Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện công tác hoạch định chiến lược kinh doanh tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Hùng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm qua, ngành dệt may Việt Nam đã luôn là một trong những ngành mũi nhọn của quốc gia và đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển của đất nước. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành dệt may Việt Nam đã vươn tầm ra thế giới và được đánh giá cao. Tuy nhiên, quá trình cải cách và hội nhập sẽ làm cho mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, nhất là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp dệt may Việt Nam với các doanh nghiệp dệt may nước ngoài.

Để thành công trong môi trường kinh doanh có nhiều biến động và giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần hoạch định cho mình một chiến lược kinh doanh và thực hiện có hiệu quả chiến lược đó để có thể phát triển một cách bền vững. Mặc dù vậy, trong những năm vừa qua vẫn có rất nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản hoặc biến mất trên thị trường. Có rất nhiều lý do, nhưng một trong số đó là họ thiếu một tư duy chiến lược, bắt đầu bằng việc thiếu khả năng hoạch định một chiến lược và kết thúc bằng thất bại trong việc phát triển một hệ thống kiểm soát nhằm duy trì hiệu quả kinh doanh. Vì vậy, vai trò của chiến lược kinh doanh là rất quan trọng nhưng chú trọng đến công tác hoạch định chiến lược kinh doanh cũng là hoạt động rất mới của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Nhận thức được tầm quan trọng này nên em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác hoạch định chiến lược kinh doanh tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Hùng” làm nội dung nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình.

  • Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là vận dụng các vấn đề lý luận cơ bản về công tác hoạch định chiến lược kinh doanh nói chung, để từ đó xem xét vấn đề sử dụng hiệu quả chiến lược của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Hùng, trên cơ sở đó đưa ra các ý kiến nhằm hoàn thiện công tác hoạch định chiến lược kinh doanh của Công ty trong thời gian tới.

  • Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động hoạch định chiến lược tại các tổ chức nói chung và các doanh nghiệp dệt may nói riêng là vấn đề lớn và hết sức phức tạp. Khoá luận tập trung nghiên cứu đánh giá công tác hoạch định chiến lược tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Hùng.

  • Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, thống kê, phân tích tổng hợp, các bảng biểu, số liệu thực tế để chứng minh.

Nội dung khoá luận bao gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược kinh doanh
  • Chương 2: Thực trạng công tác hoạch định chiến lược kinh doanh tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Hùng
  • Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác hoạch định chiến lược kinh doanh tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Hùng

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Chiến lược kinh doanh

Trong kinh doanh, chiến lược là một vấn đề cấp thiết do sự ganh đua quyết liệt giữa các chủ thể kinh doanh để tồn tại và phát triển. Vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu phát biểu dưới nhiều hình thức khác nhau.

  • Theo Raymond Alain – ThiéTart: “Chiến lược là tổng thể các quyết định, các hành động liên quan đến việc lựa chọn và phân bổ nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
  • Theo Henry Mintzbegs: “Chiến lược là tiến trình đề ra các quyết định và hành động một cách liên tục.”
  • Theo William.J. Glueck: “Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện.”
  • Theo Arthur A. Thompson, Jr. và A.J. Strickland III thì “Chiến lược kinh doanh là một chuỗi những hoạt động cạnh tranh và phương thức quản lý tiếp cận trong kinh doanh để đạt được kết quả kinh doanh thành công. Chiến lược kinh doanh thực sự là kế hoạch của nhà quản lý nhằm cũng cố vị trí của tổ chức, thoả mãn nhu cầu của khách hàng và đạt được những mục tiêu kinh doanh mong muốn.” Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Năm 1996, Michael E. Porter – giáo sư nổi tiếng về chiến lược kinh doanh của trường đại học Harvard, đã phát biểu quan niệm về chiến lược qua bài báo “Chiến lược là gì?”. M.E. Porter cho rằng:

Thứ nhất, chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt. Cốt lõi của thiết lập vị thế chiến lược là việc chọn lựa các hoạt động khác với các nhà cạnh tranh (sự khác biệt này có thể là những hoạt động khác biệt so với các nhà cạnh tranh hoặc các hoạt động tương tự nhưng với những cách thức thực hiện khác biệt).

Thứ hai, chiến lược là sự chọn lựa, đánh đổi trong cạnh tranh. Điểm cốt lõi là chọn những gì cần thực hiện và những gì không thực hiện.

Thứ ba, chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của Công ty. Sự thành công của chiến lược phụ thuộc vào việc thực hiện tốt các hoạt động và sự hội nhập, hợp nhất của chúng.

Qua các khái niệm trên có thể hiểu: “Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là chiến lược tổng quát của doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh. Nó đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất, có ý nghĩa lâu dài, quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh bao gồm các chiến lược chung và chiến lược bộ phân có liên kết hữu cơ với nhau tạo thành chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh bao trùm mọi hoạt động của doanh nghiệp.”

Đầu tiên, theo định nghĩa này thì chiến lược kinh doanh liên quan tới các mục tiêu của doanh nghiệp. Đó chính là điều mà các nhà quản trị thực sự quan tâm. Những chiến lược kinh doanh khác nhau sẽ xác định những mục tiêu khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm, thời kỳ kinh doanh của từng doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc xác định, xây dựng và quyết định chiến lược kinh doanh hướng mục tiêu là chưa đủ mà nó đòi hỏi mỗi chiến lược cần đưa ra những hành động hướng tới mục tiêu cụ thể, hay còn gọi là cách thức làm thế nào để đạt được mục tiêu đó. Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Thứ hai, chiến lược kinh doanh không phải là những hành động riêng lẻ, đơn giản. Chiến lược kinh doanh phải là tập hợp các hành động và quyết định hành động liên quan chặt chẽ với nhau, nó cho phép liên kết và phối hợp các nguồn lực tập trung giải quyết một vấn đề cụ thể của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Như vậy, hiệu quả hoạt động sẽ cao hơn, kết quả hoạt động sẽ to lớn hơn nếu như chỉ hoạt động đơn lẻ thông thường. Điều mà có thể gắn kết các nguồn lực cùng phối hợp hành động không đâu khác chính là mục tiêu của doanh nghiệp.

Thứ ba, chiến lược kinh doanh cần phải đánh giá đúng được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp kết hợp với những thời cơ và thách thức từ môi trường. Điều đó sẽ giúp cho các nhà quản trị của doanh nghiệp tìm được nhưng ưu thế cạnh tranh và khai thác được những cơ hội nhằm đưa doanh nghiệp chiếm được vị thế chắc chắn trên thị trường trước những đối thủ cạnh tranh.

Cuối cùng, chiến lược kinh doanh phải tính đến lợi ích lâu dài và được xây dựng theo từng giai đoạn mà tại đó chiến lược đòi hỏi sự nỗ lực của các nguồn lực là khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu của mục tiêu đề ra ở từng thời kỳ. Do vậy các nhà quản trị phải xây dựng thật chính xác các chi tiết từng nhiệm vụ của chiến lược ở từng giai đoạn cụ thể. Đặc biệt cần quan tâm tới các biến số dễ thay đổi của môi trường kinh doanh. Bởi đó là nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới mục tiêu của chiến lược ở từng giai đoạn.

