Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Lào Cai

Trong thời gian tham khảo đề tài Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Lào Cai mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài luận văn tốt nghiệp Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” cho các bạn.

3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

  • Tả Van là một xã thuộc Thung lũng Mường Hoa cách thị trấn Sa Pa 9km về phía Đông Nam. Xã có vị trí tiếp giáp như sau:
  • Phía Bắc giáp với xã Lao Chải và xã Hầu Thào, huyện Sa Pa.
  • Phía Nam giáp với xã Bản Hồ, huyện Sa Pa.
  • Phía Đông giáp với xã Sử Pán, huyện Sa Pa.
  • Phía Tây giáp với huyện Than Uyên – tỉnh Lai Châu.
  • Địa hình, đất đai
  • Xã Tả Van có tổng diện tích đất tự nhiên là 6789,86 ha và được phân bố hành chính thành 7 thôn.
  • Xã có địa hình đồi núi phức tạp, nằm trong địa phận Vườn quốc gia Hoàng Liên, chủ yếu là đồi núi bao quanh là các thửa ruộng bậc thang nằm ở cấp thấp hơn.
  • Tả Van hứa hẹn là điểm đến thú vị cho du khách và đặc biệt du khách say mê tìm hiểu phong tục, tập quán phong cảnh nơi đây, cũng như các loại hình du lịch khám phá, du lịch mạo hiểm.
Qua thống kê ta thấy đất đai của xã Tả Van rất đa dạng và phong phú, tổng diện tích đất tự nhiên là 6.789,86 ha. Trong đó diện tích đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng đều có sự thay đổi và biến động qua các năm. Nguyên nhân của sự biến động trên do sự quy hoạch trong xây dựng cơ sở hạ tầng, các chương trình nông thôn mới được thực hiện.
  • Đất nông nghiệp tăng lên 437,67 ha nguyên nhân là do diện tích đất trồng cây lâm nghiệp tăng.
  • Diện tích đất phi nông nghiệp có sự biến động nhưng hợp lý.

3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế – xã hội ( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

3.1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế

  • Tả Van nằm trong thung lũng Mường Hoa chủ yếu là các hộ làm nông nghiệp, trong đó thảo quả là cây mũi nhọn để phát triển kinh tế địa phương. Trong những năm qua với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc, tình hình kinh tế của xã Tả Van ngày càng được thay đổi theo hướng tích cực. Đặc biệt thực hiện chương trình nông thôn mới giai đoạn 2015 – 2020, cơ sở vật chất của địa phương được củng cố khang trang, kinh tế có bước tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng năm sau tăng hơn so với năm trước, bình quân tăng 8%/năm.
  • Cơ cấu kinh tế của địa bàn nghiên cứu những năm qua đã có sự dịch chuyển tương đối tích cực, theo hướng tăng giá trị sản xuất của thương mại – dịch vụ.
3.1.2.2. Tình hình phát triển xã hội
Tình hình nhân khẩu và lao động trên địa bàn xã
  • Con người là nhân tố quan trọng tạo nên sự thành công của du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng. Dân số xã Tả Van thuộc 7 thôn với 3 dân tộc chính là Mông, Giáy, Dao sinh sống. Hiện nay, tổng dân số của xã Tả Van có 4328 người. Số hộ tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất (87,81% năm 2017). Tương đương với đó số lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp chiếm 81,85% tổng số lao động toàn xã năm 2017. Tả Van là một xã thuần nông, dân cư trong xã sản xuất nông nghiệp là chính.
  • Lao động công nghiệp có xu hướng tăng, cụ thể: năm 2015 là 8 người (chiếm 0,8% tổng số lao động), năm 2017 là 18 người (chiếm 0,67% tổng số lao động của xã). Nguyên nhân chủ yếu là do độ tuổi lao động đi ra các thành phố, xí nghiệp làm các công ty mang lại thu nhập cho người dân.
  • Lao động hoạt động trong ngành dịch vụ tăng 5,59% trong 3 năm qua. Nguyên nhân là do các hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng ngày càng phát triển, làm tốt công tác quảng bá hình ảnh địa phương và các chính sách thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn. Giúp người dân nâng cao được khả năng, kinh nghiệm trong hoạt động du lịch, từ đó tăng thu nhập, cải thiện đời sống.
  • Điện: Điện được coi là nguồn năng lượng quan trọng nhất để phục vụ cho quá trình sản xuất và sinh hoạt của người dân trong xã. Tính đến nay, toàn bộ các hộ dân trong xã đã có điện để phục vụ sản xuất và đời sống.
  • Điện tín, truyền thanh: Xã có bưu điện văn hóa, cung cấp các dịch vụ thông tin liên lạc, sách báo, văn hóa phẩm cho người dân. Những nguồn thông tin nay đã thường xuyên cung cấp cho người dân những thông tin về khoa học, kỹ thuật mới, các giống cây trồng có năng suất cao, phương pháp phòng trừ dịch bệnh. Thông tin liên lạc phát triển thuận tiện cho việc cung cấp vật tư, tìm hiểu khách hàng tiêu thụ sản phẩm,…
  • Đường: Các tuyến đường đã được mở rộng và bê tông hóa. Tuyến đường liên thôn cũng được bê tông hóa nhờ sự đóng góp của người dân trong xã.
  • ANTT- ATXH: Đảm bảo an ninh chính trị, TTATXH, trật tự an toàn giao thông trên địa bàn toàn xã, chủ động đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Ban công an xã phối hợp với Ban chỉ huy quân sự xã thường xuyên trực 24/24 và phối hợp chặt chẽ giữ các lực lượng và các ban ngành, đoàn thể nắm chắc tình hình, đảm bảo ANTT – ATXH trong các ngày lễ hội, các ngày kỷ niệm khác theo kế hoạch của UBND.
  • Văn hóa, giáo dục: Song song với công cuộc phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục cũng ngày càng được đẩy mạnh, hệ thống giáo dục trong xã tương đối hoàn chỉnh. Hiện nay có 1 tiểu học, 1 trường THCS, 13 lớp mẫu giáo và đội ngũ giáo viên luôn tận tụy và nhiệt huyết.
  • Xã đẩy mạnh nhiều hình thức hoạt động văn hóa, văn nghệ ở trường học và địa bàn dân cư.
  • Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn.
  • Phát động người dân tích cực hưởng ứng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới”.
  • Y tế: Trạm y tế xã được xây dựng kiên cố, tăng cường về cơ sở vật chất, thiết bị. Đội ngũ cán bộ y tế, công tác chuyên môn từng bước nâng cao chất lượng phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
  • UBND xã chỉ đạo Trạm y tế xã phối hợp cán bộ phụ trách vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm tiến hành kiểm tra đôn đốc thực hiện công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm của các sơ sở kinh doanh thực phẩm trên địa bàn. Đã yêu càu các hộ sản xuất kinh doanh thực phẩm ký cam kết đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

