Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn qua 3 năm 2023 – 2025 này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

Nội dung trọng tâm của chương 3 là phân tích thực trạng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại NH. Và trên cơ sở phân tích đó, đề tài sẽ đánh giá hiệu quả của hoạt động này trong thời gian qua để làm nền tảng cho việc đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tín dụng ngắn hạn của tại NH. Thêm vào đó, chương 3 này cũng sẽ giới thiệu một số nét chính về MHB Ô Môn, những kết quả đạt được, những thuận lợi và khó khăn mà NH đã và đang gặp phải.

3.1. Giới thiệu khái quát về NH MHB Ô Môn

3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

NH Phát triển Nhà ĐBSCL là NHTM Nhà nước được thành lập theo Quyết định số 769/TTG ngày 18 tháng 09 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ với tên giao dịch tiếng Anh là Housing Bank Of Mekong Delta, viết tắt là MHB.

MHB chính thức khai trương và đi vào hoạt động vào ngày 08 tháng 04 năm 1998 theo Quyết định số 408/1997/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN. Vốn điều lệ ban đầu là 700 tỷ đồng với chức năng chính là huy động vốn và cho vay nhằm mục tiêu hỗ trợ nhân dân vùng ĐBSCL xây dựng và phát triển nhà ở góp phần thúc đẩy chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL. Ra đời muộn hơn nhưng MHB có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản có trong vòng 5 năm trở lại đây nhanh hơn các NH khác. Năm 2018, tổng tài sản có của MHB đạt 12.700 tỷ đồng, tăng trung bình 50%/năm, đứng thứ 6 trong các NH Việt Nam. MHB được nhận định là một trong những NHTM có tốc độ tăng trưởng cao và hoạt động an toàn nhất tại Việt Nam, đến tháng 10 năm 2019 tổng nguồn vốn của NH là 17.700 tỷ đồng. Năm 2020, tổng nguồn vốn của NH tăng lên là 19.000 tỷ đồng.

MHB có trụ sở chính đặt tại số 09 Võ Văn Tần, Quận 03, TP Hồ Chí Minh, số điện thoại là (08)9302501; một sở giao dịch tại TP Hồ Chí Minh, một văn phòng đại diện tại TP Hà Nội và một hệ thống mạng lưới bao gồm hơn 129 chi nhánh, phòng giao dịch đặt tại 36 tỉnh thành trên khắp cả nước.

Được thành lập năm 1999, đến nay hoạt động của MHB Cần Thơ ngày càng phát triển. Với mạng lưới phân bố rộng khắp, uy tín của MHB nói chung và MHB Cần Thơ nói riêng ngày càng được củng cố và phát triển. Hiện nay chi nhánh đã có 4 phòng giao dịch có mặt tại các địa bàn trọng điểm của TP. Cần Thơ: PGD. Ninh Kiều, PGD. Ô Môn, PGD. Thốt Nốt và PGD. Nam Cần Thơ.

Trong quá trình phát triển và mở rộng mạng lưới hoạt động, ngày 01 tháng 10 năm 2001, Chủ tịch Hội đồng Quản trị NH MHB ký quyết định thành lập MHB PGD. Ô Môn. Trụ sở MHB Ô Môn có tổng diện tích 600m2 được thiết kế hiện đại gồm 1 trệt và 3 lầu, là nơi cung ứng những sản phẩm dịch vụ hiện đại, phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng.

3.1.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức

  • Sơ đồ 3.1. Cơ cấu tổ chức của MHB Ô Môn

3.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

3.1.3.1 Ban Giám đốc:

  • Xem xét nội dung thẩm định do phòng Nghiệp vụ – Kinh doanh trình lên và là người quyết định cuối cùng cho một khoản vay.
  • Ký Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng đảm bảo tiền vay và các hồ sơ do NH và khách hàng cung cấp.
  • Quyết định các biện pháp xử lý nợ, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, chuyển nợ quá hạn và các chế tài tín dụng đối với khách hàng.
  • Tiếp nhận chỉ thị, nghị quyết từ chi nhánh sau đó phổ biến chung cho các phòng ban.
  • Điều hành mọi hoạt động của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động.
  • Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận và nhận thông tin phản hồi từ các phòng ban.
  • Có thẩm quyền quyết định về tổ chức và đề xuất bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật hay nâng lương cho các cán bộ, công nhân viên trong đơn vị.

3.1.3.2 Phòng Nghiệp vụ – Kinh doanh:

Bộ phận kinh doanh

  • Tiếp cận thị trường, thu thập thông tin, đề xuất các phương án kinh doanh.
  • Tìm kiếm khách hàng mới và giữ mối quan hệ tốt với khách hàng theo chiến lược phát triển khách hàng của MHB.
  • Tiếp nhận hồ sơ khách hàng, thẩm định các phương án, dự án vay vốn theo quy trình tín dụng và lập tờ trình trong phạm vi phân cấp ủy quyền của Tổng Giám đốc và Giám đốc Chi nhánh MHB. Hướng dẫn khách hàng lập thủ tục vay vốn theo thể lệ tín dụng hiện hành, trình Giám đốc phê duyệt.
  • Tổ chức thực hiện kiểm tra, kiểm soát, đôn đốc thu hồi các khoản nợ đến hạn và đề xuất các biện pháp xử lý nợ quá hạn.

Bộ phận hỗ trợ kinh doanh

  • Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định của MHB và NHNN.
  • Nghiên cứu tình hình kinh tế, xã hội trong địa bàn hoạt động, lập và thực hiện kế hoạch, dự án khai thác nguồn vốn, chương trình phát triển khách hàng.
  • Hỗ trợ phòng kinh doanh soạn thảo các Hợp đồng tín dụng, Bảo đảm tiền vay.
  • Thực hiện công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm với các hồ sơ do cán bộ kinh doanh chuyển sang.

Bộ phận quản lý rủi ro Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

  • Kiểm tra, đánh giá lại hoặc tái thẩm định các vấn đề liên quan đến tín dụng.
  • Tham gia kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, đảm bảo tiền vay và xử lý nợ khi được phân công.
  • Rà soát, kiểm tra, tổng hợp, báo cáo và phân loại nợ cho các cấp có thẩm quyền.
  • Thực hiện kiểm soát tín dụng nội bộ theo Quy định của Sổ tay quản lý rủi ro.

3.1.3.3 Phòng Kế toán – Ngân quỹ:

Bộ phận Kế toán

  • Thực hiện công tác hạch toán kế toán, theo dõi, phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh; quản lý các loại vốn, tài sản tại PGD; báo cáo các hoạt động kinh tế tài chính theo quy định.
  • Hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại chi nhánh, lập các thủ tục nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ chi trả kiều hối…
  • Tổ chức thực hiện các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong và ngoài nước thông qua hệ thống MHB, NHNN và các NH khác hệ thống.
  • Thực hiện công tác điện toán và xử lý thông
  • Chấp hành đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách Nhà Nước và quy định về nghĩa vụ tài chính của hệ thống.
  • Tổ chức bảo quản hồ sơ thế chấp, cầm cố, bảo lãnh do phòng Nghiệp vụ – Kinh doanh chuyển sang.
  • Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ, tài liệu kế toán; giữ bí mật các tài liệu, số liệu theo quy định của Nhà nước.
  • Chấp hành chế độ quyết toán tài chính hàng năm với Hội sở.
  • Lập kế hoạch thu chi tài chính của PGD và theo dõi việc tổ chức thực hiện.
  • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc

Bộ phận Ngân quỹ

  • Tổ chức việc thu, chi tiền mặt trên cơ sở chứng từ mà Bộ phận kế toán lập.
  • Quản lý tiền mặt tại quỹ, quản lý kho tiền, chứng từ có giá.

3.1.3.4. Phòng Hành chính – Nhân sự

Tham mưu cho Ban Giám đốc trong việc:

  • Quản lý thực hiện chính sách đối với người lao động và hực hiện công tác phát triển nguồn nhân lực của Chi nhánh.
  • Phân phối quỹ tiền lương, tiền thưởng theo chế độ tiền lương đã được MHB phê duyệt và thông báo.
  • Mua sắm, quản lý, bảo dưỡng toàn bộ phương tiện, trang thiết bị phục vụ kinh doanh và thực hiện công tác quản trị.

3.1.4. Định hướng phát triển của MHB Ô Môn năm 2026

3.1.4.1 Mục tiêu phấn đấu Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Tình hình kinh tế trên địa bàn có sự tăng trưởng sau khủng hoảng, sản xuất nông nghiệp được chuyển đổi phù hợp với cơ cấu cây trồng, vật nuôi tạ địa phương. Quá trình đô thj hóa diễn ra khá mạnh mẽ kéo theo các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát triển ngày càng đa dạng, thị trường bất động sản sẽ khôi phục và sôi động trở lại. Căn cứ vào tình hình trên, NH đã đề ra mục tiêu hoạt động năm 2026 như sau:

  • Tăng cường huy động vốn, phấn đấu tăng mức huy động từ 20% trở lên so với năm 2025.
  • Chấn chỉnh lề lối, tác phong làm việc để tạo ấn tượng và lòng tin đối với khách hàng.
  • Củng cố và nâng cao hoạt động tín dụng, mở rộng đầu tư đến các DN nhỏ và vừa, lựa chọn cho vay khách hàng có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, khả thi.
  • Đẩy mạnh thu nợ quá hạn, nợ xử lý rủi ro, tập trung xử lý và thu hồi các khoản nợ có vấn đề để thu hồi vốn. Ben cạnh đó, NH cũng cần mở rộng các nguồn thu dịch vụ, cắt giảm các khoản chi không cần thiết.
  • Mục tiêu cụ thể:
  • Nguồn vốn huy động tại địa phương: 000 triệu đồng.
  • Tăng dư nợ lên 000 triệu đồng.
  • Ngắn hạn: 000 triệu đồng.
  • Trung dài hạn: 000 triệu đồng.
  • Tăng trưởng thu nhập > 10%.
  • Tỷ lệ nợ quá hạn < 5%.
  • Tỷ lệ nợ xấu < 3%.

3.1.4.2 Định hướng phát triển của NH

  • Xây dựng lực lượng huy động vốn chuyên trách, tập trung huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, nhất là các hộ nông dân sau khi thu hoạch vụ mùa với việc tạm thời chưa sử dụng hết nguồn vốn.
  • Tăng cường các tiện ích để phục vụ và chăm sóc khách hàng tốt hơn.
  • Tăng cường giám sát xử lý và thu hồi nợ, bám sát địa bàn, kiên quyết xử lý triệt để, có hiệu quả và đúng quy định các khoản nợ có dấu hiệu phát sinh rủi ro.
  • Thực hiện phân công cán bộ theo địa bàn, quản lý và kiểm tra cán bộ theo đúng chế độ giao việc, nhằm từng bước nâng cao chế độ tay nghề kể cả chuyên môn lẫn thái độ phục vụ khách hàng.

3.2. Kết quả hoạt động kinh doanh qua 3 năm 2023 – 2025 Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Kết quả hoạt động kinh doanh là vấn đề hàng đầu trong bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh NH. Nó cho thấy được hiệu quả hoạt động và NH đó đã đạt được mục tiêu của mình hay không và qua đó có ảnh hưởng tốt hay xấu đến bản thân NH để từ đó tìm ra biện pháp khắc phục những mặt yếu, phát huy những mặt mạnh trong kinh doanh góp phần làm cho NH ngày càng phát triển. Đây cũng là mục tiêu hàng đầu mà MHB Ô Môn đã cố gắng phấn đấu trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Trong 3 năm qua trước những thử thách và cơ hội, MHB Ô Môn với sự nỗ lực của mình đã đạt được nhiều kết quả khả quan:

  • Bảng 3.1. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA MHB Ô MÔN QUA 3 NĂM 2023 – 2025

Kết quả hoạt động kinh doanh của MHB Ô Môn qua 3 năm 2023 – 2025 được thể hiện qua biểu đồ 3.2:

  • Biểu đồ 3.2. Kết quả hoạt động kinh doanh MHB Ô Môn giai đoạn 2023 -2025

Qua 3 năm từ 2023 – 2025 cho thấy tình hình hoạt động kinh doanh của NH có nhiều biến động. Thu nhập tăng lên nhưng rồi giảm xuống làm cho lợi nhuận của NH không ổn định, lợi nhuận có xu hướng giảm. Thu nhập của NH được tạo ra từ thu từ hoạt động tín dụng, thu từ hoạt động dịch vụ và một số hoạt động khác. Trong đó, thu từ hoạt động tín dụng chiếm tỉ trọng cao trong tổng thu nhập vì hoạt động chính của NH là cho vay đối với cá nhân, tổ chức. Hoạt động tạo ra nguồn vốn chủ yếu của NH là huy động vốn, do đó chi phí cho hoạt động này có tỉ trọng khá cao trong tổng chi phí, ngoài ra NH còn phát sinh các khoản chi phí cho dịch vụ và chi phí khác như: chi phí cho nhân viên, chi dự phòng, chi về tài sản…

  • Nhận xét về thu nhập

Nhìn vào biểu đồ 3.2 ta thấy tổng thu nhập năm 2023 là 18.382 triệu đồng, đến năm 2024 là 21.745 triệu đồng, tăng 3.363 triệu đồng (tương ứng 18,3%). Tuy nhiên, đến năm 2025 tổng thu nhập là 15.274 triệu đồng, giảm 6.471 triệu đồng (với tỷ lệ 29,76%) so với 2024. Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Tổng thu nhập của MHB Ô Môn chủ yếu là thu nhập từ hoạt động tín dụng, năm 2024 đạt giá trị là 19.645 triệu đồng, so với năm 2023 là 17.177 triệu đồng, tăng 2.468 triệu đồng (đạt 14,37%). Đạt được thành quả ấy là do sự quản lý tốt của Ban lãnh đạo và năng lực làm việc cao của toàn thể nhân viên trong NH. Ngoài ra, khách hàng có nhu cầu vay vốn để ổn định và phát triển sản xuất ngày càng tăng, bên cạnh đó quận Ô Môn đang đẩy nhanh tiến độ quy hoạch trở thành địa bàn trọng điểm của thành phố, tập trung phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2040, nên có nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm đầu tư và phát triển sản xuất, từ đó NH có nhiều cơ hội thuận lợi để đáp ứng nhu cầu vốn cho các đối tượng này, điều đó làm cho nguồn thu từ lãi cho vay là tương đối lớn. Đến năm 2025 thu nhập từ hoạt động tín dụng là 13.964 triệu đồng, giảm 5.681 triệu đồng (với tỷ lệ 28,92%) so với năm 2024. Nguyên nhân là do trong thời gian này tình hình sản xuất kinh doanh chung gặp nhiều khó khăn, hàng tồn kho tại DN lớn và tình hình tài chính của khách hàng xấu đi nghiêm trọng nên NH thận trọng hơn trong chủ trương cấp tín dụng, từ đó hoạt động tín dụng có phần bị hạn chế nên kéo theo thu nhập từ hoạt động tín dụng có dấu hiệu giảm. Bên cạnh đó các chính sách, thông tư từ NHNN và Hội sở MHB trong việc thực thi chính sách tiền tệ, ổn định, chuẩn hóa công tác tín dụng cũng góp phần làm giới hạn hoạt động tín dụng của các TCTD, trong đó có MHB Ô Môn.

