Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VNH mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Pháp luật về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam cho các bạn.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:

Tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đang và sẽ diễn ra sâu rộng chưa từng có, với việc thực hiện lộ trình Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC); đàm phán và ký kết nhiều  FTA thế hệ mới, trong đó có Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA Việt Nam – EU, Việt Nam – Hàn Quốc, không gian kinh tế của Việt Nam đang được mở rộng hơn bao giờ hết. Không gian kinh tế mới này đang mở ra cơ hội mới, sân chơi mới cho cộng đồng nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Không gian kinh tế mới cộng hưởng với làn sóng M&A (Merger and Acquisitions) đã và đang diễn ra sôi động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, với nhiều thương vụ quy mô lớn lên tới hàng tỉ USD sẽ tạo nên sự bùng nổ của thị trường M&A như những dự đoán của các chuyên gia cách đây vài năm trở lại đây.

Trước đó, từ năm 2013 đến 2015, tổng giá trị thị trường M&A đã tăng từ 3,5 tỷ USD lên đến 5,2 tỷ USD. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2016, tổng giá trị thị trường đã đạt 3 tỷ USD và vượt ngưỡng mong đợi 5,3 USD[5]

Ở góc nhìn của các nhà đầu tư nước ngoài, thị trường Việt nam đang rộng mở và giàu tiềm năng hơn bao giờ hết. Việt nam là một nền kinh tế trẻ với dân số hơn 93 triệu người. Cùng với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, và sự hội nhập quốc tế đã biến Việt Nam thành một địa điểm đầu tư tiềm năng. Các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt nam để khai thác một thị trường tiêu thụ rộng lớn, cũng như dời các cơ sở sản xuất của họ đến Việt Nam để hưởng các lợi thế từ hiệp định thương mại tự do. Thông qua việc thâu tóm một doanh nghiệp nội địa, nhà đầu tư nước ngoài có thể giảm thiểu thời gian bước vào thị trường cho dự án đầu tư của họ tại Việt nam. Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Năm 2016, chúng ta được chứng kiến nhiều thương vụ M&A giá trị cao trong lĩnh vực bán lẻ, tiêu dùng với bên mua là các nhà đầu tư đến từ Thái Lan và Nhật Bản. Thương vụ chuyển nhượng Big C và Metro Cash & Carry nằm trong top 3 giao dịch M&A có giá trị cao nhất. Lĩnh vực bất động sản cũng sôi động với thương vụ Keangnam Landmark Tower, Empire City và Kumho Asiana Plaza. Một điểm chung của các thương vụ lớn này là hầy hết các nhà đầu tư nước ngoài đóng vai trò là bên mua. ( Xem Hình 1.1 – Phụ lục – Trang 77 )

Tuy nhiên, pháp luật Việt nam chưa có một khung pháp lý thống nhất cho M&A. Thay vào đó, các quy định pháp luật về M&A nằm rải rác ở nhiều luật khác nhau. Đó cũng là lý do cần phải có công trình nghiên cứu luật học đánh giá pháp luật và tình hình thực thi pháp luật để kiểm soát các thương vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng, hiệu quả, mang lại phúc lợi chung cho xã hội.

Với những lý do đó, tôi lựa chọn: “Pháp luật về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam”  là đề tài khóa luận của mình. Trong quá trình nghiên cứu không thể tránh những thiếu sót, mong thầy cô và các bạn góp ý để tôi có thể hoàn thành đề tài một cách hoàn thiện nhất. Tôi xin chân thành cảm ơn !

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục đích của khóa luận: 

Mục đích của khóa luận là nghiên cứu hoạt động sáp nhập và mua bán doanh nghiệp dưới góc độ pháp lý và xây dựng một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.

Để đạt được mục đích trên, khóa luận cần đạt được những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, phân tích cơ sở lý luận của hoạt động sáp nhập và mua bán doanh nghiệp bằng việc làm rõ khái niệm, quan niệm hoạt động sáp nhập và mua bán doanh nghiệp ở một số quốc gia và Việt Nam; làm rõ đặc điểm mua bán, sáp nhập doanh nghiệp trong mối quan hệ so sánh với một số quan hệ pháp luật khác; phân tích các nội dung cơ bản của pháp luật về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp. Trong quá trình phân tích, hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp được xem xét dưới góc độ so sánh với quy định của một số nước trên thế giới làm phong phú hơn cũng như toàn diện hơn về hoạt động này.

Thứ hai,  nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp, chỉ ra những tồn tại bất cập của hệ thống pháp luật về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp; phân tích và bình luận những kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở một số quốc gia; Phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp làm nền tảng đề đề xuất giải pháp phù hợp.

Thứ ba, đề xuất giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động động sáp nhập và mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Phạm vi:

  • Thời gian: Trong những năm gần đây 2015-2017
  • Không gian: Trong khuôn khổ phạm vi pháp lý hoạt động sáp nhập mua bán doanh nghiệp Việt Nam
  • Nội dung: Bài làm tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ các khái niệm liên quan đến hoạt động mua bán sáp nhập M&A theo quy định của pháp luật Việt Nam, nêu lên những điểm nổi bật trong quy định và những bất cập, hạn chế để từ đó nêu lên một số những giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động M&A tại Việt Nam.