3.1.3. Tiềm năng du lịch cộng đồng xã Tả Van( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

3.1.3.1. Tiềm năng tài nguyên tự nhiên
Khí hậu, thời tiết
Tả Van nói riêng và Sa Pa nói chung là vùng đất mang đặc điểm của vùng khí hậu á ôn đới và cận nhiệt đới nên mát mẻ quanh năm. Tình hình nhiệt độ Tả Van được thể hiện qua các số liệu sau:
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 15,4oC, nhiệt độ trung bình từ 18 – 200C vào tháng mùa hè, vào các tháng mùa đông 10 – 120C. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm từ 5 – 7oC. Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 33oC và tháng thấp nhất là 0oC.
 Mưa: Lượng mưa trung bình năm là 1.800 – 2.200mm, tập trung chủ yếu vào tháng 5, 6, 7, 8 (chiếm 80% lượng mưa cả năm).
+ Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối bình quân hàng năm từ 85 – 90%. Độ ẩm biến thiên theo từng mùa, thấp nhất vào tháng 4 (65 – 70 %).
Nắng: Tổng số giờ nắng trong năm là 1.400 – 1.460 giờ. Số giờ nắng không đồng đều giữa các tháng, mùa hè số giờ nắng nhiều, tháng 4 hàng (180 – 200 giờ), tháng 10 số giờ nắng ít nhất (30 – 40 giờ).
Gió, bão: Ảnh hưởng bởi 2 hướng gió chính và được phân bố theo hai mùa, mùa hè có gió Tây và Tây Bắc, mùa đông có gió Bắc và Đông Bắc.
Sương: Sương mù thường xuất hiện phổ biến trong năm, đặc biệt vào mùa đông một số nơi có mức độ rất dày. Trong các đợt rét đậm, ở những vùng núi cao và thung lũng kín gió còn có cả sương muối, băng giá, tuyết. Mỗi đợt kéo dài 2 – 3 ngày, gây ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông, lâm nghiệp.
So sánh khí hậu xã Tả Van và bảng chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người cho thấy khí hậu tại vùng này rất thích nghi đối với con người. Đặc biệt thuận lợi cho phát triển du lịch cộng đồng.
Nhiệt độ trung bình của xã là 18 – 20oC và lượng mưa trung bình năm từ 1.800 – 2.200 mm so với chỉ tiêu khí hậu sinh học có thể thấy nó nằm trong tầm thích nghi cho sự phát triển của con người. Điều kiện khí hậu thích hợp là tiêu chí đầu tiên của khách tham quan du lịch (du khách sẽ ít đến tham quan ở những vùng có khí hậu quá nóng hay quá lạnh). Tả Van là điểm đến lý tưởng cho du khách tham quan, nghỉ ngơi.( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )
Đến với Tả Van du khách có thể tận hưởng không khí trong lành. Hay được chiêm ngưỡng những những thửa ruộng bậc thang mờ ảo trong làn sương mờ hay hòa mình vào dòng người nô nức trong hoạt động sản xuất (gặt lúa, phơi thóc) vào dịp cuối năm. Với điều kiện khí hậu, thời tiết thuận lợi, Tả Van là điểm hứa hẹn đem đến những trải nghiệm lý thú cho du khách xa gần. Đây là một trong những lợi thế để Tả Van phát triển du lịch.
Thủy văn
Là một xã thuần nông, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, thủy lợi giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong sản xuất. Chế độ thủy văn của xã chịu ảnh hưởng chính của suối Bo có chiều dài 80km, bắt nguồn từ các núi cao phía Nam dãy Hoàng Liên Sơn với diện tích lưu vực khoảng 578 km2 chạy dọc theo sườn phía Tây và Tây Nam của dãy Hoàng Liên Sơn.
Các suối hầu hết có lòng hẹp, dốc, thác ghềnh nhiều, lưu lượng nước thất thường và biến đổi theo mùa, mùa mưa thường có lũ lớn với dòng chảy khá mạnh (989 m/s) dễ gây nên các hiện tượng lũ ống, lũ quét, nhất là đối với vùng thấp, mùa khô các suối thường cạn. Vì vậy việc chủ động nước trong tưới tiêu và sinh hoạt của người dân còn hạn chế, phụ thuộc vào tự nhiên. Đây cũng là một trở ngại lớn cho chính quyền địa phương và người dân trong công tác quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng.

3.1.3.2. Tiềm năng về tài nguyên nhân văn

Lễ hội: Ở Tả Van mỗi một dân tộc đều có lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa riêng.

