Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với tiến trình mở cửa hội nhập kinh tế của đất nước và sự phát triển của kinh tế xã hội, các loại hình phân phối hiện đại theo mô hình của các nước tiên tiến như siêu thị, cửa hàng tiện lợi, trung tâm thương mại… đã xuất hiện ngày càng phổ biến tại một số đô thị lớn tại Việt Nam để đáp ứng nhu cầu mua sắm ngày càng cao của người dân thành phố và xu hướng xích lại gần đời sống sinh hoạt của một xã hội hiện đại.
Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại các nước có nền kinh tế thị trường cho thấy đây là hình thức tổ chức thương mại rất có hiệu quả và ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong các hình thức phân phối hàng hóa. Tuy nhiên, ở Việt Nam, khi các hệ thống phân phối kiểu truyền thống đang còn giữ vai trò chi phối thì việc hiện đại hóa hệ thống phân phối nói chung và hệ thống bán lẻ nói riêng đang là yêu cầu cấp bách hiện nay.
Thị trường bán lẻ Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây song việc nghiên cứu và xác định chiến lược phát triển các hình thức bán lẻ hiện đại còn là vấn đề tương đối mới mẻ. Mặt khác, phần lớn các mô hình tổ chức hoạt động của hệ thống bán lẻ hiện đại được đưa vào Việt Nam một cách thiếu chọn lọc, chưa được nghiên cứu để vận dụng sáng tạo cho phù hợp với đặc thù văn hóa và tâm lý tiêu dùng của nước ta.
Xuất phát từ những nhận thức trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ các khái niệm về hệ thống phân phối, vai trò, vị trí của mô hình bán lẻ hiện đại trong hệ thống phân phối nói Đồng thời, nghiên cứu chiến lược phát triển hệ thống phân phối của các nước, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng, tình hình phát triển, chỉ ra các thành tựu và mặt còn hạn chế của mô hình bán lẻ hiện đại tại Việt Nam và dự báo triển vọng trong tương lai.
- Xây dựng các giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam, hỗ trợ hợp lý cho các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số mô hình bán lẻ hiện đại, bao gồm các siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi và các trung tâm thương mại tại 2 đô thị lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề nêu, khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp duy vật biên chứng; phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu; phương pháp điều tra khảo sát hiện trường tại một số siêu thị, trung tâm thương mại như Vincom Plaza, Metro, Big C…và phương pháp chuyên gia.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần lời mở đầu, danh mục bảng biểu và kết luận, khóa luận bao gồm 3 chương:
- Chương I: Tổng quan về hệ thống phân phối và hệ thống bán lẻ hiện đại
- Chương II: Thực trạng của hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam
- Chương III: Giải pháp để phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI VÀ HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI
1. Tổng quan về hệ thống phân phối
1.1 Khái niệm hệ thống phân phối hàng hóa
Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa từ nhà sản xuất muốn đến tay người tiêu dùng cuối cùng phải trải qua một chuỗi hoạt động mua và bán. Hệ thống phân phối hàng hóa là thuật ngữ mô tả toàn bộ quá trình lưu thông, tiêu thụ hàng hóa trên thị trường. Đó là dòng chuyển quyền sở hữu hàng hóa qua các doanh nghiệp và tổ chức khác nhau tới người mua cuối cùng.
Theo quan điểm tổng quát, “Hệ thống phân phối hàng hóa là một tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng”.
Nói cách khác, đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn dàng để người tiêu dùng cuối cùng hoặc người sử dụng công nghiệp có thể mua và sử dụng.
1.2 Đặc điểm và vai trò của hệ thống phân phối
1.2.1 Đặc điểm
Hệ thống phân phối hàng hóa là một chuỗi các mối quan hệ giữa các tổ chức liên quan trong quá trình mua bán hàng hóa. Mỗi chủ thể trong quá trình kinh doanh chắc chắn phải tham gia vào một hoặc một số hệ thống phân phối hàng hóa nhất định.
Mỗi hệ thống phân phối hàng hóa thông qua các dòng vận động (dòng chảy) để đảm bảo hàng hóa đến được địa điểm tiêu dùng như: chuyển quyền sở hữu, đàm phán, vận động vật chất của hàng hóa, thanh toán, trao đổi thông tin xúc tiến đặt hàng, chia sẻ rủi ro, tài chính…Các dòng chảy này kết nối các thành viên của hệ thống phân phối với nhau.
Các hệ thống phân phối hàng hóa có sự phân công lao động và chuyên môn hóa trong từng hệ thống. Các tổ chức kinh doanh nhất định chuyên môn hóa một hoặc một số công việc nhất định. Sở dĩ những trung gian thương mại hoặc tổ chức hỗ trợ khác được sử dụng để thực hiện công việc phân phối bởi họ thực hiện các chức năng phân phối hiệu quả hơn so với các nhà sản xuất. Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
Hàng hóa lưu thông trong các hệ thống phân phối hàng hóa thông qua cơ chế “kéo-đẩy”. Cơ chế “kéo” tức là doanh nghiệp dùng các biện pháp tác động vào nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng để tạo lực hút hàng hóa ra thị trường. Cơ chế “đẩy” là việc doanh nghiệp sử dụng các biện pháp khuyến khích hệ thống phân phối tăng cường hoạt động tiêu thụ, tạo thành lực đẩy hàng hóa ra thị trường.
