù giao dịch bảo đảm chỉ là giao dịch thứ yếu, nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro xảy ra cho bên ngân hàng, và để đưa ra một quyết định cho vay, ngân hàng cần xem xét và cân nhắc nhiều yếu tố khác như uy tín của khách hàng, năng lực tài chính, tiềm năng của các dự án đầu tư,… nhưng một tài sản bảo đảm có giá trị và chắc chắn sẽ làm giảm đáng kể rủi ro của ngân hàng. Theo đó, cần có những quy định chặt chẽ về điều kiện đối với Quyền sở hữu trí tuệ khi làm tài sản bảo đảm cho khoản vay. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

2.2.3. Thế chấp tài sản – Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phù hợp với tài sản bảo đảm là Quyền sở hữu trí tuệ

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một phần của chế định nghĩa vụ và hợp đồng, được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 và được quy định chi tiết thi hành tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về Giao dịch bảo đảm.

Điều 292 Bộ luật dân sự 2015 quy định chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bao gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặc cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản. So với Bộ luật dân sự 2005, Bộ luật dân sự 2015 đã bổ sung hai biện pháp bảo đảm mới là bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản. Thực chất, hai biện pháp này đã được quy định trong phần thực hiện hợp đồng của hợp đồng song vụ (cầm giữ tài sản) và phần một số quy định riêng về mua bán tài sản (bảo lưu quyền sở hữu) trong các Bộ luật dân sự trước đó, và đã được các bên áp dụng trên thực tế. Do vậy, sự bổ sung hai biện pháp bảo đảm mới chỉ là xác định lại đúng bản chất của biện pháp và đặt về đúng vị trí trong luật với việc quy định chính thức hai biện pháp này là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Căn cứ vào căn cứ xác lập, tính chất của biện pháp bảo đảm, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được chia làm hai nhóm là giao dịch bảo đảm và biện pháp bảo đảm. Giao dịch bảo đảm là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập một giao dịch bảo đảm có tính độc lập với giao dịch được bảo đảm, nhằm bảo đảm nghĩa vụ trong giao dịch được bảo đảm được thực hiện. Bao gồm các biện pháp: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặc cọc, ký cược, ký quỹ,  bảo lãnh, tín chấp. Biện pháp bảo đảm là biện pháp được hai bên thỏa thuận xác lập trực tiếp trên giao dịch được bảo đảm, gắn liền với giao dịch bảo đảm, bao gồm biện pháp cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cụ thể bao gồm:

  • Cầm cố tài sản: Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Theo quy định Điều 309 Bộ luật dân sự 2015, cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Như vậy, theo quy định của luật, biện pháp cầm cố tài sản áp dụng cho mọi tài sản thuộc sở hữu của bên cầm cố mà không phân biệt động sản hay bất động sản, tài sản hữu hình hay tài sản vô hình. Và có thể dùng để bảo đảm thực hiện mọi loại nghĩa vụ, bao gồm cả nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên với đặc trưng của biện pháp cầm cố là “giao tài sản” cho bên nhận cầm cố, tức là có sự chuyển giao tài sản về mặt vật chất. Do đó, tài sản cầm cố phải có tính chất của một tài sản hữu hình, có thể nhận diện, cảm nhận, cầm nắm trên thực tế. Do đó, Quyền sở hữu trí tuệ là một tài sản vô hình điển hình không phải là đối tượng của giao dịch cầm cố tài sản.

  • Đặt cọc tài sản:

Theo quy định Điều 328 Bộ luật dân sự 2015, Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Theo đó, đặt cọc là biện pháp bảo đảm được các bên thỏa thuận xác lập nhằm bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Trong đó, có sự chuyển giao trên thực tế tài sản đặt cọc của bên đặt cọc cho bên nhận đặt cọc. Tài sản đặt cọc được quy định cụ thể bao gồm tiền, kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác, không bao gồm quyền tài sản vô hình. Như vậy, biện pháp đặt cọc tài sản thường được sử dụng để bảo đảm việc giao kết hoặc thực hiện các hợp đồng mua bán, không phù hợp để áp dụng cho hợp đồng tín dụng.