  • Lễ hội Roóng Poọc của người Giáy
Hàng năm vào ngày Thìn tháng Giêng âm lịch người giáy lại mở hội Roóng Poọc để cầu mùa màng bội thu, người yên vật thịnh, mưa thuận gió hòa.
Địa điểm mở hội là một khu ruộng tương đối bằng phẳng phía đầu bảng. Trung tâm hội dựng cây còn có vút bằng cây mai có vòng tròn trên ngọn. Vòng tròn đó một mặt dán giấy vàng tượng trưng cho mặt trăng, một mặt dán giấy đỏ tượng trưng cho mặt trời.
Mở đầu là trò chơi ném còn. Những người cao tuổi lấy 6 quả trứng cùng ném tượng trưng 3 lần khai mạc, rồi sau đó mọi người vào cuộc chơi. Cùng với ném còn là chơi kéo co cũng bắt đầu bằng hình thức kéo nghi lễ, sau khi nghi lễ kết thúc, đông đảo nam nữ thanh niên cùng ùa vào chia phe thi kéo. Đông đảo du khách có thể cùng tham gia để cảm nhận bản sắc nơi đây.
Các trò chơi đang tiếp diễn thì những đôi nam nữ lặng lẽ rút khỏi cuộc chơi tìm góc vắng tâm tình qua đàn môi, tiếng khèn, lời hát.
  • Lễ hội xuống đồng
Lễ hội xuống đồng đầu xuân của đồng bào dân tộc Tày, Nùng khai hội sáng ngày mồng 8 Tết thu hút rất đông người dân địa phương và du khách thập phương, có rất nhiều khách du lịch nước ngoài đã đến dự vui và khám phá nét văn hóa đặc sắc của đồng bào vùng núi cao phía bắc. Sau không khí trang nghiêm của phần lễ du khách hòa mình vào trong những làn điệu dân vũ, điệu xòe mừng đảng mừng xuân, mừng đất nước đổi mới, được chứng kiến những nghi thức cúng bái của người dân địa phương,.. và tham gia vào các hoạt động vui chơi như: ném còn, đẩy gậy, kéo co, leo cột mỡ, …( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )
  • Lễ hội Nào Cống
Hàng năm vào ngày Thìn, tháng 6 âm lịch các làng người Mông, người Dao, người Giáy ở thung lũng Mường Hoa đều tập trung về miếu thờ ở bản Tả Van làm lễ “Nào Cống”. Mỗi gia đình cử một người đại diện, không phân biệt nam, nữ, già, trẻ. Lễ “Nào Cống” cầu mong các thần phù hộ người yên vật thịnh, mùa màng bội thu. Ngoài ra, trong lễ hội người đứng đầu sẽ công bố những bản quy ước chung và kết thúc bằng buổi ăn uống vui vẻ.
  • Lễ hội “ Nhặn sồng” và “Nào Sồng”
Đây là lễ hội của người Dao đỏ làng Giàng Tả Chải (Tả Van – Sa Pa) mang ý nghĩa giáo dục cao với dân làng, phòng chống nạn phá rừng.
Người Mông ở Séo Mí Tỷ, ở Dền Thàng, Tả Van cũng như Lao Chải, Hầu Thào, trước đây đều tổ chức lễ hội tương tự gọi là lễ “Nào Sồng”, ngày cúng thường là ngày Thìn tháng giêng. Nội dung quy ước của lễ “Nào Sồng” có sự mở rộng phạm vi điều chỉnh hơn làng người Dao. Bên cạnh việc bảo vệ rừng, chống thả rông gia súc, quy ước còn đề cập đến các vấn đề phòng chống trộm cắp, bảo vệ mùa màng, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau,.
  • Thủ công mỹ nghệ
Nằm lọt trong thung lũng Mường Hoa khu chạm khắc đá cổ Sa Pa với gần 200 hòn đá lớn nhỏ có hình chạm khắc như những bông hoa điểm xuyết cho sự quyến rũ và sức hút mãnh liệt. Trải dài bên bờ Đông Bắc của dòng suối Mường Hoa qua nhiều xã như Tả Van, Sử Pán, Hầu Thào, Lao Chải với chiều rộng khoảng 500 mét.

