Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Thủy Nguyên này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI NÓI ĐẦU
Phát triển kinh tế luôn là mục tiêu quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển như Viêt Nam. Là một nước đang phát triển với hơn 70% dân số sống ở nông thôn nên vai trò của nông nghiệp trong quá trình phát triển đất nước là rất quan trọng. Trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước của nước ta với đường lối đổi mới, nông nghiệp được xác định là “mặt trận hàng đầu”, với việc tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế nhằm giải phóng lực lượng sản xuất ở nông thôn, chuyển nền nông nghiệp từ tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.
Phát triển và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu, nó có tầm quan trọng trong việc nâng cao và ổn định đời sống của hộ sản xuất nông nghiệp, không ngừng tăng cường và phát triển đời sống mới ở nông thôn. Cần phải chú ý đến nền sản xuất nông nghiệp hiện nay bằng cách trong sản xuất nông nghiệp phải thay đổi cơ cấu và tính chất trong quan hệ sản xuất nông nghiệp, lấy sản xuất hộ nông dân là mặt trận hàng đầu, thông qua việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh việc phát triển trong chăn nuôi gia súc, gắn liền với việc sản xuất hàng hoá tiêu dùng phải đẩy mạnh sản xuất hàng hoá xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại phát triển kinh tế dịch vụ, đẩy mạnh việc mở rộng và phát triển ngành nghề truyền thống. Muốn xây dựng và phát triển được thì phải cần có nguồn vốn , chính vì vậy từ những ngày đầu trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng đã ban hành quy định về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông lâm ngư nghiệp và kinh tế nông thôn. Kèm theo nghị định này có những quy định cụ thể về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn. Mục đích khai thác hết tiềm năng thế mạnh của từng vùng, sức lao động, năng lực trình độ tổ chức sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, nâng cao đời sống của các hộ sản xuất hết đói nghèo. Tạo điều kiện cho các hộ sản xuất có điều kiện vươn lên làm giầu chính đáng.
Nhận thức được tình hình trên, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức triển khai tới toàn ngành, việc đầu tư vốn cho các hộ sản xuất có nhu cầu vay vốn để sản xuất – kinh doanh không phân biệt các thành phần kinh tế. Đã tìm ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ cụ thể của mình mở rộng mạng lưới trên khắp mọi miền đất nước phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế nông thôn, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chấp nhận khó khăn vì lợi ích kinh tế của đất nước và của ngành đã vượt qua những bước thăng trầm đứng vững lên trong cơ chế thị trường chuyển hướng đầu tư tín dụng về với nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Cùng với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, các chi nhánh ở từng địa phương cũng đang làm tốt nhiệm vụ đó, một trong số đó là Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Thủy Nguyên. Với sự quyết tâm của toàn thể cán bộ Ngân hàng, Chi nhánh Thủy Nguyên đã làm rất tốt việc đầu tư giúp các hộ sản xuất có vốn để sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế của huyện Thủy Nguyên phát triển, góp phần không nhỏ trong sự nghiệp Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước.
Chính vì vậy em mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Thủy Nguyên” Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
Đề tài được chia làm 3 chương:
- Chương I: Hộ sản xuất và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất.
- Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Thủy Nguyên.
- Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Thủy Nguyên.
CHƯƠNG I : HỘ SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT
1.1 Hộ sản xuất và vai trò của hộ sản xuất đối với nền kinh tế
1.1.1 Khái niệm chung về hộ sản xuất
Nói đến sự tồn tại của hộ sản xuất trong nền kinh tế, trước hết chúng ta cần thấy rằng hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cả các nước có nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới. Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phương thức và vẫn đang tiếp tục phát triển. Phương thức sản xuất này có những quy luật phát triển riêng của nó và trong mỗi chế độ nó tìm cách thích ứng với nền kinh tế hiện hành. Chúng ta có thể xem xét một số quan niệm khác nhau về hộ sản xuất:
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, nhóm người đó bao gồm những người chung huyết tộc và người làm công.