Một chiến lược kinh doanh phải có bốn yếu tố: mục tiêu chiến lược, phạm vi chiến lược, lợi thế cạnh tranh và các hoạt động chiến lược và năng lực cốt lõi. Bốn yếu tố này đòi hỏi một sự nhất quán và ăn khớp với nhau.

  • Mục tiêu chiến lược

Thực tế, nhiều doanh nghiệp có xu hướng nhầm lẫn giữa mục tiêu với sứ mệnh của doanh nghiệp. Sứ mệnh của doanh nghiệp chỉ ra mục đích hay lý do tồn tại của doanh nghiệp vì vậy thường mang tính khái quát cao. Ngược lại, mục tiêu chiến lược cần đảm bảo cụ thể, định lượng và có thời hạn rõ ràng. Một chiến lược cần đề ra những mục tiêu rõ ràng. Các mục tiêu chiến lược sẽ đóng vai trò định hướng cho các hoạt động của doanh nghiệp trong một số năm.

Việc lựa chọn mục tiêu có ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp. Với mỗi mục tiêu được đặt ra, doanh nghiệp sẽ có những định hướng hoạch định chiến lược khác nhau, sao cho phù hợp và đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất.

  • Phạm vi chiến lược

Việc lựa chọn phạm vi phải dựa trên nguyên tắc thị trường có nhu cầu thực sự và doanh nghiệp thực sự am hiểu cũng như có thể đáp ứng được nhu cầu đó. Doanh nghiệp cũng cần tránh đối đầu với các đối thủ cạnh tranh mạnh hoặc đang đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng.

  • Lợi thế cạnh tranh

Việc xác định và tạo dựng lợi thế cạnh tranh là vấn đề trung tâm của chiến lược. Để giành được phần thắng trong cạnh tranh trên phân khúc thị trường đã chọn, sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp phải có lợi thế duy nhất hoặc vượt trội so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

  • Hệ thống các hoạt động chiến lược và năng lực cốt lõi

Năng lực cốt lõi chính là khả năng triển khai các hoạt động với sự vượt trội so với đối thủ cạnh tranh về chất lượng hoặc hiệu suất, nó thường là khả năng liên kết và điều phối một nhóm hoạt động hoặc chức năng chính của một doanh nghiệp và ít khi nằm trong một chức năng cụ thể. Năng lực này có thể cho phép doanh nghiệp cạnh tranh hiệu quả và đa dạng hóa sản phẩm. Trong hệ thống hoạt động, doanh nghiệp phải xác định được đâu là năng lực cốt lõi trực tiếp đóng góp vào việc tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững đã xác định.

Sau khi xác định được lợi thế cạnh tranh phù hợp với khách hàng mục tiêu, chiến lược cần giải đáp câu hỏi: “Làm thế nào doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế cạnh tranh?” Nói cách khác, doanh nghiệp phải xác định được cách thức cung cấp những giá trị khác biệt đến tay khách hàng.

1.1.2 Quản trị chiến lược kinh doanh Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Quản trị chiến lược kinh doanh là khoa học và nghệ thuật về chiến lược nhằm xây dựng phương hướng và mục tiêu kinh doanh, triển khai, thực hiện kế hoạch ngắn hạn và dài hạn trên cơ sở nguồn lực hiện có nhằm giúp cho mỗi tổ chức có thể đạt được các mục tiêu dài hạn của nó.

Theo nghĩa rộng nhất, quản trị chiến lược là quá trình thực hiện “các quyết định chiến lược” – đó là các quyết định trả lời được những câu hỏi phía trên. Trên thực tế, quá trình quản trị chiến lược hoàn chỉnh bao gồm 3 phần sau:

  • Phân tích chiến lược

Phân tích chiến lược là phân tích về điểm mạnh về vị thế của doanh nghiệp và hiểu được những nhân tố bên ngoài quan trọng có thể ảnh hưởng tới vị thế đó. Quá trình phân tích chiến lược có thể được trợ giúp bằng những một số công cụ bao gồm:

  • Phân tích PEST – kỹ thuật hiểu môi trường trong đó doanh nghiệp đang hoạt động.
  • Lập kế hoạch bao gồm nhiều phương án chọn – kỹ thuật xây dựng nhiều viễn cảnh khác nhau có thể xảy ra trong tương lai cho doanh nghiệp.
  • Phân tích 5 lực lượng – kỹ thuật xác định các lực lượng có thể ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh trong một ngành.
  • Phân đoạn thị trường – kỹ thuật tìm kiếm cách xác định sự giống và khác nhau giữa các nhóm khách hàng hoặc người sử dụng. Ma trận chính sách định hướng – kỹ thuật tóm tắt lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp trên những thị trường cụ thể.
  • Phân tích đối thủ cạnh tranh – hàng loạt kỹ thuật và phân tích để tìm ra vị thế cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp.
  • Phân tích nhân tố thành công then chốt – kỹ thuật nhằm xác định những khu vực mà môt doanh nghiệp cần phải làm tốt hơn để cạnh tranh thành công.
  • Phân tích mô hình SWOT – một kỹ thuật ngắn gọn hữu ích để tóm tắt những vấn đề then chốt ngày sinh từ việc đánh giá môi trường bên trong tác động của môi trường bên ngoài đối với doanh nghiệp.

Lựa chọn chiến lược:

Quá trình này liên quan tới việc hiểu rõ bản chất các kỳ vọng của những nhà góp vốn (nguyên tắc cơ bản) để xác định được các tuỳ chọn chiến lược, sau đó đánh giá và chọn lựa các tuỳ chọn chiến lược.

  • Thực hiện chiến lược

Đây thường là phần khó nhất. Khi một chiến lược đã được phân tích và lựa chọn, nhiệm vụ sau đó là chuyển nó thành hành động trong tổ chức. Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

1.1.3 Các cấp độ chiến lược kinh doanh

Trong bất kỳ tổ chức nào, các chiến lược đều tồn tại ở vài cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, chiến lược kinh doanh chủ yếu được phân theo 3 cấp độ:

Chiến lược tổng thể của doanh nghiệp: Ở cấp này, việc hoạch định phải đưa ra được các danh mục đầu tư tổng thể của một tổ chức và điều quan trọng nhất là việc xây dựng và duy trì một danh mục các ngành kinh doanh có hiệu quả Nhìn chung, nó bao gồm những quyết định về thông báo sứ mệnh của Công ty; đưa ra các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn; xác định chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả của mỗi SBU; xác định chiến lược để điều phối hiệu quả các SBU có liên quan với nhau; phân phối lại các nguồn lực; các quyết định chiến lược thiết lập và duy trì các nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh; quyết định chiến lược phát triển Công ty..

Chiến lược các đơn vị kinh doanh (SBU): Một đơn vị kinh doanh chiến lược có thể là một bộ phận trong doanh nghiệp, một dòng sản phẩm hay một khu vực thị trường, chúng có thể được kế hoạch hóa một cách độc lập. Ở cấp độ đơn vị kinh doanh, vấn đề chiến lược đề cập ít hơn đến việc phối kết hợp giữa các đơn vị tác nghiệp nhưng nhấn mạnh hơn đến việc phát triển và bảo vệ lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm và dịch vụ mà đơn vị quản lý. Chiến lược đơn vị kinh doanh liên quan đến:

  • Việc định vị hoạt động kinh doanh để cạnh tranh;
  • Dự đoán những thay đổi của nhu cầu, những tiến bộ khoa học công nghệ và điều chỉnh chiến lược để thích nghi và đáp ứng những thay đổi này;
  • Tác động và làm thay đổi tính chất của cạnh tranh thông qua các hoạt động chiến lược như là gia nhập theo chiều dọc hoặc thông qua các hoạt động chính trị.