3.2. Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

3.2.1. Tình hình phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn xã Tả Van

  • Lượng khách đến du lịch tại Tả Van
Khách du lịch là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công của một địa phương tổ chức du lịch. Trong những năm gần đây, khi đời sống của người dân ngày càng ổn định và được nâng cao thì du lịch là một điều tất yếu. Các tour du lịch đến Tả Van ngày càng phát triển như: tour Sa Pa, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ. Tour từ thị trấn Sa Pa đi Cát Cát, Tả Van, Bãi đá cổ, Bản Hồ. Tả Van là một điểm đến ngày càng thu hút khách du lịch, đến với Tả Van du khách sẽ được tham quan, tìm hiểu văn hóa và đời sống của người dân. Lượng khách tăng lên là một tín hiệu đáng mừng cho địa phương.
Năm 2017 xã Tả Van đã thu hút 109.500 lượt du khách, trong đó có 68.900 lượt khách quốc tế tăng 12,63% so với năm 2015. Lượng khách nội địa cũng tăng đều qua các năm. Do các lễ hội trên địa bàn xã ngày càng phong phú. Một số lễ hội chính như “Ngày mùa trên ruộng bậc thang”, lễ hội Mùa đông thu hút được rất nhiều khách tham gia.
Bên cạnh đó với các hoạt động sản xuất, bản sắc văn hóa của các dân tộc, những nét văn hóa độc đáo, cảnh quan thiên nhiên cũng là điểm thu hút du khách, những kỉ niệm khó quên cho những ai đã từng đến nơi đây và luôn muốn quay lại vào một dịp không xa.
Cơ sở vật chất phục vụ du lịch cộng đồng( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )
Cơ sở vật chất được xem là một trong những tiền đề tạo nên sự thay đổi. Từ các chương trình, dự án xây dựng nông thôn mới được thực hiện đầu những năm 2014, xã đã có những bước chuyển mình quan trọng. Hệ thống điện, đường, trường, trạm,.. được nâng cấp và tu sửa khang trang. Giao thông thuận tiện giúp cho việc luân chuyển hàng hóa và đi lại được thuận tiện, tạo phát triển về mọi mặt đặc biệt là du lịch cộng đồng. Nắm bắt được cơ hội đó, một số hộ dân ở xã đã mạnh dạn đầu tư cho du lịch nhằm nâng cao thu nhập cải thiện đời sống cho bản thân và gia đình.
  • Cơ sở lưu trú
Hệ thống các cơ sở lưu trú là thành phần quan trọng của du lịch. Hiện nay trên địa bàn xã có khá nhiều cơ sở đăng ký kinh doanh homestay, nhà nghỉ.
Hệ thống cơ sở lưu trú tại xã Tả Van tập trung chủ yếu ở đường trục chính như thôn Tả Van Dáy 1, Tả Van Dáy 2 và ở trung tâm xã. Với 12 cơ sở lưu trú quy mô từ 4 – 12 phòng, bằng những chính sách thông thoáng, UBND xã Tả Van đã cấp giấy chứng nhận cho các hộ gia đình có đủ điều kiện và mong muốn tham gia hoạt động du lịch cộng đồng. Với ý chí vươn lên làm giàu bền vững, các hộ dân đã tu sửa lại nhà cửa, sẵn sàng đón tiếp khách du lịch. Điển hình là cơ sở lưu trú Mộc Anh homestay và Tả Van Ecologic với số vốn đầu tư lớn, với 12 phòng khách và khuôn viên khang trang được bố trí hài hòa, cho mỗi du khách đến đây cảm thấy mình như được sống giữa thôn quê đầy thơ mộng với khí hậu hài hòa. Với hình thức tự kinh doanh mang đến tính cạnh tranh lớn cho các hộ gia đình tham gia, góp phần quảng bá cho các đơn vị cũng như địa phương với du khách gần xa.
  • Cơ sở dịch vụ bán hàng
Trong khu vực xã Tả Van có khá nhiều cơ sở dịch vụ bán hàng từ bình dân đến siêu thị
Qua bảng 4.6 ta có thể thấy, hệ thống điểm bán hàng và các dịch vụ ở Tả Van khá phong phú với các loại hình kinh doanh khác nhau như ăn uống, tắm lá thuốc, bar,.. chủ yếu tập trung ở trung tâm xã. Các điểm kinh doanh này có đầy đủ các tiêu chí đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đội ngũ đón phục vụ đón tiếp khách tận tình, cách bố trí không gian đẹp mắt hứa hẹn mang đến cho du khách những trải nghiệm độc đáo về ẩm thực của người dân tộc thiểu số. Cùng với đó là hệ thống cung cấp quà lưu niệm và các dịch vụ tẩm quất, masage, tắm lá thuốc cho những du khách đi tham quan bằng hình thức trekking sau một ngày dài mệt mỏi được phân bố tại các thôn.