1.2.2 Vai trò của hệ thống phân phối hàng hóa
- Vai trò với nền kinh tế
Hệ thống phân phối hàng hóa có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các mâu thuẫn cơ bản vốn có của các nền kinh tế thị trường, góp phần đảm bảo nền kinh tế hoạt động và phát triển bền vững. Sau đây là ba mâu thuẫn cơ bản trong phân phối hàng hóa trên thị trường mà hệ thống có vai trò giải quyết:
Một là, mâu thuẫn giữa người sản xuất khối lượng lớn, chuyên môn hóa với nhu cầu tiêu dùng theo khối lượng nhỏ nhưng đặc biệt và đa dạng. Các nhà sản xuất chuyên môn hóa và cung cấp ra thị trường một khối lượng hàng hóa và dịch vụ lớn, song những người tiêu dùng đơn lẻ lại chỉ có nhu cầu mua hàng hóa với số lượng nhỏ.
Hai là, sự khác biệt về không gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Thông thường, việc sản xuất tập trung tại một địa điểm nhất định, còn tiêu dùng lại phân bố rộng khắp, hoặc ngược lại. Sự xuất hiện cấu trúc của hệ thống phân phối hàng hóa nhiều cấp độ với các trung gian thương mại là để tạo sự ăn khớp về không gian giữa người sản xuất và tiêu dùng.
Ba là, sự khác biệt về thời gian khi thời điểm sản xuất và tiêu dùng không trùng khớp. Vì sản xuất thường không xảy ra trùng thời gian với nhu cầu tiêu dùng nên nảy sinh nhu cầu sự trữ hàng hóa. Sự ăn khớp về thời gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng được giải quyết thông qua dòng chảy của sp trong các kênh lưu thông và dự trữ hàng hóa trong hệ thống phân phối đảm bảo hàng hóa luôn sẵn có để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Sơ đồ 1 thể hiện vai trò của hệ thống phân phối hàng hóa trong việc giải quyết những mâu thuẫn của nền kinh tế thị trường
Sơ đồ 1: Hệ thống phân phối hàng hóa nối sản xuất và tiêu dùng
- Vai trò với các doanh nghiệp Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
Sự hoạt động nhịp nhàng thông suốt của hệ thống phân phối đã định hướng tốt cho các ngành sản xuất hướng tới thị trường, sản xuất ra những gì thị trường đang có nhu cầu. Vì vậy mà quyền lợi của người sản xuất luôn gắn với quyền lợi của nhà phân phối. Theo xu hướng đó, quyền lực của hệ thống phân phối ngày càng lớn, chi phối thậm chí áp đặt cuộc chơi cho ngành sản xuất.
Hệ thống phân phối giúp doanh nghiệp đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo hoạt động kinh doanh phát triển bền vững, tạo lập lợi thế cạnh tranh dài hạn trên thị trường. Hệ thống phân phối hàng hóa là con đường mà hàng hóa được lưu thông từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Việc phát triển và quản lý được các hệ thống phân phối hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian hàng hóa đến tay người tiêu dùng, nhờ đó tăng tốc độ quay vòng vốn, mở rộng quy mô kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
Hệ thống phân phối hàng hóa cung cấp cho nhà sản xuất nhiều thông tin cần thiết để điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh theo nhu cầu của người tiêu dùng. Với chức năng tổ chức mang sản phẩm đến tay người tiêu dùng, những nhà phân phối là những người có điều kiện tiếp cận tốt hơn với các thông tin từ thị trường. Do vậy, các doanh nghiệp nên thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược với nhà phân phối để trao đổi thông tin, nắm bắt nhu cầu thị hiếu tiêu dùng, từ đó lập kế hoạch kinh doanh, cải tiến sản phẩm để đáp ứng nhanh với nhu cầu của thị trường.
- Vai trò với người tiêu dùng
Hệ thống phân phối mang lại nhiều sản phẩm phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Ngoài ra, hoạt động phân phối còn cung cấp cho người tiêu dùng hàng loạt các dịch vụ bổ sung như địa điểm thuận lợi, giao hàng tại nhà, tư vấn tiêu dùng…giúp cho sự lựa chọn chính xác hơn, tăng thêm sự thuận tiện khi mua hàng.
1.3 Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối trong nền kinh tế hiện đại Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối những năm cuối thập kỷ 90 đến nay là:
- Tập trung hoá hệ thống phân phối ngày càng cao. Cùng với sự xuất hiện của các công ty khổng lồ trong lĩnh vực phân phối, mối quan hệ giữa nhà sản xuất, người bán buôn và bán lẻ ngày càng mật thiết để tạo ra một hệ thống phân phối hàng hóa ngày càng hiệu quả.
- Trong bán lẻ, có sự thay thế các cửa hàng bán lẻ quy mô nhỏ, độc lập bằng những cửa hàng bách hóa với quy mô lớn.
- Quy mô trung bình của các cửa hàng (diện tích, doanh số, lao động…) tăng lên
- Ngày càng xuất hiện nhiều siêu thị, đại siêu thị có quy mô cực lớn, kinh doanh theo chuỗi.
- Phương thức kinh doanh nhượng quyền của các công ty lớn đã liên kết các cửa hàng quy mô nhỏ trong cùng một hệ thống nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Có sự tham gia của các nhà bán lẻ, những người sản xuất vào hệ thống phân phối truyền thống làm cho vai trò của các phương thức bán lẻ truyền thống ngày càng giảm, đặc biệt là với các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày.
- Sự xuất hiện và phát triển với tốc độ cao của phương thức bán hàng không thông qua cửa hàng như bán hàng qua mạng, tivi, bưu điện…Thương mại điện tử tạo ra một xu hướng bán hàng mới, xuất hiện trong thời đại “số hoá” giúp cho khách hàng giao dịch nhanh, nhà kinh doanh tiết kiệm chi phí cửa hàng, đồng thời xoá bỏ rào cản địa lý giữa các quốc gia.