Ngoài ra thu nhập từ hoạt động dịch vụ cũng không kém phần quan trọng trong việc làm tăng thu nhập cho NH. Đây cũng là lĩnh vực mà MHB Ô Môn đang cố gắng phấn đấu để có bước tăng trưởng cao, vì đó là nguồn thu bền vững nhất mà tất cả các NH đều mơ ước đạt được. Tuy nhiên qua 3 năm thì thu nhập từ dịch vụ tăng giảm không ổn định, năm 2024 tăng 13,10% so với năm 2023 nhưng năm 2025 so với năm 2024 lại giảm 22,11%. Nguyên nhân của sự tăng giảm này là do tình hình giá cả các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, nguyên vật liệu, phí đầu vào… biến động mạnh gây ảnh hưởng đến tình hình sử dụng dịch vụ của khách hàng.

Thu nhập khác tuy chiếm tỷ trọng không cao nhưng lại có biến động mạnh trong thời gian này. Cụ thể năm 2024 là 1.150 triệu đồng, tăng 215,07% so với năm 2023 là 365 triệu đồng. Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng mạnh này là do trong năm 2024, PGD đã thu hoàn dự phòng từ việc thu được một số khoản nợ nhóm 5 với số tiền lớn. Sang năm 2025 thì thu nhập khác giảm còn 570 triệu đồng (tỷ lệ giảm 50,43%).

  • Nhận xét về chi phí Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc tạo ra lợi nhuận tối đa với chi phí bỏ ra thấp nhất trở thành mục tiêu hàng đầu của tất cả các ngành thương mại nói chung cũng như ngành NH nói riêng.

Tổng chi phí có sự thay đổi, cụ thể là năm 2024 so với năm 2023 tăng 2.715 triệu đồng (tương đương 16,28 %), năm 2025 so với năm 2024 giảm 5.723 triệu đồng (tương đương 29,51%). Nhìn chung việc tăng lên, giảm xuống của chi phí qua 3 năm là lẽ đương nhiên vì nó biến đổi theo xu hướng của thu nhập. Chi phí cho hoạt động huy động vốn là chủ yếu do mở rộng hoạt động, nhu cầu tín dụng tăng cao nên NH phải huy động vốn nhiều, trả lãi nhiều hơn, thêm vào đó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các NH cùng khu vực buộc NH phải huy động với các chương trình khuyến mãi, chăm sóc khách hàng hấp dẫn để thu hút khách hàng làm cho khoản chi trả này có xu hướng tăng cao trong năm 2024 (tăng 14,79% so với năm 2023). Đến năm 2025, tình hình huy động vốn có dấu hiệu giảm hơn năm 2024 do ảnh hưởng của kinh tế khó khăn chung nên kéo theo chi phí cho hoạt động này cũng giảm xuống (33,14% so với năm 2024). Với xu hướng nền kinh tế đang có nhiều biến động như hiện nay do ảnh hưởng bởi nền kinh tế thế giới và tình hình nội tại trong nước, nó tác động đến hành vi của khách hàng trước khi gửi một món tiền hay quyết định đầu tư. Do đó, ở góc độ là một NH chuyên kinh doanh lĩnh vực tiền tệ, lĩnh vực được xem là rất nhạy cảm mỗi khi nền kinh tế khi có sự thay đổi, NH cần có những giải pháp hữu hiệu để thu hút nhiều nguồn tiền gửi và phương án sử dụng tốt nhất nguồn vốn ấy.

Bên cạnh chi phí cho hoạt động tín dụng thì NH còn phải chi trả cho những khoản chi phí khác nhằm duy trì sự tồn tại và hoạt động liên tục của NH. Những khoản chi đó bao gồm: chi cho hoạt động dịch vụ, chi cho nhân viên, chi cho quản lý và dự phòng… tất cả được gọi là chi phí ngoài lãi. Năm 2024 đi qua thực sự là một năm với đầy khó khăn, thử thách đối với cả ngành, rất nhiều TCTD phải chịu chi phí tăng cao do môi trường kinh doanh không thuận lợi và MHB Ô Môn cũng không ngoại lệ. Các khoản chi phí ngoài lãi đều tăng đồng loạt vào năm 2024 là minh chứng cho nhận định ấy. Song đến năm 2025 thì các khoản chi phí này đều giảm với tỷ lệ tương đối thấp. Trong thời gian tới, NH cần có những phương hướng tích cực nhằm đảm bảo cho nguồn thu nhập ổn định, mặt khác phải quản lý các khoản chi phí một cách chặt chẽ để đảm bảo cho NH hoạt động bền vững.

  • Nhận xét về lợi nhuận Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí. Đây là chỉ tiêu được quan tâm hàng đầu khi đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NH. Do vậy phân tích về chỉ tiêu lợi nhuận nhằm có thể đánh giá tổng quan về hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của NH, mà điển hình là huy động vốn và cấp tín dụng. Lợi nhuận của NH chịu sự tác động trực tiếp bởi thu nhập và chi phí, tùy theo tốc độ thay đổi của thu nhập và chi phí mà lợi nhuận NH tăng hay giảm theo. Qua bảng 3.1, ta thấy lợi nhuận của NH có tăng có giảm qua 3 năm. Cụ thể từ 1.705 triệu đồng năm 2023 tăng lên 2.353 triệu đồng năm 2024, tăng 648 triệu đồng (tỷ lệ 38,01%), đến năm 2025 giảm 748 triệu đồng (tỷ lệ 31,79%). Nguyên nhân là trong giai đoạn này còn dư âm của khủng hoảng kinh tế, nguồn tiền huy động khó khăn nên NH áp dụng nhiều chương trình khuyến mãi dành cho khách hàng khi đến giao dịch để nâng cao khả năng cạnh tranh với các NHTM khác trên địa bàn. Nên chi phí tăng cao cũng là điều khó tránh khỏi, nhưng tỷ lệ tăng của chi phí vẫn thấp hơn của thu nhập nên vẫn đảm bảo được lợi nhuận. Tóm lại, trước tình hình biến động bất thường và giá cả tăng cao như những năm qua, nhiều khách hàng kinh doanh thua lỗ nên ảnh hưởng phần nào đến khả năng trả nợ, làm giảm sút lợi nhuận của NH; tuy nhiên không vì thế mà bi quan với tình hình kinh doanh của PGD trong tương lai, bởi vì đây là viễn cảnh khó khăn chung của toàn hệ thống. Nhưng nhờ những sách lược kịp thời của Ban Lãnh đạo và sự nỗ lực không ngừng của toàn thể nhân viên mà MHB Ô Môn vẫn còn đứng vững đến ngày nay.

3.3. Đánh giá thuận lợi và khó khăn chung

3.3.1. Thuận lợi

Quận Ô Môn là có nền kinh tế phát triển ổn định, các lĩnh vực xã hội đều được chú trọng xây dựng. Về cơ sở hạ tầng, lãnh đạo của quận luôn chú trọng đầu tư phát triển và không ngừng chuyển giao khoa học – kỹ thuật đến với tùng hộ dân. Do đó, năng lực sản xuất trong những năm qua không ngừng gia tăng. Điều đó tạo điều kiện cho NH đẩy mạnh hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng.

Địa bàn hoạt động của NH bao gồm 7 đơn vị và đa số hộ cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh vì vậy việc tiếp cận vốn tín dụng chính thức từ NH đang được quan tâm và góp phần làm cho NH hoạt động ngày càng hiệu quả. Hiện nay, MHB Ô Môn đóng vai trò là NH quan trọng của Quận Ô Môn và các địa bàn lân cận.

Qua gần 12 năm hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, NH đã tạo dựng được niềm tin của khách hàng cũng như mối quan hệ đối với các DN nhỏ và vừa hoạt động trên địa bàn. Đội ngũ nhân viên của NH có thái độ lịch sự, tận tình và tạo được thiện cảm đối với khách hàng. Đặc biệt là cán bộ kinh doanh đa số trẻ, nhiệt huyết và rất năng động trong công tác cho vay và theo dõi tình hình khách hàng. Trong thực hiện nghiệp vụ chuyên môn, các nhân viên hầu hết đều trải qua đào tạo đại học cùng với việc ứng dụng thành thạo tin học trong hạch toán, quản lý nên nhân viên đều giải quyết tốt công việc và có hiệu quả.

3.3.2. Khó khăn Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Sự biến động của thị trường có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của NH. Cơ bản nhất là sự biến động của lãi suất ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn, nhu cầu đầu tư. Bên cạnh đó, lạm phát hay sự tăng lên về giá cả làm cho thu nhập của người dân không ổn định làm ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn và khả năng thu nợ gốc, lãi của NH.

Một số hộ vay chưa thực hiện đúng theo thỏa thuận khi vay vốn dẫn đến mất khả năng trả nợ NH và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của NH.

Dưới tác động của tỷ lệ lạm phát cao, tình hình giá cả nguyên vật liệu đầu vào liên tục tăng, gây khó khăn rất lớn cho quá trình sản xuất, kinh doanh của khách hàng, bên cạnh đó vấn đề tìm đầu ra cho sản phẩm, hàng tồn kho luôn là vấn nạn lớn của nền kinh tế và ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của khách hàng, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nợ quá hạn, nợ xấu.

Lực lượng cán bộ tác nghiệp và quản lý còn thiếu nên việc điều hành và quản lý các hoạt động của NH còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại.

3.4. Thực trạng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại MHB Ô Môn giai đoạn 2023 – 2025 Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

3.4.1. Phân tích tình hình nguồn vốn của MHB Ô Môn từ 2023 – 2025

Đặc điểm của NH là đi vay để cho vay, do vậy nguồn vốn đóng vai trò rất quan trọng, là yếu tố quyết định đến hoạt động tín dụng và các hoạt động khác. Nguồn vốn góp phần làm cho hoạt động kinh doanh của NH diễn ra liên tục. Cơ cấu nguồn vốn của NH bao gồm hai nguồn vốn chủ yếu, bao gồm vốn huy động và vốn điều chuyển. Trong đó, vốn huy động được tạo ra với hình thức nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn. Vốn điều chuyển là nguồn vốn nhận điều chuyển từ Chi nhánh MHB Cần Thơ. Trong thời gian qua, NH đã có những thay đổi trong chính sách huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay ngày càng cao hơn. NH có xu hướng sử dụng nhiều nguồn vốn huy động hơn là vốn điều chuyển bởi vì trả lãi cho huy động vốn thấp hơn. Do đó, sử dụng vốn huy động để cho vay sẽ đảm bảo việc sử dụng vốn linh hoạt hơn. Tình hình nguồn vốn được thể hiện cụ thể qua bảng 3.2:

  • Bảng 3.2. TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA MHB Ô MÔN QUA 3 NĂM 2023 – 2025

Tổng nguồn vốn của MHB Ô Môn vào năm 2023 là 138.000 triệu đồng, sang năm 2024 là 126.400 triệu đồng, giảm 11.600 triệu đồng (với tỷ lệ 8,41%), bước qua năm 2025 thì tổng nguồn vốn tăng 1.600 triệu đồng (tương đương 1,27%), đạt mức 128.000 triệu đồng.