  • Ký cược:

Theo quy định tại Điều 329 Bộ luật dân sự 2015,  Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.Trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trả tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê; nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Như vậy, biện pháp ký cược được áp dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản thuê trong hợp đồng thuê tài sản là động sản. Biện pháp ký cược không được áp dụng để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng.

  • Ký quỹ:

Điều 330 Bộ luật dân sự 2015 quy định về biện pháp ký quỹ như sau: Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ.

Theo đó, biện pháp ký quỹ được áp dụng để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ do các bên thỏa thuận, có thể bao gồm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng. Ký quỹ là giao dịch bảo đảm có sự tham gia của bên thứ ba (hoặc chính bên bên có quyền) là một tổ chức tín dụng với vai trò là bên quản lý tài sản ký quỹ thông qua một tài khoản phong tỏa, và thực hiện nghĩa vụ thanh toán, bồi thường thiệt hại, trong phạm vi giá trị tài sản ký quỹ, cho bên có quyền khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ. Tài sản ký quỹ bao gồm khoản tiền, kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá. Do đó, Quyền sở hữu trí tuệ không được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho biện pháp ký quỹ.

  • Bảo lãnh:

Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.  Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (Điều 335 Bộ luật dân sự 2015). Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

 Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân, có sự tham gia của bên thứ ba với vai trò là người bảo lãnh, cam kết với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ. Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Biện pháp bảo đảm bằng tài sản là các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật dân sự bao gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu. Tuy nhiên do đặc trưng của từng biện pháp bảo đảm như đã phân tích ở trên, các bên thường thỏa thuận áp dụng biện pháp bảo đảm là cầm cố tài sản, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Thực chất, việc áp dụng biện pháp bảo lãnh đồng thời sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh là biện pháp bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba.

Trong hợp đồng tín dụng, các bên có thể thỏa thuận áp dụng biện pháp bảo lãnh để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. Để tăng cường bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh được thực hiện, thông thường ngân hàng thường thỏa thuận với bên bảo lãnh về việc sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản. Ngân hàng và bên bảo lãnh hoàn toàn có thể thỏa thuận áp dụng biện pháp bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với quy định của luật.

  • Tín chấp:

Tín chấp là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong đó các tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở dùng uy tín của mình để bảo đảm cho khoản vay của cá nhân, hộ gia đình nghèo tại các tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh. Đây là biện pháp bảo đảm đặc biệt, nhằm hỗ trợ các cá nhân, hộ gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Tín chấp mang bản chất của một biện pháp bảo đảm đối nhân đơn thuần, trong  trường hợp khi người vay không trả được nợ, bên tín chấp không có nghĩa vụ trả nợ thay. Như vậy, tín chấp là một biện pháp bảo đảm không mang tính chất dân sự, được nhà nước quy định để nhằm thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo.

  • Cầm giữ tài sản:

Theo quy định của Điều 346 Bộ luật dân sự 2015, Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

 Như vậy, cầm giữ tài sản là một biện pháp bảo đảm không mang bản chất giao dịch, mà bên có quyền áp dụng trong chính giao dịch được bảo đảm. Theo đó bên có quyền đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ (là giao dịch chính được bảo đảm), được chiếm giữ tài sản, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ.

  • Bảo lưu quyền sở hữu:

Theo tại khoản 1, Điều 331 Bộ luật dân sự 2015, Bảo lưu quyền sở hữu được quy định như sau: “Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ.”

Bảo lưu quyền sở hữu là biện pháp bảo đảm được áp dụng trong hợp đồng mua bán tài sản, gắn liền với phương thức thanh toán là mua trả chậm, trả dần (Điều 453 Bộ luật dân sự 2015). Theo đó, biện pháp này trao một đặc quyền cho bên bán, là được bảo lưu quyền sở hữu tài sản đã bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền.

