Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ cho các bạn.
1.CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CỨU TRỢ XÃ HỘI.
Từ xưa đến nay, dù ở thời nào, hoạt động cứu trợ ở nước ta luôn được đặt lên hàng đầu và được xác định là một phương sách quan trọng để duy trì sự ổn định và phát triển. Đảng và Nhà nước ta thường xuyên đề ra những chính sách cứu trợ tuy có khác nhau ở từng thời kỳ.
Trước cách mạng tháng 8 cứu trợ xã hội được thể hiện dưới các hình thức:
- Lập ra quỹ ruộng quỹ thóc công dành cho các phụ nữ góa và trẻ em mồ côi, dành cho những người nghèo khốn khó (chẳng hạn như những quả phụ điền, cô nhi điền, trợ sưu điền, nghĩa điền)
- Lập ra các phường hôi theo quan hệ than tộc, quan hệ láng giềng hay quan hệ lập nghiệp khi các thành viên trong xã hội không may rơi vào hoàn cảnh khó khăn (chả hạn như hội vạn chài, hội gặt lúa, hội dệt vải, hội hiếu…)
- Tổ chức các hội cứu, các hội tương tế để bênh vực cho công nhân các hội tế bần từ thiện.
Kế thừa và phát huy truyền thống nhân ái cao đẹp của dân tộc, Đảng và Nhà nước đã xác định cứu trợ xã hội là một trong những cơ chế bảo vệ quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội ở nước ta, được đặt song song với cơ chế bảo hiểm xã hội. Ngay từ những ngày đầu đất nước giành độc lập, mặc dù đất nước vẫn còn nhiều khó khăn thiếu thốn, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến nỗi thống khổ của tầng lớp dân nghèo thông qua một loạt những hoạt động như:
- Đảng và Nhà nước kêu gọi phá kho thóc Nhật chia cho người nghèo
- Phát động phong trào nhường cơm, sẻ áo, “hũ gạo cứu đói”
- Giảm tô, giảm tức và chia ruộng cho người nghèo, người neo đơn, tàn tật
- Thành lập nhà cứu tế để đáp ứng cho nhu cầu thực hiện cứu tế cho xã hội.
Giai đoạn 1945 -1975: đây là giai đoạn đất nước tập trung hết sức người, sức của cho công cuộc giải phóng đất nước để chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Ở đầu giai đoạn này, cứu trợ xã hội tập trung chủ yếu vào việc “diệt giặc đói” với mục tiêu không để người dân chết đói. Bộ cứu tế đã ra đời và ban hành Nghị định ngày 10/9/1945 về việc đặt nguyên tắc đặt cứu trợ kinh tế và thành lập ra một cơ quan cứu tế tại các cơ sở y tế địa phương. Sau đó, ủy ban tối cao về tiếp tế và cứu trợ được thành lập theo Sắc lệnh số 67/SL ngày 29/11/1945 của Chính phủ lâm thời. Đặc biệt ngày 9/11/1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta được Quốc hội thông qua, trong đó tại Điều 14 có ghi nhận về quyền cứu trợ xã hội. Từ đây quyền được giúp đỡ về vật chất và tinh thần của những đối tượng bị thiệt thòi trong xã hội đã trở thành quyền hiến định.
Từ những năm 1945 trở đi, do yêu cầu của công cuộc kháng chiến nên các chế độ cứu trợ xã hội tập trung chủ yếu vào người già cô đơn, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa và đối tượng là nạn nhân của chiến tranh. Một số văn bản pháp luật tiêu biểu cho thời kỳ này là: Thông tư 123/TTG ngày 30/3/1959 của Thủ tướng vê việc thành lập quỹ nghĩa thương, thôn g tư 202/CP ngày 26/11/1966 của Hội đồng chính phủ về chính sách đối với người già cả, trẻ mồ côi không nơi nương tựa và người tàn tật…Trợ cấp cứu trợ xã hội đã có tác dụng ổn định đời sống của toàn dân, tạo tâm lý yên tâm để sản xuất, xây dựng miền Bắc, làm hậu phương vững chắc để chi viện cho miền Nam. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Giai đoạn 1975 đến nay: Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ (tháng 4/1975), cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới-giai đoạn cả nước độc lập thống nhất, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội.Tuy nhiên do ảnh hưởng hậu quả nặng nề của chiến tranh cùng với những tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 80 đã làm cho đối tượng cứu trợ xã hội tăng lên, gánh nặng cho chính sách cứu trợ xã hội. Nhìn chung, các quy định cứu trợ xã hội đầu giai đoạn này phải giảm giá trị thực tế, các đối tượng cứu trợ phải trông chờ vào các biện pháp tương trợ cộng đồng khác.