Tại Việt Nam, hộ sản xuất xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ, được Nhà nước giao đất quản lý và sử dụng vào sản xuất kinh doanh và được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định do Nhà nước quy định.
Chủ hộ là đại diện của hộ sản xuất trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự. Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ sản xuất xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ sản xuất. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
Tài sản chung của hộ sản xuất gồm tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập lên hoặc được tặng cho chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ. Quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ cũng là tài sản chung của hộ sản xuất.
Hộ sản xuất phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh hộ sản xuất. Hộ chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ. Nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ, thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình.
Ngày nay hộ sản xuất đang trở thành một nhân tố quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước và là sự tồn tại tất yếu trong quá trình xây dựng một nền kinh tế đa thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để phù hợp với xu thế phát triển chung, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Phụ lục số 1 kèm theo Quyết định 499A ngày 2/9/1993, theo đó khái niệm hộ sản xuất được hiểu như sau: “Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình”. Thành phần chủ yếu của hộ sản xuất bao gồm: hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, hộ gia đình xã viên, hộ nông, làm trường viên.
Như vậy, hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn. Hộ sản xuất hoạt động trong nhiều ngành nghề nhưng hiện nay phần lớn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các họ này tiến hành sản xuất kinh doanh đa dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề phụ. Đặc điểm sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề nói trên đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hộ sản xuất ở nước ta.
Đại diện của hộ sản xuất: Chủ hộ là đại diện của hộ sản xuất trong các giao dịch dân sự và lợi ích chung của hộ. Cha mẹ hoặc thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự. Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ sản xuất xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hộ sản xuất.
Tài sản chung của hộ sản xuất: Tài sản chung của hộ sản xuất gồm tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng, cho chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ. Quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ cũng là tài sản chung của hộ sản xuất.
Hộ sản xuất được chia làm nhiều loại dựa vào các yếu tố khác nhau:
Dựa vào yếu tố tự nhiên có: hộ sản xuất nông thôn và thành thị, hộ sản xuất theo vùng kinh tế.
Dựa vào yếu tố kinh tế: có thể phân ra hộ giàu-nghèo, hộ thuần nông, hộ kinh doanh tổng hợp, hộ sản xuất phi nông nghiệp…
=> Từ sự phân hoá trên có thể đưa ra những chính sách kinh tế phù hợp tại điều kiện khuyến khích các hộ phát triển ngành nghề, tăng trưởng sản phẩm hàng hoá.
1.1.2 Đặc điểm chung của kinh tế hộ sản xuất Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
Tại Việt Nam hiện nay , trên 70% dân số sinh sống ở nông thôn và đại bộ phận còn sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc. Trong điều kiện đó, hộ là đơn vị kinh tế cơ sở mà chính ở đó diễn ra quá trình phân công tổ chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng.
- Có 3 đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ sản xuất là:
Đặc trưng 1: Kinh tế hộ nông thôn nước ta đang chuyển từ kinh tế tự cấp, tự túc khép kín lên dần nền kinh tế hàng hoá. Tiếp cận với thị trường chuyển từ nghề nông thuần tuý sang nền kinh tế đa dạng theo xu hướng chuyên môn hoá. Dưới sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường trong quá trình chuyển hoá tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh và hệ quả sẽ đến sự phân chia giàu nghèo trong nông thôn. Từ đó vấn đề đặt ra đối với quản lý và điều hành phía Nhà nước là phải làm soa cho phép kinh tế hộ phát triển mà vẫn đảm bảo công bằng xã hội, tăng số hộ giàu, giảm hộ nghèo, tạo điều kiện để hộ nghèo bớt khó khăn và vươn lên khá giả.
Đặc trưng 2: Quy mô và cơ sở vật chất kỹ thuật của các hộ chênh lệch nhau khá lớn giữa các vùng và ngay cả trong một số vùng cùng có sự chênh lệch nhau giữa quy mô và diện tích đất đai, vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động và trình độ hiểu biết giữa các hộ do điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau giữa các vùng. Một tất yếu khác của sự phát triển kinh tế hộ sản xuất là nảy sinh quá trình tích tụ và tập trung về ruộng đất, vốn, cơ sở vật chất, kỹ thuật ngày càng tăng độ giảm bớt tính chất sản xuất phân tán, manh mún lạc hậu của kinh tế tiểu nông.