3.2.2. Tình hình phát triển du lịch cộng đồng của các hộ điều tra( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

  • Số lao động tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng của các hộ điều tra
Lao động và khả năng lao động là một trong những yếu tố giúp cải thiện đời sống của bản thân cũng như của gia đình, tăng thu nhập cho các hộ gia đình. Toàn xã có 69 hộ tham gia hoạt động du lịch từ đó ta thấy được lao động tham gia vào hoạt động Từ bảng ta thấy: Số hộ có từ 1 -2 lao động tham gia du lịch chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cả 3 nhóm hộ khá, hộ trung bình cũng như nhóm hộ nghèo – cận nghèo. Tỷ lệ có từ 3 – 4 lao động tham gia du lịch tương đối thấp ở nhóm hộ khá với tỷ lệ 23,19% tương đương với 16 hộ, nhóm hộ trung bình chiếm 7,25% tương đương với 5 hộ, nhóm hộ nghèo – cận nghèo chiếm 2,9% tương đương với 2 hộ. Có từ 5 lao động trở lên chỉ chiếm 2,9% trong nhóm hộ khá. Nguyên nhân tỷ lệ lao động hộ trung bình và hộ nghèo thấp là do chủ yếu là người già, gia đình có người bị bệnh nặng. Tỷ lệ có từ 1 – 2 lao động chiếm phần đa, nguyên nhân là do các lao động khác trong gia đình tham gia các hoạt động tạo thu nhập khác. Có thể thấy du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Tả Van có một tiền đề khá vững chắc (hầu hết hộ tham gia du lịch cộng đồng là hộ khá và trung bình), đây là cơ sở tốt để đưa các loại hình dịch vụ tốt nhất đến với du khách, đồng thời tạo tính cạnh tranh, quảng bá hình ảnh của Tả Van đến du khách trong và ngoài nước. Tuy nhiên tỷ lệ lao động phục vụ du lịch còn thấp so với nhu cầu du lịch ngày càng cao của du khách. Cần có sự tham gia đông đảo của người dân và sự hỗ trợ, chính sách khuyến khích của chính quyền địa phương cũng như mở các lớp tập huấn, đào tạo nâng cao kĩ thuật cho người dân.
Độ tuổi tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng của hộ điều tra
  • Độ tuổi của lao động rất quan trọng trong quá trình tham gia quá trình phát triển du lịch.
Độ tuổi tham gia du lịch cộng đồng dưới 15 tuổi ở cả 3 nhóm hộ tương đối ít (chiếm 7,45%). Nguyên nhân chính là do đây là độ tuổi dưới lao động còn đi học nên tỉ lệ tham gia ít.
Trong đó độ tuổi từ 15 – 60 tuổi ở cả 3 nhóm hộ tham gia với số lượng đông nhất ở nhóm hộ khá, trung bình và nhóm hộ nghèo – cận nghèo lần lượt là: 21,71%, 56,52% và 8,7%. Nguyên nhân chủ yếu là do đây là đổ tuổi tham gia vào sản xuất chủ yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch cộng đồng phát triển vì trình độ hiểu biết cũng như các kỹ năng (giao tiếp, ứng xử, tiếp đón khách) đã được hoàn thiện và nâng cao trong quá trình hoạt động.
Độ tuổi trên 60 tuổi tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng thấp chỉ chiếm 5,59%. Nguyên nhân chủ yếu là do đây là độ tuổi gần mất sức lao động, chỉ tham gia vào những công việc nhẹ. Tuy nhiên đây là độ tuổi có những kinh nghiệm quý báu, cần được vận động tham gia các hoạt động như: biểu diễn văn nghệ, truyền thụ kinh nghiệm cho con cháu,..Có thể thấy độ tuổi tham gia du lịch trên địa bàn xã là tương đối phong phú, là một thuận lợi để phát triển du lịch cộng đồng. Tuy nhiên số lượng tham gia chưa nhiều, vì thế cần có các chính sách tuyên truyền, khuyến khích đông đảo người dân tham gia, đặc biệt là độ tuổi trên 60 với những kinh nghiệm quý báu.( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )
  • Trình độ học vấn của lao động tham gia hoạt động du lịch của các hộ điều tra
Trình độ của người lao động khẳng định sự hiểu biết và lối sống văn minh, lành mạnh của khu vực đó cũng như áp dụng các kiến thức, trình độ vào sản xuất, góp phần phát triển kinh tế hộ, cải thiện đời sống người dân trên địa bàn.
Trong 69 hộ điều tra, có 161 người tham gia vào hoạt động du lịch. Trình độ học vấn người dân tham gia hoạt động du lịch cộng đồng chỉ mới ở mức trung bình. Tỷ lệ lao động mù chữ chiếm 11,18%, đây là những người dân gắn bó với nghề nông do không có điều kiện đi học. Trình độ học vấn của lao động tham gia hoạt động du lịch tập trung chủ yếu nhóm học vấn cấp I và cấp II (23,6% và 32,3%). Tuy trình độ học vấn của nhóm lao động tham gia vào hoạt động du lịch chưa cao, song với các chính sách đào tạo, tập huấn, nâng cao kỹ năng tại thung lũng Mường Hoa đã giúp người dân làm giàu trên chính mảnh đất quê hương của mình.
  • Dịch vụ và sản phẩm du lịch của các hộ điều tra
Dịch vụ và sản phẩm du lịch là những hoạt động nhằm hỗ trợ, phát triển du lịch, cũng như quảng bá sản phẩm địa phương đến du khách. Dưới đây là các hoạt động du lịch của người dân xã Tả Van.
Qua điều tra 69 hộ có hoạt động du lịch, ta thấy có các loại hình dịch vụ của các hộ khá đa dạng, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách tham quan và tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống cho bản thân, gia đình và xã hội.
Tỷ lệ người tham gia vào hoạt động cung cấp quà lưu niệm có 15 hộ chiếm 21,74%. Đây là hoạt động du lịch giới thiệu các sản phẩm địa phương đến du khách.
Đến với Tả Van du khách sẽ được hướng dẫn tận tình bởi người dân địa phương họ có thể là một hướng dẫn viên du lịch cho du khách từ phương xa đến. Tuy nhiên trong 69 hộ tham gia du lịch cộng đồng được điều tra có 8 hộ tham gia với tỷ lệ 11,59%. Nguyên nhân người dân tham gia với số lượng ít vậy là do những lao động được học qua các trường lớp đều dẫn khách ở nhiều địa phương. Giao tiếp với du khách người dân tự tin, mạnh dạn hơn, họ tự tin giới thiệu cho du khách biết về những nét đặc sắc, bản sắc văn hóa của từng dân tộc.
Bên cạnh đó còn các hoạt đông như: Cung cấp dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống với tỉ lệ cao lần lượt là 95,65%, 91,3% tiếp đến là hoạt động biểu diễn nghệ thuật 10,14%, cho thuê phương tiện di chuyển 13,04% và dịch vụ tắm lá thuốc 2,9%. Qua đó cho thấy các hoạt động dịch vụ ở Tả Van cũng khá phát triển, đa dạng. Tuy nhiên số lượng hộ và lao động tham gia vào các hoạt động du lịch còn tương đối thấp. Nguyên nhân là do hoạt động nông nghiệp còn mang tính chất thời vụ, chưa mạnh dạn đầu tư, một số hộ dân muốn tham gia nhưng chưa có kinh nghiệm, kiến thức cũng như thiếu vốn đầu tư.