Từ năm 1986 đến nay: pháp luật về cứu trợ xã hội của nước ta có nhiều tiến bộ hơn. Đặc biệt là sau đại hội lần thứ VI của Đảng – đại hội mở ra thời kỳ đổi mới sâu sắc, toàn diện trên đất nước ta. Nhà nước đã thực hiện rất nhiều chính sách nhằm hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội để phù hợp với tình hình mới. Trong giai đoạn này, có khá nhiều văn bản pháp luật về cứu trợ xã hội được ban hành, trong đó có một số văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao, đặc biệt có ý nghĩa đối với các đối tượng cứu trợ xã hội như: Pháp lệnh người tàn tật số 06/1998/PL-UBTVQH ngày 30/7/1998, Pháp lệnh người cao tuổi UBTVQH thông qua ngà 28 tháng 4 năm 2000.
Bên cạnh đó, với mục tiêu “tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội”chúng ta đã ưu tiên nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển dịch vụ phúc lợi xã hội cơ bản: Y tế, giáo dục, nước sạch…do vậy đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận nhân dân, trong đó có nhóm người yếu thế đã từng bước được nâng lên. Đi cùng với đầu tư phát triển phúc lợi xã hội một loạt chính sách hỗ trợ trực tiếp cũng được triển khai thực hiện như: chính sách cứu trợ đột xuất, thường xuyên, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, các hoạt động cứu trợ xã hội cũng dần dần được luật hóa với nhiều văn bản pháp luật, thông tư, nghị định và bộ luật lao động quy định về cứu trợ xã hội thường xuyên, đột xuất, quy định về việc trợ giúp dành cho người già, trẻ em đặc biệt khó khăn. Cụ thể là một hệ thống văn bản pháp quy đã được xây dựng như: Pháp lệnh người tàn tật được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 28/4/2000, Nghị định số 07/2000/NĐ-CP 09/03/2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội; Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Điều 6 Nghị định số 55/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 07 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh về người tàn tật; Điều 6, điều 9 Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2002 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Người cao tuổi; Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc sửa đổi Điều 9 của Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26 tháng 03 năm 2002 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành môt số quy định của Pháp lệnh Người cao tuổi; Điều 5 quyết định số 38/2004/QĐTTG ngày 17 tháng 3 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi; Quyết định số 16/2004 /QĐ-TTG ngày 5 tháng 2 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ giúp đối với hộ gia đình có từ 02 người trở lên không tự phục vụ được do chịu hậu quả chất độc hóa học của Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam; các khoản 1, 2, 3 Điều 1 và khoản 1, 2, 3 Điều 2 Quyết định số 313/2005/QĐ-TTG ngày 02 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng chính phủ về một số chế độ đối với những người nhiễm HIV/AIDS và những người trực tiếp quản lý, điều trị chăm sóc những người nhiễm HIV/AIDS trong các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước…và gần đây nhất là Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 15/04/2007 về chính sách cứu trợ xã hội đã thay thế các nghị định trên…
Trải qua nhiều khó khăn thiếu thốn của đất nước nhưng hoạt động cứu trợ ở nước ta vẫn ngày càng phát triển và đi vào ổn định. Theo đánh giá chung, Việt Nam được coi là nước có những cam kết mạnh mẽ về sự phát triển xã hội. So với nhiều nước trong khu vực Việt Nam là nước có chương trình cứu trợ khá toàn diện.Với sự quan tâm và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, của xã hội, cơ chế cứu trợ xã hội ở nước ta luôn được củng cố và tăng cường, góp phần tạo điều kiện giúp đỡ những người nghèo, yếu thế có thể vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, hạn chế những mặc cảm và tự vươn lên hòa nhập với trong cộng đồng. Với sự quan tâm và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, của xã hội, cơ chế cứu trợ xã hội của nước ta luôn được củng cố và tăng cường, góp phần tạo điều kiện giúp những người nghèo yếu thế có thể vượt qua khó khăn trong cuộc sống, hạn chế những mặc cảm và tự vươn lên trong cuộc sống hòa nhập với cộng đồng. Theo số liệu của Bộ lao động Thương binh và Xã hội, số tiền ngân sách chi ra cho những hoat động này (chỉ tính riêng năm 2000) là 648,8 tỷ và những năm sau đó vẫn tiếp tục tăng. Riêng trong hai năm 2000-2001 đã đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho gần 800 nghìn người lao động, khoảng 16% số người mắc phải tệ nạn xã hội được tập trung cải tạo và dạy nghề giúp họ trở lại con đường làm ăn lương thiện.
