Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Hoàn thiện PL bảo đảm tín dụng quyền sở hữu trí tuệ mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về Bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của ngân hàng thương mại cho các bạn.
3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về về giao dịch bảo đảm và luật sở hữu trí tuệ để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn là vấn đề được Ðảng và Nhà nước ta dành sự quan tâm đặc biệt, nhất là hiện nay chúng ta đang tiến hành xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Nghị quyết Ðại hội lần thứ XI của Ðảng đã chỉ rõ, “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thật sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Ðảng lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội… Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”.
Pháp luật về về giao dịch bảo đảm và luật sở hữu trí tuệ là một phần của hệ thống pháp luật Việt Nam, việc hoàn thiện pháp luật về về giao dịch bảo đảm và luật sở hữu trí tuệ là góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Như đã nêu tại Chương II của bài viết, pháp luật Việt Nam hiện hành đang thiếu những quy định trực tiếp điều chỉnh các giao dịch bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm và luật sở hữu trí tuệ thực sự là nhu cầu thiết yếu nhằm tạo hành lang, cơ sở pháp lý cho hoạt động cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ trong các ngân hàng thương mại.
Việc hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm và luật sở hữu trí tuệ không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan lập pháp mà là nhiệm vụ chung của tất cả các chủ thể trong xã hội, đặc biệt là các chủ thể trực tiếp tham gia vào hoạt động cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ. Pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, khi các mối quan hệ xã hội có sự thay đổi thì đòi hỏi pháp luật cũng phải thay đổi theo. Để đảm bảo tính khả thi, các quy định pháp luật cần phải được xây dựng trên cơ sở thực tiễn và nhu cầu của các chủ thể tham gia giao dịch. Vì vậy, các văn bản pháp luật trước khi ban hành luôn được tham khảo ý kiến của các cơ quan hữu quan và các tổ chức, doanh nghiệp để kịp thời tiếp thu, sửa đổi các điểm bất cập, hạn chế.
Ngoài các chủ thể tham gia hoạt động cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ, các cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ như: Cục sở hữu trí tuệ, các cơ quan chuyên môn. Và các tư pháp như Tòa án, cơ quan Thi hành án cũng là những cơ quan có những đóng góp to lớn cho việc hoàn thiện pháp luật về cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ. Những vướng mắc, bất cập, yếu kém của pháp luật được phát hiện trong thực tiễn xét xử, thi hành án dân sự sẽ là nguồn đóng góp quan trọng nhằm hoàn thiện pháp luật. Khóa luận: Hoàn thiện PL bảo đảm tín dụng quyền sở hữu trí tuệ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật giao dịch bảo đảm và luật sở hữu trí tuệ để đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Đối với các loại tài sản bảo đảm hữu hình, khi bên có nghĩa vụ được bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ, bên nhận bảo đảm có thể tịch thu, thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý. Nhưng đối với tài sản bảo đảm là Quyền sở hữu trí tuệ – một loại tài sản vô hình, bên nhận bảo đảm không thể áp dụng biện pháp thu giữ mà chỉ có thể thông báo và tiến hành các biện pháp xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, việc xử lý Quyền sở hữu trí tuệ của bên nhận thế chấp khó khăn hơn việc xử lý tài sản bảo đảm hữu hình rất nhiều. Trường hợp được nhận bảo đảm với tính chất là tài sản bảo đảm chính thì bên được bảo đảm thường sẽ phải đáp ứng các điều kiện được cho vay không có bảo đảm theo quy định của Ngân hàng thương mại. Sở dĩ có tình trạng nêu trên là bởi vì pháp luật hiện hành chưa có một cơ chế chắc chắn để bảo đảm quyền lợi của bên nhận thế chấp Quyền sở hữu trí tuệ. Nếu như vấn đề quản lý Quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề các Ngân hàng thương mại có thể kiểm soát, chủ động được thông qua các biện pháp như thông báo với bên có nghĩa vụ thanh toán, yêu cầu bên bảo đảm mở tài khoản tại Ngân hàng thương mại nhận thế chấp để nhận các khoản thanh toán của bên có nghĩa vụ thì vấn đề xử lý Quyền sở hữu trí tuệ lại không phải vấn đề các Ngân hàng thương mại được tự do thực hiện mà phải trên cơ sở quy định của pháp luật. Như vậy, vấn đề vướng mắc lớn nhất cần giải quyết là đưa ra cơ chế xử lý một cách hiệu quả Quyền sở hữu trí tuệ và một trong những biện pháp có thể xem xét lựa chọn là trao quyền chủ động cho bên nhận thế chấp. Theo đó, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại hợp đồng phát sinh Quyền sở hữu trí tuệ, bên nhận thế chấp có thể áp dụng các biện pháp hợp pháp để thu hồi số tiền bên có nghĩa vụ phải thanh toán, bao gồm nhưng không giới hạn các biện pháp như thu giữ tài sản khác của bên có nghĩa vụ, yêu cầu ngân hàng nơi bên có nghĩa vụ mở tài khoản phong tỏa tài khoản, trích tiền từ tài khoản của bên có nghĩa vụ thanh toán.
