Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch

Chia sẻ đến các bạn sinh viên một bài luận văn tốt nghiệp chuyên ngành du lịch với Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch Hà Giang. Mặc dù đây chỉ là một bài luận văn tốt nghiệp với mục đích giúp các bạn có thêm tư liệu hoàn thiện được bài luận nhưng mình mong rằng bài luận mẫu này sẽ mang đến cho các bạn những kiến thức, tư liệu, mẫu trình bày bài luận tốt nhất. Mời các bạn tham khảo ngay Đề tài Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch tác động tới môi trường sinh thái tại Thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang dưới đây.

4.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng nghiên cứu

4.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
  • Vị trí địa lý: Tam Sơn là thị trấn của huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.

Thị trấn có vị trí:

– Phía Bắc giáp xã Thanh Vân.
– Phía Đông giáp xã Quản Bạ.
– Phía Nam giáp xã Quyết Tiến.
– Phía Tây giáp xã Tùng Vài, xã Thanh Vân.
Ngày 15/1/2010, Huyện Quản Bạ và người dân Tam Sơn đã vinh dự đón nhận bằng xếp hạng di tích Quốc gia danh lam thắng cảnh Núi Đôi, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trao vì những giá trị cảnh quan thiên nhiên, địa chất và lịch sử văn hóa.
  •  Địa hình ( Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch )
– Khí hậu, thủy văn
– Khí hậu:
Thị trấn Tam Sơn nằm trong vùng tiểu khí hậu nhiệt đới của huyện với 2 mùa rõ rệt trong năm. Mùa đông lạnh và khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mùa hè nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10.
Nhiệt độ cao và khá ổn định trung bình trong năm khoảng 22,4oC
Tổng lượng mưa trung bình khoảng 1.800mm/năm, mưa tập trung vào các tháng 7,8,9 với lượng mưa chiếm 80% lượng mưa cả năm. Mùa khô lượng mưa nhỏ chiếm 20% tổng lượng mưa của năm. Độ ẩm trung bình là 84%.
– Thủy văn
Thị trấn Tam Sơn có con sông Miên chảy qua với lưu lượng nước tương đối lớn vào mùa mưa. Ngoài ra còn nhiều con suối khe suối nhỏ khác cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất.
⦁ Tài nguyên thiên nhiên
⦁ Đất sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, đất sản xuất nông nghiệp toàn xã có 233,79 ha, chiếm 8,42% diện tích nhóm đất nông nghiệp. Bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp/hộ sản xuất nông nghiệp là 0,58 ha.
Trong cơ cấu diện tích đất sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là đất trồng cây hàng năm với 228,89 ha, chiếm 97,87% diện tích đất sản xuất nông nghiệp, còn lại là đất trồng cây lâu năm 4,90 ha, chiếm 2,13%.
⦁ Đất lâm nghiệp:
Theo số liệu thống kê đất đai, năm 2017 của thị trấn có 2.527,96 ha đất lâm nghiệp, chiếm 91,46% nhóm đất nông nghiệp. Trong đó: 100% là rừng đặc dụng gồm: Đất có rừng tự nhiên đặc dụng 2.189,39 ha, chiếm 86,61%: đất có rừng trồng đặc dụng 338,57 ha, chiếm 13,39%.
⦁ Đất nuôi trồng thủy sản:
Năm 2017 có 3,35 ha, chiếm 0,12% diện tích đất nông nghiệp.
⦁ Nhóm đất phi nông nghiệp:
Năm 2017 có 126, 96 ha, chiếm 4,27% diện tích đất tự nhiên. Bao gồm:
⦁ Đất ở tại nông thôn: Tổng diện tích đất ở hiện có 20,89 ha, chiếm 16,24% diện tích nhóm đất phi nông nghiệp. Bình quân đất ở là 507 m2/hộ.
⦁ Đất chuyên dùng là 97,15 ha, chiếm 75,81% diện tích nhóm đất phi nông nghiệp.
⦁ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: Diện tích 0,4 ha; chiếm 0,23% diện tích nhóm đất phi nông nghiệp.
⦁ Đất sông, suối và mặt nước chuyên dùng: Diện tích 9,6 ha, chiếm 7,64% diện tích nhóm đất phi nông nghiệp. trong đó có 9,57 ha diện tích đất kênh rạch suối, chiếm 99,96% diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên dùng, đất có mặt nước chuyên dùng 0,03 ha, chiếm 0,31% diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên dùng.
⦁ Nhóm đất chưa sử dụng:
Toàn xã hiện còn 53,23 ha đất thuộc nhóm chưa sử dụng, chiếm 1,88% diện tích đất tự nhiên. Trong đó: Đất bằng chưa sử dụng là 5,47 ha, chiếm 9,85% diện tích đất chưa sử dụng diện tích này có thể sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp; 9,77 ha đất đồi núi chưa sử dụng, chiếm 13,74% và 37,99 ha núi đá không có rừng cây chiếm 72,55%.

