Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Hoàn thiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và một số biện pháp nhằm hạn chế việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cho các bạn.
3.1. Hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Như đã phân tích ở chương 2 thì pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tế. Do đó việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là cần thiết để khắc phục được những bất hợp lý trên.
- Thứ nhất: Đối với quy định về căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật gồm hai trường hợp: người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Có thể thấy, các quy định của pháp luật về trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng tương đối hợp lý, nhưng đối với trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì ở một số căn cứ cần phải xem xét nghiên cứu sửa đổi, bổ sung thêm cho phù hợp với thực tế. Các trường hợp người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng được quy định ở Điều 17, Điều 31, Điều 38 và Điều 85 bộ luật lao động.
Điều 17 bộ luật lao động cho phép người sử dụng lao động được quyền chấm dứt hợp đồng đối với người lao động khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ theo quy định của pháp luật tương đối hẹp chỉ gồm 3 trường hợp. Đó là trường hợp thay đổi máy móc, thiết bị quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn; thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu của sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít hơn; thay đổi cơ cấu tổ chức: sáp nhập, giải thể một số bộ phận của doanh nghiệp. Hiện nay, có một thực tế đang được đặt ra là trong cuộc khủng hoảng tài chính mang tính toàn cầu rất nhiều doanh nghiệp đã buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc nên cho người lao động nghỉ việc hàng loạt. Vấn nạn này không chỉ ở Việt Nam mà mang tính toàn cầu. Song vì pháp luật không có các quy định về vấn đề này nên thực tế các doanh nghiệp đều phải cố gắng biến tấu đưa vào các trường hợp luật định để chấm dứt hợp pháp như như giải thể, sáp nhập một số bộ phận của doanh nghiệp mà không dám thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc. Do đó, pháp luật cần có những quy định nhằm đảm bảo sự linh hoạt trong việc sử dụng cho các doanh nghiệp trong trường hợp này như cho phép các doanh nghiệp được chấm dứt hợp đồng đối với người lao động khi doanh nghiệp thực sự gặp khó khăn về tài chính dẫn đến phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc.
Bên cạnh các căn cứ chấm dứt, thủ tục chấm dứt theo Điều 17 bộ luật lao động cũng là vấn đề cần phải được xem xét. Theo quy định của pháp luật hiện hành, trước khi cho người lao động thôi việc, người sử dụng lao động phải đào tạo lại người lao động, sau đó nếu không bố trí được việc làm mới chấm dứt hợp đồng đối với người lao động. Quy định này ở một góc độ nào đó chính là đảm bảo an ninh việc làm cho người lao động, song lại thiếu sự linh hoạt của thị trường lao động. Điều đó thể hiện ở chỗ, khi thay đổi cơ cấu công nghệ doanh nghiệp sẽ xác định được số lao động tiếp tục sử dụng và số lao động sẽ phải chấm dứt. Đối với số lao động tiếp tục được sử dụng thì doanh nghiệp đào tạo lại để phù hợp với công nghệ mới là hợp lý nhưng với số lao động chắc chắn sẽ phải chấm dứt mà doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại thì hoàn toàn không hợp lý. Việc đào tạo lại này chỉ mang tính hình thức, mất thời gian và tốn kém. Hơn nữa, chưa chắc nghề mới mà doanh nghiệp đã đào tạo sẽ giúp người lao động tìm được một công việc mới. Vì vậy thiết nghĩ không nên buộc tất cả những trường hợp bị thôi việc trong những trường hợp này doanh nghiệp đều phải đào tạo lại mà nên thay vào đó là cho phép doanh nghiệp được trả cho người lao động một khoản tiền để người lao động tự học một nghề mới phù hợp với nhu cầu của thị trường. Điều đó, không chỉ đảm bảo được sự linh hoạt của thị trường lao động mà còn đảm bảo được an ninh việc làm cho người lao động. Khóa luận: Hoàn thiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Thứ hai: Về trách nhiệm của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vi phạm thời hạn báo trước. Theo quy định tại khoản 4 Điều 42 bộ luật lao động thì người lao động trong trường hợp này phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày vi phạm thời hạn báo trước. Tuy nhiên, hiện nay Nghị định số 44/2003/NĐ-CP lại hướng dẫn: trong trường hợp này, người lao động còn không được hưởng trợ cấp thôi việc. Mặc