- Sự mở rộng hoạt động của các tập đoàn phân phối bán lẻ khổng lồ: cùng với xu thế toàn cầu hoá và dỡ bỏ dần các rào cản thương mại của các quốc gia, các công ty phân phối lớn đang tích cực tiến hành khảo sát và điều tra để thâm nhập các thị trường tiềm năng.
2. Tổng quan về hệ thống bán lẻ và hệ thống bán lẻ hiện đại
2.1 Tổng quan về bán lẻ
2.1.1. Khái niệm
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ, trong đó có 2 định nghĩa được thừa nhận rộng rãi như sau:
- Trong cuốn “Quản trị Marketing”, Phillip Kotler đã đưa ra định nghĩa:
Bán lẻ là mọi hoạt động nhằm bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng cho cá nhân, không mang tính thương mại.
- Trong cuốn “Retail management”, Micheal Levy định nghĩa:
Bán lẻ là một loạt các hoạt động kinh doanh làm gia tăng giá trị cho sản phẩm dịch vụ được bán cho người tiêu dùng vì mục đích sử dụng cho cá nhân hoặc gia đình.
Như vậy có thể hiểu nhà bán lẻ hay công ty bán lẻ là nhà một công ty thương mại mà tổng doanh thu của nó chủ yếu từ hoạt động bán lẻ mang lại. Bất kể tổ chức nào (nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ) bán cho người tiêu dùng cuối cùng đều làm chức năng bán lẻ. Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
2.1.2 Vị trí và chức năng của bán lẻ trong kênh phân phối
- Vị trí của bán lẻ
Các nhà sản xuất thường đưa hàng hóa của mình ra thị trường thông qua các kênh phân phối. Các nhà bán lẻ nằm ở vị trí cuối cùng trong kênh phân phối. Họ mua lại hàng hóa từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc nhà bán buôn để bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng. Người bán lẻ không những là những người quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng ma còn hoạt động như một đại lý mua hàng cho công chúng bằng cách xác định, lựa chọn hàng hóa, thỏa thuận mức giá với nhà cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa dịch vụ cho tất cả mọi người trong xã hội.
- Sơ đồ 2: Vị trí của bán lẻ trong kênh phân phối
Chức năng của bán lẻ:
Bán lẻ là một khâu của quá trình phân phối nên nó cũng đảm nhiệm đầy đủ chức năng cơ bản của phân phối. Tuy nhiên do đặc thù là kênh cuối cùng đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng nên bán lẻ mang một số đặc điểm riêng.
Thứ nhất là nghiên cứu, thu thập thông tin cần thiết để lập kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi. Nhà bán lẻ là người trực tiếp tiếp xúc với người tiêu dùng nên có thể thu thập những thông tin về nhu cầu, thị hiếu của khách hàng… để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Những thông tin này của nhà bán lẻ là rất cần thiết để người sản xuất có thể nắm bắt được phản hồi từ phía khách hàng, kịp thời cải tiến hàng hóa cho phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Thứ hai là kích thích tiêu thụ, cung cấp các thông tin về hàng hóa cho người tiêu dùng. Các nhà bán lẻ có thể tự tiến hành các biện pháp xúc tiến bán hàng riêng của mình để tăng doanh thu bán lẻ. Đồng thời, họ có thể đóng vai trò là người chuyển thông điệp quảng cáo hoặc các thông tin khuyến nghị của nhà sản xuất đến người tiêu dùng.
Thứ ba là hoàn thiện hàng hóa, làm cho hàng hóa đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người mua. Tại các cửa hàng bán lẻ như siêu thị, số mặt hàng có thể lên tới 000 từ hơn 500 nhà sản xuất khác nhau. Việc sắp xếp và phân loại này giúp người tiêu dùng có sự lựa chọn phong phú các sản phẩm với đủ mọi thương hiệu, kiểu dáng, giá cả… Bên cạnh đó, dù các nhà bán lẻ có thể nhận hàng hóa đã hoàn thiện từ người sản xuất hay nhà bán buôn nhưng do đặc thù ngành bán lẻ, nhà bán lẻ phải tiến hành sơ chế, đóng gói…để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng trong điều kiện tốt nhất và hình thức phù hợp nhất.
Thứ tư là lưu kho bãi: Đây là chức năng quan trọng của người bán lẻ để đảm bảo luôn có hàng phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng. Người tiêu dùng có thể dễ dàng mua được nhiều hàng hóa vào mọi nơi mọi lúc. Ngoài ra, một số hoạt động sản xuất có tính thời vụ, còn tiêu dùng diễn ra quanh năm, do đó cần tới chức năng dự trữ hàng hóa của người bán lẻ.