Chiến lược bộ phận chức năng: Ở cấp này, chiến lược bao gồm tất cả các hoạt động chức năng của tổ chức (sản xuất, tài chính, marketing, R&D, nguồn nhân lực). Chiến lược tập trung vào việc phát triển các chức năng và bộ phận nhằm hỗ trợ cho hoạch định chiến lược cấp SBU.

1.1.4 Hoạch định chiến lược kinh doanh Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

1.1.4.1 Khái niệm của hoạch định chiến lược kinh doanh

Hiện nay tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về công tác hoạch định chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp của các tác giả như:

Theo Anthony: “Hoạch định chiến lược là một quá trình quyết định các mục tiêu của doanh nghiệp, về những thay đổi trong các mục tiêu,về sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu, các chính sách để quản lý thành quả hiện tại, sử dụng và sắp xếp các nguồn lực.”

Theo Denning: “Hoạch định chiến lược là xác định tình thế kinh doanh trong tương lai có liên quan đặc biệt tới tình trạng sản phẩm – thị trường, khả năng sinh lợi, quy mô, tốc độ đổi mới, mối quan hệ với lãnh đạo, người lao động và công việc kinh doanh.”

Tuy các tác giả có cách diễn đạt quan điểm của mình khác nhau nhưng xét trên mục đích thống nhất của hoạch định chiến lược thì ý nghĩa chỉ là một. Và nó được hiểu một cách đơn giản như sau: “Hoạch định chiến lược kinh doanh là việc xác định các mục tiêu của doanh nghiệp và các phương pháp được sử dụng để thực hiên các mục tiêu đó”.

1.1.4.2 Mục tiêu của hoạch định chiến lược kinh doanh

  • Mục tiêu dài hạn

Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt dộng kinh doanh luôn nghĩ tới một tương lai tồn tại và phát triển lâu dài. Vì vậy các chính sách và chiến lược trong dài hạn là điều rất cần thiết. Các phân tích và đánh giá về môi trường kinh doanh, về các nguồn lực khi xây dựng một chiến lược kinh doanh luôn được tính đến trong một khoảng thời gian dài hạn cho phép (ít nhất là 5 năm). Đó là khoảng thời gian mà doanh nghiệp có đủ điều kiện để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của mình cũng như khai thác các yếu tố có lợi từ môi trường.

  • Mục tiêu ngắn hạn Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Hoạch định chiến lược kinh doanh sẽ cho phép các bộ phận chức năng cùng phối hợp hành động với nhau để hướng vào mục tiêu chung của doanh nghiệp. Để có thể đạt được mục tiêu chung không phải chỉ trải qua một bước đơn thuần mà cần thực hiện tập hợp các bước, các giai đoạn. Yêu cầu của chiến lược kinh doanh là giải quyết tốt từng bước, từng giai đoạn dựa trên sự nỗ lực đóng góp của các bộ phận chức năng này. Do vậy mục đích ngắn hạn của hoạch định chiến lược kinh doanh là tạo ra những kết quả tốt đẹp ở từng giai đoạn trên cơ sở giải quyết các nhiệm vụ của từng giai đoạn đó.

1.1.4.3 Nội dung của hoạch định chiến lược kinh doanh

Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp được xem xét như một yếu tố tác động quan trọng tới các hoạt động của doanh nghiệp mà doanh nghiệp không thể tránh khỏi khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Chúng ta có thể hiểu được điều tất yếu đó nếu nhận thức được doanh nghiệp như là một hệ thống mở. Doanh nghiệp là nơi qui trình sản xuất diễn ra với việc biến đổi các yếu tố đầu vào thành sản phẩm đầu ra. Ngoài ra, doanh nghiệp còn bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài như: môi trường luật pháp, môi trường kinh tế … Hệ thống sẽ tiếp nhận những yếu tố đầu vào và qua quá trình xử lý sẽ cho sản sinh các yếu tố đầu ra. Như vậy giữa doanh nghiệp và môi trường có sự tác động qua lại. Nếu hiểu rõ nắm bắt chắc chắn những đặc tính và những biến đổi của môi trường kinh doanh thì các nhà quản trị sẽ khai thác được những thời cơ và thuận lợi đem lại. Đồng thời không chỉ có một doanh nghiệp tham gia khai thác những tiềm năng từ môi trường mà còn rất nhiều doanh nghiệp khác có cùng mối quan tâm. Chính điều đó tạo nên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau về các nguồn lực từ môi trường.

  • Yêu cầu của công tác hoạch định chiến lược

Về thông tin: Việc thu thập và xử lý thông tin phải đảm bảo tính đầy đủ, chính xác và cập nhật. Thông tin càng chính xác thì chiến lược càng đáng tin cậy, có tính khả thi cao;

Công cụ phân tích và dự báo phải thống nhất, bổ sung cho nhau đối với cùng một đối tượng nghiên cứu và trong cùng một điều kiện hoàn cảnh phân tích, không sử dụng đan xen, chồng chéo, trùng lặp;

Về con người: Những người tham gia quá trình phân tích, hoạch định chiến lược phải là người am hiểu, có trình đột hực sự, có khả năng thu thập và xử lý thông tin một cách linh hoạt, có khả năng khái quát và tổng hợp cao. Từ đó sẽ có sản phẩm – chiến lược kinh doanh có độ tin cậy cao; Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Tính bí mật và tập trung dân chủ: Việc hoạch định chiến lược kinh doanh cho một Công ty không thể để lộ ra ngoài, đây là nguyên tắc quán triệt triệt để trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, do việc hoạch định chiến lược là tập trung vào ban lãnh đạo cao nhất của Công ty hay người đứng đầu Công ty nên cần đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

  • Tiến trình hoạch định chiến lược kinh doanh

Có nhiều quan điểm và cách làm khác nhau về các bước hoạch định chiến lược kinh doanh trong một doanh nghiệp trên thế giới. Nhưng với điều kiện và hoàn cảnh kinh doanh của các doanh nghiệp nước ta hiện nay, nên áp dụng quy trình 8 bước được tổng kết từ kinh nghiệm của các Công ty kinh doanh Nhật Bản, và được khái quát như sau:

Bước 1: Phân tích và dự báo về môi trường kinh doanh, trong đó quan trọng nhất là phân tích và dự báo thị trường. Mục đích của phân tích và dự báo môi trường kinh doanh là trả lời cho câu hỏi: Doanh nghiệp đang hoạt động trong môi trường nào? Thuận lợi hay khó khăn? Có triển vọng hay không? Cách cách thức của môi trường kinh doanh đối với doanh nghiệp là gì?