3.2.3. Doanh thu từ du lịch của các hộ điều tra( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Du lịch là ngành kinh tế đem lại nguồn thu khá lớn cho các đối tượng tham gia kinh doanh hoạt động du lịch. Đối với các hộ điều tra tại xã Tả Van du lịch cũng đóng góp một phần trong nguồn thu của hộ. Điều này được thể hiện qua bảng 4.11:
Nhóm hộ khá và nhóm hộ TB có tổng thu nhập trung bình lần lượt là 15.370.000 đồng/hộ/tháng và 12.175.000 đồng/hộ/tháng.
Trong đó du lịch là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu cao nhất của những nhóm hộ này.
Có thể thấy nguồn thu từ du lịch cao nhất ở nhóm hộ nghèo – cận nghèo là 5.071.000 đồng/hộ/tháng, tuy nhiên vẫn thấp so với nhóm hộ khá và hộ trung bình. Do các nguồn lực của nhóm hộ nghèo và cận nghèo còn hạn chế như: ít lao động, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật và trình độ,.. và vài hộ trong nhóm này còn có người mắc bệnh hiểm nghèo hay thương binh nên gặp nhiều khó khăn về lao động. Do đó cần có mức đầu tư cho du lịch cao hơn để tăng thu nhập cho hộ.
Ở cả 3 nhóm hộ khá, hộ TB, hộ nghèo – cận nghèo đều có những dịch vụ du lịch khác nhau, mỗi dịch vụ lại đem lại thu nhập khác nhau cho các nhóm hộ. Thu nhập từ các hoạt động du lịch của hộ được điều tra thể hiện trong bảng 4.12.
Nhóm hộ khá cung cấp tương đối đầy đủ các dịch vụ phục vụ cho du lịch và mang lại thu nhập khá cao cho hộ. Trong đó, dịch vụ cung cấp quà lưu niệm mang lại thu nhập cao nhất trung bình 2.400.000 đồng/hộ/tháng. Hướng dẫn viên du lịch, dịch vụ ăn uống, tắm lá thuốc cũng mang lại thu nhập khá cao trung bình từ 2.000.000 đồng đến 1.200.000 đồng/hộ/tháng. Các hoạt động như biểu diễn nghệ thuật, cho thuê phương tiện di chuyển mang lại thu nhập thấp (TB 700.000 đồng/hộ/tháng) vì những hoạt động này chủ yếu chỉ phục vụ du khách vào mùa lễ hội.
Các dịch vụ của nhóm hộ nghèo – cận nghèo còn chưa phong phú, vì thế thu nhập mang lại chưa được cao. Lý do chính là nhóm hộ này còn thiếu kinh nghiệm kinh doanh, thiếu vốn để mở rộng quy mô sản xuất, thiếu nguồn nhân lực và các kỹ năng phục vụ còn thiếu chuyên nghiệp.
Du lịch mang lại cho các hộ một nguồn thu nhập nhất định, cải thiện đời sống cho gia đình và góp phần xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, du lịch vẫn còn mang tính thời vụ, chỉ tập trung vào mùa đầu năm, giữa năm và mùa lễ hội mới đem lại nguồn thu nhập cao cho hộ, vì vào thời gian đầu năm có nhiều hoạt động đón xuân thu hút được du khách, mùa giữa năm là thời gian học sinh, sinh viên được nghỉ hè nên có nhiều các bạn đến tham quan, nghỉ mát cũng có nhiều gia đình thời gian này đưa các con đi chơi và tham quan học hỏi kinh nghiệm. Do vậy cần mở rộng loại hình dịch vụ để phát triển du lịch vào các thời điểm khác nhau trong năm nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho hộ.
Chi phí cho các hoạt động du lịch của nhóm hộ khá cao hơn nhiều so với nhóm hộ nghèo và cận nghèo. Vì các loại hình dịch vụ của nhóm hộ khá quy mô lớn hơn nên chi phí cao hơn so với 2 nhóm còn lại.( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )
Trong nhóm hộ khá có nhiều hộ kinh doanh phục vụ ăn uống, lưu trú và bán quà lưu niệm nên chi phí cho nguyên vật liệu, thuê nhân viên và điện nước khá cao. Trong đó, chi phí cao nhất cao nhất dành cho nguyên vật liệu trung bình 2.039.000 đồng/hộ/tháng. Nguyên vật liệu ở đây chủ yếu là thực phẩm dành cho chế biến của các cơ sở ăn uống, xà phòng, kem đánh răng,.. Chi phí cho điện nước, trả lương cho nhân viên trung bình từ 361.000 đến 2.033.000 đồng/hộ/tháng.
Chi phí cho marketing và quảng cáo chủ yếu là chi phí làm biển quảng cáo hay cho các nhân viên tiếp thị sản phẩm. Chi phí nhóm hộ khá trung bình 211.000 đồng/hộ/tháng.
Một số chi phí khác như chi phí thăm hỏi nhân viên khi ốm đau, chi phí cho học tập nâng cao kỹ năng tay nghề,.. cũng không nhiều, lần lượt là từ 200.000 đồng/hộ/tháng đối với hộ nghèo – cận nghèo, 101.000 đồng/hộ/tháng đối với hộ TB và 237.000 đồng/hộ/tháng với hộ khá.
Do việc đầu tư vào các loại hình dịch vụ của các hộ không giống nhau nên lợi nhuận mà du lịch đem lại cho mỗi nhóm hộ cũng khác nhau. Lợi nhuận từ du lịch mang lại cho từng nhóm hộ được thể hiện trong bảng sau.
Du lịch đem đến cho nhóm hộ khá lợi nhuận trung bình 4.045.000 đồng/tháng. Nhóm hộ trung bình là 3.217.000 đồng/tháng. Nhóm hộ nghèo – cận nghèo có lợi nhuận ít nhất trung bình 1.229.000 đồng/tháng.
Lợi nhuận từ du lịch của nhóm hộ nghèo và cận nghèo còn chưa cao, vì quy mô kinh doanh còn nhỏ, chưa có tính chuyên nghiệp, thiếu vốn để đầu từ vào khoa học kỹ thuật nên làm tăng chi phí. Hai nhóm hộ này tham gia các hoạt động chủ yếu là hướng dẫn viên hay biểu diễn nghệ thuật có doanh thu thấp nhưng lại phải chi khá nhiều vào phục trang, chi phí cho học tập đào tạo, đi lại,..nên lợi nhuận còn thấp. Tuy nhiên đây cũng là hoạt động tăng thêm thu nhập cho gia đình và cải thiện đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Du lịch đã góp phần làm tăng thêm thu nhập cho các hộ gia đình, tạo động lực phát triển kinh tế địa phương, là một phần không thể thiếu trong công tác xóa đói giảm nghèo.
Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Lào Cai
Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Lào Cai