4.1.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội Thị trấn Tam Sơn ( Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch )

  • Điều kiện kinh tế
⦁ Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm: 15,3%
⦁ GDP bình quân đầu người: 1,4 triệu đồng
⦁ Cơ cấu các ngành trong GDP: Tỷ trọng NN-CN-TMDV: 85 % – 5% – 10%
⦁ Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn/ 1 năm: 255,579 tỷđồng
  • Điều kiện xã hội
Theo thống kê năm 2017 dân số của xã có 1604 nhân khẩu với 411 hộ, bình quân nhân khẩu toàn xã có 04 người/ hộ. Mật độ dân số bình quân của toàn xã là 55 người/km2. Toàn xã có 753 lao động, chiếm 48% dân số, trong đó: Lao động nông nghiệp 658 người (chiếm 85%). Tuy nhiên chất lượng lao động còn thấp chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo, tỷ lệ lao động qua đào tạo có kỹ thật còn thấp.
⦁ Giới thiệu về khu du lịch Núi Đôi
⦁ Hiện trạng hoạt động du lịch
Hàng năm khu du lịch Núi Đôi đón tiếp hàng nghìn lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch, nghiên cứu, học tập. Hiện nay điều kiện sống của người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu thăm quan du lịch ngày càng tăng hứa hẹn sẽ mang lại nguồn thu lớn cho dịch vụ du lịch.
– Các loại hình du lịch
Tham quan du lịch về phong cảnh, về làng văn hoá dân tộc và các di tích văn hoá lịch sử; nghiên cứu hệ sinh thái .
Thể thao mạo hiểm leo núi, nghỉ dưỡng nghỉ cuối tuần; vui chơi giải trí và cắm trại; tổ chức các hội nghị, hội thảo.
Với định hướng đầu tư vào các công trình chủ yếu là: khu trung tâm đón tiếp, khu tham quan vui chơi giải trí.
⦁ Các vấn đề còn tồn tại của khu du lịch:
⦁ Mặc dù có vẻ đẹp thiên nhiên hấp dẫn. Tuy nhiên hiện còn thiếu địa điểm và loại hình du lịch giúp du khách thoải mái thưởng ngoạn và trải nghiệm vẻ cuốn hút của thiên nhiên.
⦁ Còn tồn tại nhiều điểm chưa đẹp:
+ Trong khu du lịch còn tồn tại nhiều điểm dễ gây phản cảm cho du khách như: nước hồ và sông còn đục vào mùa mưa lũ, rác bên lề đường và tại các điểm du lịch, phân gia súc trong các làng bản, v.v…
+ Rác bị vứt bừa bãi ngay trong khu vực xung quanh thùng rác thể hiện các bất cập tồn tại trong cả khâu quản lý lẫn ý thức của khách du lịch.
+ Trong các làng bản, bãi đổ rác nằm ngay bên vệ đường và phân gia súc rải rác dễ gây phản cảm cho khách du lịch. Cải thiện những điểm bất cập này không chỉ giúp phát triển du lịch mà còn góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống cho người nông dân.
+ Vẫn còn thiếu địa điểm và loại hình du lịch giúp du khách thoải mái tìm hiểu và thưởng ngoạn văn hóa nông thôn. Nhiều tài nguyên văn hóa vẫn chưa được giới thiệu với khách du lịch.
+ Các công trình du lịch khác vẫn còn rất thiếu, dẫn đến sức hấp dẫn của việc nghỉ ngơi và lưu trú lại Núi Đôi còn thấp.
+ Toàn bộ các cơ sở hạ tầng đều chưa được trang bị đồng bộ, đầy đủ:
+ Đường xá, hệ thống cấp điện nước, hệ thống xử lý rác thải khu vực núi đôi đều đang trong giai đoạn đang phát triển, khó có thể đáp ứng nếu lượng khách du lịch gia tăng trong tương lai.
+ Tỷ lệ cấp nước của toàn khu Núi Đôi còn hạn chế. Khu vực nông thôn chưa có nước sạch, người dân phải sử dụng nước giếng đào hoặc nước suối. Cần giải quyết vấn đề này để đảm bảo đủ nguồn nước sạch phục vụ cho lượng khách du lịch ngày càng tăng.
+ Ở các làng bản, chính quyền địa phương chưa có hình thức thu gom rác tập trung, người dân vẫn đổ rác ra các bãi rác tự phát ở gần nhà. Cần có các biện pháp xử lý rác vệ sinh và hiệu quả, bao gồm cả giải pháp tái chế rác hữu cơ làm phân bón. ( Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch )
⦁ Giới thiệu khu di tích Núi Đôi
Núi Đôi gắn với nhiều câu chuyện truyền thuyết được đồng bào các dân tộc nơi đây lưu truyền từ đời này sang đời khác. Truyện kể rằng xưa kia, ở vùng đất này có một chàng trai người H’mông tuấn tú, có tài thổi đàn môi. Tiếng đàn môi của chàng réo rắt đã níu giữ trái tim của một nàng tiên trên thượng giới tên là Hoa Đào. Phải lòng chàng nên nàng tìm cách ở lại vùng đất này. Họ nên vợ nên chồng và sinh được một bé trai kháu khỉnh.Ngọc Hoàng phát hiện ra chuyện Hoa Đào bỏ trốn xuống trần gian đã vô cùng giận dữ, sai người đi bắt nàng về. Thương chồng một mình nuôi con vất vả, thương con thơ thiếu bầu sữa mẹ, nàng đã bỏ lại đôi nhũ hoa của mình dưới hạ giới cho con bú. Đôi nhũ căng tròn nuôi con nàng ngày càng khôn lớn, sau này đã biến thành hai quả núi dáng hình như bầu vú mẹ.Hai quả núi đó được gọi là Núi Đôi haycòn gọi núi Cô Tiên. Nhờ dòng sữa của nàng, vùng đất này có khí hậu vô cùng mát mẻ, hoa quả thơm ngon, rau trái xanh tươi, lúa ngô tươi tốt. Nước mắt khóc thương chồng con của nàng đã biến thành dòng sông Miện xanh ngắt, mơ màng trôi trên biển đá tai mèo, ôm lấy cả rẻo đất phía sau cổng trời huyền thoại.Con đường quốc lộ 4C bắt đầu hẹp dần từ Hà Giang, sau 40 km chạy xuyên qua những cánh đồng, dọc theo sông và vượt dốc Khi đến khúc ngoặt đầu tiên rẽ vào Tam Sơn (Quản Bạ), du khách ai nấy đều dừng lại vì khung cảnh thiên nhiên phía trước mặt. Dưới thung lũng xa xa, nơi có thị trấn Tam Sơn sầm uất nhất Hà Giang, những cánh đồng lúa xanh rì gợn sóng. Nổi bật giữa núi đồi núi Đôi mang dáng hình cặp nhũ hoa quyến rũ và cân đối. Mỗi mùa qua đi, núi Đôi lại được khoác một màu sắc khác nhau. Hè sang lúa xanh rì, thu tới vàng ươm màu mật ngọt, đông về nâu sắc và xuân tới hồng màu đất. Đôi gò bồng đảo tự nhiên tràn đầy nhựa sống này còn có tên là núi Cô Tiên.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