  • Biểu đồ 3.3. Cơ cấu nguồn vốn MHB Ô Môn giai đoạn 2023 – 2025

Trong đó, vốn huy động năm 2023 là 43.000 triệu, chiếm 31,16% trong tổng nguồn vốn, qua đó cho thấy việc huy động vốn năm 2023 chưa thật sự hiệu quả và với sự ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế nên việc thu hút vốn nhàn rỗi trong dân cư gặp nhiều khó khăn. Do đó để có thể có đủ nguồn vốn đáp ứng cho hoạt động kinh doanh, NH tiếp nhận vốn điều chuyển từ NH cấp trên và làm cho vốn điều chuyển chiếm tỷ trọng cao với 68,84% trong tổng nguồn vốn. Sang năm 2024, vốn huy động đạt 85.000 triệu đồng và tỷ trọng cũng tăng lên chiếm 67,25% trong tổng nguồn vốn. Do vậy, vốn điều chuyển giảm tỷ trọng chiếm 32,75%. Vốn huy động năm 2024 so với năm 2023 tăng 42.000 triệu đồng (tương đương 97,67%). Với sự thay đổi này có thể nói rằng NH đã thay đổi chính sách huy động vốn một cách có hiệu quả. Thực tế để có kết quả này, NH đã áp dụng nhiều chương trình ưu đãi, chăm sóc khách hàng như khuyến mãi, tặng quà… nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Với mỗi món tiền gửi và theo số lần giao dịch với NH thì khách hàng sẽ nhận được phiếu rút thăm trúng thưởng với nhiều phần quà có giá trị. Bên cạnh đó NH cũng trao phần thưởng đối với khách hàng có số dư tiền gửi lớn và thường xuyên giao dịch với NH.

Sang năm 2025, vốn huy động của NH đạt 87.400 triệu đồng, tăng 2.400 triệu đồng (tỷ lệ 2,71%) so với năm 2024. Trong thời gian này, NH vẫn tiếp tục duy trì các chính sách huy động hợp lý, kết hợp các chương trình chăm sóc khách hàng như tặng quà vào các dịp lễ, Tết, rút thăm trúng thưởng nhà, xe khi tham gia gửi tiền… nên đã duy trì nguồn vốn huy động một cách ổn định. Tuy tốc độ tăng có giảm nhưng tỷ trọng vốn huy động năm 2025 vẫn khá cao, xấp xĩ 69% trên tổng nguồn vốn. Điều này chứng tỏ công tác huy động vốn tại NH vẫn được duy trì tốt và phát huy hiệu quả.

Qua đó còn cho thấy, trong nguồn vốn huy động thì tiền gửi có kỳ hạn tăng liên tục qua 3 năm. Năm 2023 là 38.700 triệu đồng, năm 2024 và năm 2025 lần lượt là 70.110 triệu đồng và 75.000 triệu đồng. Đây là niềm khích lệ lớn lao cho NH trong bối cảnh cạnh tranh và huy động khó khăn. Gặt hái được thành quả ấy là nhờ sự phấn đấu không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên, đặc biệt là sự khéo léo – nhẹ nhàng – thân thiện của các anh chị giao dịch viên và sự chỉ đạo của Ban Giám đốc cũng như kinh nghiệm lâu năm và thế mạnh là một trong những NH uy tín trên địa bàn, có công nghệ tiên tiến và các dịch vụ tốt đi kèm.

Tóm lại, với những hiệu quả mà nguồn vốn huy động mang lại đã tạo ra nhiều thuận lợi cho NH, vì nó bổ sung vào nguồn vốn cho vay, đảm bảo cho MHB Ô Môn có thể sử dụng vốn một cách linh hoạt và tự chủ. Nhìn chung, trong bối cảnh thực sự khó khăn của cả nước, tình hình huy động vốn của MHB Ô Môn vẫn chiếm tỷ trọng cao và được duy trì là điều đáng biểu dương cho tinh thần làm việc nghiêm túc, không mệt mỏi của toàn thể các thành viên trong đại gia đình MHB Ô Môn, để từ đó làm nền tảng cho sự ổn định và phát triển bền vững của MHB trong tương lai.

3.4.2. Tình hình hoạt động tín dụng chung tại MHB Ô Môn qua 3 năm 2023 – 2025 Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Hoạt động cấp tín dụng trong tín dụng NH bao gồm: (i) Cho vay, (ii) Chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá, (iii) Bảo lãnh và (iv) Cho thuê tài chính. Nhưng do dặc thù hoạt động kinh doanh tại NH, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Vì lý do số liệu nên trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, hoạt động tín dụng chỉ dừng lại ở hoạt động cho vay của NH (sau đây gọi tắt là tín dụng). Tín dụng NH có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo những tiêu thức phân loại khác nhau.

Tín dụng là hoạt động chủ yếu của NH và chứa đựng nhiều rủi ro. Mặc dù các NH ở Việt Nam đang có xu hướng mở rộng cơ cấu hoạt động nhằm giảm tỷ trọng của cơ cấu tín dụng để tăng tỷ trọng của các hoạt động dịch vụ, hướng tới một NH bán lẻ hiện đại, MHB Ô Môn cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động truyền thống và có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại của tất cả các NH hiện nay. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế đang có những chuyển biến mới và xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn, do đó các NH phải biết nắm bắt kịp thời nhu cầu thị trường để không bỏ qua những cơ hội đầu tư tốt. Mở rộng tín dụng sẽ giúp NH chiếm lĩnh được thị trường, sử dụng tối ưu nguồn vốn đã huy động, phân tán rủi ro, mở rộng hoạt động kinh doanh, thu được nhiều lợi nhuận. Dưới đây là bảng số liệu thể hiện tình hình hoạt động tín dụng của MHB Ô Môn qua 3 năm 2023 – 2025:

Bảng 3.3. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI MHB Ô MÔN 2023 – 2025

  • Doanh số cho vay

Số liệu 3 năm cho thấy doanh số cho vay tại NH luôn biến động. Cụ thể, năm 2023 doanh số cho vay là 165.000 triệu đồng, năm 2024 là 121.000 triệu đồng, giảm 44.000 triệu đồng (tỷ lệ 26,67%). Sở dĩ doanh số cho vay năm 2024 giảm so với năm 2023 là do năm 2024 nước ta rơi vào tình trạng lạm phát cao ở mức 2 con số, Nghị quyết 11 do Chính phủ ban hành vào những ngày đầu năm với mục tiêu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, trong đó nội dung chủ yếu là thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng dưới 20%, do vậy mà NH giảm sút doanh số cho vay. Cả doanh số cho vay ngắn hạn và trung dài hạn đều giảm trong thời kỳ này. Tuy nhiên, trong cơ cấu cho vay tại NH thì cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất, trên 80%, qua đó mới thấy lĩnh vực đầu tư mà NH tập trung nhắm đến trong quá trình hoạt động kinh doanh là cho vay ngắn hạn, một lĩnh vực mà bất kỳ một NH bán lẻ theo hướng hiện đại nào cũng chú trọng theo đuổi và MHB Ô Môn cũng không ngoại lệ. Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

  • Biểu đồ 3.4: Tình hình tín dụng tại MHB Ô Môn giai đoạn 2023 – 2025

Bước sang năm 2025, doanh số cho vay tăng từ 121.000 triệu đồng lên 140.000 triệu đồng, tăng 19.000 triệu (tương ứng 15,70%). Lúc này là thời kỳ hậu khủng hoảng, tình hình có vẻ khả quan hơn, lạm phát được kiềm chế ổn định, nhiều chính sách được ban hành nhằm tháo gỡ khó khăn cho các tổ chức cá nhân, hỗ trợ phục hồi sản xuất, ổn định phát triển chẳng hạn như Nghị quyết số 13/NQ-CP. Nhờ đó mà nhu cầu vay vốn tăng lên rõ rệt, bằng chứng là doanh số cho vay được cải thiện theo hướng tích cực, mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn tăng (22,93%), còn hoạt động cho vay trung dài hạn có dấu hiệu chững lại, do NH cân nhắc, thận trọng hơn khi tài trợ vốn cho các dự án và lĩnh vực kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro.

  • Doanh số thu nợ

Trong quá trình thực hiện cho vay, thu nợ là khâu chiếm vị trí quan trọng được NH đặc biệt quan tâm, nó không những thể hiện khả năng thẩm định tín dụng của cán bộ kinh doanh mà còn phản ánh khả năng thu hồi vốn của NH. Cùng với sự biến động của của doanh số cho vay thì doanh số thu nợ cũng tăng giảm tương ứng. Năm 2023 là 161.090 triệu đồng, năm 2024 giảm còn 126.000 triệu đồng, tương ứng giảm 21,78 %. Có sự sụt giảm này là do nguồn thu nhập của khách hàng bị ảnh hưởng mạnh mẽ khi kinh doanh không hiệu quả trong môi trường kinh tế biến động khó lường, từ đó cũng ảnh hưởng đến nguồn thu nợ của NH. Tuy nhiên bước sang năm 2025, doanh số thu nợ đã có bước tăng lên, đạt giá trị 136.000 triệu đồng, tương đương tăng 7,94%. Điều này thể hiện công tác thu hồi nợ được NH quan tâm nhiều, cùng với sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo và thái độ tích cực của các cán bộ kinh doanh trong việc sâu sát, đôn đốc khách hàng trả nợ nên chỉ tiêu này được cải thiện đáng kể. Bên cạnh đó, do nhu cầu vay vốn để mở rộng sản xuất tăng, khách hàng luôn có ý thức để trả nợ đúng hạn để giữ uy tín với NH cho những lần vay sau. Doanh số thu nợ ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng doanh số (luôn trên 80%), nên đa phần khách hàng vay vào đầu mỗi chu kỳ sản xuất mua nguyên vật liệu đầu vào và các yếu tố sản xuất khác, khi thu hồi được vốn sẽ hoàn trả lại cho NH và đến chu kỳ tiếp theo lại làm hồ sơ vay tiếp. Với sự nỗ lực giám sát, viếng thăm cũng như kiểm tra quá trình sử dụng vốn để nắm được tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của khách hàng, qua đó tăng cường nhắc nhở, động viên khách hàng trả nợ tạo nên hiệu quả trong việc thu hồi nợ cho NH.

  • Dư nợ Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Dư nợ là kết quả của cho vay và thu nợ, nếu chỉ dựa vào dư nợ để đánh giá hoạt động tín dụng của NH tốt hay xấu là chưa đầy đủ. Điều này còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố như: cơ cấu cho vay, thời hạn cho vay, các chính sách kinh tế xã hội, phát triển kinh tế, tình hình kinh tế tại địa phương, các chiến lược kinh doanh của NH… Dư nợ cao mà kéo theo nợ xấu nhiều thì không phải là điều tốt. Với doanh số cho vay và doanh số thu nợ đều có sự biến đổi qua các năm nên dư nợ cũng có sự thay đổi. Năm 2024 so với 2023 giảm 5.000 triệu đồng (tương ứng 4,36%). Trước tình hình lạm phát cao và để đảm bảo thực thi chính sách tiền tệ, Nghị quyết 11 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp thường kỳ tháng 9/2024, NHNN tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ thận trọng và thu hẹp tín dụng với mục đích kiểm soát chặt chẽ thị trường tiền tệ và đảm bảo thanh khoản cho hệ thống NH. Năm 2025 dư nợ tăng 4.000 triệu đồng (tương ứng 3,65%) so với 2024. Để đạt được mức dư nợ tăng như vậy, bên cạnh việc thị trường dần hồi phục sau khủng hoảng, NH đã thực hiện chính sách luôn tìm kiếm khách hàng mới và đánh giá, phân loại khách hàng nhằm thu hút được nhiều khách hàng từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau đến giao dịch. Bên cạnh đó NH còn mở rộng cho vay như: cho vay tiêu dùng tín chấp, xây dựng, sửa chữa nhà ở, DN nhỏ và vừa… Hơn nữa, kinh tế trên địa bàn TP. Cần Thơ nói chung và Quận Ô Môn nói riêng đang từng bước chuyển mình khi Cần Thơ trở thành Thành phố loại I trực thuộc Trung ương, nên nhu cầu vay vốn để xây dựng và phát triển ngày càng gia tăng, từ đó kéo theo dư nợ cũng gia tăng. Cũng như 2 chỉ tiêu doanh số cho vay và thu nợ, dư nợ ngắn hạn cũng chiếm đa phần (chiếm khoảng 80%) trong tổng dư nợ. Và trung dài hạn thì tăng đều qua các năm. Như vậy, NH cần có biện pháp tăng dư nợ trung dài hạn và giảm dư nợ ngắn hạn.

  • Nợ xấu

Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5. Đây là chỉ tiêu không chỉ NH mà các thành phần bên ngoài cũng quan tâm, vì nó có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động NH, phản ánh mức độ rủi ro của các khoản vay mà NH đang phải gánh chịu. Trên lý thuyết, khi đồng vốn ra khỏi NH thì đã tiềm ẩn nhiều rủi ro, bên cạnh những rủi ro nhận thấy được thì còn nhiều rủi ro tiềm tàng khó đoán, chính vì vậy mà bất kỳ một NHTM nào một khi đã chấp nhận tham gia hoạt động trên thị trường tài chính – tín dụng thì cũng đồng nghĩa với việc tồn tại các khoản nợ quá hạn, nợ xấu. Năm 2024 nợ xấu đã giảm 228 triệu (tương đương 8,19%) so với năm 2023, thông qua việc thực hiện nghiêm túc các chính sách giới hạn tín dụng và thu hồi nợ từ cấp trên đã góp phần giảm nợ xấu ở các NH, trong đó có MHB Ô Môn. Tuy nhiên, đến năm 2025 nợ xấu đã tăng 238 triệu (tương đương 9,31%) so với năm 2024 là do tổng cầu của nền kinh tế giảm mạnh, tiêu thụ hàng hóa gặp nhiều khó khăn, hàng tồn kho lớn, thị trường bất động sản đóng băng, năng lực tài chính của khách hàng giảm sút nên các khoản nợ cho vay đã trở thành nợ khó đòi. Nợ xấu ngắn hạn cũng chiếm tỷ trọng cao trong tổng nợ xấu (luôn trên 80%), bởi vì lĩnh vực cho vay chủ yếu của NH là ngắn hạn.