3.3. Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch cộng đồng tại xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

3.3.1. Những thuận lợi trong phát triển du lịch cộng đồng

Hầu hết các hộ đều thấy lợi ích khi tham gia du lịch cộng đồng, hoạt động du lịch mang lại rất nhiều lợi ích cho người dân, đặc biệt là tăng thu nhập, cải thiện đời sống (73,91%). Do du lịch được xem là ngành có thu nhập cao, không phân biệt lứa tuổi, thành phần tham gia, đa dạng các loại hình kinh doanh như: ăn uống, bán đồ lưu niệm, lưu trú, hướng dẫn viên du lịch,..Theo số liệu điều tra có tới 52,17% ý kiến cho rằng, hoạt động du lịch tạo công ăn việc làm cho người dân trên địa bàn xã, đặc biệt là vào mùa du lịch.
Thông qua các lớp tập huấn, đào tạo và hơn hết thông qua du khách du lịch còn góp phần nâng cao kiến thức cho người dân. Có 30 hộ nhận thấy được điều này từ hoạt động du lịch.
Ngoài ra du lịch còn đem lại cho người dân sự ưu đãi của chính quyền địa phương. Khi tham gia vào các hoạt động du lịch người dân được chính quyền địa phương tạo điều kiện cho học tâp chia sẻ kinh nghiệm, tạo điều kiện cho vay vốn để mở rộng quy mô kinh doanh cũng như sản xuất.
Nhiều hộ dân tham gia vào du lịch theo phong trào địa phương, nhưng những hộ sau này một thời gian tham gia vào các hoạt động du lịch cũng đã nhận thấy nhiều lợi ích như tăng thu nhập và tạo công ăn việc làm.
Du lịch đem lại rất nhiều lợi ích cho người dân, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cả về vật chất và tinh thần cho người dân. Du lịch cũng là một phần cầu nối giúp cho người dân đến gần hơn với các chính sách của nhà nước và giữa người dân với lãnh đạo địa phương.

3.3.2. Những khó khăn trong phát triển du lịch cộng đồng( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Mặc dù du lịch đem lại rất nhiều lợi ích cho người dân nhưng trong quá trình hoạt động vẫn gặp nhiều khó khăn. Khó khăn lớn nhất của người dân khi tham gia hoạt động du lịch là thiếu ngoại ngữ (chiếm tới 56,52%), vì đa số người dân tham gia hoạt động du lịch đều là những lao động trong ngành nông – lâm nghiệp, đồng bào dân tộc thiểu số. Người dân thiếu kinh nghiệm khi tham gia du lịch cộng đồng (chiếm 52,17%) như: thiếu kinh nghiệm trong tiếp đón các đoàn khách, thiếu kinh nghiệm trong giao tiếp ứng xử, thiếu kinh nghiệm trong quản lý,… Nguyên nhân là do người dân địa phương chưa được tham gia các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng.
Vốn cũng là khó khăn tương đối lớn của người dân khi tham gia hoạt động du lịch (40,58%). Họ thiếu vốn trong việc phát triển quy mô sản xuất, kinh doanh, cơ sở lưu trú,.. Bên cạnh đó, khi tham gia hoạt động du lịch của người dân trên địa bàn còn gặp một số khó khăn khác như: không có sự hỗ trợ, không có kỹ năng,…
Còn một số ít hộ dân gặp khó khăn khi không nhận được sự hỗ trợ. Đây chủ yếu là những hộ không tham gia các buổi họp, tuyên truyền về du lịch, giới thiệu triển khai các chính sách ưu đãi cho những hộ tham gia. Nên họ không nắm bắt được những chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương.

3.4. Một số giải pháp phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Tả Van huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai

3.4.1. Tăng cường cơ sở vật chất cho du lịch

Xây dựng hồ chứa nước, các đập nước thượng nguồn quy mô nhỏ hoặc các bể chứa nước mưa, giếng khoan, giếng đào để cung cấp nước cho người dân và khách du lịch trên địa bàn xã vào mùa khô.
Đầu tư xây dựng mở rộng các quy mô và số lượng các dịch vụ lưu trú đáp ứng nhu cầu ăn ngủ của khách du lịch trên địa bàn xã Tả Van.
Đầu tư tôn tạo, nâng cấp một số di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, văn hóa bản địa, những phong tục tập quán, sinh hoạt, sản xuất, những trò chơi dân gian,.. cần có kế hoạch, biện pháp phù hợp để duy trì và không ngừng làm phong phú các giá trị này, tránh làm mai một, biến dạng.
Triển khai thực hiện các văn bản quản lý Nhà nước về công tác du lịch tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước, xây dựng môi trường du lịch an toàn thân thiện.

3.4.2. Đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực

Mở các lớp tập huấn, đào tạo nghiệp vụ du lịch như: lễ tân, thuyết minh, giao tiếp cho lao động, chú trọng việc đào tạo, nâng cao nhận thức cho cộng đồng làm du lịch tạo địa phương.
Mở lớp học tiếng anh giao tiếp và tổ chức thi học viên nói tiếng anh giỏi cho các hộ tham gia du lịch trong cộng đồng.
Tổ chức chuyến tham quan thực tế tại các địa phương, vùng miền trong cả nước đang phát triển tốt các loại hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái,.. để học hỏi linh nghiệm phục vụ cho việc phát triển du lịch Sa Pa nói chung và du lịch lại xã Tả Van nói riêng.
Khuyến khích, nâng cao trình độ học vấn của người lao động tham gia hoạt động du lịch cũng như các ngành nghề khác.