4.1.2. Hiện trạng chất lượng môi trường sinh thái trong bài Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch

  • Hiện trạng biến động sử dụng đất
Đất đai là nguồn lực phát triển của mỗi quốc gia, tuy nhiên đây là nguồn lực có hạn, không tăng lên trong quá trình sản xuất. Do đó, việc quản lý và sử dụng đất đai hợp lý và hiệu quả là vấn đề vô cùng quan trọng. Mặt khác, do sự tăng dân số, sự phát triển của đô thị, sự tăng trưởng kinh tế – xã hội và một số vấn đề khác đang tác động rất lớn tới đất đai, khiến đất đai biến động và thay đổi theo năm tháng.
⦁ Đất nông nghiệp là 2763.96 ha chiếm 93,81%.
⦁ Đất phi nông nghiệp là 128,1ha chiếm 4,34%.
⦁ Đất chưa sử dụng là 53,23 ha chiếm 1,8%.
⦁ Hiện trạng chất lượng nước tại khu du lịch
Nguồn nước tại khu du lịch chủ yếu lấy từ sông Miện được người dân sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Trong các năm qua do các hoạt động của con người tác động đến đã làm ảnh hưởng ít nhiều đến nguồn nước khu di tích. Hàng năm, trung tâm quan trắc môi trường tỉnh Hà Giang đều lấy mẫu nước để phân tích 2 lần/năm. Dưới đây là bảng thể hiện một số thông số chất lượng nước tại Thị trấn Tam Sơn ba năm trở lại đây. ( Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch )
Địa điểm lấy mẫu: Sông Miện
So sánh với QCVN 08: 2015/BTNMT về chất lượng nước mặt thì các chỉ số quan trắc chất lượng nước tại sông Miện đều không vượt quá các giá trị giới hạn cho phép. Do đó, nguồn nước được đánh giá là đạt tiêu chuẩn A 2 là nước dùng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt có áp dụng công nghệ xử lý phù hợp, bảo tồn các loại động vật thủy sinh, dùng cho sản xuất nông nghiệp và giao thông vận tải.
⦁ Hiện trạng thu gom rác thải tại khu di tích
Qua phỏng vấn cán bộ quản lý khu du lịch núi đôi biết rác thải tại khu di tích được thu gom 1 lần/tháng (các tháng bình thường) và 2 lần/tháng (tháng cao điểm), rác thải sau thu gom được xử lý tập trung tại bãi rác huyện Hà Quản. Khối lượng rác thải phát sinh bình quân trên người tại Núi Đôi là 0,5kg/người/ngày. Với tổng lượt khách du lịch trong năm 2017 là 20.672 lượt khách, tính trung bình một năm trên địa bàn khu di tích sẽ phát sinh một lượng rác thải là 0,5kg/người/ngày * 20672/1000 = 10,336 tấn rác. Số lượng rác thải rất lớn này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái nếu không được thu gom và xử lý đúng cách.
Qua việc khảo sát thực địa thấy rác thải tại khu di tích từ đoạn đập tràn đổ vào Núi Đôi nhiều khi được công nhân đốt trực tiếp ngay trong các thùng đựng rác các loại rác thải lại bị đốt chủ yếu là túi nilon đựng đồ ăn, hộp nhựa, hộp giấy, thức ăn thừa. Việc đốt rác này gây mùi khó chịu và gây ảnh hưởng xấu tới môi trường không khí tại khu du lịch.
  • Hiện trạng sử dụng tài nguyên
Qua điều tra 30 hộ dân sinh sống trong thị trấn Tam Sơn thu được kết quả:
Tài nguyên Khối lượng (kg)
Lượng củi khai thác từ rừng trong một tháng >5500kg
Lượng thủy sản khai thác > 150kg
Tài nguyên khác Thú rừng: 14kg Cây thuốc: 6 kg
Rau rừng: 43 kg (măng rừng)
Tổng > 6000kg/ tháng
Nhận xét: Theo số liệu phỏng vấn 30 hộ dân trung bình một ngày một hộ dân sử dụng 5 kg củi đốt do vậy một tháng 30 hộ dân sử dụng hết 5500kg củi đốt được khai thác 100% từ rừng tự nhiên. Thị trấn Tam Sơn có 411 hộ dân do vậy trung bình 1 tháng sẽ sử dụng trên 59.000 kg củi khô. Ngoài ra, tùy vào mùa vụ mà người dân còn khai thác thêm các lâm sản khác ngoài gỗ từ rừng như thịt thú rừng, cây thuốc hoặc rau rừng. Từ đó ta có thể thấy mức độ phụ thuộc vào rừng của người dân tại khu du lịch là khá lớn nếu như mức độcung cấp củi khô của rừng là không đủ thì người dân sẽ khai thác thêm các cây tươi để khô làm chất đốt. Trong thời gian dài thì đây chính là nguy cơ và mối đe dọa tới môi trường sinh thái nếu dân số của toàn xã tăng nhanh và trình độ dân trí không được nâng cao.