Về nội dung cần phân tích và dự báo sự biến động của các yêu tố môi trường như: Kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, luật pháp, tự nhiên, công nghệ,… Phân tích và dự báo môi trường kinh doanh là công việc phức tạp đòi hỏi phải áp dụng nhiều phương pháp nghiệp vụ và công cụ kỹ thuật phân tích như mô hình 5 áp lực cạnh tranh, hay mô hình PEST,…

Bước 2: Tổng hợp các kết quả phân tích và dự báo môi trường kinh doanh. Căn cứ vào kết quả phân tích và dự báo về môi trường kinh doanh trong bước 1 cần có đánh giá và tổng hợp thông tin môi trường để định hướng các mục tiêu kinh doanh chiến lược. Từ đó xác định được:

  • Các cơ hội, thách thức, trên thị trường;
  • Các rủi ro, bất lợi có thể xảy

Bước 3: Phân tích thực trạng của doanh nghiệp để xác định: Doanh nghiệp có khả năng đi đến đâu? Doanh nghiệp cần tránh những yếu tố nào trong thời kì chiến lược? Việc phân tích tiến hành một cách toàn diện, trong đó đặc biệt cần chú trọng nội dung sau:

  • Phân tích thực trạng tài chính doanh nghiệp, tiềm năng về vốn, hiệu quả sử dụng vốn, các chỉ tiêu tài chính cơ bản,…;
  • Phân tích về mô hình tổ chức quản lý của doanh nghiệp và khả năng thích ứng của mô hình đó với biến động của thị trường;
  • Phân tích thực trạng đội ngũ lao động của doanh nghiệp: số lượng, cơ cấu, chất lượng lao động,…

Bước 4: Tổng hợp phân tích kết quả và đánh giá thực trạng doanh nghiệp theo hai hướng:

  • Xác định các điểm mạnh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường để triệt để khai thác khi xác định mục tiêu chiến lược; Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.
  • Xác định điểm yếu, bất lợi của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, để giữ kín và che chắn trong quá trình kinh doanh.

Bước 5: Nghiên cứu các quan điểm kinh doanh, các ý chí và nguyện vọng của những người đứng đầu doanh nghiệp. Có thể nói, các ý chí, quan điểm của những người này có ý nghĩa chi phối quá trình xây dựng, lựa chọn và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.

Bước 6: Xây dựng các phương án chiến lược kinh doanh dựa trên cơ sở phân tích và tổng hợp các yếu tố môi trường kinh doanh và nội bộ doanh nghiệp. Phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất là ma trận SWOT.

Bước 7: So sánh, đánh giá và lựa chọn phương án chiến lược kinh doanh tối ưu, nội dung này cần lưu ý hai vấn đề:

  • Việc đánh giá lựa chọn tiến hành trên cơ sở sử dụng nhiều tiêu chuẩn, nhiều chỉ tiêu đánh giá gắn với đặc điểm loại hình kinh doanh. Phương án tối ưu là phương án đáp ứng được nhiều chỉ tiêu đánh giá và chú trọng đến mức chi tiêu ưu tiên;
  • Phương án chiến lược chỉ tối ưu trong điều kiện và bối cảnh lựa chọn. Vì vậy, sau khi lựa chọn cần tiếp tục nghiên cứu sự biến động của môi trường và điều kiện kinh doanh để có các điều chỉnh hợp lý

Bước 8: Xác định các nhiệm vụ nhằm thực thi chiến lược kinh doanh, các nhiệm vụ thường đi theo hai hướng sau:

  • Xây dựng các chương trình, phương án kinh doanh và dự án khả thi gắn với chiến lược kinh doanh đã lựa chọn (Bước 7);
  • Xây dựng các chính sách kinh doanh và giải pháp quản trị, nhằm đưa chiến lược được thực hiện trong thực tế.

Phân loại hoạch định chiến lược:

Hoạch định thường được phân loại theo nhiều cách khác nhau.

Theo thời gian:

  • Hoạch định dài hạn: là những hoạch định có thời gian dài, thường trên 3 năm.
  • Hoạch định trung hạn: Thời gian hoạch định từ 1-3 năm.
  • Hoạch định ngắn hạn: Thời gian hoạch định ngắn, thường dưới 1 năm.

Theo mức độ hoạt động:

  • Hoạch định chiến lược: hoạch định cho một thời kì dài, do các nhà quản trị cấp cao xây dựng, mang tính khái quát cao và linh hoạt.
  • Hoạch định chiến thuật: là kết quả triển khai hoạch định chiến lược, ít mang tính tập trung hơn và ít linh hoạt hơn.
  • Hoạch định tác nghiệp: hoạch định chi tiết cho thời gian ngắn, do các nhà quản trị điều hành và ít thay đổi.

Theo phạm vi lập kế hoạch:

  • Hoạch định tổng thể.
  • Hoạch định bộ phận.

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định chiến lược kinh doanh Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

1.2.1 Môi trường vĩ mô

1.2.1.1. Yếu tố chính trị- pháp luật

  • Chính trị

Chính trị là yếu tố đầu tiên mà các nhà đầu tư, nhà quản trị các doanh nghiệp quan tâm, phân tích để dự báo mức độ an toàn trong các hoạt động tại các quốc gia, các khu vực nơi mà doanh nghiệp đang có mối quan hệ mua bán hay đầu tư. Các yếu tố như thể chế chính trị, sự ổn định hay biến động về chính trị tại quốc gia hay một khu vực là những tín hiệu ban đầu giúp các nhà quản trị nhận diện đâu là cơ hội hoặc đâu là nguy cơ của doanh nghiệp để đề ra các quyết định đầu tư, sản xuất kinh doanh trên các khu vực thị trường thuộc phạm vi quốc gia hay quốc tế. Yếu tố chính trị là yếu tố rất phức tạp, tuỳ theo điều kiện cụ thể yếu tố này sẽ tác động đến sự phát triển kinh tế trong phạm vi quốc gia hay quốc tế. Các nhà quản trị chiến lược muốn phát triển thị trường cần phải nhạy cảm với tình hình chính trị ở mỗi khu vực địa lý, dự báo diễn biến chính trị trên phạm vi quốc gia, khu vực, thế giới để có các quyết định chiến lược thích hợp và kịp thời.

  • Luật pháp

Pháp luật đưa ra những quy định cho phép, không cho phép hoặc những đòi hỏi buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ. Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong hệ thống luật pháp như thuế, đầu tư … sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải hiểu rõ tinh thần của luật pháp và chấp hành tốt những quy định của pháp luật, nghiên cứu để tận dụng được các cơ hội từ các điều khoản của pháp lý mang lại và có những đối sách kịp thời trước những nguy cơ có thể đến từ những quy định pháp luật tránh được các thiệt hại do sự thiếu hiểu biết về pháp lý trong kinh doanh.

  • Chính phủ

Chính phủ có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ và các chương trình chi tiêu của mình. Trong mối quan hệ với các doanh nghiệp chính phủ vừa đóng vai trò là người kiểm soát, khuyến khích, tài trợ, quy định, ngăn cấm, hạn chế vừa đóng vai trò khách hàng quan trọng đối với doanh nghiệp (trong chương trình chi tiêu của chính phủ) và sau cùng chính phủ đóng vai trò là nhà cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp như cung cấp thông tin vĩ mô, các dịch vụ công cộng khác. Để tận dụng được cơ hội, giảm thiểu nguy cơ các doanh nghiệp phải nắm bắt cho được những quan điểm, những quy định, ưu tiên những chương trình chi tiêu của chính phủ và cũng phải thiết lập một quan hệ tốt đẹp, thậm chí có thể thực hiện sự vận động hành lang khi cần thiết nhằm tạo ra 1 môi trường thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp.