Thứ năm là cung cấp các dịch vụ hỗ trợ: nhà bán lẻ cung cấp các dịch vụ giúp cho người tiêu dùng dễ dàng mua và sử dụng sản phẩm hơn, bằng các biện pháp như cho người mua trả chậm, mời sử dụng hàng thử, tư vấn và sẵn sàng cung cấp thêm thông tin về sản phẩm. Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
2.1.3 Phân loại các nhà bán lẻ
Kinh tế xã hội ngày càng phát triển, hoạt động bán lẻ được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau rất đa dạng nên việc phân loại chúng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, dựa vào các tính chất như các chủng loại hàng hóa được bán, sự quan tâm tương đối về giá cả, tính chất phục vụ, loại cửa hàng và mức độ tập trung đối với cửa hàng có thể phân loại các mô hình cửa hàng bán lẻ như sau:
- Bảng 3: Các mô hình cửa hàng bán lẻ
2.2 Khái niệm và đặc điểm của hệ thống bán lẻ hiện đại
2.2.1 Khái niệm
Cho đến nay tại Việt Nam chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra khái niệm của hệ thống bán lẻ hiện đại. Tuy nhiên dựa vào tính chất của kênh phân phối bán lẻ có thể chia ra làm 2 loại hệ thống bán lẻ là hệ thống bán lẻ truyền thống và bán lẻ hiện đại. Hệ thống bán lẻ hiện đại có mô hình tiêu biểu là cửa hàng tiện dụng (convenience store), siêu thị nhỏ (mini-super), siêu thị (supermarket), đại siêu thị (hypermarket), cửa hàng bách hoá lớn (department store), cửa hàng bách hoá thông thường, cửa hàng đại hạ giá (hard discounter), trung tâm thương mại (commercial center, shopping mall)…
Như vậy hệ thống bán lẻ hiện đại khác biệt với hệ thống bán lẻ truyền thống ở phương pháp quản lý kinh doanh, cách bài trí cửa hàng, phong cách phục vụ.
2.2.2 Đặc điểm
- Hệ thống bán lẻ áp dụng phương thức tự phục vụ (self-service) hoặc tự chọn:
Điển hình nhất trong hệ thống bán lẻ hiện đại là mô hình siêu thị. Khi nói đến siêu thị người ta không thể không nghĩ tới “tự phục vụ”, một phương thức bán hàng do siêu thị sáng tạo ra, được ứng dụng trong nhiều loại cửa hàng bán lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủ yếu của xã hội văn minh công nghiệp. Ta cũng cần phân biệt giữa phương thức tự chọn và tự phục vụ:
Tự phục vụ: khách hàng xem xét và chọn mua hàng, bỏ vào giỏ hoặc xe đẩy đem đi và thanh toán tại quầy tính tiền đặt gần lối ra vào. Người bán vắng bóng trong quá trình mua hàng. Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
Tự chọn: khách hàng sau khi chọn mua được hàng hoá sẽ đến chỗ người bán để trả tiền hàng, tuy nhiên trong quá trình mua vẫn có sự giúp đỡ, hướng dẫn của người bán. Tại các trung tâm thương mại hoặc cửa hàng bách hóa có nhân viên giúp đỡ và sẵn sàng cung cấp thông tin cho khách hàng. Tuy nhiên điểm khác biệt của phương thức bán hàng hiện đại là tính tự chủ và sự thoải mái lựa chọn của khách hàng luôn được đặt lên trên hết.
Chính thức ra đời từ những năm 1930, tự phục vụ đã trở thành công thức chung cho ngành công nghiệp phân phối ở các nước phát triển. Tự phục vụ đồng nghĩa với văn minh thương nghiệp hiện đại. Nó có nhiều ưu điểm so với cách bán hàng truyền thống: doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí bán hàng, đặc biệt là chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng (thường chiếm tới 30% tổng chi phí kinh doanh). Tự phục vụ giúp người mua cảm thấy thoải mái khi được tự do lựa chọn, ngắm nghía, so sánh hàng hóa mà không cảm thấy bị ngăn trở từ phía người bán.
Do áp dụng phương thức tự phục vụ, giá cả trong các siêu thị hay cửa hàng tiện lợi được niêm yết rõ ràng để người mua không phải tốn công mặc cả, tiết kiệm được thời gian. Ngoài ra, phương thức thanh toán tại các cửa hàng bán lẻ hiện đại rất thuận tiện. Hàng hóa gắn mã vạch, mã số được đem ra quầy tính tiền ở cửa ra vào, dùng máy quét scanner để đọc giá, tính tiền bằng máy và tự động in hóa đơn. Hình ảnh các quầy tính tiền tự động luôn là biểu tượng cho các cửa hàng tự phục vụ. Đặc điểm này đem đến cảm giác thoải mái, hài lòng, tự tin và sự thỏa mãn cao nhất cho người mua sắm…
Có thể khẳng định rằng phương thức tự phục vụ là điểm ưu việt nhất của hình thức bán lẻ hiện đại và là cuộc “đại cách mạng” trong lĩnh vực thương mại bán lẻ.
- Hệ thống bán lẻ hiện đại áp dụng nghệ thuật trưng bày hàng hoá (Merchandising)
Các siêu thị cũng là những nhà bán lẻ đầu tiên nghĩ đến tầm quan trọng của nghệ thuật trình bày hàng hoá và nghiên cứu cách thức vận động của người mua hàng khi vào cửa hàng. Nhiều cửa hàng bán lẻ khác, dựa trên cơ sở các nghiên cứu của siêu thị để tiến hành các hoạt động nghiên cứu khách hàng sâu sắc hơn nhằm tối đa hoá hiệu quả của không gian bán hàng.