  • Thế chấp tài sản:

Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp (Điều 317 Bộ luật dân sự 2015).

Thế chấp là biện pháp bảo đảm với đặc trưng là không giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp chiếm giữ. Thay vào đó, các bên có thể thỏa thuận về việc giao các giấy tờ về tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp giữ trong suốt thời gian thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Bên thế chấp được quyền chiếm hữu, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi từ tài sản (bao gồm quyền cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp), được quyền bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp nếu được sự đồng ý của bên nhận thế chấp. Như vậy, thế chấp tài sản là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được thiết lập trên tài sản của bên thế chấp, theo đó bên nhận thế chấp có quyền nắm giữ tài sản về mặt pháp lý và có quyền kiểm soát lưu thông tài sản.

Tài sản thế chấp là các loại tài sản bảo đảm được quy định trong Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, do đặc trưng là không giao tài sản cho bên nhận thế chấp, nên trên thực tế các bên thường dùng các loại tài sản không thể hoặc khó giao về mặt vật chất như tàu bay, tàu biển, máy móc thiết bị, quyền tài sản làm tài sản thế chấp. Quyền tài sản trong đó có Quyền sở hữu trí tuệ.

Như vậy, pháp luật Việt Nam đã xây dựng một hệ thống các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tương đối hoàn chỉnh, với nhiều biện pháp bảo đảm khác nhau, phù hợp với từng loại giao dịch chính được bảo đảm. Trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay, hai bên có thể thỏa thuận áp dụng các biện pháp như cầm cố tài sản, thế chấp tài sản và bảo lãnh.

Trong đó, đối với Quyền sở hữu trí tuệ, ngân hàng và doanh nghiệp có thể thỏa thuận áp dụng biện pháp thế chấp Quyền sở hữu trí tuệ để bảo đảm cho khoản vay.

BLDS 2015 và Nghị định 163, Nghị định 112 đã xây dựng một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ về biện pháp thế chấp tài sản nói chung với các quy định về tài sản thế chấp, hiệu lực của thế chấp tài sản, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thế chấp, chấm dứt thế chấp. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

2.2.3.1. Đăng ký giao dịch bảo đảm

Hiện nay việc đăng ký giao dịch bảo đảm được điều chỉnh bởi Nghị định số 102/2017/NĐ-CP  về đăng ký giao dịch bảo đảm thì thế chấp Quyền sở hữu trí tuệ được coi là giao dịch đối với động sản khác. Việc đăng ký đối với động sản khác được thực hiện bởi Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản đặc biệt, việc đăng ký Quyền sở hữu trí tuệ và các giao dịch có liên quan đến Quyền sở hữu trí tuệ được Cục sở hữu trí tuệ, thuộc bộ Khoa học và công nghệ quản lý. Theo đó, giao dịch bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ là một trong các giao dịch liên quan đến Quyền sở hữu trí tuệ, thì việc đăng ký giao dịch bảo đảm này nên giao cho Cục sở hữu trí tuệ tiếp nhận, thực hiện để dễ dàng kiểm tra các thông tin về Quyền sở hữu trí tuệ có liên quan, tạo một đầu mối thống nhất trong việc quản lý quyền sở hữu nói chung và giao dịch bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ nói riêng.