1.2.1.2 Yếu tố kinh tế Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Đây là một yếu tố rất quan trọng thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà quản trị . Sự tác động của các yếu tố của môi trường này có tính chất trực tiếp và năng động hơn so với một số các yếu tố khác của môi trường tổng quát. Những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe doạ khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh hưởng đến các chiến lược của doanh nghiệp.

Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Nền kinh tế ở giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo nhiều cơ hội cho đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngược lại khi nền kinh tế sa sút sẽ dẫn đến giảm chi phí tiêu dùng đồng thời làm tăng lực lượng cạnh tranh. Thông thường sẽ gây nên chiến tranh giá cả trong ngành.

Lãi suất và xu hướng của lãi xuất trong nền kinh tế: Lãi suất và xu hướng của lãi xuất trong nền kinh tế có ảnh hưởng đến xu thế của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư và do vậy ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp. Lãi xuất tăng sẽ hạn chế nhu cầu vay vốn để đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng tới mức lời của các doanh nghiệp. Đồng thời khi lãi xuất tăng cũng sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn và do vậy làm cho nhu cầu tiêu dùng giảm xuống.

Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái: Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái cũng có thể tạo vận hội tốt cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể là nguy cơ cho sự phát triển của doanh nghiệp đặc biệt nó tác động điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu. Thông thường chính phủ sử dụng công cụ này để điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu theo hướng có lợi cho nền kinh tế.

Lạm phát: Lạm phát cũng là 1 nhân tố quan trọng cần phải xem xét và phân tích. Lạm phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế. Khi lạm phát quá cao sẽ không khuyến khích tiết kiệm và tạo ra những rủi ro lớn cho sự đầu tư cuả các doanh nghiệp, sức mua của xã hội cũng bị giảm sút và làm cho nền kinh tế bị đình trệ. Trái lại, thiểu phát cũng làm cho nền kinh tế bị trì trệ. Việc duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải có tác dụng khuyến khích đầu tư vào nền kinh tế , kích thích thị trường tăng trưởng .

Hệ thống thuế và mức thuế: Các ưu tiên hay hạn chế của chính phủ với các ngành được cụ thể hoá thông qua luật thuế. Sự thay đổi của hệ thống thuế hoặc mức thuế có thể tạo ra những cơ hội hoặc nguy cơ đối với các doanh nghiệp vì nó làm cho mức chi phí hoặc thu nhập của doanh nghiệp thay đổi. Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

1.2.1.3 Yếu tố văn hoá – xã hội

Yếu tố văn hóa xã hội bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà những chuẩn mực và giá trị này được chấp nhận và tôn trọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể. Sự thay đổi của các yếu tố văn hoá xã hội một phần là hệ quả của sự tác động lâu đài của các yếu tố vĩ mô khác, do vậy nó thường xảy ra chậm hơn so với các yếu tố khác. Mặt khác, phạm vi tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường rất rộng: “nó xác định cách thức người ta sống làm việc, sản xuất, và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ”. Như vậy những hiểu biết về mặt văn hoá – xã hội sẽ là những cơ sở rất quan trọng cho các nhà quản trị trong quá trình quản trị chiến lược ở các doanh nghiệp. Các khía cạnh hình thành môi trường văn hoá xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt động kinh doanh như:

  • Những quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, về lối sống, về nghề nghiệp;
  • Những phong tục, tập quán, truyền thống;
  • Những quan tâm và ưu tiên của xã hội; trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội…
  • Những thay đổi trong môi trường dân số như:
  • Tổng số dân của xã hội, tỷ lệ tăng của dân số;
  • Kết cấu và xu hướng thay đổi của dân số về tuổi tác, giới tính, dân tộc nghề nghiệp, và phân phối thu nhập;
  • Tuổi thọ và tỷ lệ sinh tự nhiên;
  • Các xu hướng dịch chuyển dân số giữa các vùng…

1.2.1.4 Yếu tố tự nhiên

Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên; đất đai, sông biển, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừng biển, sự trong sạch của môi trường, nước và không khí,… Có thể nói các điều kiện tự nhiên luôn luôn là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống của con người (đặc biệt là các yếu tố của môi trường sinh thái), mặt khác nó cũng là một yếu tố đầu vào hết sức quan trọng của nhiều ngành kinh tế như: nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng, du lịch, vận tải. Trong rất nhiều trường hợp, chính các điều kiện tự nhiên trở thành một yếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ.

Một số nhân tố trong môi trường tự nhiên mà nhà quản trị cần quan tâm: Sự khan hiếm của nhiên liệu, Mức tăng của chi phí năng lượng, Các quy định về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, Mức độ tăng của ô nhiễm môi trường,..

1.2.1.5 Yếu tố công nghệ Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Yếu tố công nghệ là một trong những yếu tố rất năng động chứa đựng nhiều cơ hội và đe doạ đối với các doanh nghiệp:

Những áp lực và đe doạ từ môi trường công nghệ có thể là:

  • Sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, đe doạ các sản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu.
  • Sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện hữu bị lỗi thời và tạo ra áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng cường khả năng cạnh tranh.
  • Sự ra đời của công nghệ mới càng tạo điều kiện thuận lợi cho những người xâm nhập mới và làm tăng thêm áp lực đe dọa các doanh nghiệp hiện hữu trong ngành.

Bên cạnh những đe doạ này thì những cơ hội có thể đến từ môi trường công nghệ đối với các doanh nghiệp có thể là:

  • Công nghệ mới có thể tạo điều kiện để sản xuất sản phẩm rẻ hơn với chất lượng cao hơn, làm cho sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt hơn. Thường thì các doanh nghiệp đến sau có nhiều ưu thế để tận dụng được cơ hội này hơn là các doanh nghiệp hiện hữu trong ngành.
  • Sự ra đời của công nghệ mới có thể làm cho sản phẩm có nhiều tính năng hơn và qua đó có thể tạo ra những thị trường mới hơn cho các sản phẩm và dịch vụ của Công ty.

1.2.2 Môi trường vi mô Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Các lực lượng tác dụng trong môi trường vi mô của Công ty bao gồm: đối thủ cạnh tranh, nhà cung ứng, khách hàng, chính phủ và các nhóm áp lực. Những nhà quản trị không thể tự giới hạn mình trong những nhu cầu của thị trường mục tiêu. Họ phải chú ý đến tất cả những yếu tố của môi trường vi mô.

1.2.2.1 Đối thủ cạnh tranh

Trong nhóm đối thủ cạnh tranh có thể kể đến ba nhóm: Đối thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và sản phẩm thay thế.

  • Đối thủ cạnh tranh trực tiếp

Tất cả các Công ty lớn hay nhỏ cho tới các Công ty độc quyền đều có rất nhiều đối thủ cạnh tranh. Không một nhà quản trị nào có thể coi thường môi trường cạnh tranh. Khi họ bỏ qua sự cạnh tranh, họ phải trả một giá rất đắt.