Đặc trưng 3: Trong quá trình chuyển hoá kinh tế hộ sản xuất sẽ xuất hiện nhiều hình thức kinh tế khác nhau như: Hộ nhận khoán trong đó các hộ là các thành viên của các tổ chức kinh tế đó. Một loại hình kinh tế khác xuất hiện đó là các hộ nhận khoán nhận thầu. Trong quá trình nhận thầu nhìn chung phần lớn kinh tế các hộ nhận thầu phát triển nhanh thu nhập cao rõ rệt, nhưng bên cạnh đó còn có hộ gặp rủi ro, thất bại. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
1.1.3 Vai trò của hộ sản xuất đối với nền kinh tế
- Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa.
Lịch sử phát triển sản xuất hàng hoá đã trải qua giai đoạn đầu tiên là kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ gia đình. Tiếp theo là giai đoạn chuyển biến từ kinh tế hàng hoá nhỏ lên kinh tế hàng hoá quy mô lớn- đó là nền kinh tế hoạt động mua bán trao đổi bằng trung gian tiền tệ.
Bước chuyển biến từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ gia đình là một giai đoạn lịch sử mà nếu chưa trải qua thì khó có thể phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, giải thoát khỏi tình trạng nền kinh tế kém phát triển.
- Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn.
Việc làm là một trong những vấn đề cấp bách đối với toàn xã hội nói chung và đặc biệt là nông thôn hiện nay. Nước ta có trên 70% dân số sống ở nông thôn. Với một đội ngũ lao động dồi dào, kinh tế quốc doanh đã được nhà nước trú trọng mở rộng song mới chỉ giải quyết được việc làm cho một số lượng lao động nhỏ. Lao động thủ công và lao động nông nhàn còn nhiều. Việc sử dụng khai thác số lao động này là vấn đề cốt lõi cần được quan tâm giải quyết.
Từ khi được công nhận hộ gia đình là 1 đơn vị kinh tế tự chủ, đồng thời với việc nhà nước giao đất, giao rừng cho nông- lâm nghiệp, đồng muối trong diêm nghiệp, ngư cụ trong ngư nghiệp và việc cổ phần hoá trong doanh nghiệp, hợp tác xã đã làm cơ sở cho mỗi hộ gia đình sử dụng hợp lý và có hiệu quả nhất nguồn lao động sẵn có của mình. Đồng thời chính sách này đã tạo đà cho một số hộ sản xuất, kinh doanh trong nông thôn tự vươn lên mở rộng sản xuất thành các mô hình kinh tế trang trại, tổ hợp tác xã thu hút sức lao động, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn.
- Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hóa.
Ngày nay, hộ sản xuất đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ sản xuất phải quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? để trực tiếp quan hệ với thị trường. Để đạt được điều này các hộ sản xuất đều phải không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu và một số biện pháp khác để kích thích cầu, từ đó mở rộng sản xuất đồng thời đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất có thể dễ dàng đáp ứng được những thay đổi của nhu cầu thị trường mà không sợ ảnh hưởng đến tốn kém về mặt chi phí. Thêm vào đó lại được Đảng và Nhà nước có các chính sách khuyến khích tạo điều kiện để hộ sản xuất phát triển . Như vậy với khả năng nhạy bén trước nhu cầu thị trường, hộ sản xuất đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của thị trường tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển cao hơn.
=> Có thể nhận thấy kinh tế hộ sản xuất là thành phần kinh tế không thể thiếu được trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá xây dựng đất nước. Kinh tế hộ phát triển góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong cả nước nói chung, kinh tế nông thôn nói riêng và cũng từ đó tăng mọi nguồn thu cho ngân sách địa phương cũng như ngân sách nhà nước.
Xét về lĩnh vực tài chính tiền tệ thì kinh tế hộ tạo điều kiện mở rộng thị trường vốn, thu hút nhiều nguồn đầu tư.