Do người bán không có mặt tại các quầy hàng nên hàng hóa phải có khả năng “tự quảng cáo“, lôi cuốn người mua. Các cửa hàng hiện đại làm được điều này thông qua các nguyên tắc sắp xếp, trưng bày hàng hóa, nhiều khi được nâng lên thành những thủ thuật. Chẳng hạn, hàng có tỷ suất lợi nhuận cao được ưu tiên xếp ở những vị trí dễ thấy nhất, được trưng bày với diện tích lớn; những hàng hóa có liên quan đến nhau được xếp gần nhau; hàng khuyến mại phải thu hút khách hàng bằng những kiểu trưng bày bắt mắt; hàng có trọng lượng lớn phải xếp ở bên dưới để khách hàng dễ lấy; các mặt hàng tiêu dùng có liên quan được sắp xếp cạnh nhau để khách hàng mua sắm được thuận tiện…
- Các đặc trưng của hàng hóa Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
Hàng hóa trong siêu thị và cửa hàng tiện lợi chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày như thực phẩm, quần áo, bột giặt, đồ gia dụng điện tử… với chủng loại rất phong phú, đa dạng. Điều này tạo sự thuận tiện khi người mua chỉ cần đến 1 nơi là có thể mua đủ những mặt hàng thiết yếu hàng ngày. Với loại hình siêu thị, theo quan niệm của nhiều nước, đó phải là nơi người mua có thể tìm thấy mọi thứ họ cần ở “dưới một mái nhà” và với một mức giá phải chăng. Thông thường, một siêu thị có thể đáp ứng được 70-80% nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng về ăn uống, trang phục, mỹ phẩm, đồ làm bếp, chất tẩy rửa, vệ sinh…
Chất lượng hàng hóa bán trong hệ thống bán lẻ hiện đại được đảm bảo. Do bản thân những người bán lẻ cũng là một doanh nghiệp nên họ có ý thức bảo vệ thương hiệu của mình, tạo uy tín với khách hàng. Hơn nữa, việc kinh doanh của các siêu thị, trung tâm thương mại hay cửa hàng tiện lợi lại chịu sự quản lý chặt chẽ từ các cơ quan chức năng chứ không được buông lỏng như với các chợ hay cửa hàng tạp hóa. Do đó hàng hóa trong các siêu thị và cửa hàng hiện đại được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng, tạo lòng tin cho người tiêu dùng.
- Bảng 4: Phân tích SWOT giữa hệ thống bán lẻ hiện đại và truyền thống
3. Kinh nghiệm phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại một số nước Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
Để có được những bài học kinh nghiệm tốt ứng dụng vào phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập hiện nay, đề tài sẽ nghiên cứu kinh nghiệm của 2 nước mà cơ cấu hệ thống phân phối bán lẻ của họ có nhiều nét tương đồng với Việt Nam là Thái Lan và Trung Quốc.
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề sau: khái quát về hệ thống bán lẻ, tác động của việc mở cửa thị trường bán lẻ và chính sách của chính phủ 2 nước Thái Lan và Trung Quốc.
3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
3.1.1. Khái quát về hệ thống bán lẻ của Thái Lan
Cũng như các nước khác, dịch vụ bán lẻ của Thái Lan bao gồm 2 hình thức chủ yếu là hình thức bán lẻ truyền thống và hình thức bán lẻ hiện đại. Nhóm đầu tiên còn được gọi là “các cửa hàng ở góc phố” hay là “các cửa hàng bình dân”. Đa số các cửa hàng này nằm ở các khu vực dân cư nhỏ và đòi hỏi vốn đầu tư không lớn, phương thức quản lý đơn giản. Khách của cửa hàng này đa số là dân cư sống trong khu vực. Bên cạnh đó, Thái Lan cũng tồn tại hệ thống các cửa hàng hiện đại với phương thức quản lý và có chiến lược kinh doanh chuyên nghiệp.
Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á xảy ra, thương mại truyền thống vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống bán lẻ của Thái Lan, chiếm tới 70% tổng số doanh thu ngành bán lẻ, hệ thống hiện đại chỉ chiếm 30%.
- Bảng 5: Ước tính thị phần của loại hình bán lẻ truyền thống và hiện đại trong dịch vụ bán lẻ năm 2017 và 2021
3.1.2 Tác động của việc mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ
Dịch vụ bán lẻ của Thái Lan bắt đầu được tự do hóa từng bước từ nửa cuối thập niên 80 của thế kỷ 20. Là bộ phận chính của ngành thương mại, việc mở cửa dịch vụ bán lẻ nằm trong chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của chính phủ Thái Lan. Từ những năm mở cửa này, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào ngành thương mại Thái Lan tăng lên đáng kể, nhiều nhà phân phối nước ngoài đã tham gia vào hệ thống phân phối của Thái Lan. Các số liệu thống kê cho thấy ngành thương mại là 1 trong những ngành nhận được nhiều đầu tư nước ngoài nhất trong mấy thập kỷ qua.
Với sự khởi sắc của nền kinh tế, sức mua của người dân Thái Lan tăng cao đã là nhân tố khiến việc kinh doanh dịch vụ phân phối của Thái Lan trở nên hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài. Thêm vào đó, thói quen tiêu dùng của người dân đã thay đổi. Người dân thuộc tầng lớp thượng lưu và trung lưu không còn thích mua hàng trong những cửa hàng truyền thống rẻ tiền nữa mà họ chuyển sang mua hàng tại các siêu thị hiện đại. Chính sự thay đổi thói quen này đã tạo cơ hội cho việc phát triển hệ thống phân phối hiện đại. Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
Hiện nay hệ thống bán lẻ hiện đại của Thái Lan có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của khu vực bán lẻ truyền thống. Thị phần của hệ thống bán lẻ hiện đại năm 2021 là 54%, hệ thống bán lẻ truyền thống chỉ còn chiếm 46%. Thêm vào đó, tỷ lệ này tiếp tục tăng khi các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới tham gia vào thị trường bán lẻ của Thái Lan.