  • Tỷ lệ nợ xấu Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng tại các NHTM. Bên cạnh việc chú ý đến lợi nhuận thì chỉ tiêu này cũng rất được quan tâm, thể hiện trình độ quản trị rủi ro của TCTD, NH nào có tỷ lệ nợ xấu càng thấp thì càng được đánh giá cao. Tại MHB Ô Môn tỷ lệ nợ xấu dao động không nhiều qua 3 năm, năm 2024 giảm 0,1% so với năm 2023 và tăng 0,13% vào năm 2025. Nhìn chung, tỷ lệ nợ xấu tại NH là tương đối thấp, nằm trong mức độ cho phép (3%) có thể chấp nhận được của NHNN. Từ đó có thể thấy rằng, chất lượng tín dụng tại MHB Ô Môn vẫn được đảm bảo. Tuy trong thời buổi kinh tế còn tồn tại nhiều khó khăn, bất ổn, nhưng cùng với những chính sách hợp lý từ Ban lãnh đạo, sự quyết tâm cao và đồng lòng trong công tác thẩm định tín dụng và thu hồi nợ của các cán bộ kinh doanh đã giúp NH giữ được chất lượng tín dụng ở mức an toàn, đồng thời trong thời gian này NH luôn cân nhắc, thận trọng không để phát sinh thêm nợ xấu trong một số lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, chẳng hạn trong xây cất và công nghiệp chế biến.

  • Dư nợ/Vốn huy động

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sử dụng vốn của NH. Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 100% thì nguồn vốn huy động được sử dụng hết cho hoạt động cấp tín dụng, còn nếu chỉ tiêu nhỏ hơn 100% thì nguồn vốn huy động vẫn còn thừa. Chỉ tiêu này quá lớn hay quá nhỏ đều không tốt. Bởi vì, nếu chỉ tiêu này quá lớn thể hiện vốn huy động tham gia vào dư nợ ít, khả năng huy động vốn của NH là chưa tốt.

Dư nợ/Vốn huy động năm 2023 bằng 266,64%, năm 2024 giảm còn 129% và tăng lên 130,19% vào năm 2025. Có thể nhận thấy tình hình hoạt động tín dụng tại MHB Ô Môn là khá tốt, mạng lưới tín dụng ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên NH cần phát huy tích cực hơn nữa công tác huy động vốn tại chỗ để tương xứng với quy mô tín dụng hiện có, giảm bớt gánh nặng tín dụng cho nguồn vốn điều chuyển từ Chi nhánh cấp trên. Vì vốn huy động luôn có chi phí lãi thấp hơn vốn điều chuyển, NH sử dụng nhiều vốn huy động để cho vay thì thu được lợi nhuận cao hơn do chênh lệch lãi suất đầu ra và đầu vào lớn hơn. Việc nhận vốn điều chuyển từ cấp trên, lãi suất điều chuyển cao làm giảm chênh lệch lãi suất dẫn đến giảm lợi nhuận. Vì vậy, bên cạnh đầu tư vào hoạt động tín dụng thì NH cần chú trọng đa dạng hóa các hình thức huy động vốn nhằm đem lại lợi nhuận cao.

  • Hệ số thu nợ Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Hệ số thu nợ thể hiện khả năng thu nợ của NH đối với các khoản vay hay khả năng trả nợ của khách hàng đối với NH. Nó cho biết trong cùng thời kỳ, ứng với doanh số cho vay 1 đồng, NH thu được bao nhiêu đồng vốn. Chỉ số này càng cao thì tiến trình thu hồi nợ của NH càng đạt hiệu quả và ngược lại. Tình hình thu nợ của NH qua 3 năm như sau: Năm 2023 chỉ số này đạt 97,63%, năm 2024 tăng lên 104,13% và năm 2025 giảm xuống 97,14%, có nghĩa là với 1 đồng vốn NH cho vay ra sẽ thu lại được tương ứng qua các năm gần 0,98 đồng, 1,04 đồng và 0,97 đồng. Căn cứ vào số liệu có thể nhận thấy tình hình thu nợ của NH có sự dao động qua từng năm, năm 2024 NH tập trung thu nợ và hạn chế cho vay để thực thi chính sách tín dụng chặt chẽ phù hợp với yêu cầu thực tiễn nên hệ số thu nợ là rất cao, các năm còn lại chỉ tiêu này vẫn ở mức cao, cho thấy công tác thu nợ rất được NH quan tâm, vì hơn ai hết, NH hiểu rõ ý nghĩa của việc một khi cho vay ra thì phải thu về để đồng vốn có thể luân chuyển và tiếp tục tạo ra giá trị mới.

  • Vòng quay vốn tín dụng

Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển của vốn tín dụng, thời gian thu hồi nợ nhanh hay chậm. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng thu hồi nợ càng cao. Qua các năm vòng quay vốn tín dụng có sự tăng giảm nhưng không nhiều. Năm 2023 là 1,27 vòng, năm 2024 giảm xuống 1,12 vòng và năm 2025 tăng lên 1,22 vòng. Điều này cho thấy vốn NH luân chuyển với tốc độ như vậy là chưa cao. Nguyên nhân là do NH cho vay nhiều hợp đồng tín dụng có thời hạn khác nhau, mà lĩnh vực đầu tư trong cho vay xây dựng, sửa chữa nhà thì thường đồng vốn thu hồi chậm, bên cạnh đó lại chịu nhiều ảnh hưởng từ thị trường nên tốc độ thu hồi vốn có chậm. Vì vậy, để vòng quay vốn tín dụng được cải thiện, NH cần thực hiện công tác thẩm định chặt chẽ hơn về mục đích vay vốn, điều kiện trả nợ, vòng quay tín dụng của khách hàng thật chính xác để tính toán được thời gian trả nợ, tránh tình trạng khách hàng chiếm dụng vốn của NH.

3.4.3. Phân tích tình hình tín dụng ngắn hạn tại MHB Ô Môn qua 3 năm 2023 – 2025 Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

3.4.3.1 Phân tích tình hình tín dụng ngắn hạn theo ngành kinh tế

  • Phân tích doanh số cho vay ngắn hạn theo ngành kinh tế

Cũng giống như những NHTM khác, MHB Ô Môn hoạt động chủ yếu vì mục đích lợi nhuận, hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra, do vậy NH cho vay đối với mọi ngành kinh tế. Tuy vậy, việc xác định những ngành kinh tế chiến lược có tiềm năng phát triển là cần thiết để tập trung cho vay nhằm tạo lợi nhuận cao và hạn chế rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó việc đánh giá doanh số cho vay theo ngành kinh tế sẽ giúp NH có những biện pháp phát triển thích hợp với từng ngành. Sau đây là doanh số cho vay theo ngành kinh tế của MHB Ô Môn qua 3 năm (2023 – 2025):

Bảng 3.4. DOANH SỐ CHO VAY NGẮN HẠN THEO NGÀNH KINH TẾ TẠI MHB Ô MÔN 2023 – 2025

  • Nông nghiệp

Do đặc trưng của Quận Ô Môn và các địa bàn lân cận gắn liền với canh tác nông nghiệp từ xưa đến nay, nên để đáp ứng nhu cầu cải tiến về mặt kỹ thuật canh tác cũng như nâng cao năng suất lao động thì vay vốn NH là nhu cầu tất yếu. Tuy nhiên, doanh số cho vay ngắn hạn trong nông nghiệp liên tục giảm qua các năm. Cụ thể, năm 2023 là 32.240 triệu đồng, sang năm 2024 là 15.800 triệu đồng, giảm 16.440 triệu đồng (tương đương 50,99%). Đến năm 2025, doanh số cho vay ngắn hạn ngành nông nghiệp lại giảm 2.040 triệu đồng (tương đương 12,91%). Nguyên nhân chính là do thời tiết diễn biến thất thường ảnh hưởng đến người trồng lúa, giá cả đầu vào liên tục biến động, cộng thêm việc giá cả đầu ra diễn biến theo hướng không có lợi cho người nuôi cá, dẫn đến nhiều hộ thua lỗ nặng nên làm cho nhu cầu vay vốn để ổn định và mở rộng sản xuất giảm xuống mức thấp. Vì vậy NH cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác mở rộng tín dụng trong lĩnh vực này.

  • Công nghiệp chế biến

Tại ĐBSCL, công nghiệp chế biến điển hình là chế biến lương thực, thực phẩm giữ vai trò quan trọng nhất, chiếm 65% giá trị xuất khẩu công nghiệp của vùng, phân bố rộng rãi khắp vùng nhờ có nguồn nguyên liệu dồi dào. Sản phẩm chế biến không chỉ để tiêu thụ trong nước mà còn để xuất khẩu sang các nước khác. Dựa trên tình hình thực tế, NH đã mở rộng cho vay đối với công nghiệp chế biến từ rất sớm. Nhìn tổng quát có thể thấy rằng công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng cao nhất trong tất cả các ngành kinh tế mà NH cho vay. Năm 2024, doanh số cho vay ngành này tăng 3.500 triệu đồng (tương ứng 5,98%) so với năm 2023. Năm 2025 lại tăng mạnh 19.000 triệu đồng (tương ứng 30,65%). Đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ này do các DN chế biến lúa gạo trên địa bàn kinh doanh hiệu quả. Nên đã phát sinh nhu cầu vay vốn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó cũng nhờ có các chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ để thu mua lúa gạo tạm trữ cho các DN, đã thúc đẩy các DN mạnh dạn đầu tư vào ngành này. Vì vậy mà NH tăng cường cung ứng vốn để đảm bảo quá trình hoạt động kinh doanh của các DN không bị gián đoạn, từ đó doanh số cho vay luôn ở mức cao.

  • Thương mại – Dịch vụ Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Bên cạnh lợi thế về trồng lúa nước, hoa màu, trên địa bàn cũng là nơi có hoạt động thương mại khá phát triển và điển hình là sự phát triển của ngành kinh doanh lúa gạo; với các cá thể thu mua lúa (được gọi là thương lái) và các chủ thể mua bán phân bón, xăng dầu, kinh doanh lương thưc, thực phẩm, tạp hóa, văn phòng phẩm… Nhóm ngành dịch vụ bao gồm nhà hàng, quán ăn, giải khát, karaoke… Thực tế, thương mại – dịch vụ là nhóm ngành nhạy cảm so với thị trường, nhất là giá cả, như đã biết, đây là giai đoạn mà ta bắt tay vào phục hồi lại nền kinh tế trong nước sau khủng hoảng nên giá cả các mặt hàng có xu hướng tăng. Tuy có sự biến động, giảm 56,08% vào năm 2024 so với năm 2023, do điều kiện sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn và chính sách thắt chặt tín dụng từ Trung ương, nhưng sang năm 2025 thì doanh số cho vay đã tăng trở lại, đạt 27,58%. Nhờ sự can thiệp của Chính phủ và các cơ quan chức năng, nên giá cả đã dần bình ổn, các hộ sản xuất kinh doanh đã dần hồi phục nhu cầu vay vốn để mở rộng quy mô kinh doanh. Với các chủ trương, chính sách của Nhà nước phát triển kinh tế đất nước cùng với đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ nên ngành này có điều kiện phát triển và mở rộng. Do đó lượng vốn cung ứng cho ngành thương mại – dịch vụ cũng được cải thiện.

Tóm lại, doanh số cho vay ngắn hạn theo ngành kinh tế biến động mức độ vừa phải. Giảm vào năm 2024 (giảm 27,76%), nhưng lại tăng 22.93% vào năm 2025. Đây là dấu hiệu tích cực về sự phục hồi và phát triển của các ngành kinh tế và nhu cầu vay vốn của các chủ thể kinh tế ngày càng tăng. Công nghiệp chế biến là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất trong doanh số cho vay ngắn hạn, do vậy sự biến động của ngành này cũng làm ảnh hưởng mạnh đến doanh số cho vay chung. Trong thời gian tới, NH cần đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ hơn để người dân tiếp cận được nguồn vốn vay cũng như mở rộng doanh số cho vay đối với các ngành này.

  • Phân tích doanh số thu nợ ngắn hạn theo ngành kinh tế

Hoạt động NH có hiệu quả khi số cho vay nhiều mà vẫn đảm bảo được các khoản nợ thu hồi tương ứng. Tuy nhiên, trong từng ngành cụ thể mà có sự biến động khác nhau về doanh số thu nợ. Qua 3 năm (2023 – 2025), tình hình thu nợ theo các ngành kinh tế chủ yếu trong khu vực của MHB Ô Môn được thể hiện qua bảng 3.5:

  • Bảng 3.5. DOANH SỐ THU NỢ NGẮN HẠN THEO NGÀNH KINH TẾ TẠI MHB Ô MÔN 2023 – 2025

Năm 2024, doanh số thu nợ giảm 20,75% so với năm 2023, năm 2025 doanh số thu nợ lại tăng lên 11,43% so với năm 2024. Sự tăng giảm của doanh số thu nợ ngắn hạn là do tình hình phát triển của từng ngành quyết định. Cụ thể như sau:

  • Nông nghiệp Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Doanh số thu nợ ngắn hạn ngành nông nghiệp năm 2024 giảm 15.140 triệu đồng (tương đương 40,82%) so với năm 2023 và tiếp tục giảm 12,71% vào năm 2025. Nguyên nhân chính là do tình hình thời tiết diễn biến tương đối phức tạp, mùa mưa kéo dài, thời tiết lạnh vào cuối năm đã ảnh hưởng đến trồng trọt và chăn nuôi. Giá cá tra giống và thức ăn tăng cao nhưng giá đầu ra lại rớt xuống thấp đã đẩy người nuôi cá vào tình thế vô cùng khó khăn, nhiều hộ phải cầm cự cho cá ăn trong thời gian dài với số cá đã quá lứa thu hoạch vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Bên cạnh đó, tình hình xuất khẩu thủy sản liên tục căng thẳng vì các vụ kiện bán phá giá các DN xuất khẩu Việt Nam ở nước ngoài cũng ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ cá thành phẩm của các hộ nuôi, làm cho rất nhiều hộ phải treo ao trong thời gian dài nên ảnh hưởng nhiều đến việc trả nợ cho NH.