1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
1.2.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định được quay trở lại người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn ban đầu.
- Tín dụng ngân hàng được xác định bởi 2 hoạt động là: cho vay và trả lãi.
- Trong tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất thì ngân hàng là
người chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (người cung ứng vốn – người cho vay), còn hộ sản xuất là người nhận (cung ứng vốn-người đi vay). Sau một thời gian nhất định hộ sản xuất trả lại số vốn đã nhận từ ngân hàng, số vốn hoàn trả lại lớn hơn số vốn ban đầu (phần lớn hơn gọi là lãi).
1.2.2 Đăc điểm cho vay đối với hộ sản xuất
Khái niệm cho vay hộ sản xuất: Là hình thức cấp tín dụng , theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng ở đây là hộ sản xuất một khoản tiền để sử dụng với mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận có nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi.
- Đặc điểm cho vay hộ sản xuất:
Cho vay hộ sản xuất mang tính thời vụ gắn liền với chu kì sinh trưởng của động ,thực vật:
Tính chất thời vụ trong cho vay nông nghiệp có liên quan đến chu kì sinh trưởng của động, thực vật trong ngành nông nghiệp nói chung và các ngành cụ thể mà ngân hàng tham gia cho vay. Thương tính thời vụ được thể hiện những mặt sau:
Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và thu nợ của ngân hàng. Chu kì sống tự nhiên của cây, con là yếu tố quyết định để ngân hàng tính toán thời hạn cho vay.
Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng. Nguồn trả nợ ngân hàng chủ yếu là tiền thu bán các nông sản và các sản phẩm chế biến có liên quan đến nông sản. Như vậy sản lượng nông sản thu được là yếu tố quyết định khả năng thu hồi nợ của ngân hàng. Và nếu sảy ra thiên tai thì khả năng thu hồi nợ của ngân hàng là rất thấp.
- Chi phí vay thường cao : Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
Cho vay hộ sản xuất đặc biệt là cho vay hộ nông dân thì chi phí cho một đồng vốn vay thường cao do quy mô từng món vay nhỏ. Số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp mọi nơi nên mở rộng cho vay thường liên quan đến việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ: Mở chi nhánh, bàn giao dịch, tổ lưu động cho vay tại xã. Hiện nay mạng lưới của NHNo&PTNT Việt Nam mới chỉ đáp ứng được một phần của cho vay nông nghiệp.
Do đặc thù kinh doanh hộ sản xuất đặc biệt là hộ nông dân luôn có độ rủi ro cao nên chi phí cho dự phòng rủi ro lớn hơn so với các ngành khác.
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất.
Đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh tế hộ sản xuất mở rộng sản xuất, kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề. Khai thác các tiềm năng về lao động, đất đai, mặt nước và các nguồn lực vào sản xuất. Tăng sản phẩm cho xã hội, tăng thu nhập cho hộ sản xuất.
Tạo điều kiện cho kinh tế hộ sản xuất tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tiếp cận với cơ chế thị trường và từng bước điều tiết sản xuất phù hợp với tín hiệu của thị trường.
Thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá, góp phần thực hiện Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.
Thúc đẩy các hộ gia đình tính toán, hạch toán trong sản xuất kinh doanh, tính toán lựa chọn đối tượng đầu tư để đạt được hiệu quả cao nhất. Tạo nhiều việc làm cho người lao động.
Hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi trong nông thôn, tình trạng bán lúa non…
Kinh tế hộ sản xuất trong nông nghiệp dù họ làm nghề gì cũng có đặc
trưng phát triển do nền sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp quy định. Như vậy hộ sản xuất kinh doanh trong nền sản xuất hàng hoá không có giới hạn về phương diện kinh tế xã hội mà phụ thuộc rất nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả năng kỹ thuật, quyền làm chủ những tư liệu sản xuất và mức độ vốn đầu tư của mỗi hộ sản xuất.