dù với việc tăng thêm trách nhiệm như trên có thể sẽ hạn chế được tình trạng người lao động chấm dứt hợp đồng lao động do vi phạm nghĩa vụ báo trước, từ đó bảo vệ được lợi ích của người sử dụng lao động nhưng nó chưa hợp lý vì nếu theo hướng dẫn này, người lao động vi phạm thời hạn báo trước sẽ phải gánh chịu trách nhiệm nặng hơn so với người sử dụng lao động có hành vi tương tự. Điều này tạo nên sự bất bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động, trong khi xét về năng lực kinh tế người sử dụng lao động luôn ở vị thế cao hơn hẳn so với người lao động. Đó là chưa kể tới việc quy định như vậy là vi phạm nguyên tắc bảo vệ người lao động của Luật lao động ở nước ta. Do đó cần có sự phân biệt về hậu quả pháp lý giữa chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật về căn cứ và trái pháp luật về thủ tục của người lao động. Thông thường, nếu người lao động chấm dứt hợp đồng lao động pháp luật về mặt thủ tục (vi phạm nghĩa vụ báo trước) thì hậu quả pháp lý mà họ phải gánh chịu nhẹ hơn trường hợp họ chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật về căn cứ. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, hậu quả pháp lý mà người lao động phải gánh chịu khi chấm dứt hợp đồng trái pháp luật về thủ tục còn nặng hơn so với trường hợp chấm dứt hợp đồng trái pháp luật về căn cứ. người lao động chấm dứt hợp đồng trái pháp luật về căn cứ sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc. Còn trường hợp người lao động chấm dứt hợp đồng trái pháp luật về thủ tục ngoài việc không được hưởng trợ cấp thôi việc còn phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trên thời gian vi phạm. Điều đó không hợp lý nên bộ luật lao động cần sửa đổi theo hướng có sự phân biệt về hậu quả pháp lý giữa trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật về căn cứ và trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật về thủ tục theo hướng chấm dứt trái pháp luật về thủ tục hậu quả pháp lý nhẹ hơn so với chấm dứt trái pháp luật về căn cứ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
Thứ ba: Đối với những quy định về hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Các quy định về giải quyết các hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được quy định tại Điều 41, Điều 42, Điều 43 bộ luật lao động và Điều 13, 14, 15 Nghị định 44/2003/NĐ-CP. Thực trạng áp dụng quy định trên còn bộc lộ một số vấn đề sau:
Người lao động bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, sau đó đã ký hợp đồng làm việc ở nơi khác. Trường hợp này được coi là người lao động đã có việc làm khác để bác yêu cầu đòi trở lại làm việc của người lao động hay không? Nếu chấp nhận yêu cầu của người lao động, buộc người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc thì người sử dụng lao động có phải bồi thường cho người lao động tiền lương trong thời gian không được làm việc hay không? Nếu tiền lương khi người lao động làm việc ở nơi khác thấp hơn thì người sử dụng lao động có phải bồi thường phần chênh lệch hay không? Khóa luận: Hoàn thiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Tại khoản 1 Điều 41 bộ luật lao động đã quy định: “Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có)”.
Theo quy định nói trên, nếu đã xác định việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động là trái pháp luật thì dù người lao động đã đi làm việc ở nơi khác họ vẫn có quyền yêu cầu người sử dụng lao động nhận họ trở lại làm việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi thường tiền lương trong thời gian bị chấm dứt hợp đồng lao động.
Vì người lao động làm việc ở nơi khác, trong một quan hệ lao động không có liên quan; do đó dù tiền lương thấp hơn hoặc cao hơn so với tiền lương của hợp đồng bị chấm dứt thì cũng không được coi là căn cứ để tính khoản bồi thường.
Về quyền của người sử dụng lao động yêu cầu người lao động bồi thường phí đào tạo.
Trong chiến lược phát triển nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, đào tạo nguồn nhân lực luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách. Nhận thức được vấn đề nêu trên, khoản 3 Điều 41 bộ luật lao động đã đưa ra nguyên tắc về bồi thường phí đào tạo theo hướng nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường chi phí đào tạo (nếu có).
Đây có thể coi là một đảm bảo về mặt pháp lý cho người sử dụng lao động, để họ có thể yên tâm đầu tư mọi nguồn lực của mình để đào tạo lao động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực thi chính sách này lại quá hạn chế.