Người chết do thiên tai được hỗ trợ tiền thuốc chữa bệnh, hộ gia đình mất nhà mất tài sản, phương tiện sản xuất, thiếu đói…đều có chính sách trợ giúp của Nhà nước. Đối với người già cô đơn không nơi nương tựa , trẻ em mồ côi, người tàn tật nặng không có người nuôi dưỡng được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên của xã, phường hoặc được đưa vào nuôi dưỡng tập trung trong các cơ sở Bảo trợ xã hội. Ngoài ra, họ còn được hỗ trợ khám chữa bệnh miễn phí, giáo dục, chỉnh hình phục hồi chức năng, dạy nghề, tạo việc làm…và đặc biệt nhận được sự chăm sóc của cộng đồng xã hội. Hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện đã thể hiện sự công bằng-bình đẳng trong xã hội. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Là một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lại bị ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu, đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh nên hiện nay số người cần trợ giúp xã hội của Việt Nam rất lớn, chiếm hơn 20% dân số cả nước. Trong đó có khoảng 9,2 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, gần 5% hộ nghèo, 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, 234 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, 204 nghìn người nghiện ma tuý, khoảng 30 nghìn nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình; ngoài ra, còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố.(20)
Giai đoạn 2011-2015: kinh tế đất nước có khó khăn, thách thức, song Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều giải pháp để bảo đảm an sinh xã hội, trong đó có lĩnh vực trợ giúp xã hội tiếp tục là điểm sáng. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: “Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân”. Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 cũng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách Nhà nước. Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội. Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội. Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão”.
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và các Nghị quyết của Quốc hội, công tác trợ giúp xã hộ thời gian qua đã đạt được những kết quả chính như sau:
Thứ nhất, đã xây dựng được hệ thống văn bản pháp luật, chính sách tạo cơ sở pháp lý cho thực hiện tốt chính sách trợ giúp xã hội. Đến nay, đã có trên 10 Bộ luật, luật; 7 Pháp lệnh và hơn 30 Nghị định, Quyết định của Chính phủ; hơn 40 Thông tư, thông tư liên tịch và nhiều văn bản có nội dung liên quan quy định khuôn khổ pháp luật, chính sách trợ giúp xã hội. Trong đó có những văn bản quan trọng như Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Luật Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội….
Thứ hai, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên.Tính đến cuối năm 2015, cả nước đã giải quyết trợ cấp xã hội hàng tháng cho trên 2,643 triệu đối tượng. Trong đó: người cao tuổi trên 80 tuổi không có lương hưu 1.454 ngàn người; người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo 85 ngàn người; người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng 896 ngàn người; trẻ em mồ côi không có nguồn nuôi dưỡng 45 ngàn trẻ; người đơn thân nuôi con thuộc hộ nghèo 113 ngàn người; ngoài ra, còn khoảng 50 ngàn đối tượng khác. Kinh phí chi trợ cấp xã hội hàng tháng, cấp thẻ bảo hiểm y tế và hỗ trợ chi phí mai táng cho các đối tượng khoảng 13 nghìn tỷ đồng/năm. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Thứ ba, bảo đảm ổn định đời sống dân sinh khi gặp thiên tai, hỏa hoạn và các nguyên nhân bất khả kháng. Từ năm 2011 đến nay, các địa phương đã chủ động bố trí ngân sách địa phương, huy động cộng đồng và các nhà hảo tâm hỗ trợ hàng hóa, lương thực với trị giá hàng ngàn tỷ đồng cho các cá nhân và gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai, tai nạn giao thông hoặc các lý do bất khả kháng khác. Tính đến ngày 31/12/2014, Chính phủ đã hỗ trợ 180.224 tấn gạo cho 26 lượt tỉnh để thực hiện cứu đói cho 2.469.443 lượt hộ/8.618.121 nhân khẩu thiếu lương thực.