1.2.4 Một số cơ chế chính sách tín dụng đối với phát triển kinh tế hộ sản xuất Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
Xác định vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp nông thôn trong nền kinh tế đất nước, Chính phủ, các ngành, các cấp và các ngành Ngân hàng có nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế chỉ đạo đầu tư cho ngành nông nghiệp và nông thôn nói chung, cũng như đầu tư cho hộ sản xuất nói riêng.
- Một số cơ chế chính sách tín dụng với cho vay hộ sản xuất:
Nghị định số 14/2003/NĐ-CP ngày 2 tháng 3 năm 1993 của Chính phủ quy định về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông –lâm –ngư – diêm nghiệp và kinh tế nông thôn.
Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về tín dụng đối với ngưới nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Nghị định số 41/2023/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp ,nông thôn.
Nghị định số 15/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quyết định tín dụng đối với hộ cận nghèo.
- a, Về nguồn vốn cho vay
Nguồn vốn cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn bao gồm:
- Vốn ngân hàng huy động
- Vốn ngân sách nhà nước
- Vốn vay của các tổ chức tín dụng khác
Để phục vụ chủ trương phát triển nông nghiệp và nông thôn của Chính phủ, các Ngân hàng thương mại có thể phát hành trái phiếu với lãi suất cao hơn lãi suất huy động bình thường tại cùng thời điểm, mức lãi suất cao hơn tối đa 1%/năm. Có thể huy động bằng vàng để chuyển đổi số vàng huy động được thành đồng Việt Nam để cho vay.
- b, Về đối tượng cho vay Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
NHNo&PTNT Việt Nam và các tổ chức tín dụng khác huy động và cân đối đủ nguồn vốn, đáp ứng yêu cầu tăng khối lượng tín dụng cho nhu cầu phát triển nông nghiệp và nông thôn bao gồm:
Chi phí sản xuất cho trồng trọt, chăn nuôi như: Vật tư, phân bón, cây giống, con giống, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, thuốc phòng, chữa bệnh, thức ăn chăn nuôi…;Chi phí nuôi trồng thuỷ sản (nước ngọt, nước nợ) như: cải tạo ruộng nuôi, lồng nuôi, con giống, thức ăn, thuốc phòng, chữa bệnh…Đánh bắt hải sản như: Đầu tư đóng mới; chi phí bơm tưới, tiêu nước làm thuỷ lợi nội đồng.
- Tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu nông, lâm, thuỷ, hải sản và muối.
- Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn.
Mua sắm công cụ máy móc, máy móc thiết bị phục vụ cho phát triển nông nghiệp và nông thôn như: Máy cày, máy bừa, máy bơm, máy gặt, máy tuốt lúa, máy say sát, máy xấy, thiết bị chế biến, bình bơm thuốc trừ sâu…; Mua sắm phương tiện vận chuyển hàng hoá trong nông nghiệp; xây dựng chuồng trại, nhà kho,sân phơi, các phương tiện bảo quản sau thu hoạch.
Cho vay sinh hoạt như xây, sửa nhà ở, mua sắm đồ dùng phương tiện đi lại…
Phát triển cơ sở hạ tầng như: Điện, đường giao thông nông thôn, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường.
- c, Lãi suất cho vay
Mức lãi suất cho vay do NHNo nơi cho vay thoả thuận phù hợp với quy định của NHNN và NHNo&PTNT Việt Nam.
Cho vay ưu đãi lãi suất, thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của NHNN.
- d, Thời hạn cho vay
Ngân hàng cho vay theo chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi, thời gian luân chuyển vật tư hàng hoá và khấu hao tài sản, máy móc thiết bị.
- Thời hạn cho vay ngắn hạn tối đa là 12 tháng.
- Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 5 năm.
- Thời hạn cho vay dài hạn trên 5 năm.
- e, Bộ hồ sơ cho vay
Quy định của Ngân hàng nhà nước đã nêu rõ: Các tổ chức tín dụng cần phải cải tiến quy trình cho vay đối với từng đối tượng khách hàng là: Hộ gia đình, các hợp tác xã, các doanh nghiệp đảm bảo thủ tục đơn giản, thuận tiện và đảm bảo an toàn cho Ngân hàng. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
- Đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác:
Hồ sơ pháp lý: chứng minh nhân dân, hộ chiếu,giấy đăng ký kinh doanh đối với cá nhân phải đăng ký kinh doanh, hợp đồng hợp tác với tổ hợp tác, giấy ủy quyền cho người đại diện (nếu có).