Các doanh nghiệp cần phân tích từng đối thủ cạnh tranh về mục tiêu tương lai, nhận định của họ đối với bản thân và với chúng ta, chiến lược họ đang thực hiện, tiềm năng của họ để nắm và hiểu được các biện pháp phản ứng và hành động mà họ có thể có.

  • Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Đối thủ mới tham gia kinh doanh trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do họ đưa vào khai thác các năng lực sản xuất mới với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết. Cần lưu ý là việc mua lại các cơ sở khác trong ngành với ý định xây dựng thị trường thường là biểu hiện của sự xuất hiện đối thủ mới xâm nhập.

  • Sản phẩm thay thế

Sức ép do có sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế. Nếu không chú ý đến các sản phẩm thay thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ bé. Phần lớn sản phẩm thay thế là kết quả của sự phát triển công nghệ. Muốn đạt được thành công, các doanh nghiệp cần chú ý và dành nguồn lực để phát triển và vận dụng công nghệ mới vào chiến lược của mình.

1.2.2.2 Nhà cung ứng

Khi nói đến các nhà cung ứng, chúng ta nghĩ ngay đến các Công ty, xí nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp như: nguồn vốn, nguồn lao động, nguồn nguyên vật liệu.

  • Nguồn vốn: Trong những giai đoạn nhất định, doanh nghiệp cần đến hỗ trợ vay vốn từ các tổ chức tài chính. Nếu nguồn vốn vay được ổn định, các tổ chức tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vay vốn sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc sản xuất kinh doanh và sử dụng vốn. Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.
  • Nguồn nhân lực: Lực lượng lao động là một phần quan trọng của mỗi doanh nghiệp. Đầu vào nhân lực tốt, có năng lực cao, nhiều kinh nghiệm sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng sản xuất. Bộ máy doanh nghiệp khi được điều hành bởi những người có trình độ cao sẽ dễ dàng đưa ra những hoạch định hợp lý, chính xác cho doanh nghiệp.
  • Nguồn nguyên vật liệu: Doanh nghiệp cần lựa chọn những nhà cung ứng nguyên vật liệu uy tín, chất lượng đồng thời phải đảm bảo đều đặn, với giá thành hợp lý để giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận.

Các nhà cung ứng có thể tăng thêm lợi nhuận bằng cách nâng giá, giảm chất lượng hoặc giảm mức độ dịch vụ đi kèm. Yếu tố làm tăng thế mạnh của các nhà cung ứng tương tự như các yếu tố làm tăng thế mạnh của người mua sản phẩm là số người cung ứng ít, không có mặt hàng thay thế và không có các nhà cung ứng nào chào bán các sản phẩm có tính khác biệt.

1.2.2.3 Khách hàng

Khách hàng của một tổ chức là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp… có nhu cầu sử dụng sản phẩm của Công ty và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó. Trong nền kinh tế thị trường khách hàng có vị trí rất quan trọng: “Khách hàng là thượng đế”. Đó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không có ghi trong sổ sách Công ty. Tuy vậy các Công ty phải xem khách hàng như là nguồn vốn cần được quản lý và phát huy như bất kỳ nguồn vốn nào khác.

Các doanh nghiệp cần lập bảng phân loại khách hàng hiện tại và tương lai. Các thông tin có được từ bảng phân loại này là cơ sở định hướng quan trọng cho việc hoạch định chiến lược, nhất là các chiến lược liên quan trực tiếp đến marketing. Các yếu tố chính cần xem xét là những vấn đề địa dư, tâm lý khách hàng v.v.

1.2.3 Môi trường nội tại doanh nghiệp

Môi trường nội bộ phản ánh nội lực của doanh nghiệp, gồm các yếu tố: nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, năng lực tài chính, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả của quá trình marketing, tiềm năng phát triển, sự phát triển của hệ thống thông tin và yếu tố khác.

Nhóm các yếu tố này giúp doanh nghiệp xác định được điểm mạnh, điểm yếu trong các hoạt động về quản trị của mình. Các yếu tố nội bộ có ảnh hưởng khá quan trọng đến việc xác định sứ mạng và mục tiêu của tổ chức. Với ý nghĩa đó, nhóm này là những tiền đề chủ yếu cho quá trình lựa chọn và xác định mục tiêu, nhiệm vụ cũng như chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp.

1.2.3.1 Nguồn nhân lực Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế – xã hội nhất định. Trong doanh nghiệp nguồn nhân lực là nguồn lực quí giá nhất của các tổ chức, là yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong tương lai. Trong việc quản lý nguồn nhân lực, nhà quản trị thường phải tập trung vào các nhiệm vụ sau: Đào tạo nguồn nhân lực, Phát triển nguồn nhân lực, Đánh giá năng lực người lao động, Thúc đẩy người lao động.

Mỗi doanh nghiệp cần phải nhận thức rõ được vai trò ảnh hưởng có tính chất quyết định của nguồn nhân lực. Doanh nghiệp cần chú ý đến việc đảm bảo số lượng, chất lượng, cơ cấu cũng như sự biến động của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó doanh nghiệp cần đảm bảo các điều kiện làm việc cần thiết cho người lao động và luôn có các hình thức khen thưởng, động viên kịp thời, tạo điều kiện cho người lao động phát huy tối đa năng lực của mình; đồng thời cũng cần thẳng thắn khiển trách, kỷ luật những cá nhân, tập thể vi phạm, làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp

Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá, được giao những trách nhiệm và quyền hạn nhất định và được bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện chức năng quản trị của doanh nghiệp.

Cơ cấu tổ chức có tác động mạnh mẽ đến hoạt động lao động sáng tạo của đội ngũ lao động, đến sự cân bằng giữa doanh nghiệp với môi trường bên trường bên ngoài cũng như cân đối có hiệu quả các bộ phận bên trong doanh nghiệp. Khi xem xét, đánh giá cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, doanh nghiệp chú ý cần phải đánh giá đúng thực trạng cơ cấu tổ chức trên cả hai mặt là hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của nó và khả năng thích ứng của cơ cấu tổ chức trước các biến động của môi trường kinh doanh. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể đánh giá hiệu quả cơ cấu tổ chức qua một số chỉ tiêu như: tốc độ ra quyết định, tính kịp thời và độ chính xác của các quyết định,…

1.2.3.3 Tình hình tài chính

Tình hình tài chính doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Mọi hoạt động kinh doanh, đầu tư, mua sắm…cũng như khả năng thanh toán bồi thường, chi trả của doanh nghiệp ở mọi thời điểm đều phụ thuộc vào khả năng tài chính của nó.

Khi đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, người ta thường thông qua 3 nhóm chỉ tiêu cơ bản: nhóm chỉ tiêu thanh toán, nhóm chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn và nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời. Khả năng thanh toán thể hiện khả năng thanh toán các khoản bồi thường, các khoản chi phí kinh doanh của doanh nghiệp; tốc độ luân chuyển vốn thể hiện năng lực kinh doanh, trình độ quản lý của doanh nghiệp; khả năng sinh lời thể hiện hiệu quả của hoạt động kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp.

  • Marketing Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Marketing là một hoạt động cần thiết và không thể thiếu trong kinh doanh. Nó được xem là cầu nối giữa doanh nghiệp với khách hàng mục tiêu. Có thể hiểu marketing là một quá trình liên tục truyền đạt giá trị tới khách hàng thông qua việc bán sản phẩm hoặc dịch vụ, từ đó nhận lại những giá trị tương xứng.