4.1.3. Đánh giá các ảnh hưởng của hoạt động du lịch và một số hoạt động khác tới môi trường sinh thái

4.1.3.1. Thực trạng phát triển du lịch của Núi Đôi ( Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch )

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp. Phát triển du lịch và bảo vệ môi trường là hai vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng tác động qua lại tới nhau. Môi trường tốt tạo tiền đề cho du lịch phát triển, ngược lại du lịch phát triển cũng tác động đến môi trường cả trên hai mặt tích cực và tiêu cực. Để du lịch phát triển bền vững, đồng thời bảo vệ được môi trường tại các khu điểm du lịch thì cần phải xác định mối quan hệ giữa phát triển du lịch và môi trường, để từ đó xác định được mức độ ảnh hưởng của du lịch đến môi trường.
Trong những năm gần đây công tác du lịch Núi Đôi được Đảng và Nhà Nước rất quan tâm với nhiều chủ trương chính sách đầu tư phát triển một cách bền vững.
Trên đây là tổng lượng khách du lịch theo đăng kí mà ban quản lý khu di tích cung cấp. Ngoài ra còn một lượng không nhỏ khách du lịch tự do đến thăm quan khu di tích hàng năm. Tuy nhiên, số lượng khách đến tham quan khu di tích chủ yếu là khách nội địa, số lượng khách nước ngoài còn rất khiêm tốn.