4. Câu hỏi nghiên cứu

Bài làm tập trung trả lời cho một số các câu hỏi nghiên cứu:

  • Thế nào là hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp M&A ? Đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động M&A?
  • Thế nào là pháp luật về hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp M&A?
  • Toàn cảnh thị trường M&A trên thế giới và Việt Nam trong những năm gần đây như thế nào?
  • Hoạt động M&A được quy định trong pháp luật Việt Nam như thế nào?
  • Có những khó khăn, bất cập gì trong các quy định pháp luật Việt Nam về hoạt động M&A?
  • Cần có những giải pháp gì để khắc phục những khó khăn bất cập trên?

5. Kết cấu đề tài

Kết cấu của khóa luận gồm 3 chương: Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về hoạt động sáp nhập và mua bán doanh nghiệp: Trọng tâm của chương là làm rõ vấn đề lý luận quan niệm, khái niệm về hoạt động sáp nhập và mua bán doanh nghiệp, phân biệt được rõ những khái niệm liên quan theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành như: thâu tóm, mua lại, sáp nhập, hợp nhất, tìm hiểu được đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động sáp nhập và mua bán doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chương 1 nêu lên khái niệm chung nhất về thế nào là pháp luật và nội dung pháp luật hoạt động sáp nhập và mua bán doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam: Trọng tâm của chương có thể tóm gọn thành 3 phần chính. Phần thứ nhất là về thực trạng hoạt động M&A Việt Nam nói chung trong những năm gần đây 2015-2017, tổng hợp một số thương vụ M&A tiêu biểu, điển hình. Phần thứ hai nêu lên một số quy định trong pháp luật Việt Nam liên quan đến hoạt động M&A, được tác giả chia theo các nhóm chế định cụ thể. Phần cuối cùng, tác giả nêu một số những bất cập trong pháp luật về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay đang gây nhức nhối cho các nhà hành luật.

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam: Trong phạm vi kiến thức và hiểu biết, cũng như trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả nêu lên năm ý kiến giải pháp để góp phần hoàn thiện hơn pháp luật về hoạt động M&A mua bán, sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.

6. Đóng góp của đề tài

Khóa luận với đề tài “Pháp luật về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam” đã thể hiện được những điểm sau:

  • Tổng lược được toàn cảnh M&A Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong khoảng thời gian gần đây 2015-2017.
  • Nêu lên được thực trạng một số những bất cập, vướng mắc hiện này liên quan đến vấn đề hoạt động M&A tại Việt Nam gây khó dễ cho các nhà đầu tư, các nhà hành luật.
  • Làm rõ được các khái niệm liên quan đến hoạt động M&A dưới góc độ các quy định pháp lý hiện hành của Việt Nam: thâu tóm, mua lại, sáp nhập, hợp nhất.
  • Nêu lên một số giải pháp để hoàn thiện hơn khung pháp lý hoạt động M&A tại Việt Nam.

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP VÀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP

1.1 Những vấn đề lý luận

1.1.1 Khái niệm hoạt động sáp nhập và mua bán doanh nghiệp Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Mua bán (mua lại) và sáp nhập (M&A – viết tắt của cụm từ tiếng anh “Mergers and Acquisitions”). Hai khái niệm này thường đi chung với nhau do có nhiều nghiệp vụ giống nhau, khá nhiều trường hợp người ta không thể phân biệt sự khác nhau và không có đủ thông tin để nhận định. M&A có thể hiểu là hoạt động giành quyền kiểm soát một doanh nghiệp, một bộ phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó. Như vậy, nguyên tắc cơ bản của M&A là phải tạo ra được những giá trị mới cho các cổ đông mà việc duy trì tình trạng cũ không đạt được. Nói cách khác, M&A liên quan đến việc sở hữu và thực thi quyền sở hữu để làm thay hoặc tạo ra những giá trị mới cho các cổ đông. Về một khía cạnh khác, mua bán và sáp nhập là một giao dịch, trong đó chủ sở hữu của công ty, cơ cấu và hoạt động kinh doanh được biến chuyển hoặc kết hợp. Nhìn nhận dưới góc độ quản trị chiến lược, M&A có thể là đòn bảy cho phép công ty tăng trưởng hoặc “chìm” và làm thay đổi lối kinh doanh vốn có và vị thế cạnh tranh trên thị trường.

Mặc dù Mua bán và Sáp nhập thường được đề cập cùng nhau với thuật ngữ quốc tế phổ biến là “M&A” nhưng hai thuật ngữ Mua bán và Sáp nhập vẫn có sự khác biệt nhất định. Khi một công ty mua lại hoặc thôn tính một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là Mua bán. Dưới khía cạnh pháp lý, công ty bị mua lại không còn tồn tại, bên mua đã “nuốt chửng” bên bán và cổ phiếu của bên mua không bị ảnh hưởng.