Điều 13 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành Điều 41 của bộ luật lao động chỉ yêu cầu người lao động bồi thường phí đào tạo cho người sử dụng lao động khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Điều này có thể hiểu là, nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng quy định của pháp luật thì rõ ràng không phải bồi thường phí đào tạo. Trên thực tế, Bộ lao động Thương binh và Xã hội đã hiểu theo hướng này. Tại Công văn số 3443/LĐTBXH-LĐVL ngày 26/9/2007 trả lời thư bạn đọc trên Website Chính phủ, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã trả lời dứt khoát là trách nhiệm bồi thường chi phí đào tạo của người lao động chỉ phát sinh khi họ chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Nếu nguyên tắc bồi thường chi phí đào tạo được hiểu như trên thì thật không công bằng cho người sử dụng lao động, do người lao động quá dễ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động một cách hợp pháp. Đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn, người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động một cách hợp pháp bất kỳ lúc nào và trong bất kỳ hoàn cảnh nào mà chỉ cần thông báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất là 45 ngày. Khóa luận: Hoàn thiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với thực trạng là nguồn nhân lực thì nhiều, nhưng chủ yếu là lao động phổ thông và thiếu trầm trọng lực lượng cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và người lao động có tay nghề cao. Trên thực tế, để đào tạo ra một công nhân thạo nghề, doanh nghiệp có thể phải mất thời gian hàng tháng với chi phí không dưới vài triệu đồng. Để rèn luyện một cán bộ quản lý hay một kỹ sư có khả năng làm việc độc lập, doanh nghiệp phải mất thời gian, tiền bạc nhiều hơn. Việc đào tạo các chuyên gia quản lý cao cấp còn tốn kém hơn nữa, chi phí không dưới vài chục ngàn đô la Mỹ.
Nếu áp dụng các quy định của pháp luật, tức là, chỉ sau 45 ngày báo trước, người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động một cách hợp pháp và không phải bồi thường phí đào tạo. Điều này cũng có nghĩa người sử dụng lao động nghiễm nhiên mất một khoản tiền lớn đã dùng để đào tạo người lao động không chịu làm việc cho mình.
Phân tích một tình huống cụ thể trên thực tế sẽ thấy bất cập của quy định bồi thường phí đào tạo: “NLĐ làm việc trong doanh nghiệp theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên ký kết hợp đồng đào tạo trong đó người lao động cam kết sau khi đào tạo làm việc cho doanh nghiệp trong 5 năm. Sau khi được đào tạo chưa làm hết thời hạn cam kết, người lao động đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Vì là hợp đồng lao động không xác định thời hạn, nên người lao động chỉ thực hiện nghĩa vụ báo trước theo đúng quy định tại khoản 2
Điều 37 bộ luật lao động
Trường hợp này, người lao động có phải bồi thường phí đào tạo vì vi phạm cam kết về thời gian làm việc sau khi đào tạo hay không?” Vấn đề này hiện tại có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp này người lao động không phải bồi thường vì lý do sau: Khoản 3 Điều 41 bộ luật lao động quy định: “Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường chi phí đào tạo (nếu có) theo quy định của Chính phủ”. Điều 13 Nghị định số 44/2003/NĐCP và tiết b, điểm 4, mục III Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH quy định người lao động phải bồi thường phí đào tạo nghề khi tự ý bỏ việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp chấm dứt đúng theo quy định tại Điều 37 bộ luật lao động. Như vậy trong trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tuy có vi phạm cam kết về thời hạn làm việc sau khi đào tạo, nhưng đã báo trước đúng quy định thì không phải bồi thường phí đào tạo.
Quan điểm thứ hai cho rằng trong trường hợp này, người lao động phải bồi thường.
Cá nhân em thì đồng ý với quan điểm thứ hai hơn. Bởi lẽ, mặc dù các bên đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, ngay sau đó người lao động lại đã ký kết tiếp bản cam kết sẽ làm việc cho người sử dụng lao động một thời hạn nhất định sau khi được đào tạo nghề. Như vậy cam kết này cũng có giá trị pháp lý bổ sung cho hợp đồng lao động. Sau khi người lao động được đào tạo thì có nghĩa vụ phải làm việc cho người sử dụng lao động theo thời hạn đã cam kết. Do đó trong thời hạn cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động. Chỉ khi người lao động chấm dứt hợp đồng theo đúng quy định tại khoản 1,2 Điều 37 bộ luật lao động mới không phải bồi thường. Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp cần có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
3.2. Một số biện pháp nhằm hạn chế đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật Khóa luận: Hoàn thiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Qua quá trình nghiên cứu pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thực tiễn áp dụng cho thấy tình trạng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật còn diễn ra phổ biến. Điều đó đặt ra việc phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Đồng thời cũng phải đưa ra các biện pháp để hạn chế việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hiện nay.