4.1.3.2. Ảnh hưởng từ hoạt động du lịch tới khu du lịch

⦁ Tác động tích cực
⦁ Thứ nhất: Bảo tồn thiên nhiên
Du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng. Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên và hệ sinh thái điển hình. Sự suy thoái môi trường và hệ sinh thái đồng nghĩa với sự suy giảm của hoạt động du lịch sinh thái. Vì vậy mọi hoạt động du lịch sinh thái phải được quản lý để giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động du lịch sinh thái sẽ được đầu tư để bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinhthái.
⦁ Thứ hai: Nâng cao nhận thức
Hoạt động du lịch sinh thái sẽ kéo theo việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của du khách và cộng đồng các giá trị của tài nguyên môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa. Từ đó, họ có thể có những thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường và có đóng góp tích cực cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị về tự nhiên sinh thái, ý thức bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học.
⦁ Thứ ba: Giảm nghèo đói, từ đó giảm tác động của con người tới hệ sinh thái tự nhiên, duy trì và nâng cao đa dạng sinh học:
Du lịch sinh thái tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh thái. Từ việc mang lại lợi ích chia sẻ lợi nhuận với cộng đồng địa phương, huy động cộng đồng địa phương tham gia làm việc, cung ứng dịch vụ, hàng hóa cho du lịch, sẽ làm cho người dân giảm sự lệ thuộc vào việc khai thác tự nhiên, đã làm cho họ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên tự nhiên và các giá trị văn hóa. Do vậy, sẽ giảm sức ép của cộng đồng địa phương với tài nguyên môi trường tự nhiên và họ sẽ là những chủ nhân của các nguồn tài nguyên du lịch, tích cực bảo vệ các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa.
⦁ Các tác động tiêu cực
Du lịch và môi trường có mối quan hệ qua lại và không thể tách rời. Sự phát triển của bất kỳ ngành kinh tế nào cũng gắn liền với vấn đề môi trường. Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa đối với sự phát triển của ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng, và xã hội hoá cao như du lịch. Môi trường được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch. Ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách, đến sự tồn tại của hoạt động du lịch.
Hoạt động phát triển du lịch đồng nghĩa với việc gia tăng lượng khách du lịch, tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên. Từ đó dẫn đến sự gia tăng áp lực của du lịch đến môi trường. Trong nhiều trường hợp, do tốc độ phát triển quá nhanh của hoạt động du lịch vượt ngoài nhận thức và năng lực quản lý nên đã tạo sức ép lớn đến khả năng đáp ứng của tài nguyên và môi trường, gây ô nhiễm cục bộ và nguy cơ suy thoái lâu dài.
⦁ Hoạt động tham quan tự do của du khách ( Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch )
Hàng năm có trên 25.000 lượt khách đến thăm quan khu du lịch vào thời kỳ cao điểm theo Ban quản lý du lịch Núi Đôi, Khu du lịch Núi Đôi đón trên 3.000 lượt khách thăm quan mỗi ngày, cao hơn các ngày thường trên 40%. Do vậy các ảnh hưởng từ việc thăm quan của du khách đối với môi trường tại khu di tích là không hề nhỏ các tác động gây ra bao gồm:
⦁ Ảnh hưởng tới tập tục sống của nhiều loài:
Hoạt động du lịch sinh thái sẽ không tránh khỏi tiếng ồn và sự xuất hiện của con người trong các hệ sinh thái vốn dĩ tự nhiên. Nó sẽ gây ra sự thay đổi về môi trường sống, tập tính kiếm ăn, nghỉ ngơi hay di chuyển của các loài động vật. Từ đó làm suy giảm tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái. Theo điều tra nguời dân sinh sống tại khu vực Thị trấn Tam Sơn được biết khoảng 7- 10 năm trước đây tại khu du lịch có rất nhiều khỉ, sóc, chồn và nhiều loài chim sinh sống. Tuy nhiên ngày nay do việc khai thác quá mức và việc xuất hiện của khách du lịch đã làm cho các loài động vật này di chuyển nơi cư trú.
Theo quan sát thì ngày nay chỉ còn một số ít loài chim như chìa vôi, chim chích bông và bói cá là hay xuất hiện tại khu di tích.
⦁ Rác thải làm ảnh hưởng tới môi trường:
Khách du lịch đến với Núi Đôi thường đi theo từng đoàn và có đem theo đồ ăn khi đến tham quan. Khách du lịch thường tổ chức ăn uống ngay trong khu du lịch ở bãi đất trống. Lượng khách du lịch là nguyên nhân chính quyết định lượng rác thải tại khu di tích.