Theo nghĩa đen, Sáp nhập diễn ra khi hai doanh nghiệp, thường có cùng quy mô, đồng thuận hợp nhất lại thành một công ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ. Loại hình này thường được gọi là “Sáp nhập ngang bằng”. Cổ phiếu của cả hai công ty sẽ ngừng giao dịch và cổ phiếu của công ty mới sẽ được phát hành. Trường hợp Daimler-Benz và Chrysler là một ví dụ về Sáp nhập: hai hãng Sáp nhập và một công ty mới (pháp nhân mới) ra đời mang tên DaimlerChrysler. Tuy nhiên, trên thực tế, hình thức “Sáp nhập ngang bằng” không diễn ra thường xuyên do nhiều lý do. Một trong những lý do chính là việc truyền tải thông tin ra công chúng cần có lợi cho cả công ty bị mua và công ty mới sau khi Sáp nhập. Thông thường, một công ty mua một công ty khác và trong thỏa thuận đàm phán sẽ cho phép công ty bị mua tuyên bố với bên ngoài rằng, hoạt động này là “Sáp nhập ngang bằng” cho dù về bản chất là hoạt động mua bán. Một thương vụ mua bán cũng có thể được gọi là Sáp nhập khi cả hai bên đồng thuận liên kết cùng nhau vì lợi ích chung. Nhưng khi bên bị mua không không muốn bị thâu tóm thì sẽ được coi là một thương vụ mua bán. Một thương vụ được coi là mua bán hay sáp nhập hoàn toàn phụ thuộc vào việc, thương vụ đó có được diễn ra một cách thân thiện giữa hai bên hay bị ép buộc thâu tóm nhau.

Một số tình huống không được coi là M&A:[15] Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

  • Một doanh nghiệp mua cổ phần của một doanh nghiệp khác nhưng không tham gia hoạt động quản trị/điều hành, chỉ thuần túy nhận cổ tức hoặc kỳ vọng nhận thặng dư khi bán lại cổ phần cho nhà đầu tư khác;
  • Một quỹ đầu tư chứng khoán mua cổ phiếu (niêm yết hoặc OTC) của một doanh nghiệp đại chúng trên thị trường chứng khoán và cũng không tham gia quản trị/điều hành tại doanh nghiệp đó.
  • Một quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital) khi đầu tư vốn với tư cách cổ đông vào các doanh nghiệp và cử đại diện phần vốn góp tại Hội đồng quản trị nhưng vai trò của các thành viên này chủ yếu chỉ mang tính tư vấn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp này với kỳ vọng khi doanh nghiệp phát triển sẽ có thể thoái vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng (IPO). Trường hợp doanh nghiệp do quỹ đầu tư vào không thành công thì khoản đầu tư trên có thể mất theo đúng tính chất “mạo hiểm” của quỹ.

Như vậy, hoạt động M&A không chỉ làm thay đổi tình trạng sở hữu của một doanh nghiệp đối với cổ phần hoặc tài sản mà còn làm thay đổi cả hoạt động quản trị/điều hành của doanh nghiệp. Tuy nhiên mức độ thay đổi về quản trị còn phụ thuộc vào các quy định của pháp luật, điều lệ doanh nghiệp và các thỏa thuận của các bên khi tiến hành thương vụ M&A.

Định nghĩa hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp theo quy định pháp luật của một số nước:

Hoa Kỳ là quốc gia Liên bang nên tồn tại hai hệ thống pháp luật là pháp luật liên bang và pháp luật của từng bang. Do đó, hoạt động M&A chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật là pháp luật liên bang và pháp luật của từng bang. Theo pháp luật liên bang, sáp nhập có nghĩa là sự kết hợp giữa hai công ty mà một bên hoàn toàn bị thâu tóm bởi công ty kia. Công ty kém quan trọng hơn sẽ mất đi đặc điểm nhận diện của mình và trở thành một phần của công ty quan trọng hơn nơi vẫn giữ được đặc điểm nhận diện của mình. Hoạt động sáp nhập làm lu mờ công ty bị sáp nhập và công ty được sáp nhập sẽ nắm giữ các quyền, lợi ích và trách nhiệm của công ty bị sáp nhập. Một hoạt động sáp nhập không giống với hoạt động hợp nhất mà hai công ty cùng bị mất đi những đặc điểm nhận dạng của mình và tạo nên một hình thức công ty hoàn toàn mới.