3.4.3. Giải pháp về môi trường

Trong thực tế, nhiều khu lịch môi trường đã bị tác động và ảnh hưởng do chất thải của du khách du lịch do đó cần xây dựng hệ thống thu gom rác thải để quản lý và xử lý được lượng rác thải do khách du lịch để lại.

3.4.4. Giải pháp về tổ chức, quản lý du lịch cộng đồng( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Tiến hành kiểm soát việc cho thuê mặt bằng kinh doanh, đối với các hộ làm du lịch, ưu tiên người dân trong xã có đủ khả năng làm du lịch, tạo điều kiện cho người dân nâng cao thu nhập cải thiện đời sống.
Tìm hiểu nhu cầu kinh doanh của người dân để đề xuất phương án cho vay vốn, hướng dẫn kinh doanh du lịch với cá hộ có nhu cầu và khả năng làm kinh doanh nhưng không đủ vốn.
Quy hoạch hướng dẫn các làng nghề vừa để cung cấp cho người dân vừa để cung cấp cho ngành du lịch vừa tạo điểm du lịch và việc làm cho người dân.
– Xây dựng các tuyến, điểm du lịch: Sa Pa – Sa Pả – Hầu Thào – Sử Pán – Tả Van – Sử Pán.

3.4.5. Nâng cấp các dịch vụ phục vụ khách du lịch

Sưu tầm, phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa, văn nghệ dân gian với các loại hình: Múa xòe, điệu múa cổ (múa trống kèn, múa đón dâu), múa quạt, múa hoa đăng,…; làn điệu dân ca: Hát then, hát trao dâu,..và các loại hình nhạc cụ dân tộc: kèn, sáo lá, sáo ngang,, sáo lưỡi gà, chùm nhạc,..
Nâng cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống, hướng dẫn viên du lịch, các dịch vụ tắm lá thuốc và phương tiện di chuyển đáp ứng nhu cầu của khách du lịch đến tham quan.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết Luận 

Qua việc tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, tôi có những kết luận sau:
Điều kiện tự nhiên của xã khá thuận lợi cho việc phát triển du lịch cộng đồng. Cách trung tâm huyện Sa Pa không xa, theo suối Mường Hoa quỹ đất khá đa dạng. Với tổng diện tích tự nhiên là 6.789,86 ha cùng với khí hậu, thời tiết trong lành phù hợp với khả năng thích ứng của con người. Với phong cảnh đẹp thu hút du khách xã còn có các phong tục tập quán như: Các lễ hội Roóng Poọc, xuống đồng, ngày mùa trên ruộng bậc thang,…
Hệ thống cơ sở vật chất (với 12 cơ sở lưu trú, 13 điểm bán hàng) và các loại hình dịch vụ trên địa bàn xã ngày càng phong phú tạo điều kiện cho phát triển du lịch cộng đồng.
Lực lượng lao động tham gia vào du lịch cộng đồng ngày càng tăng (chiếm 8,2% năm 2017) với trình độ ngày càng cao.
Thu nhập từ hoạt động của các hộ cao hơn so ngành nghề khác, là động lực để phát triển hoạt động du lịch cộng đồng.
Song song với những lợi ích mà người dân được hưởng (tăng thu nhập, cải thiện đời sống, tạo công ăn việc làm,…) thì vẫn tồn tại một số khó khăn nhất định như: thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, ngoại ngữ,.. gây trở ngại lớn cho phát triển du lịch cộng đồng tại xã Tả Van.

Kiến nghị( Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

  • Đối với UBND xã
Có kế hoạch phối hợp với trưởng thôn tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân thực hiện xây dựng làng văn hóa du lịch gắn với xây dựng nông thôn mới. Phối hợp với các phòng ban, cơ quan chức năng huyện rà soát, xây dựng phương án thiện cá tiêu chí chưa đạt chuẩn.
Tiếp tục vận động người dân giữ gìn vệ sinh, đảm bảo vệ sinh môi trường, phục vụ du khách đến tham quan, giao lưu,..
  • Đối với ban quản lý thôn
Tổ chức các cuộc họp để tuyên truyền phổ biến cho người dân hiểu rõ về các chương trình dự án liên quan tới hoạt động du lịch, cũng như quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia của người dân.
Tổ chức các cuộc gặp gỡ chia sẻ kinh nghiệm giúp đỡ các hộ nghèo phát triển kinh tế, tăng thu nhập trong quá trình hoạt động du lịch cộng đồng.
Gắn kết các hộ làm du lịch nhằm tăng tính liên kết trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương.
  • Đối với người dân địa phương
Các hộ cần năng động, sáng tạo và mạnh dạn vay vốn đầu tư hơn trong quá trình phát triển hoạt động du lịch cộng đồng.
Không ngừng nâng cao tinh thần học hỏi, trau dồi, bồi dưỡng kiến thức và tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng để thu thập, nắm bắt thông tin về du lịch,… nhằm thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển nhanh và bền vững.
Đoàn kết giúp đỡ nhau, trao đổi kinh nghiệm sản xuất để có thể hướng tới sự chuyên môn hóa trong sản xuất
Hợp tác với các cơ quan quản lý để thực hiện các dự án, chương trình áp dụng cho địa phương để đạt hiệu quả cao nhất.
Nâng cao ý thức giữ gìn và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên song song với văn hóa bản địa truyền thống.
Tham khảo phần tiếp theo tại:

One thought on “Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Lào Cai

  1. Pingback: Khoá luận: Nâng cao tiềm năng du lịch cộng đồng tại tỉnh Lào Cai

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537