Lượng khách trung bình hàng ngày của khu di tích là dưới 100 lượt người/ngày. Tuy nhiên vào các ngày lễ, hoặc ngày cuối tuần lượng khách du lịch tới tham quan khu di tích có thể lên đến hàng nghìn lượt người cao điểm là 3000 lượt người/ ngày (số liệu ban quản lý cung cấp). Theo điều tra thực địa trung bình mỗi một khách du lịch sẽ để lại 0,5 kg rác thải lại khu di tích do vậy lượng rác thải bỏ lại sau quá trình vui chơi, ăn uống là không hề nhỏ.
Qua bảng số liệu trên cho thấy rằng tỷ lệ rác thải hữu cơ dễ phân hủy chiếm cao nhất là 68%. Các thành phần còn lại chiếm tỷ lệ như sau: Chất hữu cơ khó phân hủy 6%, Kim loại 1%, Gốm sứ, thủy tinh chiếm 2%; các loại khác chiếm 23%.
Các chất thải hữu cơ bao gồm: cơm, canh, thực phẩm thừa ôi thiu chủ yếu phát sinh từ các quán hàng ăn uống phục vụ cho du khách, và một phần thức ăn mang thừa mang theo khi đi tham quan của các đoàn khách.
Ngoài rác thải hữu cơ, thì trên địa bàn còn có một khối lượng lớn túi nilon, chiếm tới 5,68% chủ yếu phát sinh từ các hoạt động thương mại và túi nilon do khách du lịch đựng đồ ăn để lại.
Rác thải, nước thải, khí thải từ các hoạt động tham quan du lịch của du khách sẽ làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất làm thay đổi, suy thoái và phá vỡ môi trường sống nơi diễn ra hoạt động du lịch.
Ngoài ra theo quan sát thực tế thì việc thu gom và xử lý rác thải tại khu di tích là chưa triệt để. Nhiều lúc rác thải được đốt trực tiếp trong các thùng chứa rác ngay tại khu di tích mà không được thu gom như đã nói. Ngoài ra, trong quá trình đi khảo sát thực địa tôi còn phát hiện một bãi rác thải nhỏ trên núi và rác thải tại đây được đốt trực tiếp chứ không có bất kì một biện pháp xử lý nào được áp dụng. Việc đốt như thế sẽ làm phát tán các chất độc hại rất ảnh hưởng tới môi trường không khí và môi trường đất xung quanh bãi rác thải của khu di tích. ( Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch )
⦁ Tăng khả năng cháy rừng
Sự có mặt của du khách sẽ làm tăng khả năng cháy rừng, khách du lịch tới tham quan khu di tích thường tổ chức các hoạt động như dã ngoại, nướng gà, cắm trại, các đoàn là học sinh, sinh viên còn thường tổ chức các cuộc thi văn nghệ, ngoài ra du khách nam còn hút thuốc và vứt tàn thuốc bừa bãi… với những hành động bất cẩn đó thì nguy cơ cháy rừng là rất lớn. Mà chúng ta biết rằng một khi đã xảy ra cháy rừng thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Một diện tích lớn rừng tự nhiên sẽ mất đi kéo theo sự mất đi lâu dài môi trường sống của nhiều loài mà không phải ngày một ngày hai có thể khắc phục được kéo theo sự suy giảm về đa dạng sinh học.
⦁ Dịch vụ nghỉ ngơi ăn uống
Qua quá trình điều tra thấy hầu hết du khách đến với Núi Đôi chỉ tổ chức các tour ngắn trong khoảng thời gian 1 ngày, không lưu trú lại nên các dịch vụ như nhà hàng và khách sạn tại đây không pháttriển.
Theo quan sát thực tế trong khu vực khu di tích chỉ có 20 quán hàng nhỏ tự phát của người dân địa phương kinh doanh các mặt hàng như đồ lưu niệm, thổ cẩm, nhũ đá và nước giải khát nên chỉ có một lượng nhỏ rác thải phát sinh do hoạt động kinh doanh dịch vụ. Do vậy, ảnh hưởng từ hoạt động kinh doanh dịch vụ đến môi trường là không đáng kể.
⦁ Ý kiến đánh giá của người dân về ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường sinh thái tại khu du lịch Núi Đôi
Hoạt động du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái trên địa bàn khu di tích. Sự biến đổi các thành phần môi trường không phù hợp vớitiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Ô nhiễm môi trường do nhiều nguyên nhân.
Qua điều tra có thể nhận xét: Một nửa cán bộ quản lý khu di tích được phỏng vấn đều cho rằng hoạt động tham quan của du khách chỉ có ảnh hưởng nhỏ tới môi trường sinh thái khu di tích, một nửa còn lại (5 cán bộ) cho rằng khách du lịch gây ảnh hưởng lớn tới môi trường cảnh quan khu di tích do việc xả rác bừa bãi và bẻ cành hái hoa của du khách.
Việc phỏng vấn khách du lịch lại đưa ra kết quả phần lớn khách du lịch không ý thức được hoặc chỉ một phần nhỏ du khách cho rằng hành động tham quan du lịch của mình chỉ gây ra ảnh hưởng nhỏ tới hệ động thực vật, cảnh quan và môi trường sinh thái tại khu di tích.
Việc phỏng vấn người dân lại thấy: Đa số người dân tại địa phương không ý thức được việc khách du lịch tham quan có gây ảnh hưởng tới môi trường hay không. Một phần nhỏ còn lại cho rằng hoạt động tham quan của khách du lịch gây ảnh hưởng nhỏ tới động thực vật và môi trường do việc du khách vứt rác bừa bãi và gây ồn làm giảm sự xuất hiện của các loài động vật tại khu di tích.