Ngoài ra, giao dịch bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ là không bắt buộc phải đăng ký. Tuy nhiên, thứ tự đăng ký và việc có đăng ký hay không lại là các tiêu chí xác định thứ tự ưu tiên thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

“Điều 308. Thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm

  1. Khi một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm được xác định như sau:
  2. Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng;
  3. Trường hợp có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước;
  4. Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm”. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Việc quy định đăng ký giao dịch bảo đảm là quyền của các bên, đặc biệt là bên ngân hàng, tuy nhiên việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán lại căn cứ vào thời điểm xác lập hiệu lực đối kháng với bên thứ ba (tức là thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm). Như vậy, các quy định trên đều ngầm định rằng việc đăng ký giao dịch bảo đảm là bắt buộc đối với bên nhận bảo đảm để bảo đảm thứ tự ưu tiên cao hơn cho mình, và trên thực tế, các ngân hàng luôn thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, quy định về quyền lựa chọn đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc không chỉ mang tính hình thức, nên quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm theo hướng là nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm để phù hợp với thực tế,

Như vậy, pháp luật Việt Nam về thứ tự ưu tiên thanh toán cũng tiếp cận theo nguyên tắc thời gian và loại giao dịch bảo đảm ưu tiên. Tuy nhiên, trên thực tế các giao dịch bảo đảm luôn được Ngân hàng thương mại thực hiện thủ tục đăng ký để xác lập thứ tự ưu tiên đầu tiên cho mình.

2.2.3.2. Xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ  

  • Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm:

Theo Điều 299, Bộ luật dân sự 2015 quy định các trường hợp mà bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm, các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm bao gồm: (1) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. (2) Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật. (3) Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.

Như vậy, điều luật này đưa ra các nguyên tắc mang tính mặc định về quyền xử lý bảo đảm của ngân hàng; mặt khác, nó cũng cho phép các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm của mình về các trường hợp xử lý bảo đảm khác, đồng thời ghi nhận các trường hợp xử lý bảo đảm bắt buộc theo quy định tại một văn bản luật cụ thể.

Trường hợp xử lý bảo đảm đầu tiên nêu ở trên là trường hợp thông thường khi có vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm.

Trường hợp thứ hai thường xảy ra khi ngân hàng thu hồi nợ trước hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khi một tài sản được sử dụng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ (khoản 3, Điều 296, Bộ luật dân sự 2015) hay trước khi tuyên bố bên có nghĩa vụ phá sản (điểm b, khoản 1, Điều 53,  Luật phá sản số 51/2014/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2014).

Một văn bản luật cũng có thể quy định về trường hợp xử lý bảo đảm. Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 90, Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008, được bổ sung, sửa đổi năm 2014 (Luật thi hành dân sự), trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án. Ngoài ra, các bên cũng có thể thỏa thuận về một số trường hợp xử lý tài sản bảo đảm khác, như khi bên vay vi phạm một nghĩa vụ nào đó của hợp đồng vay hay bên bảo đảm vi phạm một nghĩa vụ nào đó nêu trong hợp đồng bảo đảm. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

  • Phương thức xử lý tài sản bảo đảm:

Theo quy định tại khoản 1, Điều 303, các bên có thể thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây: (1) Bán đấu giá tài sản; (2) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; (3)Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; (4) Phương thức khác.

Đây là một danh sách mở bởi vì điều luật này cũng quy định khả năng các bên có thể thỏa thuận về các phương thức xử lý tài sản bảo đảm khác, ngoài ba phương thức đã được liệt kê. Chẳng hạn, các bên có thể thỏa thuận về việc đưa tài sản bảo đảm vào khai thác hay cho thuê và số tiền thu được từ việc khai thác hay cho thuê sẽ được sử dụng vào việc thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm.

Trong trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm thì tài sản sẽ được bán đấu giá (khoản 2, Điều 303).

Việc bán đấu giá tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về bản đấu giá tài sản. Hiện nay, khuôn khổ pháp lý về bán đấu giá tài sản được điều chỉnh chủ yếu bởi Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 về bán đấu giá tài sản và Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày 06 tháng 12 năm 2010 của Bộ Tư pháp.

Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản – Điều 195, Bộ luật dân sự 2015 quy định “người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật”. Điểm b, khoản 1, Điều 303 đã mở ra một ngoại lệ cho bên nhận bảo đảm là người không phải chủ sở hữu của tài sản bảo đảm – được tự bán tài sản bảo đảm. Như vậy, để ngân hàng được tự mình bán tài sản cầm cố hay thế chấp, chỉ cần các bên có thỏa thuận về phương thức xử lý bảo đảm này, mà không cần có ủy quyền của bên bảo đảm cho ngân hàng vì mục đích này. Đây là một quy định mới và được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngân hàng trong việc xử lý bảo đảm.

Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ – Một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được quy định tại khoản 1, Điều 303 là “bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm”. Nghĩa vụ của bên bảo đảm là thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho người vay, nghĩa vụ của bên bảo đảm có thể được thay thế bằng việc ngân hàng nhận chính tài sản bảo đảm.

Như vậy, các phương thức xử lý tài sản trên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các ngân hàng thu hồi các khoản nợ của mình. Tuy nhiên trên thực tế việc thực hiện các biện pháp này lại gặp phải nhiều khó khăn như thiếu sự thiện chí, hợp tác của bên bảo đảm trong việc giao tài sản. Luật đã cho các ngân hàng một giải pháp để buộc bên bảo đảm giao tài sản hoặc thực hiện nghĩa vụ là khởi kiện lên tòa án và yêu cầu thi hành bản án đã tuyên. Tuy nhiên biện pháp này không mang lại hiệu quả khi mất nhiều thời gian, chi phí và công sức. Để giải quyết khó khăn, vướng mắc của ngân hàng trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm liên quan đến việc giao tài sản bảo đảm để xử lý, tạo điều kiện cho ngân hàng thúc đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu, tránh trường hợp chủ tài sản cố tình chây ỳ, chống đối kéo dài thời gian xử lý, gây ảnh hưởng lớn đến việc xử lý nợ xấu của ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đa số người gửi tiền, nâng cao kỷ luật hợp đồng, đồng thời, hạn chế việc ngân hàng lạm dụng quyền thực hiện hành vi thu giữ gây mất trật tự xã hội, xâm phạm đến các quyền khác của các chủ thể có liên quan, ngày 21 tháng 6 năm 2017 Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 42/2017/QH14 (Nghị quyết 42) về Thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, cho phép ngân hàng được thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm.

Quyền thu giữ tài sản bảo đảm được quy định tại Điều 7 Nghị quyết 42, theo đó ngân hàng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý khi đáp ứng đủ 05 điều kiện do luật định: Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

  • Thứ nhất, Khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự 2015.
  • Thứ hai, tại hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho ngân hàng có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật.
  • Thứ ba, giao dịch bảo đảm, biện pháp bảo đảm đã đăng ký theo quy định pháp luật. Quy định này bảo đảm quyền của bên nhận bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ 3.
  • Thứ tư, tài sản bảo đảm không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền; không đang bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật.
  • Thứ năm, ngân hàng đã hoàn thành nghĩa vụ công khai thông tin theo quy định tại Nghị quyết.

Dựa trên những điều kiện thu giữ tài sản cụ thể được phân tích ở trên, thấy rằng các quy định này chỉ hướng đến đối tượng tài sản bảo đảm là tài sản hữu hình và một số quyền tài sản vô hình, tiêu biểu là quyền sử dụng đất mà vẫn chưa bao quát được hết các loại tài sản bảo đảm, trong đó có Quyền sở hữu trí tuệ. Điều này cũng là phù hợp khi các quy định về giao dịch bảo đảm hiện hành chưa điều chỉnh trực tiếp việc bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ và Nghị quyết này chỉ mang tính chất thí điểm. Tuy nhiên, trong tương lai khi giao dịch bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ tại các ngân hàng diễn ra phổ biến, khi xuất hiện những khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là Quyền sở hữu trí tuệ, thì cần có một cơ chế đặc thù tương tự Nghị quyết 42 để xử lý tài sản bảo đảm.