Theo ước tính, hiện nay tại Thái Lan có đến 130 siêu thị nằm trong các trung tâm thương mại. Các siêu thị này thuộc quyền sở hữu của 15 tập đoàn bán lẻ lớn tại Thái Lan. Các tập đoàn này đang có ý định xây dựng hàng loạt siêu thị cỡ trung bình nhằm đáp ứng nhu cầu hàng ngày của các tầng lớp dân cư. Các doanh nghiệp trong nước cũng liên doanh với các công ty nước ngoài để tăng sức cạnh tranh với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài.
Trung tâm thương mại là loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đang phát triển sôi động nhất tại Thái Lan, đồng thời đây cũng là loại hình thu hút nhiều khách hàng nhất tại nước này khi vừa có khả năng đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa tiêu dùng hàng ngày, vừa là nơi mua sắm giải trí hiện đại. Các trung tâm thương mại thường cung cấp hàng hóa với giá rẻ hơn từ 20%-30% so với các cửa hàng bình thường. Đây là loại hình bán lẻ quy mô lớn, có tiềm năng phát triển nhất tại Thái Lan. Các trung tâm này phần lớn do các tập đoàn nước ngoài nắm giữ, các tập đoàn bán lẻ nhỏ chiếm những phân đoạn thị trường nhỏ hơn.
3.1.3 Chính sách của chính phủ Thái Lan
Chính phủ Thái Lan nhận định rằng việc mở cửa thị trường bán lẻ đã đem lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng và có tác động tích cực tới các yếu tố khác của toàn bộ nền kinh tế. Do đó, chính phủ Thái Lan đã tạo điều kiện môi trường kinh doanh tự do thông thoáng cho hoạt động bán lẻ. Chính nhờ sự tự do này mà ngay cả trong những năm sau khủng hoảng kinh tế 2016, đầu tư vào dịch vụ bán lẻ tại Thái Lan vẫn tiếp tục tăng cao. Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
Hình thức bán lẻ hiện đại có tác động tích cực đến nền kinh tế Thái Lan như tăng thu ngoại tệ thông qua thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, xây dựng mạng lưới hạ tầng bán lẻ hiện đại, tạo cơ hội chuyển giao công nghệ và kĩ năng quản lý của nước ngoài. Đồng thời, người tiêu dùng cũng được hưởng lợi từ các dịch vụ bán lẻ hiện đại. Tuy nhiên, các hệ thống bán lẻ hiện đại phát triển quá nhanh đã làm ảnh hưởng tiêu cực tới các hoạt động mua bán truyền thống. Các nhà bán buôn, bán lẻ trong nước không thể cạnh tranh được với các nhà kinh doanh siêu thị hiện đại quy mô lớn. Theo đó, các nhà sản xuất bị mất cân bằng trong phân phối và phải phụ thuộc nhiều hơn vào các nhà bán lẻ nước ngoài.
Áp lực cạnh tranh gay gắt với các nhà bán lẻ nhỏ khiến chính phủ Thái Lan phải thay đổi chính sách quản lý với các nhà bán lẻ nước ngoài. Trước kia chính phủ mở cửa thị trường bán lẻ một cách tự do thì năm 2021, chính phủ đưa ra “Dự thảo luật bán lẻ” để kiểm soát đầu tư vào ngành bán lẻ. Đồng thời, chính phủ còn sử dụng các biện pháp quản lý chặt chẽ hơn nữa với các nhà phân phối lớn, bao gồm kiểm soát địa điểm mở siêu thị, thời gian mở cửa…
Năm 2022, cơ quan nhà đất Thái Lan đã ban hành quy định về khu vực bán lẻ đối với 75 tỉnh của Thái Lan. Theo quy định mới, các cửa hàng bán lẻ có diện tích trên 1000m2 phải được xây dựng cách trung tâm thành phố tối thiểu là 15km. Quy định này cũng đưa ra diện tích lưu không, diện tích trồng cây xanh đất tối thiểu mà các siêu thị cần có.
Trước nguy cơ các nhà phân phối nước ngoài có thể thâu tóm toàn bộ thị trường, Bộ Thương mại Thái Lan đã phải sử dụng đến các biện pháp phòng chống các chiến lược về giá cả không lành mạnh nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh của một số tập đoàn nước ngoài. Đồng thời, để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, chính phủ Thái Lan đã hỗ trợ mở nhiều khóa đào tạo, bồ dưỡng kiến thức nghiệp vụ, nâng cao trình độ quản lý, xây dựng mạng lưới bán lẻ cho các doanh nghiệp trong nước.
3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
3.2.1 Khái quát về hệ thống bán lẻ của Trung Quốc
Thị trường bán lẻ Trung Quốc là một trong những thị trường bán lẻ vào loại lớn nhất trên thế giới. Quy mô thị trường bán lẻ hiện nay của Trung Quốc là khoảng 550 tỷ USD. Dự báo trong 20 năm tới thị trường bán lẻ Trung Quốc sẽ là 2,4 nghìn tỷ USD.