4.1.3..3. Các ảnh hưởng của một số hoạt động khác tới môi trường sinh thái của khu di tích ( Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch )

⦁ Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất nông nghiệp
⦁ Trồng trọt
Theo kết quả từ điều tra 30 hộ dân thống kê lại thì diện tích đất nông nghiệp của 30 hộ dân trong khu di tích là 90.000 m2 bao gồm cả đất làm nương rẫy. Đất trồng lúa là 61.000 m2 trong đó 100% là đất trồng lúa một vụ. Các loại cây trồng khác ngoài vụ lúa được bà con trồng là ngô, sắn, thuốc lá, đậu tương. Nguồn nước tưới sử dụng 100% từ sông Miện.
Theo điều tra các hộ gia đình thì nhận thấy, phần đa từ trước đến nay người dân bón phân cho lúa không theo công thức nào cả, chỉ sử dụng phân bón theo điều kiện của gia đình. Gia đình nào có điều kiện thì bón nhiều còn nhà nào không có điều kiện thì bón ít, còn phân chuồng thì nhà nào chăn nuôi thì có để sử dụng. Hầu như người dân vẫn còn thiếu kiến thức về kỹ thuật nông nghiệp và họ không biết được lượng phân bón cần cho ruộng nhà mình. Ngoài các loại phân hóa học thì các hộ gia đình còn sử dụng phân chuồng để bón cho ruộng. Phân chuồng cũng là loại phân tốt cho cây trồng nhưng không phải người dân cũng biết xử lý phân chuồng để làm cho hiệu quả của nó đạt cao nhất . Bên cạnh đó người dân tại đây cũng sử dụng một số ít loại thuốc bảo vệ thực vật như thuốc trừ rầy nâu, sâu đục thân và đạo ôn.
⦁ Chăn nuôi
Theo điều tra Tổng đàn gia súc, gia cầm của 30 hộ dân là 305 con hoạt động chăn nuôi của người dân chỉ nằm ở quy mô hộ gia đình, không có hộ dân nào nuôi gia súc, gia cầm với quy mô lớn thương phẩm.
Tuy nhiên điều đáng nói ở đây là số gia súc gia cầm này đều được nuôi dưỡng bằng hình thức chăn thả tự nhiên. Qua phỏng vấn người dân cho biết: Người dân thường chăn thả bò, dê vào buổi sáng và tối mới cho về còn trâu thì thả sau khi vụ cày cấy song đến vụ mùa mới lại đưa về. Hình thức nuôi dưỡng này đã vô tình gây ra ảnh hưởng rất lớn đến cảnh quan và hệ thực vật tại khu di di tích. Bên cạnh đó phân gia súc gia cầm không được thu gom và xử lý đúng cách còn gây mùi khó chịu, ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan. Nghiêm trọng hơn phân gia súc gia cầm còn chính là ổ vi khuẩn chứa nhiều mối nguy hiểm và dịch bệnh cho các loài động vật khác và cả con người. Do vậy, cần phải có các biện pháp thu gom và xử lý đúng cách đối với các loại phân gia súc gai cầm này để chúng không gây ô nhiễm môi trường và bùng phát dịch bệnh.
⦁ Ảnh hưởng của hoạt động lâm nghiệp ( Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch )
Diện tích rừng của toàn Thị trấn Tam Sơn theo thống kê năm 2017 là 2527.65 ha, 100% diện tích là rừng đặc dụng (Nguồn: Số liệu biến động sử dụng đất năm 2017 UBND Thị trấn Tam Sơn,huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang).
Trong khu du lịch núi đôi có 100ha rừng khu di tích trực tiếp quản lý dưới hình thức giao cho các hộ dân tự quản lý.
Người dân hưởng các nguồn lợi trực tiếp từ rừng như: gỗ, củi, cây thuốc, rau rừng… Do vậy, người dân có ý thức quản lý rừng rất chặt chẽ. Vài năm trở lại đây không có nạn phá rừng hay vụ cháy rừng nào xảy ra tại địa bàn khu di tích do đó các ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động lâm nghiệp tới môi trường sinh thái là không đáng kể.
Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái phát triển du lịch
Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái phát triển du lịch

4.1.4. Đề xuất một số Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch

  • Các giải pháp cho hoạt động du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế mà sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với khả năng khai thác tài nguyên, khai thác đặc tính của môi trường xung quanh. Chính vì vậy hoạt động du lịch và môi trường có mối quan hệ qua lại hết sức gắn bó, mật thiết, tương hỗ lẫn nhau và nếu khai thác, phát triển hoạt động du lịch không hợp lý có thể sẽ là nguyên nhân làm suy giảm giá trị của các nguồn tài nguyên, suy giảm chất lượng môi trường và cũng có nghĩa là làm suy giảm hiệu quả của chính hoạt động du lịch cần:
  • Định hướng phát triển:
⦁ Định hướng phát triển du lịch Núi Đôi theo hướng du lịch sinh thái thân thiện với môi trường.
⦁ Thể chế, pháp chế:
⦁ Xây dựng các chế tài hữu hiệu để thực hiện tốt Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ rừng và các Quy định đã có của Chính phủ liên quan đến bảo vệ môi trường trong các lĩnh vực. ( Khoá luận Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch )
⦁ Củng cố và nâng cao năng lực, trách nhiệm của cơ quan bảo vệ môi trường, đặc biệt là đạo đức của người thi hành nhiệm vụ bảo vệ môi trường, tăng cường công tác giáo dục môi trường ở mọi cấp độ, mọi cộng đồng dân cư, làm cho họ có nhận thức đúng và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường.
⦁ Bổ sung điều chỉnh các quy định về một số điều trong luật pháp cho phù hợp ngày càng cao với thực tế cuộc sống.
⦁ Nhà nước có biện pháp hữu hiệu, giải pháp cụ thể trong chiến lược xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của mọi tầng lớp dân chúng và thực hiện đúng chính sách dân số, tăng cường hơn nữa và nâng cao chất lượng nghiên cứu, đánh giá tác động và dự báo biến động môi trường để có biện pháp phòng tránh hữu hiệu.
⦁ Bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ khu di tích.
⦁ Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân và khách du lịch về việc tự giác bảo vệ môi trường sinh thái trong khu di tích.
⦁ Tổ chức các tour du lịch nhặt rác cho khách du lịch một lần một tuần tại khu di tích
⦁ Các tour di lịch nhặt rác này đã được triển khai hơn một năm nay và hoạt động khá hiệu quả.
⦁ Tour du lịch đặc biệt này sẽ được tổ chức một tuần một lần và hoạt động này sẽ diễn ra trước khi du khách đi thăm quan các địa điểm khác.
⦁ Tuy hiện nay chỉ mới có các du khách nước ngoài tham gia tour du lich này nhưng việc họ sẵn sàng bỏ tiền ra để được nhặt rác đã phần nào tác động đến ý thức của du khách trong nước và chính người dân sinh sống tại nơi đó. Vì đến trẻ em cũng ý thức được không có rác sẽ đẹp hơn!
⦁ Giải pháp cho hoạt động sản xuất nông nghiệp
⦁ Sản xuất nông nghiệp đang phải chịu áp lực do gây ô nhiễm môi trường đất, nước và chất lượng nông sản bị suy giảm do lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tràn lan, tùy tiện xả chất thải. Do vậy để phát triển nông nghiệp và hướng tới xu thế phát triển bền vững cần:
⦁ Hạn chế sử dụng các loại phân bón vô cơ và các loại thuốc bảo vệ thực vật gây nguy hiểm cho môi trường khuyến khích sử dụng các loại phân chuồng ủ hoai mục cho việc sản xuất nông nghiệp.
⦁ Tổ chức tập huấn cho người dân về phương pháp sử dụng các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng: đúng loại, đúng lượng, đúng lúc, đáng cách.
⦁ Giải pháp cho hoạt động khai thác thủy sản trái phép của người dân
Thứ nhất, cần tăng cường công tác quản lý chặt chẽ việc khai thác thủy sản trái phép của người dân.
Thứ hai, đưa ra các hình phạt mang tính răn đe cao đối với những hộ vi phạm lệnh cấm khai thác thủy sản tại khu vực khu di tích.
Thứ ba, qua phỏng vấn có thể thấy người dân tại khu di tích nhận biết được tác hại của việc đánh bắt cá vào thời kỳ cá đẻ trứng tuy nhiên vì điều kiện kinh tế khó khăn và nguồn lợi trước mắt mà người dân vẫn tham gia hoạt động trái phép này. Do vậy, cần có sự quan tâm của nhà nước và chính quyền địa phương tới người dân tạo công ăn việc làm cho người dân như việc hình thành làng nghề thổ cẩm làm ra các đồ lưu niệm phục vụ cho khách du lịch tại khu du lịch để người dân có cuộc sống ổn định hơn, giảm mức độ phụ thuộc vào tự nhiên.