Ngoài ra, một trong những khó khăn trong việc xử lý tài sản bảo đảm nói chung và xử lý Quyền sở hữu trí tuệ nói riêng, đó là những quy định về hạn chế chuyển nhượng, chuyển giao Quyền sở hữu trí tuệ.

Theo quy định tại khoản 4, Điều 133 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005: “Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác”. Khi ngân hàng khi xem xét chấp nhận một quyền sở hữu công nghiệp là tài sản bảo đảm thì cần lường trước những hạn chế trong việc xử lý tài các tài sản này.

Thứ nhất, Việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp

Khi xử lý tài sản bảo đảm bằng việc chuyển nhượng Quyền sở hữu trí tuệ cho tổ chức, cá nhân khác cần phải chú ý các điều kiện hạn chế theo quy định của pháp luật cụ thể như sau: Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

  • Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chỉ được chuyển nhượng quyền của mình trong phạm vi được bảo hộ.
  • Quyền đối với chỉ dẫn địa lý không được chuyển nhượng.

Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ cụ thể. Theo Luật sở hữu trí tuệ, nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý nhưng không trở thành chủ sở hữu của chỉ dẫn địa lý đó. Người thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó, bởi chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước Việt Nam. Đây chính là lý do chính hạn chế và giải thích tại sao chỉ dẫn địa lý không được chuyển nhượng.

  • Quyền đối với tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.

 Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Nếu chuyển nhượng tên thương mại cho tổ chức, cá nhân khác mà không chuyển nhượng cơ sở kinh doanh gắn liền với tên thương mại thì sẽ dẫn đến tính trạng gây nhẫm lẫn về sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho người tiêu dùng và không đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Vì vậy, quyền đối với tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.

  • Việc chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hóa dịch vụ mang nhãn hiệu

Vì nhãn hiệu chỉ được bảo hộ khi là một dấu hiệu (nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc¬) và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Khi chủ sở hữu tiến hành chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu thì không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đó.

  • Quyền đối với nhãn hiệu chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân đáp ứng được các điều kiện đối với người có quyền đăng ký nhãn hiệu đó.

Theo khoản 4, Điều 87 Luật sở hữu trí tuệ, các tổ chức, cá nhân Việt nam hoặc nước ngoài có hoạt động sản xuất hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ đều có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho sản phẩm do mình cung cấp. Thương nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường do người khác sản xuất, với điều kiện người sản xuất đó không sử dụng nhãn hiệu và không phản đối việc đăng ký đó. Như vậy, nhà sản xuất và các nhà phân phối sản phẩm, dịch vụ đều có quyền đăng ký nhãn hiệu. Bên chuyển nhượng nhãn hiệu chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện đăng ký nhãn hiệu nêu trên.

Thứ hai, chuyển giao quyền sử dụng công nghiệp

  • Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể. Mỗi thành viên sở hữu nhãn hiệu tập thể có những quyền và nghĩa vụ nhất định trong quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể đã được các thành viên thống nhất áp dụng. Vì vậy, chỉ có thành viên thuộc chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể mới có quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể của mình cho các thành viên khác. Bởi nếu chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể cho tổ chức, cá nhân không thuộc nhóm chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể cũng như từng thành viên của tổ chức này.

  • Bên được chuyển giao quyền sử dụng sở hữu công nghiệp không được ký kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba, trừ trường hợp được bên chuyển quyền cho phép.

Bên nhận chuyển quyền sử dụng sở hữu công nghiệp không có đầy đủ quyền của một chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp. Họ chỉ có quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng. Vì vậy, khi muốn ký kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba, cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thì phải được sự đồng ý của bên chuyển quyền. Đây là quy định nhằm bảo vệ quyền kiểm soát đối tượng sở hữu công nghiệp của chủ thể có quyền. Khóa luận: Pháp luật bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Hoàn thiện PL bảo đảm tín dụng quyền sở hữu trí tuệ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537