  • Công nghiệp chế biến

Hệ số thu nợ của ngành này liên tục tăng, năm 2024 tăng 20,43% so với năm 2023 và tăng tiếp 26,79% vào năm 2025. Hiện nay, các mặt hàng lúa gạo, thủy hải, sản luôn có thế mạnh về nguồn cung cấp dồi dào phân bổ khắp vùng nên đây là điều kiện cần để các DN chế biến lương thực – thực phẩm hoạt động tương đối có hiệu quả. Cùng với đó thì Nhà nước cũng có những chính sách thiết thực để hỗ trợ, thúc đẩy ngành này tăng trưởng và phát triển, vì nước ta là cường quốc xuất khẩu gạo đứng nhất nhì trên thế giới. Đây vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức cho mỗi DN hoạt động trong lĩnh vực này.

  • Thương mại – Dịch vụ

Dựa vào bảng số liệu về tình hình thu nợ, có thể thấy rằng ngành thương mại – dịch vụ liên tục giảm qua 3 năm. Năm 2024, doanh số thu nợ đạt 27.050 triệu đồng, giảm 21.860 triệu đồng (tương đương 44,69%) so với năm 2023, năm 2025 chỉ giảm nhẹ 0,78%. Như đã phân tích, hoạt động thương mại – dịch vụ trên địa bàn diễn ra chủ yếu với loại hình DN thương mại, hộ kinh doanh, tuy có phát triển trong thời gian gần đây, nhưng dễ bị tổn thương do bất ổn kinh tế vĩ mô, nhất là trong năm 2024 do lạm phát cao và liên tục, chi phí đầu vào tăng mạnh và điều đó cũng làm cho sức mua của người dân bị giảm xuống do thu nhập thực tế sa sút mạnh, từ đó tình trạng hàng tồn kho luôn gây khó cho các hộ kinh doanh ngành này. Và vì thế khả năng trả nợ NH ít nhiều cũng bị ảnh hưởng. Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Tóm lại, doanh số thu nợ ngắn hạn theo ngành kinh tế tại MHB Ô Môn có giảm rồi lại tăng. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng liên tục qua 3 năm, cho thấy công tác thẩm định và thu nợ của NH trong ngành này là rất tốt. Bên cạnh những khoản cấp tín dụng có hiệu quả, đảm bảo thu hồi vốn kịp thời, NH cần quan tâm, kiểm soát chặt chẽ hơn đối với các khoản tín dụng thuộc các ngành nghề dễ chịu sự tác động mạnh mẽ của thị trường và các ngành nghề có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của NH, để hiệu quả trong công tác cho vay càng được khẳng định.

  • Phân tích tình hình dư nợ ngắn hạn theo ngành kinh tế

Trước sự biến động của nền kinh tế hiện nay, nguồn vốn là yếu tố nhạy cảm nhất quyết định đến thành công hay thất bại đối với bất kỳ một chủ thể kinh doanh nào. Và đối với mỗi ngành nghề kinh doanh luôn tồn tại những khó khăn nhất định. Vì vậy khi vay vốn NH, bao giờ khách hàng cũng mong muốn tạo ra lợi nhuận nhiều hơn chi phí đã trả cho NH. Duy trì số dư nợ đối với khoản đã vay NH có ý nghĩa rất lớn đến hoạt động của mọi ngành nghề kinh doanh. Trong thời gian qua, MHB Ô Môn đã tạo điều kiện cho khách hàng duy trì nguồn vốn và tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhìn chung dư nợ ngắn hạn của NH biến động không ổn định trong thời gian qua. Dư nợ ngắn hạn của tất cả các đối tượng đều giảm xuống vào năm 2024 và tăng lên vào năm 2025. Bên cạnh đó, dư nợ ngắn hạn thay đổi còn bị ảnh hưởng bởi doanh số thu nợ và đối với mỗi ngành nghề được thể ở bảng sau:

Bảng 3.6. DƯ NỢ NGẮN HẠN THEO NGÀNH KINH TẾ TẠI MHB Ô MÔN 2023 – 2025

  • Nông nghiệp

Đối với nông nghiệp, khi mà tất cả mọi hoạt động sản xuất đều tùy thuộc vào mùa vụ và điều kiên tự nhiên, thì đa số các hộ nông dân trên địa bàn canh tác nông nghiệp theo hướng: trồng lúa 3 vụ, mỗi vụ kéo dài khoảng 3 tháng; chăn nuôi với hình thức chủ yếu là nuôi heo, gia cầm mỗi đợt cũng mất gần 5 tháng; nuôi cá tra cũng mất ít nhất 8 tháng. Do đó, nguồn thu nhập của nông dân cũng tùy thuộc chủ yếu vào mùa vụ và ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến dư nợ tại NH. Trong giai đoạn này, do NH tập trung thu nợ và hạn chế cho vay nên dư nợ ngắn hạn ngành nông nghiệp qua 3 năm có chiều hướng giảm, tương ứng từ 2023 – 2025 lần lượt là 20.150 triệu đồng, 14.000 triệu đồng và 8.600 triệu đồng. Thực tế, trong lĩnh vực tam nông thì NH Agribank luôn nhận được sự hỗ trợ từ các chính sách của Nhà nước với nhiệm vụ hàng đầu là phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn nên đây là NHTM chuyên biệt giữ vai trò chủ đạo đặc biệt chuyên đầu tư trong các lĩnh vực này. Vì vậy đa phần các hộ nông dân trên địa bàn có dư nợ lớn tại đây. Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

  • Công nghiệp chế biến

Dư nợ của ngành này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ ngắn hạn và tăng qua các năm. Số liệu trong bảng 3.6 cho thấy năm 2023 dư nợ của ngành công nghiệp chế biến là 39.000 triệu đồng, năm 2024 là 45.000 triệu đồng, tăng 15,38%. Và dư nợ của ngành này tiếp tục tăng trong năm 2025 và đạt mức 55.000 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 22,22%. Nguyên nhân là do cùng với xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, nền kinh tế của cả nước cũng dần chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp, nên được sự quan tâm đầu tư nhiều. Đặc biệt, nước ta rất coi trọng việc xuất khẩu gạo và thủy sản vì đây là nguồn đóng góp GDP rất quan trọng cho nền kinh tế. Sản lượng gạo xuất khẩu nước ta có thời điểm vươn lên vị trí số 1 thế giới với sản lượng quớc đạt 7,7 triệu tấn trong năm 2025. Hàng năm, sản xuất lúa gạo đóng góp khoảng từ 12% đến 13% GDP và xuất khẩu gạo là mặt hàng trong nhóm 10 ngành hàng xuất khẩu chính của Việt Nam. Hoạt động xuất khẩu gạo đã đem về cho đất nước hàng năm một nguồn ngoại tệ khoảng từ 700 triệu đến 900 triệu USD, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân, góp phần nâng cao đời sống của người nông dân và thúc đẩy các ngành công nghiệp dịch vụ phát triển. Với những đóng góp nhất định như trên, ngành sản xuất và công nghiệp chế biến lúa gạo đã thực sự giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Vì thế, hoạt động của ngành này tăng dần qua các năm từ doanh số cho vay, thu nợ cho đến dư nợ của ngành cũng tăng đáng kể. Điều này thể hiện chính sách tín dụng của NH đối với ngành này là đi theo đúng định hướng, chủ trương của Nhà nước.

  • Thương mại – Dịch vụ

Năm 2024, dư nợ ngắn hạn của ngành thương mại – dịch vụ lại giảm ở nhóm ngành này, khoảng 20,41% so với năm 2023 và giảm 8,28% vào năm 2025. Do thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 11 để kiềm chế lạm phát vào năm 2024, hạn chế cho vay đối các lĩnh vực phi sản xuất, nên doanh số cho vay ngắn hạn ngành này giảm nhiều hơn doanh số thu nợ ngắn hạn, từ đó làm cho dư nợ ngắn hạn cũng giảm xuống theo. Như vậy, trong thời gian qua, NHNN đã thực hiện nhiều chính sách thắt chặt tiền tệ và hạn chế cung tiền qua thị trường mở, động thái này cho thấy NHNN muốn dùng công cụ hành chính để hạn chế tăng trưởng tín dụng, nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Một phần nữa là do công tác thu nợ của NH ở ngành này rất tốt nên dư nợ ngắn hạn ở mỗi kỳ đều không tăng.

Tóm lại, tình hình dư nợ ngắn hạn theo ngành kinh tế của MHB Ô Môn trong mấy năm qua đều có biến động. Từ đó, NH cần phải chú trọng vào những đối tượng khách hàng chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ, những khách hàng có uy tín để đầu tư một cách hợp lý, sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả đồng thời khai thác thêm đầu tư vào các ngành kinh tế khác, kịp thời nắm bắt thời cơ nhất là tình hình kinh tế xã hội của địa phương, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn cũng như mở rộng quy mô hoạt động cho NH. Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

  • Phân tích tình hình nợ xấu ngắn hạn theo ngành kinh tế

Qua các năm cho thấy doanh số thu nợ của mỗi ngành kinh tế đều có cải thiện và có thể thấy khách hàng có thiện chí trả nợ vay NH. Tuy nhiên do đặc điểm sản xuất của mỗi ngành khác nhau nên còn tồn tại những khó khăn nhất định. Đối với cho vay nông nghiệp thì phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, các ngành khác lại dễ bị ảnh hưởng bởi thị trường. Vì thế nếu thiệt hại xảy ra làm ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu của khách hàng, trong khi họ không có những nghề phụ trợ để tạo nguồn thu khác trả nợ vay NH. Do đó, nợ xấu xảy ra là điều tất yếu, mà nợ xấu càng cao thì đó chính là biểu hiện của rủi ro tín dụng – rủi ro quan trọng nhất đối với bất kỳ một NH nào. Tình hình nợ xấu ngắn hạn theo ngành kinh tế được biểu hiện ở bảng số liệu:

  • Bảng 3.7. TÌNH HÌNH NỢ XẤU NGẮN HẠN THEO NGÀNH KINH TẾ TẠI MHB Ô MÔN 2023 – 2025

Số liệu ở bảng 3.7 nợ xấu ngắn hạn của NH là 2.450 triệu đồng trong năm 2023. Năm 2024, con số này giảm xuống còn 2.350 triệu đồng tương đương giảm 4,08% so với năm 2023. Sang năm 2025 thì nợ xấu của NH tăng lên 5,19% so với năm 2024. Một trong những nguyên nhân làm phát sinh nợ xấu là do ảnh hưởng của nền kinh tế, lạm phát tăng cao trở lại. Điều này làm cho thu nhập của một số người dân không đủ chi tiêu nên khả năng trả nợ cho NH gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, giá cả biến động liên tục làm cho hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh, các DN cũng gặp nhiều hạn chế. Tuy nhiên, nhờ cán bộ của NH thận trọng trong công tác thẩm định, thường xuyên xuống địa bàn để điều tra hoạt động của khách hàng, vì vậy, đã giúp cho nợ xấu ngắn hạn của NH được kiểm soát ở mức an toàn, tạo tiền đề vững chắc trong việc quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng của NH. Nhưng không nên vì thế mà NH có thái độ chủ quan, mà phải tích cực quan tâm đến các khoản cho vay ngắn hạn của mình để hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất có thể.

  • Nông nghiệp

Mặc dù chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong tổng dư nợ ngắn hạn, nhưng nợ xấu trong nông nghiệp vẫn có ảnh hưởng đến hoạt động NH. Vì thế chỉ tiêu này luôn được NH quan tâm và giám sát một cách chặt chẽ. Năm 2024, nợ xấu ngắn hạn trong nông nghiệp giảm 37,29% so với năm 2023 và giảm tiếp 10,81% vào năm 2025. Đây là giai đoạn NH áp dụng chính sách hạn chế tín dụng với những ngành kinh tế chứa đựng nhiều rủi ro, cho vay có chắt lọc và đẩy mạnh thu nợ một cách triệt để. Do đó, hiệu quả sản xuất được cải thiện phần nào, góp phần tăng năng suất, tăng doanh thu và có nguồn trả nợ đúng hạn cho NH, từ đó nợ xấu ngắn hạn có phần thuyên giảm. Nợ xấu ngắn hạn theo ngành kinh tế tại MHB Ô Môn có chuyển biến tích cực sau giai đoạn khó khăn là tín hiệu đáng mừng cho tất cả cán bộ, công nhân viên của NH, qua đó cũng cho thấy công tác thẩm định và thu nợ của NH là rất tốt.

  • Công nghiệp chế biến Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Nợ xấu ngành công nghiệp chế biến cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nợ xấu ngắn hạn (trên 50%) và tăng nhẹ qua các năm. Năm 2024 nợ xấu tăng 47 triệu đồng (chiếm 2,5%) so với năm 2023, năm 2025 tăng 63 triệu đồng (chiếm 3,27%). Qua đó cho thấy ngành công nghiệp chế biến mặc dù có doanh số thu nợ chuyển biến theo hướng tích cực nhưng vẫn tồn tại những khó khăn đối với các cá nhân, DN trên địa bàn. Nợ xấu của đối tượng này tồn tại chủ yếu do sự hoạt động không có hiệu quả từ một số DN chế biến lương thực, kinh doanh lúa, gạo. Do trong thời gian qua thị trường lúa, gạo biến động cùng với chi phí sản xuất gia tăng thì các DN kinh doanh đạt lợi nhuận không cao và chỉ bù đắp đủ chi phí nên đối với việc trả nợ vẫn còn trì trệ, càng khó khăn hơn do lượng hàng tồn kho lớn mà đầu ra bị hạn chế do thị trường tiêu thụ và giá cả bấp bênh nên DN chưa thể tạo ra nguồn thu cho việc trả nợ NH. Qua đó mới thấy được bức tranh toàn cảnh về sự khó khăn trong thời buổi kinh doanh hiện nay.