5.1. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Luận văn tốt nghiệp Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch

5.1.1. Kết luận

Khu du lịch Núi Đôi hàng năm thu hút hơn 25000 lượt khách tới tham quan và đem lại nguồn lợi về kinh tế cho Thị trấn Tam Sơn nói riêng và tỉnh Hà Giang nói chung, du lịch phát triển đem lại nhiều lợi ích nhưng nó cũng kéo theo những tác động tiêu cực.
⦁ Thị trấn Tam Sơn có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch Núi Đôi.
⦁ Hiện trạng môi trường tại khu du lịch Núi Đôi được đánh giá là khá trong lành các chỉ tiêu quan trắc chất lượng nước so sánh với QCVN 08:2015/BTNMT như sau:
+ Độ pH dao động từ 7,55 đến 8,14 và không chênh lệch nhau nhiều tại các vị trí đo. Nước trung tính, đảm bảo mục đích sử dụng cho sinh hoạt.
+ Tổng chất rắn lơ lửng dao động từ 1,6 mg/l đến 3 mg/l qua các vị trí khảo sát, đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN08:2015/BTNMT(50 mg/l).
+ Nhu cầu ô xy sinh hoá dao động từ 2,54 mg/l đến 5,84 mg/l tại các vị trí nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN đối với nước mặt loại A2 (6mg/l).
+ Nhu cầu ô xy hoá học dao động từ 10,3 mg/l đến 12,8 mg/l tại các vị trí nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN đối với nước mặt loại A2(15mg/l).
+ Hàm lượng Fe dao động từ 0,01mg/l đến 0,03 mg/l tại các vị trí nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN đối với nước mặt loại A2(1mg/l).
+ Hàm lượng ô xy hoà tan dao động từ 5,79mg/l đến 6,4 mg/l tại các vị trí. Chỉ tiêu này tại Núi Đôi qua khảo sát là không thấp, đều đạt tiêu chuẩn giới hạn chất lượng nước theo QCVN đối với nước mặt loại A2.

5.1.2. Kiến nghị Giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch

⦁ Cần phải tích cực bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo và phát triển môi trường tại các khu du lịch nói chung và khu du lịch Núi Đôi nói riêng. Tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường của người dân cũng như du khách.
⦁ Kiểm soát và giảm thiểu các yếu tố gây tác động tiêu cực đến môi trường chủ động kiểm soát từ nguồn các tác động môi trường và xử lý triệt để các yếu tố gây hại môi trường, tổ chức các hoạt động đánh giá tác động môi trường định kỳ và không định kỳ.
⦁ Bảo tồn và cải thiện các giá trị tự nhiên: việc cải thiện các giá trị tự nhiên là công việc quan trọng cần có chiến lược bền vững và lâu dài, phối hợp đa ngành, đa thành phần nhằm bảo vệ và phục hồi, phát huy các giá trị của nó.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537