Hồ sơ vay vốn: Hộ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp vay vốn không phải thực hiện bảo đảm bằng tài sản: Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất, kinh doanh. Hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác (trừ hộ gia đình được quy định tại điểm trên) bao gồm: giấy đề nghị vay vốn, dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ.
- Đối với hộ gia đình, cá nhân qua tổ vay vốn
- Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất kinh doanh của hộ gia đình, cá nhân.
- Biên bản thành lập tổ vay vốn.
- Hợp đồng làm dịch vụ.
- Đối với hộ gia đình vay vốn thông qua doanh nghiệp
Ngoài các hồ sơ đã quy định như trên, đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác phải có thêm:
- Hợp đồng cung ứng vật tư, tiền vốn cho hộ gia đình, cá nhân nhận khoán.
- Danh sách hộ gia đình, cá nhân đề nghị ngân hàng cho vay.
- g, Bảo đảm tiền vay
Đối với hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp mức vay đến 10 triệu đồng. Những hộ làm kinh tế trang trại, hộ sản xuất hàng hoá mức cho vay có thể tới 20 triệu đồng và hộ sản xuất giống thuỷ sản vay vốn đến 50 triệu đồng không phải thế chấp tài sản.
Những hộ vay vượt mức quy định trên, thì phải thế chấp tài sản theo quy định của Nhà nước.
- h, Xử lý rủi ro
Các tổ chức tín dụng tham gia cho vay vốn phát triển nông nghiệp và nông thôn, trong các trường hợp rủi ro thông thường thì xử lý theo quy chế chung quy định. Trong trường hợp do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng như: Bão, lụt, hạn hán, dịch bệnh thì Nhà nước có chính sách xử lý cho người vay và Ngân hàng vay như: Xoá, miễn, khoanh, dãn nợ tuỳ theo mức độ thiệt hại.
1.3 Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại ngân hàng thương mại Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả cho vay
Cho vay là một trong những hoạt động đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Chính vì vậy các ngân hàng luôn chú trọng đến hiệu quả cho vay.
Hiệu quả cho vay có thể được hiểu là ngân hàng đáp ứng được kịp thời, đầy đủ vốn cho khách hàng, được khách hàng sử dụng đúng mục đích và tạo ra số tiền lớn hơn số tiền bỏ ra ban đầu, đảm bảo khách hàng trả nợ vay cả gốc và lãi đúng thời hạn theo thỏa thuận, đảm bảo thu nhập cho cả ngân hàng và khách hàng.
Hiệu quả cho vay thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng của ngân hàng và phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ gốc đúng hạn và có lãi. Hiệu quả cho vay phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày một tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn, trung, dài hạn trong nền kinh tế.
Hiệu quả cho vay vừa cụ thể, vừa trừu tượng và có quan hệ đến nhiều nhân tố chủ quan và khách quan khác nhau. Có thể nói hiệu quả cho vay là một chỉ tiêu tổng hợp, thẻ hiện năng lực của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường khắc nghiệt.
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay hộ sản xuất Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
1.3.2.1 Doanh số cho vay hộ sản xuất
Doanh số cho vay hộ sản xuất là một chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền ngân hàng cho hộ sản xuất vay trong thời kì nhất định thường là một năm.
1.3.2.2 Tỷ lệ tăng trưởng doanh số cho vay ( DSCV) (%)
- ( DSCV năm nay – DSCV năm trước)
- Tỷ lệ tăng trưởng DSCV(%)= x 100%
- DSCV năm trước
Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng tín dụng qua các năm để đánh khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng. (tương tự như chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ, nhưng bao gồm toàn bộ dư nợ cho vay trong năm đến thời điểm hiện tại và dư nợ cho vay trong năm đã thu hồi).
Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại ngân hàng đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng và thể hiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả.