  • Thương mại – Dịch vụ

Nợ xấu ngắn hạn ngành thương mại – dịch vụ cũng có tăng giảm tương ứng với tổng nợ xấu. Năm 2024, nợ xấu ngắn hạn ngành này giảm 37 triệu (tỷ lệ 13,45%) so với năm 2023. Công tác thu hồi nợ được quan tâm đúng mức, các cán bộ kinh doanh thường xuyên xuống cơ sở để nhắc nhỡ, đôn đốc khách hàng trả nợ và ý thức trả nợ đúng hạn để duy trì mối quan hệ tín dụng tốt với NH cho những lần vay sau nên từ đó nợ xấu ngắn hạn giảm. Đến năm 2025, nợ xấu ngắn hạn ngành thương mại – dịch vụ tăng 79 triệu (tương ứng 33,19%). Vì đặc điểm của tín dụng thương mại – dịch vụ nhạy cảm so với diễn biến của thị trường. Một khi lạm phát tăng cao giống như trong giai đoạn này, thì nguồn thu nhập của khách hàng sẽ không đủ trang trải tất cả các chi phí, nên ảnh hưởng việc trả nợ cho NH, đó là nguyên nhân làm nợ xấu tăng.

Tóm lại, nợ xấu ngắn hạn theo ngành kinh tế của MHB Ô Môn vẫn dao động ở mức an toàn, vẫn đảm bảo đa số là những khoản nợ có mức độ rủi ro thấp, phần lớn là do chậm trễ trong việc đồng vốn xoay vòng. Muốn giảm thiểu nợ xấu ngắn hạn thì NH cần giám sát chặt chẽ các món vay và xử lý kịp thời nhằm hạn chế tối đa khả năng thất thu của NH. Đặc biệt, NH cần chú trọng theo dõi các khoản nợ thuộc thành phần kinh tế cá nhân, hộ gia đình dựa theo đặc trưng của từng ngành nhằm có những biện pháp giảm nợ xấu cũng như hạn chế rủi ro tín dụng đối với các đối tượng này.

3.4.3.2 Phân tích tình hình tín dụng ngắn hạn theo thành phần kinh tế

  • Phân tích doanh số cho vay ngắn hạn theo thành phần kinh tế

Trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của NH theo thành phần kinh tế, NH chủ yếu cho vay đối với cá thể, DNTN và công ty TNHH. Trong đó, loại hình cho vay đối với cá thể và DNTN luôn chiếm tỷ trọng cao nhất. Vì đây là những đối tượng có nhu cầu lớn nhất trên địa bàn. Do đó NH rất chú trọng mở rộng doanh số cho vay đối với 2 đối tượng này, doanh số cho vay cụ thể được trình bày qua bảng số liệu: Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Bảng 3.8. DOANH SỐ CHO VAY NGẮN HẠN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ TẠI MHB Ô MÔN 2023 – 2025

  • Cá thể

Đối với NH, khi cấp tín dụng cho đối tượng khách hàng là cá nhân, NH có nhiều cơ hội để mở rộng các mối quan hệ với khách hàng, có thể đa dạng hóa sản phẩm, tạo điều kiện phát triển dịch vụ NH bán lẻ và nhất là phân tán rủi ro vì không tập trung đầu tư quá nhiều vào một số đối tượng nhất định. Chính vì những lợi ích đó mà ngày nay, càng có nhiều NH chú trọng đưa ra nhiều sản phẩm đa dạng hơn, tiện lợi hơn cho đối tượng này. Trong cơ cấu cho vay ngắn hạn theo thành phần kinh tế của NH, thì doanh số cho vay cá thể chiếm tỷ trọng lớn nhất (tương đương 50%). Nhìn chung, doanh số cho vay ngắn hạn đối với cá thể có sự biến động qua các năm. Năm 2023, doanh số cho vay cá thể là 67.800 triệu đồng, năm 2024 giảm xuống còn 49.000 triệu đồng, giảm 18.800 triệu (tương ứng 27,73%). Trong giai đoạn này, để tập trung kiềm chế lạm phát theo tinh thần Nghị quyết 11 của Chính phủ, NH xiết chặt cho vay đối với các cá nhân có mục đích sử dụng vốn phi sản xuất nên từ đó doanh số cho vay đối với cá thể có phần sụt giảm so với các giai đoạn trước đó. Bước sang năm 2025, doanh số cho vay ngắn hạn với cá thể đã tăng 11.000 triệu đồng (tương đương 22,45%) so với năm 2024. Điều này cho thấy giá cả chung của các loại hàng hóa đều tăng lên không chỉ riêng là giá cả của vật tư nông nghiệp. Mặt khác, các hộ nông dân có nhu cầu vay vốn tăng lên để mở rộng diện tích canh tác và để tạo ra vốn phục vụ cho sản xuất mùa vụ kế tiếp. Cũng trong năm này, nước ta đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát về mức một con số (tỷ lệ lạm phát 6,81%), kinh tế vĩ mô cũng dần ổn định theo tinh thần Nghị quyết 13/NQ-CP của Chính phủ. Từ đó, các cá thể đã dần khôi phục sản xuất, kinh doanh. Do đặc điểm kinh doanh nhỏ lẻ, tự phát nên các cá thể này ít chịu sự tác động từ bên ngoài khi khủng hoảng kinh tế thế giới và hồi phục nhanh hơn các chủ thể kinh tế lớn. Cho nên, ngay khi có cơ hội là họ lại nắm bắt để phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho nhu cầu vay vốn NH tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó, các cán bộ kinh doanh của NH cũng không ngừng tìm kiếm, phát hiện những khách hàng tốt tiềm năng, thuyết phục họ sử dụng các sản phẩm tín dụng của MHB Ô Môn.

  • DNTN Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Khu vực DNTN là khu vực kinh tế năng động nhất, thường thì ý tưởng kinh doanh của họ rất tốt, am hiểu tâm lý khách hàng và luôn đón đầu những nhu cầu bình thường, ít người nghĩ tới nhưng thực tiễn. Và đây cũng là loại hình DN có số lượng đông đảo nhất tại ĐBSCL. Tuy nhiên, họ lại có hạn chế là tiềm lực tài chính yếu nên phải nhờ sự hỗ trợ từ bên ngoài. Và đó cũng là cơ hội tốt cho các NH tài trợ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính thông qua các kênh bán chéo sản phẩm.

Năm 2023, doanh số cho vay ngắn hạn với các DNTN đạt 39.700 triệu (chiếm 30% trong cơ cấu cho vay ngắn hạn theo thành phần kinh tế). Đến năm 2024, chỉ tiêu này giảm 25% so với năm 2023. Do đây là năm khó khăn nhất nên một số DN đã thu hẹp sản xuất, giảm lượng kinh doanh và hạn chế doanh số vay vốn tại NH. Nhưng sang năm 2025 thì chỉ tiêu này tăng lên 14,48% so với năm 2024. Nguyên nhân là các DNTN nhận được nhiều sự hỗ trợ từ các chính sách nhà nước như Chỉ thị số 06/CT-NHNN về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất – kinh doanh, hỗ trợ thị trường bên cạnh đó NH cũng có chính sách hỗ trợ lãi suất cho các DN thuộc dạng này.

  • Cty TNHH

Doanh số cho vay ngắn hạn đối với các Cty TNHH chiếm tỷ lệ khiêm tốn hơn trong cơ cấu cho vay ngắn hạn (khoảng 20%). Nhìn chung, doanh số cho vay ngắn hạn này cũng có sự thay đổi qua từng năm. Cụ thể, năm 2024 chỉ tiêu này giảm 31,70% so với năm 2023, đến năm 2025 tăng 38,12% so với năm 2024. Do trên địa bàn số lượng DN đa phần kinh doanh với quy mô nhỏ và vừa, nhu cầu vay vốn NH chưa được quan tâm nhiều, một số lại vay vốn từ các TCTD khác. Với mục đích chủ yếu của các công ty TNHH khi vay vốn ngắn hạn từ NH là nhằm để bổ sung vốn lưu động. Thực tế trên địa bàn Quận Ô Môn hiện nay, các cty TNHH hoạt động với các hình thức là công ty chế biến lương thực, kinh doanh vật tư nông nghiệp và kinh doanh các sản phẩm xăng, dầu. Ngày nay, số lượng các cty TNHH ngày càng tăng do giao thông đường thủy và đường bộ khá thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa đến nơi tiêu thụ mà sản phẩm chủ yếu là lúa và gạo. Bên cạnh đó, nông dân trong vùng tập trung trồng lúa với diện tích lớn và đó chính là nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các công ty chế biến lương thực. Đối với xăng, dầu được xem là mặt hàng thiết yếu nên số lượng công ty kinh doanh xăng, dầu tăng lên nhằm đáp ứng nguồn nhiên liệu cho quá trình sản xuất kinh doanh. Tất cả các công ty trên phát triển nên kéo theo nhu cầu vay vốn từ NH cũng tăng lên.

  • Phân tích doanh số thu nợ ngắn hạn theo thành phần kinh tế

Thời gian qua, các cá thể và doanh nghiệp trên địa bàn đã không ngừng tăng gia sản xuất và đạt được kết quả khả quan hơn. Mặc dù hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn nhưng các cá thể và DN rất có gắng trong việc trả nợ NH. Điều đó được thể hiện qua sự giảm đi vào năm 2024, rồi lại tăng lên của doanh số thu nợ ngắn hạn vào năm 2025. Để tìm hiểu rõ hơn về tình hình thu nợ của NH trong thời gian qua, ta sẽ tìm hiểu bảng 3.9:

Bảng 3.9. DOANH SỐ THU NỢ NGẮN HẠN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ TẠI MHB Ô MÔN 2023 – 2025

  • Cá thể Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Doanh số thu nợ ngắn hạn đối với thành phần này luôn chiếm trên 50% tổng doanh số thu nợ ngắn hạn, năm 2024 doanh số thu nợ ngắn hạn đạt 48.500 triệu đồng, tương ứng giảm 26,79% so với năm 2023. Lý do là trong năm 2024 thành phần kinh tế này kinh doanh chưa thực sự hiệu quả trước ảnh hưởng của môi trường kinh doanh không thuận lợi, giá cả hầu hết các mặt hàng đều tăng nên các hộ sản xuất phải đảm bảo bù đắp đủ chi phí sản xuất, nhưng đầu ra lại không ổn định, giá cả bấp bênh, nên một số cá thể không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận rất thấp dẫn đến khó thực hiện tốt việc trả nợ vay NH. Từ đó, doanh số thu nợ bị sụt giảm. Bên cạnh đó, do điều kiện khách quan, doanh số cho vay ngắn hạn giảm trong năm 2024, nên doanh số thu nợ ngắn hạn cũng giảm.

Đến năm 2025, doanh số thu nợ ngắn hạn thành phần này đã tăng lên 65,98% so với năm 2024. Thời kỳ này, NH chủ yếu cho vay đối với hộ sản xuất, cá nhân là hộ nông dân canh tác nông nghiệp, thương lái mua lúa và một số cá nhân cho mục đích vay phát triển kinh tế hộ. Trong thời gian qua sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả với sản lượng thu hoạch cao và đầu ra của nông sản khá tốt nên các hộ nông dân có điều kiện trả nợ vay NH. Bên cạnh đó với sức hút của gạo xuất khẩu đã thúc đẩy các DN kinh doanh lương thực trên địa bàn hoạt động mạnh hơn kéo theo đó là sự phát triển của thương lái – hộ sản xuất cá nhân. Với sự thuận lợi từ sông ngòi, kênh rạch và nhận biết được tiềm năng về sản xuất lúa của vùng nên các hộ sản xuất chuyển sang làm trung gian mua bán lúa – gạo với hoạt động chính là mua lúa tại đồng từ các hộ trồng lúa, qua quá trình xay, sấy để bán gạo thành phẩm cho các DN chế biến lương thực. Lợi nhuận mà các thương lái thu được là chênh lệch giữa giá mua lúa và giá bán gạo sau khi trừ đi các chi phí, lợi nhuận thu về cũng tăng cao đáng kể. Cùng thời điểm năm 2025, giá gạo có chiều hướng tăng nên hoạt động mua bán lúa – gạo diễn ra cũng khá thuận lợi.

  • DNTN

Năm 2024, doanh số thu nợ ngắn hạn đối với DNTN giảm 12,70% so với năm 2023 và lại giảm 40,92% vào năm 2025. Trong bối cảnh ảm đạm của nền kinh tế khi mà các DN đang phải mò mẫm tìm đường cứu mình thoát khỏi nguy cơ phải tạm dừng hoạt động, thậm chí là phá sản, thời điểm phục hồi kinh tế vẫn còn rất mơ hồ, không thể dự báo trước bởi các yếu tố tiêu cực từ suy yếu của hệ thống tài chính toàn cầu cùng những bất ổn vĩ mô trong nước vẫn đang tiếp tục gia tăng ảnh hưởng, thì sự giảm sút doanh số thu nợ đối với khu vực này là điều dễ hiểu.