Nếu vướng mắc về cách thức xử lý Quyền sở hữu trí tuệ được giải quyết, Quyền sở hữu trí tuệ có thể trở thành một loại tài sản bảo đảm thực thụ, phát huy được vai trò của mình và mang lại cơ hội tiếp cận nguồn vốn rất lớn cho các thành phần kinh tế trong xã hội. Đồng thời, cũng mở ra cơ hội kinh doanh mới cho các tổ chức tín dụng nói chung và các Ngân hàng thương mại nói riêng.
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về thế chấp Quyền sở hữu trí tuệ để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Khóa luận: Hoàn thiện PL bảo đảm tín dụng quyền sở hữu trí tuệ.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, một trong những yếu tố được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hàng đầu trước khi đưa ra quyết định đầu tư vào Việt Nam đó là hệ thống pháp luật. Sự hoàn thiện, ưu việt, minh bạch của hệ thống pháp luật không chỉ là thước đo sự phát triển của một quốc gia mà còn là một yếu tố có sức hút mãnh liệt đối với các nhà đầu tư. Thật vậy, khi đầu tư vào một quốc gia, các nhà đầu tư cần biết chắc chắn rằng nếu có rủi ro, tranh chấp xảy ra đối với nguồn vốn của mình, họ có thể được bảo vệ bởi pháp luật của nước sở tại hay không, có cơ sở để thu hồi vốn hay không. Quyền sở hữu trí tuệ là loại tài sản hữu hình chỉ bắt đầu được thừa nhận trong thời đại kinh tế thị trường, như vậy có thể nói Quyền sở hữu trí tuệ là loại tài sản của xã hội văn bản. Do đó, sự hoàn thiện của pháp luật về thế chấp Quyền sở hữu trí tuệ sẽ là minh chứng xác đáng thể hiện sự tiến bộ của một hệ thống pháp luật.
Hiện nay, vươn ra thị trường quốc tế là mục tiêu của rất nhiều các doanh nghiệp Việt Nam. Để làm được điều này không chỉ cần sự nỗ lực của bản thân các doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống pháp luật Việt Nam. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, sự phát triển của hệ thống pháp luật của nước mà doanh nghiệp đó mang quốc tịch là một trong những điều kiện đầu tiên quyết định việc một doanh nghiệp có thể đầu tư vào quốc gia đó hay không.
Khi Việt Nam tham gia vào các tổ chức quốc tế, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật cũng là một trong những yếu tố quan trọng được các tổ chức này quan tâm, xem xét. Do đó, muốn hội nhập kinh tế quốc tế, một đòi hỏi cấp thiết là Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hơn nữa vai trò của pháp luật.
Trong thời gian gần đây Quyền sở hữu trí tuệ mới trở thành loại tài sản bảo đảm phổ biến và được các Ngân hàng thương mại nhận thế chấp một cách rộng rãi. Có lẽ một phần vì lý do đó mà các quy định của pháp luật về vấn đề thế chấp Quyền sở hữu trí tuệ còn khá hạn chế và bất cập.
3.2. Một số đề xuất cụ thể nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Khóa luận: Hoàn thiện PL bảo đảm tín dụng quyền sở hữu trí tuệ.
3.2.1. Đối với nhà nước
Nhà nước nước phải cung cấp một môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động cho vay có bảo đảm bằng quyền sở hữu trí tuệ, mà trọng tâm là việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ.