Thứ tư, đã từng bước quy hoạch, phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội và dịch vụ trợ giúp xã hội. Hiện nay, cả nước có 408 cơ sở trợ giúp xã hội, gồm 194 cơ sở công lập và 214 cơ sở ngoài công lập, được thành lập, hoạt động, kiện toàn theo quy định tại Nghị định số 68/2008/NĐ-CP, Nghị định số 81/2012/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, có 31 cơ sở chăm sóc người cao tuổi, 71 cơ sở chăm sóc người khuyết tật, 139 cơ sở chăm sóc trẻ em, 102 cơ sở tổng hợp, 31 cơ sở chăm sóc người tâm thần, 34 Trung tâm công tác xã hội với khoảng 10.000 cán bộ, nhân viên.
Thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/03/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020; đến nay, cả nước có 34 tỉnh, thành phố thành lập, xây dựng mô hình trung tâm công tác xã hội, trong đó có trên 20 tỉnh, thành phố xây dựng mô hình trung tâm công tác xã hội trên cơ sở nâng cấp, chuyển đổi cơ sở bảo trợ xã hội. 100% tỉnh, thành phố đã thành lập mạng lưới cộng tác viên công tác xã hội từ nhiều chương trình, đề án khác nhau với tổng số gần 100 nghìn cộng tác viên. Các chương trình, giáo trình đào tạo công tác xã hội trình độ đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đã được hoàn thiện, ban hành và triển khai đào tạo tại 55 trường cao đẳng, đại học có đào tạo công tác xã hội trên cả nước; có 3 trường đào tạo tiến sỹ, thạc sỹ công tác xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt Đề án đào tạo thạc sỹ công tác xã hội do Tổ chức CFSI và Học viện châu Á tài trợ; 11 trường cao đẳng, đại học đã đào tạo hệ vừa học, vừa làm cho 13.000 cán bộ trình độ đại học, 1.092 cán bộ trình độ cao đẳng và 7.024 cán bộ trình độ trung cấp công tác xã hội; các tỉnh/thành phố đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho 40.000 lượt cán bộ, nhân viên công tác xã hội.
Tổng kết lại, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chính sách pháp luật trên nhiều phương diện khác nhau để hoàn thiện và thúc đẩy “cứu trợ xã hội” được toàn diện hơn. Cụ thể như sau:
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
Thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo
Đói nghèo là vấn đề kinh tế, xã hội sâu sắc. Xoá đói, giảm nghèo là một trong những vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ bản lâu dài, là một chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác xoá đói, giảm nghèo. Đặc biệt từ năm 1986, khởi đầu công cuộc đổi mới, một mặt Đảng khuyến khích mọi người trong các thành phần kinh tế làm giàu hợp pháp, mặt khác tích cực chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo trong cả nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VII (61993) đã chỉ rõ: “Trợ giúp người nghèo chủ yếu bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn. Hình thành quỹ xoá đói giảm nghèo ở từng địa phương trên cơ sở dân giúp dân, Nhà nước giúp dân và tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong nước và quốc tế. Phấn đấu tăng số hộ giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo”. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng đã trở thành cuộc vận động lớn, khởi đầu ở thành phố Hồ Chí Minh (1992), tiếp đến là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh Khu IV, Khu V cũ, các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ… Đến tháng 12-1995 cả 53 tỉnh, thành phố trong cả nước đều có chương trình xoá đói, giảm nghèo, trong đó 49 tỉnh, thành phố đã thành lập ban chỉ đạo xoá đói, giảm nghèo ở cấp tỉnh, huyện, xã. Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã chú trọng xây dựng các nguồn lực cho xoá đói, giảm nghèo: nguồn lực về lao động và đất đai; nguồn lực về vốn; thực hiện chuyển giao công nghệ giúp đỡ hộ đói, nghèo tổ chức cuộc sống; thực hiện các chính sách xã hội khác đối với người đói, nghèo như hỗ trợ người nghèo về y tế, về giáo dục, khai trương Ngân hàng phục vụ người nghèo (nay là Ngân hàng chính sách xã hội).
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng chủ trương: “Thực hiện tốt chương trình xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…”. Xoá đói, giảm nghèo được xác định là một trong 11 chương trình quốc gia. Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 23-7-1998, Chính phủ ra Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 với mục tiêu và nhiều giải pháp cụ thể. Tiếp đó, ngày 31-7-1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135). Phong trào xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh với nhiều mô hình gia đình, thôn, bản, xã, huyện xoá đói, giảm nghèo có hiệu quả đã được nhân rộng như: mô hình tín dụng – tiết kiệm, mô hình xã hội hoá hỗ trợ nhà ở cho người nghèo, mô hình “một mái nhà, một bể nước, một con bò”, mô hình dạy nghề ngắn hạn miễn phí, mô hình liên thông xuất khẩu lao động…, các dự án thuộc Chương trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo theo Quyết định số 133 của Thủ tướng Chính phủ đã đi vào hoạt động và đạt hiệu quả rõ rệt.