Dựa trên báo cáo của CFA(Financial Analyst) Institute: Các văn bản pháp lý của Mỹ điều chỉnh hoạt động M&A được chia thành hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất là Luật chống độc quyền (Antitrust Law) và Luật chứng khoán (Securities Law). Nhóm thứ nhất – Luật chống độc quyền gồm một số các văn bản pháp lý như: Sherman Antitrust Act (1980) khung hình phạt cho hoạt động hạn chế cạnh tranh, Clayton Antitrust Act (1914) bổ sung các hành vi bị cấm như phân biệt giá, độc quyền, Celler-Kefauver Act(1950), Hart–Scott–Rodino Antitrust Improvements Act (1976) yêu cầu khoảng thời gian chờ đợi trước  khi một thương vụ M&A hoàn thành và nêu ra các dữ liệu pháp lý cần đệ trình… Nhóm thứ hai – Luật chứng khoán gồm Williams Act (1968) quy định về công khai thông tin…[17] Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Cộng đồng chung Châu Âu: Cộng đồng Châu Âu đã có một định nghĩa cụ thể về sáp nhập và mua lại tại Quy định về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu số 139/2004 ngày 20/01/2004 (EC Merger Regulation) như sau: (i) sự sáp nhập giữa hai pháp nhân độc lập hoặc hai bộ phận của hai pháp nhân; hoặc (ii) thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc mua lại chứng khoán hoặc tài sản của một công ty khác; (iii) hoặc tạo ra một liên doanh mới. Quy định về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu đã đưa ra cách tính về doanh số, thủ tục cần thiết để tiến hành việc sáp nhập và mua lại một cách cụ thể. Mặc dù hệ thống pháp luật của từng quốc gia thuộc thành viên của Cộng đồng chung 3 Châu Âu là khác nhau, nhưng Quy chế về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu được áp dụng chung và là văn bản có hiệu lực điều chỉnh cao hơn pháp luật của từng quốc gia phê chuẩn. [4]

Pháp luật Việt Nam, trên cơ sở phân tích các quy định của Luật Cạnh Tranh 2004, Luật Doanh Nghiệp 2014, chúng ta có được những khái niệm cơ bản sau:

Thứ nhất, về vấn đề sáp nhập doanh nghiệp (Mergers):

Theo Điều 195 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014:“Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.”

Sáp nhập doanh nghiệp còn được định nghĩa trong Luật Cạnh Tranh 2004  tại Khoản 1 – Điều 17: “1. Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập […].”

Thứ hai, quan niệm về hợp nhất doanh nghiệp (Consolidations):

Theo Điều 194 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014: “Hai hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất.”

Luật Cạnh Tranh 2004 quy định vấn đề này tại Khoản 1 – Điều 17: “Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.” Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Thứ ba, quan niệm về mua bán doanh nghiệp ( Acquisitions): Mặc dù Luật Doanh Nghiệp không đề cập đến khái niệm mua bán doanh nghiệp nhưng chúng ta lại có Điều luật quy định về bán doanh nghiệp – Điều 187 Luật Doanh Nghiệp 2014:

1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác. 2. Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao doanh nghiệp, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác.[…].”

Luật Cạnh Tranh cũng đưa ra được khái niệm về mua lại doanh nghiệp tại Khoản 3 – Điều 17: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”

Thứ tư, khái niệm về thâu tóm doanh nghiệp (Takeovers): Thâu tóm là khái niệm được sử dụng để chỉ một công ty tìm cách nắm giữ quyền kiểm soát đối với một công ty khác thông qua thâu tóm toàn bộ hoặc một tỷ lệ số lượng cổ phần hoặc tài sản của công ty mục tiêu đủ để có thể khống chế toàn bộ các quyết định của công ty đó.

Tỷ lệ này có thể khác nhau theo quy định cụ thể trong Luật Công ty của từng nước. Ví dụ ở Việt Nam, tỷ lệ này là 75% (tối thiểu là 65%) cụ thể theo Khoản 3 Điều 60 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014:

3. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác, nghị quyết của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp trong các trường hợp sau đây: 

Được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp tán thành, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;

Được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp tán thành đối với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty.”

Sau khi kết thúc chuyển nhượng, công ty mục tiêu sẽ chấm dứt hoạt động (bị sáp nhập) hoặc trở thành một công ty con của công ty thâu tóm. Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Trong nhiều trường hợp, lãnh đạo hai doanh nghiệp không thống nhất được để đi đến một vụ mua bán thân thiện (friendly takeover) và bên đi mua trở thành kẻ thôn tính bằng cách dùng nhiều biện pháp để gạt lãnh đạo công ty bị thôn tính sang một bên. Hình thức giao dịch này được gọi là thôn tính thù nghịch (hostile takeover). Có ba biện pháp chính dành cho bên đi thôn tính trong trường hợp bị lãnh đạo doanh nghiệp bên kia cự tuyệt. Thứ nhất là tiếp xúc thuyết phục, đàm phán với các cổ đông của công ty bị thôn tính để các cổ đông này ủng hộ việc thay thế ban lãnh đạo của công ty bị thôn tính bằng một ban lãnh đạo mới ủng hộ việc sáp nhập.

Thứ hai là đưa ra một chào mua tế nhị (tender offer), theo đó bên thôn tính công bố công khai sẵn sàng mua lại một phần hoặc toàn bộ cổ phiếu của bên bị thôn tính với một mức giá nhất định (thường là cao hơn nhiều so với giá thị trường) từ bất kỳ cổ đông nào muốn bán. Thứ ba là âm thầm gom cổ phiếu trên thị trường (phương pháp này đôi khi bị gọi là creeping tender offer). Trong bất cứ trường hợp thôn tính thù nghịch nào thì bên thôn tính đều bị ban lãnh đạo của công ty bị thôn tính chống lại, và mục tiêu của kẻ đi thôn tính cũng là thay đổi ban lãnh đạo của công ty bị mua lại(proxy battle).