Thứ nhất, Nhà nước cần có những biện pháp nâng cao ý thức pháp luật lao động cho mọi đối tượng, bởi một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là do ý thức pháp luật của các chủ thể khi tham gia quan hệ lao động chưa cao, tầm hiểu biết còn hạn chế. Bởi vì đó là nguồn nhân lực đã, đang và sẽ tham gia quan hệ lao động với tư cách người lao động hoặc người sử dụng lao động. Sự hiểu biết của họ về pháp luật lao động là rất cần thiết.
Thứ hai, Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức về pháp luật lao động nói chung và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nói riêng.
Để pháp luật về lao động thực sự đi vào cuộc sống thì vai trò của công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức của mọi người về vấn đề này là rất quan trọng. Qua nghiên cứu thực tiễn thì tình trạng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng một nguyên nhân không nhỏ đó là sự thiếu hiểu biết về pháp luật lao động của các bên tham gia quan hệ lao động. Việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật lao động sẽ nâng cao nhận thức cũng như ý thức chấp hành pháp luật của các bên trong quan hệ lao động. Từ việc hiểu biết được pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và người lao động sẽ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng căn cứ, thủ tục và sẽ tự bảo vệ quyền lợi của mính khi bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Công tác tuyên truyền pháp luật nói chung và pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nói riêng sẽ hạn chế tình trạng sa thải trái pháp luật hiện nay.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật thường chỉ được quan tâm khi Bộ luật lao động cũng như Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động mới được ban hành còn các văn bản hướng dẫn luật thì chưa được phổ biến sâu rộng. Mặt khác, hiệu quả của công tác tuyên truyền phụ thuộc rất nhiều vào các tuyên truyền viên nhưng hiện nay số lượng các tuyên truyền viên thường rất hạn chế cả về số lượng cũng như trình độ, chính sách đãi ngộ đối với họ còn chưa thỏa đáng. Vì vậy mà hiệu quả của công tác tuyên truyền pháp luật còn chưa được cao, phần lớn người lao động và người sử dụng lao động còn chưa nắm vững các quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, trong thời gian tới rất cần có sự phối hợp của các cơ quan khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả quả công tác giáo dục kiến thức pháp luật. Mặt khác, việc tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật còn phải được thực hiện trên nhiều kênh thông tin khác nhau như thông qua các lớp tập huấn, tu vấn tại chỗ cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng Khóa luận: Hoàn thiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Thứ ba, Cần nâng cao vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc bảo vệ người lao động trong quan hệ lao động. Điều cần thiết trước hết là phải thành lập được tổ chức công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời trong mọi doanh nghiệp. Để làm được điều này chúng ta cần có những biện pháp như tuyên truyền giáo dục đối với người lao động về tổ chức và vai trò của Công đoàn đối với từng cá nhân người lao động cũng như tập thể người lao động, qua đó giúp cho người lao động thấy được sự cần thiết phải có tổ chức Công đoàn trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam cũng phải xây dựng và đưa ra một quy chế để bảo vệ cán bộ công đoàn cơ sở, để Công đoàn cơ sở thực sự là một chỗ dựa vững chắc cho người lao động trong doanh nghiệp. Như vậy mới có những cán bộ công chức đứng ra bảo vệ người lao động. Mặt khác, Công đoàn cũng cần quan tâm chú trọng đến công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật đến người lao động vì một trong những nguyên nhân dẫn đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vi phạm pháp luật là do người lao động không hiểu biết luật.
Và để hạn chế việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, bảo vệ quyền lợi cho người lao động rất cần phải nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn. Thực tế cho thấy tổ chức công đoàn vẫn chưa phát huy đươc hết vai trò của mình. Bởi vì, về phía người lao động, họ chưa có ý thức được vai trò của công đoàn cho nên họ không nhiệt tình khi tham gia tổ chức công đoàn dẫn tới nhiều đơn vị lao động chưa có tổ chức công đoàn. Mặt khác, đa số thành viên của công đoàn là những người lao động chưa có kiến thức sâu rộng về pháp luật lao động, hơn nữa họ lại bị phụ thuộc về mặt kinh tế đối với người sử dụng lao động nên khó có thể độc lập và bình đẳng trong quan hệ với người sử dụng lao động, nhiều cán bộ công đoàn còn đi ngược với lợi ích của người lao động. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả và vai trò của công đoàn cần:
Nâng cao nhận thức của người lao động về vai trò của công đoàn, làm cơ sở cho việc thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, ban chấp hành công đoàn lâm thời tại các đơn vị chưa có tổ chức công đoàn để bảo vệ cho quyền lợi của người lao động.