Cơ sở bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài đầu tiên được phê chuẩn thành lập vào năm 2011 là cửa hàng bách hóa Yaohan Thượng Hải (liên doanh với Nhật Bản). Cho đến nay, đã có khoảng 70% trong 50 nhà phân phối hàng đầu thế giới có mặt tại Trung Quốc đại lục. Các tập đoàn nổi tiếng đóng vai trò quan trọng ở thị trường Trung Quốc là: Wal-mart (Mỹ), Carefour (Pháp), Metro (Đức), Lutus (Thái Lan), Itoyokado (Nhật Bản), Tô Quả và Vạn Giai (Hồng Kông), Hảo Ưu Đa (Đài Loan)… Các loại hình bán lẻ hiện đại tại Trung Quốc là cửa hàng bách hóa (deparment stores), siêu thị (supermarket), đại siêu thị (hypermarket), trung tâm thương mại (shopping mall), cửa hàng hội viên dạng nhà kho (warehouse membership store)- vừa bán buôn vừa bán lẻ, cửa hàng tiện lợi (convenience store), cửa hàng chuyên doanh (specialty store)…
Phần lớn các công ty bán lẻ ở Trung Quốc hoạt động dưới hình thức công ty gia đình, phân tán và hiệu quả kinh doanh không cao. Các doanh nghiệp này thường có quy mô nhỏ. Hiện nay chỉ có 122 công ty bán lẻ của Trung Quốc có doanh thu lớn hơn 50 triệu nhân dân tệ (100 tỷ đồng Việt Nam).
3.2.2 Tác động của việc mở cửa thị trường bán lẻ
Sau khi Trung Quốc thực hiện mở cửa, đã có khoảng 40 tập đoàn phân phối lớn của nước ngoài tràn vào thị trường. Với hơn 60% doanh thu bán lẻ rơi vào tay họ, các công ty bán lẻ Trung Quốc lâm vào tình trạng khó khăn, nhiều công ty bị phá sản. Họ không thể cạnh tranh được với các tập đoàn hùng mạnh về vốn và nhiều knh nghiệm kinh doanh của nước ngoài. Trong thời gian chưa tới 10 năm, các tập đoàn nước ngoài đã có chỗ đứng vững chắc trên thị trường Trung Quốc. Cuộc mở cửa thị trường bán lẻ ở Trung Quốc cho thấy 1 kinh nghiệm cay đắng khi người ta tính trong vòng bán kính 35 km trên đất Trung Quốc, nếu Carefour mở 1 đại siêu thị thì đồng thời có 3 nhà phân phối của Trung Quốc phá sản. Sự thâm nhập của các nhà phân phối nước ngoài đã tạo sức ép cạnh tranh lớn cho các doanh nghiệp phân phối trong nước.
3.2.3 Chính sách của chính phủ Trung Quốc
Để thực hiện các cam kết WTO, Trung Quốc phải tiến hành sửa đổi bổ sung và xây dựng mới hệ thống luật pháp trong nước cho phù hợp. Trung Quốc đã ban hành văn bản “Quy chế đầu tư nước ngoài” ngày 11/02/2021 có hiệu lực từ ngày 01/04/2021. Vào ngày 16/04/2023, Bộ Thương Mại Trung Quốc đã ban hành luật “Biện pháp quản lý đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thương mại” có hiệu lực từ ngày 01/06/2023 thay thế cho “Các biện pháp thử nghiệm đối với doanh nghiệp thương mại có vốn đầu tư nước ngoài” ban hành từ tháng 6/2018. Đây là những văn bản pháp luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối. Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
Theo quy định trong “Danh mục các ngành kinh doanh dành cho đầu tư nước ngoài”, kể từ ngày 11/12/2020, các nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư vào lĩnh vực bán lẻ ở Trung Quốc, nhưng chưa được phép kinh doanh một số mặt hàng nhạy cảm. Một năm sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của WTO (tức là từ ngày 11/12/2021) tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài có thể lên tới 50%. Hai năm sau khi Trung Quốc gia nhập WTO (tức là từ ngày 11/12/2022), các nhà đầu tư nước ngoài được phép quản lý công ty và tới năm 2023, các nhà đầu tư nước ngoài được phép sở hữu toàn bộ công ty.
Về mặt địa lý, khi mới gia nhập WTO, Trung Quốc chỉ cam kết cho phép đầu tư nước ngoài vào 13 nơi gồm 5 đặc khu kinh tế, 6 thành phố lớn vùng duyên hải và 2 thành phố ở miền Trung. Sau 2 năm gia nhập WTO, các doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài được phép hoạt động ở thủ phủ của tất cả các tỉnh. Các hạn chế về mặt địa lý đối với các doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài được loại trừ sau 3 năm kể từ ngày gia nhập WTO.
Chính quyền cấp tỉnh nơi doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài đặt trụ sở có thể chấp thuận đơn xin mở cửa hàng mới nếu: (i) diện tích kinh doanh của mỗi cửa hàng không vượt quá 3.000m2 và số cửa hàng trong tỉnh không vượt quá 3, đồng thời tổng số cửa hàng mở tại Trung Quốc không vượt quá 30 hoặc (ii) diện tích kinh doanh của mỗi cửa hàng không vượt quá 300m2, số cửa hàng trong tỉnh đó không vượt quá 30 và số cửa hàng giống nhau mở tại Trung Quốc không vượt quá 300, với điều kiện doanh nghiệp nước ngoài không được tiếp thị bán hàng qua vô tuyến truyền hình, điện thoại, thư đặt hàng, internet, máy bán hàng tự động… Tuy nhiên, việc chấp nhận của chính quyền cấp tỉnh phải được báo cáo cho Bộ Thương mại.
Vào ngày 11/12/2023, tất cả các hạn chế về mặt đại lý với việc thành lập doanh nghiệp bán lẻ đều được bãi bỏ. Vì vậy, hiện nay các nhà đầu tư nước ngoài có thể mở doanh nghiệp và cửa hàng bán lẻ ở bất cứ địa phương nào tại Trung Quốc.