1.3.2.3 Doanh số thu nợ hộ sản xuất
Doanh số thu nợ hộ sản xuất phản ánh tổng số tiền ngân hàng thu hồi được trong một thời kì nhất định sau khi giải ngân.
1.3.2.4 Hệ số thu nợ (%)
- Doanh số thu nợ
- Hệ số thu nợ (%) = x 100% Doanh số cho vay
- Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của ngân hàng.
Nó phản ánh trong 1 thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽ thu về được bao nhiêu đồng vốn.
1.3.2.5 Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (%)
- (Dư nợ năm nay – Dư nợ năm trước)
- Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (%)= x 100%
- Dư nợ năm trước Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng.
Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại ngân hàng đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng và thể hiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả.
- Tỷ lệ này càng cao càng tốt.
1.3.2.6 Vòng quay vốn tín dụng
- Doanh số thu nợ
- Vòng quay vốn tín dụng ( vòng) =
- Dư nợ bình quân
- ( Dư nợ đầu kì + Dư nợ cuối kì)
- Trong đó: Dư nợ bình quân = 2
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh thì được coi là tốt và việc đầu tư càng được an toàn.
1.3.2.7 Tỷ lệ nợ xấu (%)
- Nợ xấu
- Tỷ lệ nợ xấu (%) = x 100% Tổng dư nợ
Dùng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu để phân tích thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân hàng. Nợ xấu của ngân hàng bao gồm nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chuyển về nợ trong hạn, chính vì vậy chỉ tiêu này cho thấy thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
Tỷ lệ nợ xấu càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém , và ngược lại.
1.3.3 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất
Hộ sản xuất được xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ, được Nhà nước giao đất quản lý và sử dụng vào sản xuất kinh doanh và được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực do Nhà nước quy định. Như chúng ta đã biết, dân số nước ta có khoảng 85 triệu dân ( theo ước tính của Cục thống kê) trong đó gồm 70% và hơn 60% lao động sống ở nông thôn và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nhằm hiện đại hoá nông thôn. Trong thực tế hộ sản xuất với kinh tế tự chủ được giao đất quản lý và sử dụng, được phép kinh doanh và tự chủ trong sản xuất kinh doanh, đa dạng các mặt hàng kinh doanh ( trừ những mặt hàng Nhà nước nghiêm cấm). Với sức lao động sẵn có trong mỗi gia đình hộ sản xuất, họ được phép kinh doanh, được chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên diện tích họ được giao. Để thực hiện được những mục đích trên họ phải cần vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chuyển đổi cây trồng vật nuôi, trồng những cây có giá trị cao, những con có giá trị lớn để tăng thêm thu nhập, tạo công ăn việc làm cho chính bản thân gia đình họ. Đồng thời đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Do vậy, họ cần Ngân hàng thương mại hỗ trợ về vốn để họ thực hịên những phương án trồng trọt – chăn nuôi hay kinh doanh dịch vụ ngay trên quê hương họ.
Thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về cho vay vốn đáp ứng nhu cầu vốn đối với nông nghiệp – nông thôn. Ngân hàng thương mại đã cho vay tới tận hộ sản xuất, đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết để phát triển kinh tế.
Xuất phát từ chức năng của Ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay cho nên vốn cho vay phải hoàn trả đúng hạn gốc + lãi. Có như vậy Ngân hàng mới đảm bảo sự hoạt động bình thường. Đáp ứng được nhu cầu vốn đối với hộ sản xuất cũng như nền kinh tế. Vì vậy cần phải nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ sản xuất, có nâng cao hiệu quả cho vay mới giúp hộ sản xuất có vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, mang lại hiệu quả, tăng thêm thu nhập cho gia đình họ, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, tạo công ăn việc làm cho chính bản thân gia đình họ. Phát huy được mọi nguồn lực ở nông thôn, từ đó khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, mở rộng và phát triển tiểu thủ công nghiệp đáp ứng và phù hợp với nhu cầu của thị trường.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay hộ sản xuất Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
14.1 Nhân tố khách quan
- Về tự nhiên
Sản xuất nông nghiệp là hoạt động chính của hộ sản xuất, do đó yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng lớn, tác động trực tiếp đên quá trình sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất. Nếu gặp phải thiên tai như hạn hán, lũ lụt, sâu bọ phá hoại mùa màng, các hộ không thu được lợi nhuận, khi đó ngân hàng cho hộ vay vốn cũng không thể thu hồi được vốn.