Tài sản bảo đảm là quyền tài sản đối với đối tượng Quyền sở hữu trí tuệ (trong bài gọi tắt là Quyền sở hữu trí tuệ). Để cả phía ngân hàng và bên vay chấp nhận và sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay, thì Quyền sở hữu trí tuệ phải cho các chủ thể thấy được giá trị của nó, những lợi ích mà nó mang lại, khả năng có thể thực hiện được, thực hiện được một cách thuận lợi, đơn giản, khả năng có thể kiểm soát được và tính an toàn về mặt pháp lý của nó. Do đó, nhà nước với vai trò tạo ra môi trường pháp lý và định hướng phát triển cần có những chính sách về Quyền sở hữu trí tuệ hợp lý để nhận thức kịp thời về tầm quan trọng của Quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế hiện đại và có những chính sách bảo hộ tốt hơn đối với quyền của người sở hữu Tài sản trí tuệ và Quyền sở hữu trí tuệ, cụ thể:
- Nhà nước nên có những thống kê, báo cáo hàng năm về thị trường Quyền sở hữu trí tuệ để tạo lập một hệ thống thông tin đáng tin cậy cho các đối tượng quan tâm, làm hạn chế rủi ro về thông tin bất cân xứng.
- Nhà nước nên có những dự án, chương trình giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của Quyền sở hữu trí tuệ trong người dân để gia tăng nhận diện với Quyền sở hữu trí tuệ, giúp mở rộng thị trường người mua, người bán cũng như giúp bảo vệ tốt hơn giá trị của các Quyền sở hữu trí tuệ từ trong người dân. Chủ động tạo ra các thị trường chấp nhận Quyền sở hữu trí tuệ để có môi trường phát triển loại hình tài sản này, do đó sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho việc sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm.
- Nhà nước cần tiếp tục thiết lập một hệ thống cấp độc quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và các loại Quyền sở hữu trí tuệ khác, tạo động lực cho sự sáng tạo và kích thích sự đổi mới trong khi vẫn thúc đẩy cạnh tranh công bằng bằng cách đảm bảo rằng chỉ những người sở hữu trí tuệ có đủ điều kiện để có thể tồn tại lâu dài quá trình kiểm tra được độc quyền.
Thứ hai, về chế độ đăng ký giao dịch bảo đảm Khóa luận: Hoàn thiện PL bảo đảm tín dụng quyền sở hữu trí tuệ.
Nhà nước cần tiếp tục xây dựng và vận hành một hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm liên quan đến Quyền sở hữu trí tuệ để tăng cường tính minh bạch của giao dịch bảo đảm. Như đã phân tích ở mục 2.2.2.3. thì để tạo ra sự tập trung trong quản lý Quyền sở hữu trí tuệ nói chung và các giao dịch về Quyền sở hữu trí tuệ nói riêng, sự hiệu quả trong việc đăng ký giao dịch bảo đảm thì Nhà nước nên giao cho Cục sở hữu trí tuệ là cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời Nhà nước nên bổ sung quy định về sự phối hợp giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với phía ngân hàng trong việc quản lý Quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian bảo đảm như: không tiến hành đăng ký các giao dịch chuyển giao Quyền sở hữu trí tuệ đang là tài sản bảo đảm mà không có sự đồng ý của bên ngân hàng, đồng thời có thông báo cho bên ngân hàng biết.
Thứ ba, về biện pháp xử lý tài sản bảo đảm.
Để hỗ trợ các ngân hàng trong việc xử lý tài sản bảo đảm, nhà nước cần đẩy mạnh nghiên cứu và áp dụng các biện pháp xử lý tài sản mới. Nghị định 42/2017/NĐ-CP về thí điểm xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại đã trao cơ hội cho các ngân hàng được áp dụng những biện pháp xử lý tài sản bảo đảm mới, trong đó tăng cường trao quyền cho phía ngân hàng, như quyền thu giữ tài sản bảo đảm, thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, để các biện pháp này được áp dụng rộng rãi và thực sự hỗ trợ cho các ngân hàng, thì các cơ cơ quan nhà nước cần tích cực phối hợp, hỗ trợ ngân hàng trong việc xử lý tài sản bảo đảm, tổ chức tổng kết, đánh giá kết quả triển khai các biện pháp này, từ đó đề ra những biện pháp xử lý tài sản bảo đảm phù hợp hơn.
Thứ tư, về hướng dẫn cụ thể về hoạt động cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ
Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động ngân hàng, trong đó có hoạt động cho vay, ngân hàng nhà nước cần có những chính sách khuyến khích hoạt động cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ của các Ngân hàng thương mại. Ngân hàng nhà nước cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, xây dựng văn bản hướng dẫn các Ngân hàng thương mại thực hiện việc cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng các tiêu chuẩn về tài sản bảo đảm và hướng dẫn việc xử lý Quyền sở hữu trí tuệ khi nghĩa vụ trả nợ, từ đó mới thực sự khuyến khích các Ngân hàng thương mại thực hiện việc cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ.
3.2.2. Đối với ngân hàng Khóa luận: Hoàn thiện PL bảo đảm tín dụng quyền sở hữu trí tuệ.