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh, một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Cơ thể đó cần có sự trao đổi chất với môi trường bên ngoài-thị trường. Quá trình trao đổi chất đó càng diễn ra thường xuyên, liên tục, với quy mô ngày càng lớn thì cơ thể đó càng khoẻ mạnh và ngược lại.

Mặt khác, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có các chức năng: sản xuất, tài chính, quản trị nhân lực… mà các chức năng này chưa đủ đảm bảo sự thành đạt của doanh nghiệp, nếu tách rời khỏi một chức năng khác – chức năng kết nối hoạt động của doanh nghiệp với thị trường đó là lĩnh vực quản lý marketing.

Như vậy, marketing có vai trò quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường – nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh.

1.3 Một số mô hình trong hoạch định chiến lược kinh doanh

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu quản trị chiến lược, quá trình hình thành các phương án chiến lược được tổng hợp thành một quy trình gồm ba giai đoạn: giai đoạn nhập vào, giai đoạn kết hợp và giai đoạn quyết định.

  • Giai đoạn nhập vào: Là quá trình tổng hợp các thông tin cơ bản cần thiết cho việc hình thành các phương án chiến lược từ việc phân tích các yếu tố của từng môi trường thông qua một số mô hình quản trị như mô hình PEST, mô hình 5 áp lực cạnh tranh,… Trong đó, để phân tích môi trường vĩ mô, ta thường sử dụng mô hình PEST và môi trường vi mô được phân tích qua mô hình 5 áp lực cạnh tranh của M.Porter.
  • Giai đoạn kết hợp: Là sự kết hợp giữa các yếu tố nội bộ của doanh nghiệp với các yếu tố môi trường bên ngoài để hình thành các phương án chiến lược có tính khả thi. Các kỹ thuật có thể sử dụng trong giai đoạn này là phân tích SWOT, ma trận chiến lược chính, ma trận BCG, ma trận GE,… nhưng sử dụng phổ biến vẫn là kỹ thuật phân tích SWOT.
  • Giai đoạn quyết định : Các phương án chiến lược khả thi được hình thành qua sự kết hợp các yếu tố trong ma trận SWOT thông qua sự phân tích và trực giác của nhà quản trị. Để phân tích và đánh giá các chiến lược đó, ta có thể sử dụng bản đồ chiến lược (Stratergy Map).

1.3.1 Mô hình PEST Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

PEST là viết tắt chữ cái đầu tiên của các cụm từ Political (Thể chế- Luật pháp), Economics (Kinh tế), Sociocultrural (Văn hóa- Xã Hội), Technological (Công nghệ). Đây là bốn yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế, các yếu tố này là các yếu tố bên ngoài của của doanh nghiệp và ngành. Các doanh nghiệp dựa trên các tác động từ những yếu tố này sẽ đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp. So với các mô hình khác, mô hình PEST nghiên cứu chuyên sâu vào các tác động của các yếu tố trong môi trường vĩ mô.

Yếu tố Thể chế- Luật pháp:

  • Thể chế chính trị và sự ổn định quốc gia;
  • Tự do báo chí, quy định của pháp luật và mức độ quan liêu và tham nhũng;
  • Pháp lý và các khuynh hướng điều chỉnh;
  • Quy luật xã hội và chính sách sử dụng lao động;
  • Chính sách thuế, bảo hộ mậu dịch và hàng rào thuế quan;
  • Quy định về bảo vệ môi trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
  • Khả năng xảy ra chính biến.

Yếu tố Kinh tế:

  • Giai đoạn của chu kỳ kinh doanh;
  • Mức tăng trưởng kinh tế hiện nay và dự kiến trong tương lai, lạm phát và lãi suất;
  • Thất nghiệp và cung ứng lao động;
  • Chi phí nhân công;
  • Mức thu nhập khả dụng và phân phối thu nhập;
  • Tác động của toàn cầu hóa;
  • Tác động của công nghệ;
  • Những thay đổi trong môi trường kinh

Yếu tố văn hóa xã hội:

  • Tỷ lệ tăng dân số và cơ cấu tuổi tác; Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.
  • Sức khỏe, trình độ học vấn,tính năng động của dân cư và thái độ của họ về những những yếu tố đó;
  • Cơ cấu các nghành nghề, thị trường việc làm tự do và thái độ trong công việc;
  • Quan điểm của báo chí, ý kiến công chúng, quan điểm và những điều kỳ thị trong xã hội;
  • Phong cách và quan điểm sống;
  • Những thay đổi văn hóa-xã hội.

Yếu tố công nghệ:

  • Tác động của công nghệ trọng điểm;
  • Tác động của Internet: giảm chi phí giao tiếp và tăng hiệu quả làm việc từ xa;
  • Hoạt động nghiên cứu và phát triển;
  • Ảnh hưởng của chuyển giao công nghệ.

Mô hình P.E.S.T hiện nay đã được mở rộng thành các ma trận P.E.S.L.T (Bao gồm yếu tố Legal-pháp luật) và S.T.E.E.P.L.E (Socical/Demographic-Nhân khẩu học, Techonogical, Economics, Envirnomental, Policy, Legal, Ethical-Đạo đức) và càng ngày càng hoàn thiện trở thành một chuẩn mực không thể thiếu khi nghiên cứu môi trường bên ngoài của doanh nghiệp.

1.3.2 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh Michael Porter

Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay, đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích. Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh. Các nhà chiến lược đang tìm kiếm ưu thế nổi trội hơn các đối thủ có thể sử dụng mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mình đang hoạt động.

  • Hình 1.1 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter

Mô hình năm lực lượng của Porter dựa trên sự am hiểu cấu trúc của nền công nghiệp cũng như cách thức biến đổi của nó. Mô hình này tập trung vào chiến lược lâu dài của Công ty, và chiến lược này có thể gặp phải những cơ hội cũng như không tránh khỏi những thách thức từ môi trường bên ngoài. Mô hình này phát hiện ra nguồn gốc cạnh tranh trong ngành công nghiệp đó, cũng như mô tả những tác động bên ngoài nảy sinh do tình trạng cạnh tranh ấy. Hơn nữa, nó đưa ra cách thức giành lấy lợi thế cạnh tranh trong một thị trường có mức độ cạnh tranh khốc liệt. Để giúp độc giả có thể dễ dàng có được những hiểu biết về chiến lược cạnh tranh trong một nền công nghiệp/ khu vực, Porter đã khái quát hóa chúng thành năm lực lượng cụ thể bao gồm: (1)Khách hàng, (2)Nhà cung cấp, (3)Đối thủ cạnh tranh trong ngành, (4)Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, (5)Sản phẩn thay thế. Năm yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong quyết định việc hình thành nên bất cứ một nền công nghiệp nào trong bất kỳ thị trường nào.

1.3.3 Mô hình SWOT Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào. SWOT là tên viết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy cơ). SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một doanh nghiệp hay một đề án kinh doanh. SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ…

Phân tích theo mô hình SWOT là phân tích theo 4 yếu tố: điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp.