Khi thực hiện mở cửa, trước những áp lực cạnh tranh gay gắt đe dọa sự tồn tại của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước, chính phủ Trung Quốc đã ban hành “Pháp lệnh bán lẻ” nhằm giúp các doanh nghiệp trong nước giành lại thị phần. Bên cạnh việc thu hút FDI, Trung Quốc cũng dành những ưu đãi về tín dụng, thông tin, đào tạo, trợ giúp kĩ thuật cho các doanh nghiệp bán lẻ trong nước nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước.
Trong thời kỳ từ nay đến 2029, Trung Quốc chủ trương điều chỉnh cơ cấu của ngành lưu thông hàng hóa, nhanh chóng thúc đẩy các loại hình phân phối hiện đại phát triển, nâng cao tỷ trọng của ngành phân phối hàng hóa trong tổng thu nhập quốc dân, thúc đẩy phát triển của kinh doanh bán lẻ theo chuỗi. Đặc biệt, Trung Quốc chủ trương xây dựng 5 đến 10 tập đoàn doanh nghiệp kinh doanh theo chuỗi đủ mạnh để có thể cạnh tranh ở thị trường trong nước và vươn ra quốc tế. Để xây dựng các tập đoàn này, chính phủ Trung Quốc chủ trương liên kết các doanh nghiệp, tái cơ cấu tổ chức, phát hành cổ phiểu để huy động vốn. Về loại hình phân phối, Trung Quốc chủ trương đa dạng hoá, không chỉ phát triển các siêu thị, trung tâm thương mại mà còn khuyến khích xây dựng các cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh, các siêu thị tổng hợp loại lớn, các kho bán buôn…Chính phủ Trung Quốc cũng khuyến khích hoạt động mua lại, sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ, các nhà kinh doanh siêu thị nhỏ, hình thành nên các tập đoàn siêu thị lớn để cạnh tranh với các siêu thị nước ngoài, khuyến khích các doanh nghiệp vận hành theo mô hình chuỗi siêu thị nhằm tăng cường tính hiệu quả trong kinh doanh.
Tóm lại, tuy thời gian đầu Trung Quốc có đưa ra nhiều hạn chế khá nghiêm ngặt trong việc thực hiện mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực phân phối, nhưng về tổng thể chính sách áp dụng trong thời gian này vẫn được đánh giá cao vì nó thúc đẩy mở rộng đầu tư trong nước vào lĩnh vực thương mại. Cùng với việc đầu tư vào Trung Quốc của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài , các doanh nghiệp bán lẻ trong nước sẽ có cơ hội học hỏi kinh nghiệm kinh doanh, phương thức quản lý, vận hành hệ thống quản lý kinh doanh với từng loại hình cửa hàng.
3.3 Bài học cho Việt Nam Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
Qua kinh nghiệm của Thái Lan và Trung Quốc về phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại ta có thể rút ra nhiều bài học cho Việt Nam. Cùng với sự phát triển kinh tế và mức sống của người dân được nâng cao, hệ thống bán lẻ hàng hóa ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân. Mở cửa thị trường bán lẻ là tất yếu và cần thiết. Nó mang đến cơ hội phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng, nhưng đồng thời cũng đặt ra cho hệ thống bán lẻ truyền thống nhiều thách thức.
Bài học của Thái Lan cho thấy việc các nhà đầu tư nước ngoài được tạo điều kiện đầu tư quá dễ dàng đã làm cho trong một thời gian ngắn, thị trường bán lẻ nằm trong tay của các tập đoàn lớn, họ có được sức mạnh chi phối thị trường. Việt Nam không nên mở cửa thị trường bán lẻ quá nhanh chóng mà cần có lộ trình từng bước để tạo sức ép vừa đủ cho các nhà bán lẻ trong nước tự đổi mới nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa có thể phát triển cơ sở hạ tầng thương mại hiện đại. Chính phủ có thể sử dụng kết hợp linh hoạt nhiều biện pháp để phát triển thị trường bán lẻ và trợ giúp các doanh nghiệp nội địa trong cạnh tranh. Một trong những biện pháp mà Thái Lan và Trung Quốc đã áp dụng là quản lý đất đai, mặt bằng xây dựng, hạn chế số lượng siêu thị trong thành phố, đồng thời hỗ trợ thông tin, đào tạo kĩ năng quản lý cho các doanh nghiệp trong nước.
Việt Nam cũng nên học hỏi chính phủ Thái Lan và Trung Quốc trong việc ban hành các quy định pháp lý trong hiện đại bán lẻ. (Trung Quốc có Pháp lệnh bán lẻ, Thái Lan có dự thảo luật bán lẻ). Trong giai đoạn đầu mở cửa hội nhập, những khung pháp lý này có vai trò quan trọng để điều chỉnh hoạt động của các công ty, tập đoàn bán lẻ.
Mặt khác, mở cửa thị trường theo cam kết WTO phải đảm bảo nguyên tắc thương mại bình đẳng không phân biệt đối xử. Do vậy, chính phủ Việt Nam phải vừa tạo ra môi trường kinh doanh cởi mở, bình đẳng giữa các nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước, vừa tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước và hệ thống bán lẻ truyền thống từng bước nâng cao nội lực, hiện đại hóa hoạt động kinh doanh để đứng vững trước sự cạnh tranh của nước ngoài. Song song với phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại theo xu thế tất yếu của hội nhập, cần phải đồng thời hiện đại hóa hệ thống bán lẻ truyền thống để hệ thống này có thể tồn tại song song với hệ thống bán lẻ hiện đại. Khóa luận: Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng của hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam


Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại VN