Các NH cần chấp nhận nó như một tài sản có thể bảo đảm cho vay để mở rộng thị trường và gián tiếp giúp nâng cao nhận thức đối với Quyền sở hữu trí tuệ . Cán bộ tín dụng phải có cập nhật nhanh chóng với thị trường Quyền sở hữu trí tuệ , cũng như cách xác định giá trị Quyền sở hữu trí tuệ cho mục đích đảm bảo cho vay phù hợp với thị trường cho vay của Việt Nam và sự an toàn của NH. Cần bổ trợ kiến thức về thẩm định tài sản vô hình nói chung và Quyền sở hữu trí tuệ nói riêng cho các cán bộ tín dụng. Quyền sở hữu trí tuệ thường có thị trường giao dịch rất nhỏ và khá đặc thù. Theo lẽ thường, với loại giao dịch này, chỉ cần có bên mua và bên bán đồng ý thì giao dịch sẽ diễn ra mà không cần hoạt động định giá độc lập và chuyên nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động định giá đối với các NH trước khi quyết định tài trợ vốn cho DN dựa trên tài sản đảm bảo là Quyền sở hữu trí tuệ lại rất quan trọng và đòi hỏi sự cẩn trọng, tỉ mỉ. Mục đích việc định giá Quyền sở hữu trí tuệ là lường trước các khả năng rủi ro, đánh giá mức độ sinh lời, lợi nhuận đầu tư vào “hàng hóa” là Quyền sở hữu trí tuệ . Để làm tốt được công việc này đòi hỏi bộ máy NH phải có bộ phận chuyên trách, am hiểu pháp luật về sở hữu trí tuệ và các kỹ năng chuyên môn về thẩm định, định giá Quyền sở hữu trí tuệ . Một cách khác giúp NH có thể thực hiện được công tác thẩm định, định giá Quyền sở hữu trí tuệ là ký hợp đồng “out- sourcing” với bên thứ ba để thuê mua dịch vụ này. Bên thứ ba sẽ phân tích, đánh giá minh bạch giá trị Quyền sở hữu trí tuệ , giải trình rõ ràng, ký xác nhận, chịu trách nhiệm về công tác thẩm định đối với NH. Thẩm định Quyền sở hữu trí tuệ là một nghiệp vụ rất quan trọng trước khi tài trợ vốn, vì nó quyết định đến giá trị của Quyền sở hữu trí tuệ . Một số yếu tố cần xét đến khi thẩm định thường là: Lường trước các vụ tranh chấp pháp lý có thể xảy ra ở hiện tại và tương lai; mức độ uy tín của công ty luật tư vấn; tư cách của luật sư tham gia thẩm định; và tính chuyên nghiệp của tư vấn kỹ thuật và công nghệ… NH cần có những điều khoản pháp lý ràng buộc chặt chẽ quyền lợi và nghĩa vụ các bên liên quan trong hợp đồng thế chấp Quyền sở hữu trí tuệ , đối với các tài sản hiện tại và tài sản tương lai, vì tài sản tương lai thì khó có thể định giá hơn.
Kinh nghiệm cho thấy, vì bên đi vay là bên luôn cần vốn tài trợ, nên họ thường dễ dàng đồng ý ký kết thụ động với các điều khoản hợp đồng do NH dự thảo. Trong quá trình cho vay đối với trường hợp dùng Quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản đảm bảo cán bộ tín dụng cần chú ý những điều sau: Khóa luận: Hoàn thiện PL bảo đảm tín dụng quyền sở hữu trí tuệ.
- Thường xuyên đánh giá lại chiến lược sở hữu trí tuệ;
- Không bỏ mặc các vấn đề về sở hữu trí tuệ;
- Đảm bảo rằng Tài sản trí tuệ ở trạng thái tốt nhất khi ra bán công ty;
- Đảm bảo rằng chính sách bảo hiểm sẽ phải bao trùm cả các loại Quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình bán công ty;
3.2.3 Đối với doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp cần gia tăng mức độ nhận thức và sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ, bằng cách:
- Có những trợ cấp cho việc sử dụng các hệ thống Quyền sở hữu trí tuệ : Các chủ sở hữu nên có nguồn vốn nhất định hỗ trợ cho Quyền sở hữu trí tuệ , nhằm bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ của mình, tránh bị làm giả, lạm dụng hình ảnh khiến giảm giá trị.
- Luôn tự theo dõi Quyền sở hữu trí tuệ của mình và có những báo cáo biến động hàng năm thích hợp để cung cấp thông tin, hạn chế rủi ro do thông tin bất cân xứng.