  • Hình 1.2 Mô hình ma trận SWOT

Trong đó:

  • Strengths (Điểm mạnh) và Weaknesses (Điểm yếu) là các nhân tố thuộc về bên trong (Internal) của doanh nghiệp.
  • Opportunities (Cơ hội) và Threats (Nguy cơ) là các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài (External) tác động đến doanh nghiệp.
  • Weaknesses (Điểm yếu) và Threats (Nguy cơ) là các nhân tố có tác động mang tính tiêu cực (Negative) tới doanh nghiệp.
  • Strengths (Điểm mạnh) và Opportunities (Cơ hội) là các nhân tố mang tính tích cực (Positive).

Để doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả thì doanh nghiệp phải xây dựng cho mình các điểm mạnh(S); khắc phục, vượt qua các điểm yếu (W); tìm kiếm, khám phá các cơ hội (O) và giảm thiểu các nguy cơ (T).

Ma trận SWOT là công cụ kết hợp các điểm mạnh – yếu – cơ hội – nguy cơ, giúp nhà quản trị phát triển 4 loại chiến lược:

  • Chiến lược điểm mạnh – cơ hội (SO): Sử dụng những điểm mạnh của doanh nghiệp để tận dụng các cơ hội từ phía môi trường.
  • Chiến lược điểm mạnh – nguy cơ (ST): Sử dụng các điểm mạnh của doanh nghiệp để tránh hoặc giảm đi ảnh hưởng của những mối đe dọa bên ngoài.
  • Chiến lược điểm yếu – cơ hội (WO): Cải thiện những điểm yếu của doanh nghiệp bằng cách tận dụng các cơ hội từ phía môi trường.
  • Chiến lược điểm yếu – nguy cơ (WT): Giảm đi những điểm yếu bên trong để tránh khỏi những mối đe doạ từ bên ngoài.

Sự kết hợp giữa các yếu tố để hình thành các phương án chiến lược là một công việc hết sức khó khăn, đòi hỏi các nhà quản trị chiến lược trong khi phân tích SWOT cần có kỹ năng phán đoán tốt để đưa ra các kết hợp logic.

Phân tích SWOT sẽ đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp theo một trật tự logic, dễ hiểu, dễ trình bày, dễ thảo luận và đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra quyết định. Các mẫu SWOT cho phép kích thích suy nghĩ hơn là dựa trên các phản ứng theo thói quen hoặc theo bản năng.

1.3.4 Bản đồ chiến lược ( Strategy Map)

  • Hình 1.3 Bản đồ chiến lược Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Bản đồ chiến lược được phát triển trên cơ sở Bảng điểm cân bằng: Mô tả phương thức một tổ chức tạo ra các giá trị kết nối mục tiêu chiến lược với nhau trong mối quan hệ nhân-quả rõ ràng. Đây là một hệ thống đo lường kết quả hoạt động của Công ty trong đó không chỉ xem xét các thước đo tài chính, mà còn cả thước đo khách hàng, quá trình kinh doanh, đào tạo và phát triển.

Nguyên tắc chủ yếu của Bản đồ chiến lược:

  • Chiến lược cân bằng các nguồn mâu thuẫn;
  • Chiến lược khách hàng với các giá trị khác nhau;
  • Các giá trị được tạo ra nhờ nội lực của doanh nghiệp;
  • Chiến lược bao gồm các đề tài bổ sung nhau và đồng thời;
  • Sự liên kết chiến lược xác định giá trị của những tài sản vô hình.

Với Bản đồ chiến lược, tất cả các thông tin (về 4 phương diện: Tài chính, khách hàng, nội bộ, đào tạo và phát triển) sẽ được tổng hợp trên một trang giấy, điều này giúp quá trình giao tiếp trao đổi dễ dàng hơn.

Lĩnh vực tài chính sẽ nhằm vào việc hình thành giá trị cổ đông dài hạn và xây dựng cấu trúc chi phí tận dụng tài sản dựa trên chiến lược năng suất và một chiến lược phát triển mở rộng cơ hội, tăng cường giá trị khách hàng.

Bốn yếu tố cuối cùng của sự cải tiến chiến lược được hỗ trợ bởi giá cả, sự sẵn có, sự chọn lọc, công năng, dịch vụ, đối tác và nhãn hiệu. Nhìn từ phía nội bộ Công ty, quá trình điều hành và quản lý quan hệ khách hàng sẽ góp phần điều chỉnh, cải tiến hình ảnh về sản phẩm và dịch vụ.

Tất cả những quá trình này sẽ được phản ánh qua sự điều hành nhân sự, quản lý thông tin và vốn Công ty. Vốn Công ty được hiểu là văn hóa Công ty, ban lãnh đạo, sự liên kết và làm việc nhóm.

Cuối cùng, mối quan hệ nguyên nhân – hệ quả được miêu tả quan hình các mũi tên.

1.4 Sự cần thiết của hoạch định chiến lược kinh doanh Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

Hoạch định chiến lược kinh doanh được xem như một công việc quan trọng đầu tiên không thể thiếu khi doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh. Bởi vì đó là sự định hướng cho toàn bộ công việc mà doanh nghiệp cần thực hiện để đạt mục tiêu của mình đề ra. Công tác hoạch định chiến lược chỉ ra cách thức của từng công việc, từng nhiệm vụ cho từng bộ phận hay từng cá nhân thực hiện trên cơ sở đánh giá rất khách quan tình hình nội lực bên trong doanh nghiệp hay các yếu tố của môi trường bên ngoài. Nếu công tác hoạch định chiến lược kinh doanh được thực hiện tốt thì điều đó cũng có nghĩa là doanh nghiệp đã hoàn thành một phần công việc kinh doanh của mình. Trên thực tế là các hoạt động kinh doanh không thể được thực hiện bằng sự cảm nhận chủ quan của các nhà quản trị trước một loạt các vấn đề phát sinh trong công việc mà nó đòi hỏi phải có sự tính toán, xem xét, phân tích các yếu tố ảnh hưởng một cách có khoa học. Từ đó đưa ra các giải pháp để giải quyết các vấn đề. Các giải pháp này đóng vai trò tháo gỡ các khó khăn và tìm các yếu tố thuận lợi giúp doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả các hoạt động kinh doanh.

Nếu các nhà quản trị chú trọng trong việc nâng cao công tác hoạch định chiến lược thì doanh nghiệp đó sẽ thu được nhiều các yếu tố thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Bởi vì doanh nghiệp có một phương hướng hoạt động rất cụ thể và chi tiết. Điều đó cho phép doanh nghiệp loại bỏ các rủi ro, các nguy cơ tiềm ẩn có thể gây phương hại tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp có thể khai thác được các cơ hội, các hướng đi có hiệu quả cao khi đã xác định được các yếu tố đó thông qua công tác hoạch định chiến lược kinh doanh.

  • Kết luận Chương 1

Chương 1 đã đưa ra những cơ sở lý luận cơ bản về chiến lược, quản trị chiến lược, quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh. Bên cạnh đó, chương 1 còn chỉ rõ những yếu tố tác động đến quá trình hoạch định chiến lược và đưa ra một số mô hình hữu ích hỗ trợ nhà quản trị trong quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh. Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng

One thought on “Khóa luận: Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng”

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp chiến lược kinh doanh tại Cty Thanh Hùng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537