  • Cty TNHH Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Qua 3 năm, doanh số thu nợ ngắn hạn đối với các cty TNHH có xu hướng giảm. Cụ thể, năm 2024 doanh số thu nợ ngắn hạn là 21.800, giảm 17,74% so với năm 2023 và lại tiếp tục giảm 26,61% năm 2025. Theo các chuyên gia kinh tế, giai đoạn này là một khoảng thời gian cực kỳ sóng gió với DN Việt Nam. Năng lực sản xuất kinh doanh của hàng loạt DN bị suy yếu nghiêm trọng, khả năng tiêu thụ hàng hóa trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Ước tính, trên cả nước có trên khoảng trên dưới 50.000 DN đã lâm vào cảnh phá sản. Chính vì vậy, mà các cty TNHH trên địa bàn Quận Ô Môn cũng không nằm ngoài xu thế khó khăn đó, hệ quả là doanh số thu nợ ngắn hạn của NH bị sụt giảm.

  • Phân tích tình hình dư nợ ngắn hạn theo thành phần kinh tế

Trong thời gian hoạt động vừa qua, MHB Ô Môn luôn chiếm được thị phần ổn định trên địa bàn. Ngoài hoạt động cho vay, NH luôn phấn đấu phát triển và cung cấp nhiều sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu khách hàng. NH đã tạo được niềm tin của khách hàng, từ đó khách hàng luôn tin dùng các sản phẩm của NH, tuy dư nợ ngắn hạn có giảm năm 2024 nhưng sang năm 2025 đã tăng trở lại. Điều đó rất có ý nghĩa đối với NH và cả khách hàng, giữa một bên có khả năng cung cấp vốn và một bên cần vốn. Tình hình dư nợ được thể hiện theo thành phần kinh tế qua bảng 3.10:

Bảng 3.10. DƯ NỢ NGẮN HẠN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ TẠI MHB Ô MÔN 2023 – 2025

  • Cá thể

Đây vẫn là thành phần kinh tế chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ ngắn hạn tại NH. Giai đoạn 2023 – 2024, dư nợ ngắn hạn đối với cá thể biến động không đáng kể (chỉ tăng 1% vào năm 2024). Đến năm 2025, dư nợ ngắn hạn cá thể giảm 40,59% so với năm 2024. Trong thời gian này, doanh số cho vay ngắn hạn tăng ít hơn doanh số thu nợ ngắn hạn nên dư nợ có phần giảm nhẹ. Tuy nhiên, không nên vì thế mà bi quan với tình hình hoạt động của PGD trong thời gian tới. Bởi vì tuy dư nợ giảm nhưng doanh số cho vay và thu nợ ngày càng tăng nên vẫn đảm bảo chất lượng hoạt động. Bên cạnh đó, NH cũng không ngừng mở rộng quan hệ tín dụng với các cá nhân là những người có thu nhập ổn định, các hộ gia đình sản xuất các ngành nghề truyền thống ở địa phương, với mục tiêu duy trì mức dư nợ hợp lý và thu được lợi nhuận cao nhất.

  • DNTN Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Dư nợ ngắn hạn với các DNTN năm 2024 là 24.000 triệu đồng, giảm 5.000 triệu (tương đương 17,24%) so với năm 2023. Nguyên nhân dư nợ giảm là do Nghị quyết 11 đã được thể hiện xuyên suốt trong điều hành vĩ mô của Chính phủ năm 2024 trong bối cảnh lạm phát tăng vọt, đầu tư tràn lan kém hiệu quả, Nghị quyết 11 (ngày 24/2/2024) của Chính phủ được coi như một phát súng lệnh để tổng rà soát và tái cơ cấu lại hoạt động của nền kinh tế, ổn định vĩ mô. Trong đó có quy định kéo tăng trưởng tín dụng phi sản xuất (chẳng hạn như xây cất, tiêu dùng…) từ 22% xuống còn 16% đến cuối năm. Do vậy các NH đã ráo riết giảm doanh số cho vay, thậm chí hạn chế cho vay và tập trung thu nợ trong lĩnh vực này. Từ đó góp phần giảm dư nợ ngắn hạn theo chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng.

Qua năm 2025, dư nợ ngắn hạn đối với các DNTN đã tăng trở lại 56,25% so với năm 2024. Dư nợ ngắn hạn đối với các DNTN tăng lên mặc dù doanh số thu nợ cũng tăng đáng kể. Sự tăng lên là điều tất yếu bởi vì nhu cầu vay vốn của DN ngày càng tăng nhằm đáp ứng cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục. Thực tế cho thấy, với hiện trạng nền kinh tế còn nhiều khó khăn hiện nay, để thích ứng với sự biến động ấy đòi hỏi DN phải chủ động được nguồn vốn nhằm mở rộng quy mô, cải tiến kỹ thuật sản xuất và tối đá hóa lợi nhuận. Do đó, dư nợ ngắn hạn tăng lên là điều kiện để các DN phát triển ổn định và mang lại lợi ích cho toàn xã hội.

  • Cty TNHH

Đây là thành phần kinh tế có vai trò quan trọng đối với NH, mang lại nguồn thu đáng kể cho NH. Cũng giống như tình hình chung của tổng dư nợ ngắn hạn, dư nợ ngắn hạn của các cty TNHH giảm xuống vào năm 2024 (giảm 18,18%) so với năm 2023. NH áp dụng chính sách tín dụng chặt chẽ theo chỉ đạo điều hành của cấp trên nên dư nợ ngắn hạn nhìn chung đều giảm vào năm 2024 với các khu vực nói chung và cty TNHH nói riêng. Đến năm 2025, dư nợ ngắn hạn của các cty TNHH đã tăng 56,60% so với năm 2024. Diễn biến thị trường đã có tín hiệu tốt hơn, tỷ lệ lạm phát được kiềm chế ở mức một con số, vì vậy mà tín dụng đã phần nào được thông thoáng hơn. Hơn nữa, nhiều khách hàng truyền thống uy tín có quan hệ tốt nên PGD tiếp tục duy trì cấp tín dụng bổ sung thiếu hụt tạm thời và không quên tìm kiếm, mở rộng quan hệ với các công ty khác trên địa bàn. Điển hình nhất là sự hiệu quả trong hoạt động kinh doanh chế biến lương thực và kinh doanh lúa, gạo, cũng đã phát triển không ngừng nhờ vào đặc trưng của vùng là chuyên canh trồng lúa nước. Với hệ thống sông ngòi phát triển khá thuận lợi tạo điều kiện cho sự vận chuyển hàng hóa đặc biệt là mặt hàng lúa gạo, cùng với sự phát triển của hệ thống các thương lái nên việc thu mua gạo của các công ty chế biến lương thực diễn ra nhanh chóng, thuận lợi. Nhận thấy được tiềm năng phát triển của vùng, các DN trên địa bàn đã hình thành từ rất sớm với hoạt động chủ yếu là mua gạo dự trữ, lau bóng và xuất khẩu. Vì thế các DN này kinh doanh ngày càng có hiệu quả, và nhu cầu vay vốn tăng để mở rộng sản xuất kinh doanh là điều đương nhiên. Ngoài ra, các cty TNHH kinh doanh xăng, dầu trên địa bàn hoạt động ngày càng có hiệu quả. Do trên địa bàn, các công ty kinh doanh xăng dầu phân bố với khoảng cách xa nên giảm bớt được sự cạnh tranh. Từ sau khi có quyết định cho phép mở rộng cho vay đối với các công ty kinh doanh xăng dầu thuộc DN ngoài Nhà nước, thì nhu cầu vay vốn tại NH cũng gia tăng theo. Dựa trên cơ sở đó, các công ty kinh doanh xăng dầu trên địa bàn đã có nhiều nỗ lực để tìm kiếm lợi nhuận. Do đặc thù của sản phẩm kinh doanh, được xem là mặt hàng thiết yếu đối với hoạt động sản xuất trên địa bàn cũng như trong sinh hoạt hằng ngày, do vậy với số lượng cung ứng ngày càng tăng nên các công ty này ngày càng kinh doanh càng phát triển hơn. Vì vậy dư nợ ngắn hạn với thành phần này đang có dấu hiệu tăng. Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

  • Phân tích tình hình nợ xấu ngắn hạn theo thành phần kinh tế

Tất cả các NH trong quá trình hoạt động thì luôn luôn phải đối mặt với vấn đề nợ quá hạn, nợ xấu, còn ít hay nhiều là tùy thuộc vào nhiều yếu tố: Chính sách khách hàng, chính sách tín dụng, kỳ hạn cho vay, chính sách thu nợ… và hơn hết, là sự ảnh hưởng bất lợi của tình hình kinh tế chung. Do đó vấn đề nợ quá hạn là dấu hiệu cảnh báo cho biết các khách hàng, DN đang gặp khó khăn về tài chính, nên khó có khả năng thanh toán nợ cho NH, nợ xấu càng lớn thì rủi ro tín dụng càng lớn, và tất nhiên là hoạt động kinh doanh không hiệu quả, nên trong quá trình hoạt động kinh doanh thì tất cả các NH đều cố gắng kiểm soát nợ xấu một cách chặt chẽ nhất. Nợ xấu đối với thành phần cá thể, DNTN và cty TNHH vay vốn tại NH biến động là do hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của khách hàng. Mặc dù doanh số thu nợ tăng trưởng theo hướng tích cực nhưng với sự gia tăng của chi phí sản xuất cũng như khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm đã làm cho nợ xấu đối với các thành phần này gia tăng qua các năm, được thể hiện qua bảng 3.11:

Bảng 3.11. TÌNH HÌNH NỢ XẤU NGẮN HẠN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ TẠI MHB Ô MÔN 2023 – 2025

  • Cá thể

Nợ xấu ngắn hạn đối với cá thể chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nợ xấu ngắn hạn của NH (luôn trên 50%). Qua 3 năm nợ xấu ngắn hạn với các cá thể cũng có sự biến động nhẹ, năm 2024 là 1.310 triệu đồng, tăng 4,8% so với năm 2023. Do phần lớn hộ sản xuất, cá nhân có nguồn thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, kinh doanh nhỏ lẻ và thương mại, dịch vụ tự phát nên việc trả nợ vay NH phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên và biến động của giá cả thị trường. Thực tế trong giai đoạn này, thiên tai, dịch bệnh làm ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch lúa của một số hộ nông dân nên nguồn thu không đủ để trả nợ NH dẫn đến nợ xấu tăng lên. Bên cạnh đó một số ngành nghề khác cũng bị thiệt hại do hoạt động sản xuất bị ảnh hưởng đầu ra bởi giảm sản lượng tiêu thụ mặt hàng thủy sản, gạo ở thị trường nước ngoài bị giảm sút. Do vậy nợ xấu là điều không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên, đến năm 2025, nợ xấu ngắn hạn cá thể đã giảm 3,05% so với năm 2024. Đạt được thành quả ấy là nhờ sự nỗ lực vô cùng lớn của tất cả nhân viên của MHB Ô Môn trong việc thu hồi nợ xấu, nợ quá hạn và nợ gia hạn, đồng thời hạn chế cho vay ra với những lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro, những khách hàng làm ăn kém hiệu quả. Song song đó, NH cũng tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn sau khi cho vay nhằm có biện pháp tư vấn, hỗ trợ khi khách hàng gặp khó khăn và có biện pháp xử lý kịp thời nếu phát hiện khách hàng vi phạm nguyên tắc sử dụng tiền vay, từ đó giúp giảm thiểu nợ xấu cho NH.

  • DNTN Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Nợ xấu ngắn hạn của DNTN cũng có diễn biến qua các năm. Cụ thể, năm 2024 nợ xấu ngắn hạn giảm 15,28% so với năm 2023. Bên cạnh quyết tâm thu hồi nợ xấu không cần phải bàn cãi của các cán bộ kinh doanh thì sự sụt giảm này chứng tỏ thiện chí trả nợ của các DNTN cho NH vẫn rất tốt. Mặc dù các DN phải đối mặt với nhiều khó khăn, tuy nhiên họ đã nỗ lực cố gắng để có thể trả nợ góp phần làm giảm nợ xấu cho NH, tạo uy tín để duy trì mối quan hệ tín dụng tốt, để việc tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn trong những lần sau khi có nhu cầu. Đến năm 2025, nợ xấu của thành phần này lại tăng 20,49% so với năm 2024. Nợ xấu tăng như vậy là do chi phí đầu vào sản xuất (nguyên, nhiên, vật liệu, giá nhân công, giá điện…) đều tăng đã tác động nhất định đến giá thành sản phẩm, nhưng vì chiến lược cạnh tranh gay gắt trong thời buổi khó khăn nên các DN không dễ gì tăng giá bán để giữ chân khách hàng, từ đó ảnh hưởng doanh thu, làm giảm lợi nhuận, gây khó khăn trong việc trả nợ NH.