- Xây dựng hệ thống nhận thức và năng lực nhận thức rõ hơn về lợi ích của việc bảo vệ sáng kiến của mình đối với quyền sở hữu trí tuệ, và trang bị cho chủ sở hữu những khả năng để duy trì giá trị của Quyền sở hữu trí tuệ . Bảo đảm cho Quyền sở hữu trí tuệ của mình có thể được bảo vệ khỏi các rủi ro. Tự bảo vệ các Quyền sở hữu trí tuệ của mình trước các rủi ro về thị trường, rủi ro kinh tế và lạc hậu về công nghệ để không bị tác động đến giá trị. Đăng ký những văn bằng bảo hộ cần thiết với các quyền sở hữu trí tuệ và có các biện pháp bảo vệ Quyền sở hữu trí tuệ .
KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện PL bảo đảm tín dụng quyền sở hữu trí tuệ.
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản được công nhận ngày càng phổ biến và có giá trị lớn. Việc sử dụng, khai thác Quyền sở hữu trí tuệ đang được nhà nước, các ngân hàng, các doanh nghiệp và các chủ thể khác quan tâm, trong đó có việc sử dụng Quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay tại các Ngân hàng thương mại.
Các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển đã và đang có những bước đi trong việc cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ như hiện đại hóa chế độ pháp lý về giao dịch bảo đảm, hoàn thiện chế độ bảo hộ sở hữu trí tuệ mạnh mẽ, hiệu quả và xây dựng thị trường sở hữu trí tuệ dễ tiếp cận,… Đây là một xu hướng tất yếu của sự phát triển kinh tế, xã hội và pháp lý của toàn nhân loại, nên đòi hỏi các quốc gia, trong đó có Việt Nam nghiên cứu và áp dụng.
Hiện nay, hoạt động cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã diễn ra, tuy nhiên diễn ra với số lượng không đáng kể. Trong đó nguyên nhân, đồng thời là hệ quả của thực trạng này là pháp luật Việt Nam chưa có quy định trực tiếp điều chỉnh về biện pháp bảo đảm tín dụng bằng Quyền sở hữu trí tuệ mà chỉ có các quy định làm nền tảng cơ bản cho việc xây dựng một chế độ pháp lý về biện pháp bảo đảm bằng quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại như: quy định pháp luật dân sự về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, tài sản bảo đảm, pháp luật về sở hữu trí tuệ,… Do đó, để kịp thời bắt nhịp với sự phát triển của thế giới, đáp ứng các yêu cầu của hoạt động kinh tế và để hoạt động cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện trên thực tế đòi hỏi phải có sự nâng cao, thay đổi của nhiều yếu, nhiều chủ thể, trong đó đặt trọng tâm là thay đổi các quy định pháp luật về biện pháp bảo đảm nghĩa vụ.
Với lợi thế là một đất nước đi sau, Việt Nam có thể học hỏi mô hình pháp luật của các nước phát triển trên thế giới về biện pháp bảo đảm tín dụng bằng Quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, vấn đề cho vay có bảo đảm bằng Quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề mới, các nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế và khu vực đang trong quá trình nghiên cứu và xây dựng một mô hình pháp lý hoàn thiện nhất. Do đó việc lựa chọn một mô hình học tập cho pháp luật Việt Nam cần phải được xem xét những ưu điểm và nhược điểm của từng mô hình để vận dụng linh hoạt vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Dựa trên những phân tích nêu trên, bài khóa luận của người viết đã cố gắng tìm hiểu những cơ sở lý luận của việc áp dụng biện pháp bảo đảm tín dụng bằng Quyền sở hữu trí tuệ trong các Ngân hàng thương mại, thực trạng pháp luật Việt Nam về vấn đề này, đồng thời từ đó đưa ra một vài kiến nghị cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng Quyền sở hữu trí tuệ trong Ngân hàng thương mại Việt Nam. Tuy nhiên, do sự hữu hạn về kiến thức và hiểu biết nên trong phạm vi bài khóa luận tốt nghiệp này, người viết không thể bao quát, làm rõ hết các vấn đề về biện pháp bảo đảm tín dụng bằng Quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên người viết cũng hy vọng thông qua bài khóa luận tốt nghiệp này sẽ góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm tín dụng bằng Quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của Ngân hàng thương mại, đưa các biện pháp bảo đảm này vào áp dụng trong thực tiễn của hoạt động ngân hàng. Khóa luận: Hoàn thiện PL bảo đảm tín dụng quyền sở hữu trí tuệ.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