Nâng cao chất lượng của các cán bộ công đoàn bằng cách có kề hoạch bồ dưỡng, đào tạo, tập huấn nâng cao kiến thức pháp luật lao động, tăng cường số lượng cán bộ công đoàn chuyên trách để có sự độc lập tương đối trong mối quan hệ với người sử dụng lao động, tận tâm bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Đồng thời cũng phải có những biện pháp bảo vệ quyền lợi cho các cán bộ cộng đoàn, tránh tình trạng bị người sử dụng lao động trù dập khi tham gia tích cực tổ chức công đoàn. Nâng cao công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý kịp thời các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý những vi phạm pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cũng cần được tăng cường và coi trọng. Để thực hiện được điều này, trước tiên cần bổ sung và nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật cho lực lượng thanh tra Nhà nước về lĩnh vực lao động. Bên cạnh đó, xây dựng một cơ chế giám sát việc tuân theo pháp luật lao động nói chung và pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nói riêng cũng là một vấn đề mà Nhà nước đặc biệt quan tâm. Do vậy, việc tích cực công tác kiểm tra, thanh tra là rất cần thiết để phát hiện kịp thời các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, kịp thời xử lý các vi phạm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên trong quan hệ lao động đặc biệt là người lao động. Việc thanh tra, kiểm tra thường xuyên còn đảm bảo kỷ cương xã hội, nâng cao ý thức của người sử dụng lao động. Thực tế, số lượng các thanh tra viên quá ít so với yêu cầu thực tế cần thanh tra. Bên cạnh đó việc thanh tra còn chưa được tiến hành thường xuyên. Vì vậy, để phát hiện kịp thời các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cần tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra bằng cách: tăng thêm số lần kiểm tra hàng tháng, hàng năm của các thanh tra viên; không ngừng nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ các thanh tra viên. Đồng thời phải phối hợp với các cơ quan chuyên ngành khác để có kết luận chính xác nhất.
Thứ năm, Nhà nước cần chú trọng hơn nữa đến công tác nâng cao trình độ và năng lực áp dụng pháp luật của đội ngũ Thẩm phán trong quá trình giải quyết các tranh chấp lao động. Hoạt động áp dụng pháp luật lao động không chỉ có ý nghĩa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ lao động mà còn có ý nghĩa tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật của toàn xã hội, trong đó có những chủ thể trực tiếp tham gia quan hệ lao động.
Ngoài ra, việc thừa nhận tính sáng tạo trong quá trình giải quyết các tranh chấp lao động của đội ngũ thẩm phán khi pháp luật lao động chưa có quy định cụ thể về vấn đề cần giải quyết là một giải pháp cần tính đến, theo đó giải quyết dứt điểm những tranh chấp phát sinh. Tuy nhiên, sự sang tạo cần phải dựa trên những nguyên tắc nhất định đó là: nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc bảo vệ người lao động và nguyên tắc bảo vệ lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.
KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Trong những năm vừa qua, hệ thống pháp luật lao động ở nước ta đã và đang từng bước được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu phát sinh từ thực tiễn quan hệ lao động mang yếu tố thỏa thuận trong nền kinh tế thị trường. Công tác tổ chức thực hiện pháp luật lao động trong thời gian qua cũng đã được chú trọng. Pháp luật lao động ngày càng phát huy vai trò điều chỉnh của mình trong trong đời sống lao động xã hội, góp phần không nhỏ vào việc hình thành và bình ổn thị trường lao động, thúc đẩy nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng, giải phóng sức lao động và lực lượng sản xuất.
Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận một cách khách quan rằng vi phạm pháp luật lao động, trong đó phải kể tới tình trạng vi phạm pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động hoặc người sử dụng lao động đã và đang làm phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên tham gia quan hệ lao động. Việc đơn phương chấm dứt trái pháp luật này có thể do vi phạm căn cứ chấm dứt, thủ tục chấm dứt hoặc những thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Nhưng dù là chủ thể nào vi phạm hay vì bất cứ một lý do gì thì việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cũng gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với lợi ích của chính người lao động, người sử dụng lao động, từ đó xâm phạm tời lợi ích của Nhà nước và toàn xã hội.
Giải quyết tình trạng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật không phải là một vấn đề đơn giản, vì thế đòi hỏi sự nỗ lực từ các chủ thể trong quan hệ lao động, các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Trên cơ sở nghiên cứu về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và hậu quả pháp lý, khóa luận đã đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật cũng như tổ chức thực hiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải phù hợp với yên cầu của nền kinh tế thị trường Việt Nam cũng như đáp ứng nhu cầu hội nhập khu vực và thế giới. Khóa luận: Hoàn thiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Pháp luật đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