Nhận xét:

Thuật ngữ “sáp nhập và mua lại” được hiểu phổ biến hiện nay ở Việt Nam không những không chuyển tải hết khái niệm M&A (về mặt ngôn ngữ) mà còn chưa thể hiện đầy đủ các hình thức hoạt động này. Trường hợp thôn tính mang tính thù địch đối thủ cạnh tranh (tạm dịch thuật ngữ hostile takeovers) thông qua phương thức “lôi kéo cổ đông bất mãn” rõ ràng không phải là “mua lại”. Còn “sáp nhập’ thực tế chỉ là một bộ phận trong khái niệm “thâu tóm” công ty. Sáp nhập để chỉ sự thâu tóm toàn phần, và công ty mục tiêu chấm dứt sự tồn tại (như khái niệm được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014); trong khi “thâu tóm” còn được sử dụng để chỉ việc tìm cách nắm giữ một số lượng cổ phần dưới 100% nhưng đủ để chi phối công ty mục tiêu. Bên cạnh đó, thuật ngữ ‘sáp nhập và mua lại’ cũng không tính đến hình thức “hợp nhất”, tuy không phổ biến nhưng không thể coi là một trường hợp cá biệt của sáp nhập (trong Luật Doanh nghiệp cũng tách biệt hai khái niệm này).

Do đó, thuật ngữ “mua bán và sáp nhập” sẽ được giới thiệu và trình bày trong bài viết này để bao quát tất cả các hình thức của M&A từ khía cạnh quản trị công ty. Mặc dù vậy, nhằm mục phân tích, hiểu hơn về bản chất của từng khái niệm nhỏ liên quan đến hoạt động M&A, tác giả đã thực hiện bảng so sánh chi tiết các khái niệm liên quan đến hoạt động M&A.  

1.1.2 Đặc điểm khác biệt của thị trường sáp nhập và mua bán doanh nghiệp so với các thị trường khác: Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Hoạt động M&A được thực hiện dựa trên rất nhiều mục tiêu tùy thuộc vào chiến lược của nhà đầu tư. Nhất là đối với hoạt động mua lại doanh nghiệp, việc mua lại không chỉ đơn thuần là việc tiếp quản khối lượng tài sản, nhân lực hiện có của doanh nghiệp, đó còn là việc mua lại cả một thương hiệu, các khách hàng mục tiêu , tiềm năng, bí mật kinh doanh… của doanh nghiệp. Nhưng cũng có nhiều trường hợp đơn thuần, mục đích của nhà đầu tư chỉ là việc muốn đầu tư và hưởng lời từ khoản đầu tư của mình. Tuy nhiên, hoạt động M&A về cơ bản là hoạt động của một bên tìm cách giành quyền kiểm soát một bên khác qua việc nắm giữ một phần hoặc toàn bộ cổ phần, vốn góp, tài sản của bên mục tiêu. “Quyền kiểm soát” là quyền đủ để tham gia quyết định những vấn đề quan trọng thông qua việc đạt mức sở hữu nhất định về vốn hoặc cổ phần doanh nghiệp, đây là một trong những yếu tố quan trọng để phân biệt thị trường M&A với các thị trường khác.

Bên cạnh đó, hàng hóa của thị trường M&A là một loại tài sản đặc biệt, đó là những công ty, doanh nghiệp, tập đoàn, tổ chức – là một tập hợp của nhiều loại tài sản nhỏ khác và có giá trị rất lớn. Hàng hóa đó có mức trao đổi mua bán không thường xuyên và việc trao đổi mua bán diễn ra tốn nhiều thời gian và công sức.

Hoạt động của thị trường bao quát tất cả các lĩnh vực, ngành nghề hoạt động kinh doanh. Quy mô của thị trường M&A không bị hạn chế bởi giới hạn địa lý, hoạt động M&A xuyên quốc gia rất phát triển. Hoạt động M&A có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề mà nó tham gia, thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế một nước. Chính vì vậy hoạt động M&A chịu sự chi phối và điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật, đặc biệt là các quy định về chống độc quyền và chính sách bảo hộ của Chính phủ.

1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động sáp nhập và mua bán doanh nghiệp

M&A trên thế giới cũng như M&A tại Việt Nam đều được nhận định rằng, sẽ tạo ra giá trị tăng thêm (giá trị cộng hưởng – synergies) nhờ giảm chi phí, mở rộng thị phần, tăng doanh thu hoặc tạo ra cơ hội tăng trưởng mới. Giá trị cộng hưởng có được từ mỗi thương vụ M&A sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh hiệu quả và giá trị Doanh nghiệp sau M&A được nâng cao.