- Về kinh tế – xã hội
Nếu tình hình kinh tế xã hội ổn định, phát triển sẽ tác động tích cực đến hiệu quả cho vay của ngân hàng.
Nếu nền kinh tế tăng trưởng thấp hoặc tăng trưởng âm sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, các hộ sản xuất không có điều kiện để mở rộng kinh doanh sản xuất, tệ hơn còn có thể bị thu hẹp, khi đó đầu tư cho vay của ngân hàng với hộ sản xuất cũng bị giảm sút kém hiệu quả.
Ngược lại, nếu nền kinh tế tăng trưởng ở mức rất cao( dấu hiệu không bình thường), khi đó lạm phát tăng cao, gây rủi ro về sự mất giá của đồng tiền, việc đầu tư tín dụng của ngân hàng cúng không hiệu quả.
- Chính sách của Đảng và Nhà nước
Với việc ban hành các nghi định, quy định về việc cho vay đối với hộ sản xuất như cơ chế cho vay, đảm bảo tiền vay, các quy định về việc quản lý, tiêu thụ sản phẩm…tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng nâng cao hiệu quả cho vay, tuy nhiên cũng sẽ xuất hiện những hạn chế.
1.4.2 Nhân tố chủ quan Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
a, Từ phía ngân hàng
- Năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ ngân hàng.
Cán bộ tín dụng là người trực tiếp giao dịch với khách hàng, vì vậy họ cần phải có năng lực để thẩm định hồ sơ, phương án, dự án vay vốn của khách hàng thật chính xác, nhạy bén, nắm bắt thông tin kịp thời của khách hàng.
Phẩm chất đạo đức của cán bộ tín dụng rất quan trọng, nếu cán bộ tín dụng có năng lực nhưng không có đạo đức nghề nghiệp sẽ gây nguy hiểm trong khâu đánh giá khách hàng, dễ làm sai lệch thông tin về khách hàng dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng. Vì vậy năng lực và phẩm chất cán bộ tín dụng luôn phải đi cùng nhau.
- Quy trình tín dụng
Quy tình tín dụng bao gồm những quy định cần thiết phải được tuân thủ trong suốt quá trình diễn ra hoạt động tín dụng, từ lúc xét duyệt hồ sơ, quyết định cho vay, giải ngân, giám sát, đến lúc thu hồi nợ. Hiệu quả cho vay có đạt hay không phụ thuộc rất lớn vào việc thực hiện các bước trong quy trình tín dụng.
- Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Nếu hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ tốt giúp cho ban lãnh đạo ngân hàng có những thông tin chính xác, phát hiện những sai sót kịp thời để có thể tìm ra những phương án, biện pháp khắc phục những sai sót đó.
- Trang thiết bị kĩ thuật của ngân hàng
Cũng như bất kì một doanh nghiệp nào, ngân hàng cũng cần phải có các trang thiết bị máy móc phục vụ công việc của mình. Các ngân hàng không ngừng đổi mới các trang thiết bị máy móc hiện đại để phục vụ việc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng một cách chính xác, nhanh chóng.
- b,Từ phía khách hàng Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank.
Khách hàng là nhân tố rất quan trọng, quyết định việc cho vay của ngân hàng có đem lại hiệu quả hay không. Nó phụ thuộc vào ý thức thực hiện cam kết và sử dụng nguồn vốn vay đúng mục đích để có thể đem lại hiệu quả kinh doanh cho bản than khách hàng, và đảm bảo việc hoàn trả nợ cho ngân hàng. Nếu khách hàng sử dụng nguồn vốn đó không đúng mục đích không thu được lợi nhuận sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank


Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank
Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank
Pingback: Khóa luận: Giải pháp hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank
Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank
Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất tại Agribank