  • Cty TNHH

Do dư nợ ngắn hạn của các cty TNHH chiếm tỷ trọng ít nhất trong tổng dư nợ ngắn hạn nên tỷ trọng nợ xấu ngắn hạn của thành phần này cũng chiếm ít nhất trong tổng nợ xấu ngắn hạn (dưới 20%). Thời gian qua nợ xấu ngắn hạn đối với công cty TNHH cũng có biến động. Năm 2024 giảm 10,42% so với năm 2023. Mặc dù phải đối mặt với nhiều gian nan, thử thách nhưng công tác thu nợ của NH vẫn được phát huy hiệu quả góp phần làm giảm rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng trong thời buổi khó khăn. Một phần nữa là nhờ thiện chí trả nợ luôn được khách hàng chú trọng, qua đó muốn cùng chia sẻ rủi ro với NH trong hoạt động kinh doanh. Năm 2025, nợ xấu ngắn hạn của các cty TNHH tăng nhẹ 8,6% so với năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu là các công ty kinh doanh lúa gạo phải giải quyết hàng lượng tồn kho lớn, tìm đối tác giải quyết đầu ra cho sản phẩm. Do vậy, họ thích kéo dài thời gian trả nợ nhằm duy trì lượng vốn để cầm cự hoạt động kinh doanh. Bên cạnh thì vấn đề về nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất, chế biến xuất khẩu chưa ổn định, mất cân đối cung cầu cục bộ, nhất là nguyên liệu thủy sản (cá tra, tôm…) cũng làm các công ty điêu đứng vì không đảm bảo được quá trình sản xuất diễn ra liên tục và hiệu quả, làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh. Từ những nguyên nhân trên, nợ xấu đang trở thành vấn đề nan giải của các công ty nói riêng và nền kinh tế nói chung. Trong thời gian tới NH cần quyết liệt hơn nữa trong công tác xử lý nợ xấu và tuân thủ nghiêm nghặt quy trình cấp tín dụng trước khi cho vay để kịp thời phát hiện, ngăn chặn không để phát sinh thêm khoản nợ xấu nào, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro cho NH.

Những con số trên đây phần nào đã phác họa được toàn cảnh kinh doanh của các đối tượng khách hàng của MHB Ô Môn trong thời gian vừa qua. Trong năm 2026, khi nền kinh tế và môi trường kinh doanh đang ngày càng khó khăn hơn, đòi hỏi các DN phải vững mạnh không chỉ đơn thuần để tồn tại mà phải sẵn sàng cạnh tranh với các đối thủ trong nước, đặc biệt là các DN nước ngoài bởi sự tinh tế và linh hoạt của những sáng tạo mới từ các DN này, luôn là bài toán khó đối với các DN Việt Nam nói chung hiện nay. Nhưng đó cũng chính là các cơ hội để các DN tiến hành tái cơ cấu, nâng cao sức cạnh tranh và sẵn sàng cho một chu kỳ tăng trưởng mới của nền kinh tế.

3.4.4. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tín dụng ngắn hạn của MHB Ô Môn qua 3 năm 2023 – 2025 Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Hoạt động tín dụng được xem như là hoạt động kinh doanh chính của các NHTM, trong đó tại MHB Ô Môn tín dụng ngắn hạn là chủ yếu. Trong những phần phân tích ở trên cho thấy tình hình tín dụng ngắn hạn của NH có nhiều biến chuyển theo hướng tích cực. Tuy nhiên để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng ngắn hạn trong thời gian vừa qua thì ta cần phải dựa vào một vài chỉ tiêu trong bảng 3.12:

Bảng 3.12. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI MHB Ô MÔN 2023 – 2025

  • Vốn huy động ngắn hạn/Tổng vốn huy động

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng vốn huy động ngắn hạn trong tổng vốn huy động, cho thấy trong tổng vốn huy động được có bao nhiêu đồng vốn hình thành từ huy động ngắn hạn. Từ bảng số liệu 3.12, ta thấy tỷ số này cũng có biến đổi qua từng thời kỳ, cụ thể năm 2023 là 94,42%, năm 2024 tăng lên 97,18% và năm 2025 giảm còn 96,79% có nghĩa là trong 100 đồng huy động được thì trong đó huy động ngắn hạn lần lượt là 94,42 đồng, 97,18 đồng và 96,79 đồng. Đây thực sự là một tỷ lệ rất cao, cho thấy tại NH chủ yếu là huy động vốn ngắn hạn, điều này chưa tốt lắm, bởi vì bên cạnh đó nguồn vốn huy động trung dài hạn vẫn rất quan trọng và cần thiết cho bất kỳ một NH nào, phục vụ chính cho các dự án đầu tư trung dài hạn và điều này là không thể thiếu cho sự phát triển bền vững. Thiết nghĩ, trong thời gian tới NH cần quan tâm hơn nữa đến các chính sách, kế hoạch phục vụ cho công tác huy động vốn trung dài hạn từ các cá nhân, tổ chức trong xã hội, từ đó giảm tỷ trọng vốn huy động ngắn hạn trên tổng vốn huy động để có thể hướng tới sự cân bằng giữa huy động ngắn hạn và trung dài hạn.

  • Dư nợ ngắn hạn/Tổng dư nợ

Chỉ tiêu này cho biết cơ cấu dư nợ của tín dụng ngắn hạn trong tổng dư nợ. Dư nợ ngắn hạn trên tổng dư nợ tại NH luôn chiếm tỷ lệ tương đối cao qua từng năm, cụ thể: năm 2023 dư nợ ngắn hạn trên tổng dư nợ là 86%, năm 2024 tăng lên 82,44% và năm 2025 là 81,30%. Điều này cho thấy NH chú trọng đầu tư vào cho vay ngắn hạn nhiều hơn cho vay đối với trung và dài hạn vì cho vay ngắn hạn có thể quay vòng vốn nhanh hơn, rủi ro lại thấp. Mặt khác, hiện nay tình hình sản xuất kinh doanh có những chuyển biến mạnh mẽ, đặc biệt là lĩnh vực chế biến, xuất khẩu nông sản, thủy sản, nên việc tài trợ vốn lưu động cho DN cũng tăng lên và trên địa bàn người dân đa phần sống bằng nghề nông nên họ thường vay vốn theo mùa vụ thường có chu kỳ ngắn do đó NH tập trung đầu tư cho vay vào ngắn hạn cũng là điều hợp lý.

  • Dư nợ ngắn hạn/Vốn huy động ngắn hạn Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn huy động ngắn hạn sẽ cho vay ra bao nhiêu đồng ngắn hạn. Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sử dụng vốn huy động ngắn hạn của NH, chỉ tiêu này quá lớn hay quá nhỏ đều không tốt. Bởi vì, nếu chỉ tiêu này quá lớn thì khả năng huy động vốn ngắn hạn của NH thấp, ngược lại chỉ tiêu này nhỏ thì NH sử dụng vốn ngắn hạn không hiệu quả.

Bảng trên cho thấy NH đã có những chính sách đổi mới để có nguồn vốn phục vụ cho hoạt động của chính mình, sự phụ thuộc của chi nhánh vào vốn điều chuyển giảm dần. Năm 2023 dư nợ ngắn hạn trên vốn huy động ngắn hạn bằng 242,86%, năm 2024 chỉ tiêu này giảm xuống còn 109,44% và giảm còn 109,35% vào năm 2025. Qua đây, chứng tỏ NH đã từng bước chủ động trong kinh doanh, tỷ trọng sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho vay ngắn hạn ngày một tăng, từng bước giảm bớt phụ thuộc vào vốn điều chuyển từ NH cấp trên. NH luôn hết sức cố gắng trong quá trình hoạt động huy động vốn ngắn hạn trong hoạt động cấp tín dụng ngắn hạn để nâng cao lợi nhuận của NH, tránh sử dụng quá nhiều vốn huy động dài hạn và vốn điều chuyển để cho vay ngắn hạn làm cho NH phải chịu một khoản chi phí và rủi ro lớn vì lãi suất của các nguồn vốn này thường cao hơn vốn huy động ngắn hạn, cho nên khi tận dụng được nguồn vốn này ngắn hạn để cho vay ngắn hạn thì NH sẽ thu được lợi nhuận cao hơn do chênh lệch lãi suất đầu vào.

  • Nợ xấu ngắn hạn/Dư nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này đo lường chất lượng tín dụng ngắn hạn của NH, tỷ số này càng thấp thì chất lượng tín dụng ngắn hạn càng cao và ngược lại. Nhìn vào số liệu ta thấy tỷ lệ nợ xấu ngắn hạn của NH có xu hướng tăng nhẹ qua các năm. Cụ thể, năm 2023 là 2,48% tăng lên 2,60% vào năm 2024 và đến năm 2025 là 2,68%. Đây phải nói là giai đoạn cực kỳ khó khăn đối với tất cả các khách hàng của MHB Ô Môn, tình hình kinh doanh thua lỗ, giảm sút lợi nhuận là vấn nạn chung của hầu hết mọi thành phần kinh tế, nên đã phần nào làm tăng tỷ lệ nợ xấu ngắn hạn tại NH. Tuy có tăng nhẹ qua các năm nhưng mức tăng này rất thấp và thấp hơn so với số liệu mà NHNN công bố đến hết tháng 9/2025 tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống NH trên cả nước là 8,82%. Kết quả này đáng khích lệ, MHB Ô Môn cần tiếp tục duy trì việc tuân thủ quy trình tín dụng, sự nhịp nhàng, đồng bộ từ lúc tiếp nhận hồ sơ khách hàng, thẩm định tín dụng cho đến khi giải ngân và tiến hành thu nợ, đồng thời tiếp tục phát huy các biện pháp thu hồi nợ để giúp cho đồng vốn của NH luôn được đảm bảo an toàn.

  • Hệ số thu nợ ngắn hạn

Hệ số thu nợ ngắn hạn được đo lường bằng doanh số thu nợ ngắn hạn chia cho doanh số cho vay ngắn hạn. Hệ số này đo lường, đánh giá khả năng thu hồi nợ ngắn hạn của NH, hệ số này càng lớn chứng tỏ khả năng thu hồi nợ của NH cao, NH cho vay vốn có hiệu quả và ngược lại. Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.

Qua số liệu trên cho thấy hệ số thu nợ ngắn hạn của NH qua 3 năm có sự biến động. Cụ thể là, hệ số thu nợ ngắn hạn năm 2023 của 98,88% tức là bình quân cứ 100 đồng vốn mà NH đem đi cho vay thì thu lại được 98,88 đồng. Hệ số này trong năm 2024 tăng lên 108,47% so với năm 2023. Nguyên nhân là do trong năm 2024, trước tình hình lạm phát tăng cao Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 11 nhằm thực thi chính sách tiền tệ chặt chẽ, rút tiền về, vì vậy mà tất cả các NH thu hẹp tín dụng đảm bảo đúng mục tiêu tăng trưởng tín dụng không vượt quá 20%, trong đó có MHB Ô Môn, NH đã đẩy mạnh thu nợ và hạn chế cho vay ra, vì thế mà hệ số thu nợ ngắn hạn đạt trên 100%. Bước sang năm 2025 thì hệ số này giảm xuống và đạt 98,32%, có nghĩa là cứ 100 đồng vốn mà NH đem đi cho vay thì thu lại được 98,32 đồng. Điều này cho thấy, công tác thu nợ đã được Ban lãnh đạo NH đặc biệt quan tâm để hạn chế tình trạng nợ quá hạn hay nợ xấu, đồng thời hướng tới phát triển bền vững.

  • Vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn

Chỉ tiêu vòng quay của tín dụng ngắn hạn NH càng lớn cho thấy việc thu hồi nợ nhanh và đúng hạn, do đó chỉ tiêu này cao cũng phản ánh chất lượng tín dụng của NH. Đây là chỉ tiêu đo lường tốc độ luân chuyển vốn của NH, phản ánh số vốn đầu tư được quay vòng nhanh hay chậm. Nhìn chung, ta thấy vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn của MHB Ô Môn qua các năm có chiều hướng giảm ở năm 2024 và tăng trở lại trong năm 2025, tương ứng là 1,37 vòng, 1,11 vòng và 1,28 vòng. Vòng quay vốn tín dụng của NH khá tốt, đồng vốn của NH quay vòng nhanh, luân chuyển liên tục, khả năng thu hồi nợ nhanh, đạt hiệu quả cao, giảm thiểu rủi ro. Và số vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn của NH vẫn là khá cao đều lớn hơn 1 vòng/năm. Nguyên nhân vòng quay vốn tín dụng tăng là do tốc độ doanh số thu nợ, chủ yếu là cho vay ngắn hạn nên vòng quay mới tăng nhanh như thế. Hơn nữa, NH cũng đã từng bước thực hiện chính sách sàng lọc khách hàng và phòng ngừa rủi ro.

TÓM TẮT CHƯƠNG 3

Qua 3 năm, mặc dù MHB Ô Môn gặp không ít khó khăn, bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu trong những năm qua, hệ thống NH Việt Nam cùng lúc đứng trước nhiều thách thức, nhưng với sự chỉ đạo điều hành từ ban Giám đốc và sự cố gắng, nỗ lực của tập thể cán bộ – công nhân viên của MHB Ô Môn thì kết quả hoạt động đã có nhiều chuyển biến tích cực. Sau đây là phần tóm tắt chương 3:

  • Đã đánh giá khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của MHB Ô Môn trong 3 năm từ 2023 – 2025, chủ yếu là thu nhập từ hoạt động tín dụng, bên cạnh đó thu từ dịch vụ cũng có cải thiện.
  • Nguồn vốn huy động có tăng qua 3 năm nhưng PGD vẫn còn sử dụng nhiều vốn điều chuyển. Điều này cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến tính tự chủ trong việc sử dụng vốn của NH. Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn.
  • Có thể thấy rằng doanh số cho vay ngắn hạn, doanh số thu nợ ngắn hạn, dư nợ ngắn hạn và nợ xấu ngắn hạn có xu hướng giảm vào năm 2024 và tăng vào 2025. Điều này thể hiện sự hồi phục kinh doanh của NH sau thời kỳ khó khăn nhất.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp hoạt động tín dụng ngắn hạn tại MHB Ô Môn

One thought on “Khóa luận: Phân tích hoạt động tín dụng ngắn tại MHB Ô Môn”

  1. Pingback: Khóa luận: Hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng MHB

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537