Đồng thời, M&A còn góp phần cải thiện tình hình tài chính của Doanh nghiệp. Sau M&A, Doanh nghiệp sẽ được tăng thêm nguồn vốn sử dụng và khả năng tiếp cận nguồn vốn, chia sẻ rủi ro, tăng cường tính minh bạch về tài chính. Có thể thấy rằng, một trong những yêu cầu đặt ra cho việc đổi mới tái cơ cấu ngành Ngân hàng Việt Nam, đó chính là nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thông qua việc gia tăng nguồn vốn điều lệ của các ngân hàng. Do đó, M&A trong lĩnh vực tài chính ngân hàng diễn ra khá sôi động và đã đáp ứng được nhu cầu cải thiện nguồn vốn kinh doanh trong lĩnh vực này. Trong thời gian qua, một loạt các thương vụ M&A ngân hàng đã được tiến hành thành công như: Sáp nhập Ngân hàng SCB, Đệ Nhất và Đại Tín; sáp nhập Tiên Phong Bank – Doji; Habubank – SHB; PVcomBank – Ngân hàng Phương Tây; Ngân hàng MHB vào BIDV; Ngân hàng MDB sáp nhập vào Maritime Bank; Southern Bank vào Sacombank…

M&A còn giúp Doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh dựa vào quy mô khi Doanh nghiệp có thể thâm nhập được vào thị trường mới, có thêm một dây chuyền sản phẩm mới hay mở rộng phạm vi phân phối, mở rộng chi nhánh, phòng giao dịch, các dự án… Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Hơn nữa, quy mô lớn cũng giúp giảm thiểu chi phí trong kinh doanh như giảm thiểu sự trùng lắp trong mạng lưới phân phối, tiết kiệm chi phí hoạt động và chi phí quản lý… Sau khi thực hiện M&A, hai bên có thể khai thác được những lợi thế lẫn nhau, tăng thị phần, tận dụng quan hệ khách hàng, khả năng bán chéo sản phẩm, dịch vụ, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra các cơ hội kinh doanh mới.

Trên thực tế, khi hai hay nhiều bên sáp nhập lại đều có nhu cầu giảm việc làm, nhất là các công việc gián tiếp. Bởi vậy, M&A sẽ là dịp để các Doanh nghiệp sàng lọc và sa thải những vị trí làm việc kém hiệu quả, từ đó góp phần không nhỏ vào việc tinh gọn bộ máy của Doanh nghiệp. Qua đó, Doanh nghiệp sẽ có cơ hội được tiếp nhận nguồn lao động có kỹ năng tốt và nhiều kinh nghiệm. Đồng thời, thông qua việc M&A, Doanh nghiệp có thể tận dụng công nghệ hay kỹ thuật của nhau để tạo lợi thế cạnh tranh. Ngoài ra, nguồn vốn dồi dào cũng là một trong những điều kiện thuận lợi để họ trang bị những công nghệ hiện đại phục vụ cho việc kinh doanh.

Ngoài các yếu tố nêu trên, thương hiệu cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến sự thành công của 1 thương vụ M&A. Bên đi mua phải trả một khoản chi phí tương đối lớn cho “thương hiệu” – thứ tài sản không thể hiện trên bảng cân đối kế toán cũng như trên báo cáo tài chính. Điều mà các công ty đi mua hướng đến chính là những khách hàng lâu năm, trung thành với một thương hiệu, những mối quan hệ với các đối tác chiến lược được gây dựng trong một thời gian dài. Điển hình cho mục đích này chính là việc công ty đa quốc gia Unilever mua lại thương hiệu kem đánh răng P/S của Công ty Hóa mỹ phẩm Phong Lan thuộc Sở Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh vào năm 1995 với giá 5 triệu USD, từ đó đặt nền móng cho việc xâm nhập và bành trướng thị trường của nhãn hiệu này. Đến nay, Unilever đã chiếm thị phần rộng lớn với rất nhiều sản phẩm tiêu dùng đa dạng.

Năm 2017 và những năm tiếp theo, thị trường Việt Nam hứa hẹn sẽ có thêm nhiều thương vụ M&A đình đám khác. Với xu thế hòa nhập với nền kinh tế thế giới, dòng vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam chắn chắc sẽ gia tăng nhanh thông qua con đường M&A. Do đó, Việt Nam cần xây dựng một khung pháp lý an toàn để vừa có thể thu hút được nhà đầu tư nước ngoài vừa có thể bảo vệ được quyền lợi của nhà đầu tư trong nước.

1.2 Những vấn đề pháp lý về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

1.2.1 Khái niệm pháp luật về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp

Theo nghĩa rộng, pháp luật về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp là tổng hợp các quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các bên tiến hành hoạt động sáp nhập và mua bán doanh nghiệp.

Theo nghĩa hẹp, pháp luật về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hội phát sinh giữa các bên có liên quan trong việc ký kết hợp đồng liên quan đến sáp nhập và mua bán doanh nghiệp và các quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với doanh nghiệp trong việc thực hiện các thủ tục hành chính có liên quan hay thực hiện kiểm soát Nhà nước về tập trung kinh tế được quy định trong pháp luật cạnh tranh.

1.2.2 Nội dung của pháp luật sáp nhập và mua bán doanh nghiệp

Nội dung của pháp luật về mua bán doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa hẹp như đã trình bày ở nhóm tiểu mục 1.2.1 bao gồm các quy định cụ thể sau: Quy định về các hình thức mua bán doanh nghiệp, quy định về chù thể mua bán doanh nghiệp; Quy định về hợp đồng- phương thức thực hiện các giao dịch mua bán doanh nghiệp và quy định về thủ tục mua bán doanh nghiệp… Tuy nhiên, nội dung của pháp luật sáp nhập và mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam được đề cập tại Chương 2 sẽ được tiếp cận theo một hướng khác: Hệ thống một số các quy định của pháp luật Việt Nam trong một số văn bản pháp luật hiện hành cụ thể về hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp M&A.

1.2.3 Vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Trong bối cảnh, Việt Nam đang dần mở cửa, thực thi rất nhiều những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng đang diễn ra, hoạt động M&A luôn đóng vai trò quan trọng, không chỉ đối với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, mà với cả hoạt động thu hút đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh. Và làm thế nào để hoạt động M&A thực sự trở thành công cụ ngày càng hữu hiệu cho quá trình tái trúc nền kinh tế, tái cấu trúc doanh nghiệp, đồng thời là một kênh huy động vốn hiệu quả, đáp ứng nhu cầu rất lớn về nguồn vốn đầu tư phát triển trong giai đoạn mới mà vẫn đảm bảo được tính an toàn, tạo được sân chơi bình đẳng, công bằng cho các chủ thể, tránh tình trạng cạnh tranh, độc quyền thì công cụ pháp lý là phương thức hiệu quả thực hiện sứ mệnh này.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt kết quả tích cực trong các quy định pháp lý hiện hành điều chỉnh về hoạt động M&A thì vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế cần khắc phục, một số quy định còn ở mức độ lý thuyết, chưa có tính thực tiễn cao. Do đó, đòi hỏi các nhà làm luật phải thực sự nắm bắt xu thế, tình hình thực tế kinh tế để sửa đổi, bổ sung, phát huy vai trò của pháp luật một cách toàn diện nhất trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam.

1.2.4 Quy định về hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) của một số quốc gia trên thế giới

Tác giả tham khảo một số tai liệu từ một số các nghiên cứu trước đó: [4]

Trung Quốc: Trung Quốc là một trong những nước thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức mua lại và sáp nhập (M&A) nhất ở Châu Á những năm gần đây. Nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia M&A với các doanh nghiệp nội địa theo nhiều cách thức khác nhau. Trước khi tiến hành M&A các nhà đầu tư phải đệ trình một bản kế hoạch tái tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước trong đó nêu rõ những thông tin về nhà đầu tư nước ngoài, tình hình tài chính, quy mô kinh doanh, cơ cấu cổ phần, kế hoạch ổn định nhân sự và đặc biệt là cách thức quản lý công ty mới. Trung Quốc yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài cung cấp kế hoạch để cải tiến cơ cấu quản lý và thúc đẩy tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp nhà nước.

Về vấn đề giá cả mua lại doanh nghiệp: Trung Quốc quyết định giá mua lại doanh nghiệp phải dựa trên giá trị tài sản hoặc giá trị cổ phần do một công ty đánh giá tài sản ở Trung Quốc đưa ra. Phương pháp đánh giá tài sản hoặc cổ phần phải là phương pháp được quốc tế công nhận. Nếu như giá mua lại doanh nghiệp thấp hơn giá trị đó thì cuộc chuyển nhượng này không được phép thực hiện. Về thuế áp dụng cho các giao dịch M&A, Trung Quốc căn cứ vào từng hình thức M&A để áp dụng mức thuế suất khác nhau đối với từng giao dịch. Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Thái Lan: Mua lại và sáp nhập hai hoặc nhiều công ty có thể dưới các hình thức sau: i, Sáp nhập (hợp nhất) ii, Mua lại cổ phần iii, Mua lại tài sản. Trong ba hình thức trên thì hình thức hợp nhất là ít phổ biến tại Thái Lan do Thái Lan không khuyến khích hình thức hợp nhất các công ty.

Trong một số lĩnh vực nhất định (Ngân hàng, tài chính tín dụng, bảo hiểm nhân thọ, đại lý du lịch, hàng hải, hàng không…) Thái Lan đều có những giới hạn về vốn và số lượng người nước ngoài tham gia vào hoạt động quản lý.

Về thuế, Thái Lan dành nhiều ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài. Thuế doanh lợi là 30% đối với sáp nhập và mua lại bằng hình thức tài sản. Còn đối với mua lại cổ phiếu, Thái Lan áp dụng thuế lũy tiến từ 5% – 37% đối với công dân Thái và 30% cho các công ty nội địa và 15% khấu trừ trước cho công dân và công ty nước ngoài. Thuế trước bạ là 0,5 % trên số bất động sản ( được miễn nếu như các điều kiện đặt ra được đáp ứng ) đối với hình thức đầu tư mua lại bằng tài sản và sáp nhập. Và 0,1% giá bán ra hoặc giá trị cổ phiếu đã trả ( tùy theo giá trị nào lớn hơn ).

Hình thức đầu tư bằng cách mua lại cổ phiếu và sáp nhập được miễn thuế VAT, còn mua lại tài sản chỉ bị đánh 7% trên bất động sản và được miễn nếu chuyển nhượng toàn bộ công ty.

Về vấn đề người lao động, Thái Lan quy định tất cả người lao động phải đồng ý với bản kế hoạch nhân sự do bên mua đưa ra. Bản kế hoạch đó phải đảm bảo được quyền lợi của người lao động. Đối với những người xin thôi việc, công ty phải đền bù cho họ theo quy định của luật lao động tùy theo thời gian làm việc cho công ty.

Malaysia: Mặc dù, luôn chào đón các nhà đầu tư nước ngoài nhưng chính phủ Malaysia vẫn cố gắng tăng tỷ lệ sở hữu của công dân Malaysia và Bumiputra (người Malaysia bản địa ) ở các công ty bị M&A. Với mục đích đó, Malaysia luôn đảm bảo rằng tỷ lệ sở hữu trong nền kinh tế Malaysia theo tỷ lệ tối thiểu là 30% sở hữu thuộc về Bumiputra, 40% thuộc về người Malaysia khác và tối đa 30% thuộc về người nước ngoài. Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Đối với hình thức đầu tư mua lại cổ phiếu, nhà đầu tư nước ngoài phải xin phép Cục đầu tư nước ngoài nếu như mua mua lại hơn 15% cổ phiếu của công ty nội địa hoặc mua cổ phiếu với tổng giá trị hơn 10 triệu ringgit Malaysia ( RM 10.000.000). Đối với hình thức đầu tư mua lại tài sản, nhà đầu tư nước ngoài cũng phải xin phép cục đầu tư nước ngoài và chỉ được phép mua tài sản có giá trị lớn hơn 150.000 Ringgít Malaysia, đồng thời không bị giới hạn số tài sản được mua.

Về vấn đề người lao động, trước khi tiến hành M&A thì nhà đầu tư nước ngoài không cần phải lấy ý kiến người lao động. Công ty mới chỉ cần đảm bảo sao cho người lao động vẫn giữ được các điều kiện làm việc như trước đây. Các công ty phải cố gắng tuyển dụng và đào tạo người Malaysia sao cho họ có thể tham gia vào các vị trí trong công ty.

Nói chung, Malaysia không có luật chống độc quyền áp dụng với tất cả các ngành. Tuy nhiên, trong lĩnh vực truyền thông và viễn thông thì có luật về chống độc quyền theo đó. nhà đầu tư nước ngoài không được phép đầu tư vào những dự án làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường viễn thông.

Về thuế, Malaysia chỉ đánh thuế thu nhập 20% đối với 500.000 Ringgit đầu tiên và 25% đối với số thu nhập còn lại.

Singapore: Trước khi Luật công ty của Singapore có hiệu lực (ngày 15/6/2005), các giao dịch thường được gọi là “sáp nhập” thực chất là công ty B mua lại tài sản của công ty A nhờ đó công ty B phát hành cổ phiếu của công ty mình cho công ty A. Hay công ty A và công ty B có thể cùng góp tài sản để lập thành công ty C và công ty C sẽ phát hành cổ phiếu cho hai công ty trên. Mặc dù về tài sản là chung trong một công ty nhưng về tư cách pháp nhân thì công ty A, công ty B và công ty C (nếu phù hợp) vẫn là ba công ty riêng biệt. Sau khi luật công ty ra đời, Singapore đặt ra những quy định chặt chẽ hơn đối với hình thức hợp nhất (sáp nhập) công ty. Sau khi hợp nhất hai hay nhiều công ty thì có thể hình thành một công ty hợp nhất hoặc là hình thành một công ty mới. Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

Mua lại các công ty ở Singapore cũng giống như các nước khác có thể thông qua hình thức mua lại cổ phiếu hoặc mua lại tài sản. Về luật chống độc quyền, Singapore không có luật chống độc quyền. Nhưng trong một số ngành như viễn thông, bưu chính, ngành dịch vụ công có những quy định về chống độc quyền.

Hoa Kỳ: Hoa Kỳ có lẽ là một trong những nước đi đầu trong kinh nghiệm thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động M&A. Luật chống độc quyền Sherman được ban hành từ năm 1890.

Về định chế quản lý M&A, đạo luật ủy ban Thương mại liên bang (FTC) năm 1975 đã quy định “ngăn cấm mọi hành vi không lành mạnh đe dọa tính cạnh tranh của thị trường” và trao cho cơ quan hành pháp này chức năng độc lập thực thi các luật chống độc quyền của liên bang. Tiếp theo, năm 1976 Luật chống độc quyền Hart-Scott-Rodino (HSR) bắt buộc các bên liên quan phải thông báo và nộp hồ sơ thẩm tra lên FTC và Bộ Tư pháp trước khi hoàn tất vụ sáp nhập. Quy định này được áp dụng đối với tất cả những vụ sáp nhập mà một trong hai bên có doanh thu trên 100 triệu USD và bên còn lại trên 10 triệu USD, với giá trị chuyển nhượng vượt quá 15 triệu USD. Nếu các công ty thuộc đối tượng như trên thực hiện sáp nhập mà không qua thẩm tra của FTC và Bộ Tư pháp sẽ bị hủy thỏa thuận chuyển nhượng và có thể bị phạt lên đến 10000 USD/ngày. Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng PL về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp

One thought on “Khóa luận: Pháp luật mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở VN

  1. Pingback: Khóa luận: Hoàn thiện PL về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537