Nhận thức về xoá đói, giảm nghèo cũng có những tiến bộ, từ chỗ không chấp nhận có sự phân hoá giàu – nghèo đã đi đến chủ trương khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư, coi việc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển xã hội.
Tổng kết 20 năm đổi mới (1986-2006), Đảng ta đã khẳng định: “Công tác xoá đói giảm nghèo được đẩy mạnh và đạt kết quả đầy ấn tượng. Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống dưới 7% năm 2005. Còn theo chuẩn quốc tế (tính theo chuẩn 1 đôla/ngày/người), thì tỷ lệ nghèo chung đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 28,9% năm 2002; nếu tính theo chuẩn mới (2 đôla/ngày/người) thì hộ nghèo ở Việt Nam năm 2004 là 27,5%”. Ngay từ năm 2002, Việt Nam đã được Liên hợp quốc đánh giá là “Hoàn thành sớm hơn so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ hộ nghèo vào năm 2015”. Cũng theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã về đích trước 10 năm so với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Cũng chính nhờ năng lực lãnh đạo phát triển xã hội của Đảng mà xét về năng lực giảm nghèo của các quốc gia (gọi tắt là CPM) thì Việt Nam được xếp thứ 27 trong số 101 nước đang phát triển, có năng lực tốt hơn trong xoá đói, giảm nghèo, trên cả một số nước trong khu vực như Inđônêxia, Malaixia, Philíppin, Thái Lan…. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Tuy nhiên, những vấn đề bức xúc và thách thức hiện nay đối với xoá đói, giảm nghèo là: chưa gắn chặt giữa tăng trưởng với giảm nghèo. Vấn đề nâng cao năng lực thị trường cho người nghèo, biến họ thành chủ thể, chủ động và tích cực trong phát triển kinh tế chưa được quan tâm đúng mức. Người nghèo chưa chủ động tham gia vào thị trường; kết quả xoá đói, giảm nghèo chưa vững chắc, tỷ lệ hộ nghèo đã thoát nghèo nhưng nằm sát chuẩn nghèo rất lớn (70-80%), chỉ cần gặp rủi ro là họ lại rơi vào nghèo đói; tỷ lệ tái nghèo còn cao (7-10%), bất bình đẳng về thu nhập và mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư còn lớn và có xu hướng gia tăng. “Chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị gấp trên 2 lần (năm 2002 gấp 2,26 lần; năm 2004 gấp 2,15 lần; năm 2006 gấp 2,09 lần). 90% hộ nghèo sống ở nông thôn và tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn còn cao (18% so với 14,75% hộ nghèo của cả nước), đặc biệt hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm tới 36% tổng số hộ nghèo cả nước, chủ yếu là vùng miền núi phía bắc và Tây Nguyên, là địa bàn rất khó khăn cho công tác xoá đói giảm nghèo”.
Thực hiện chính sách ưu đãi người có công:
Chăm sóc, ưu đãi người có công với cách mạng không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, mà còn thể hiện truyền thống và đạo lý của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”. Vì vậy, từ trước tới nay, trong bất luận hoàn cảnh nào, Đảng và Nhà nước cũng luôn luôn xác định chính sách đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với Tổ quốc là một trong những chính sách lớn có vị trí rất quan trọng trong chiến lược con người. Đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước đã từng bước sửa đổi, bổ sung hệ thống chính sách, chế độ ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991) nhấn mạnh: “Quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng, coi đó vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân; sớm ban hành chế độ toàn dân đóng góp vào quỹ đền ơn, trả nghĩa để chăm lo đời sống thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII của Đảng cũng chỉ rõ: “có chính sách thích đáng đối với các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh”.
Ngày 10-9-1994, Chủ tịch nước ban hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước: Bà mẹ Việt Nam anh hùng và Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng gọi chung là Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Đảng từng bước sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, tổ chức thực hiện đầy đủ các chính sách, chế độ theo pháp lệnh về người có công.
Công tác chăm sóc người có công đã được xã hội hoá, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn”, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đã trở thành nét đẹp trong các tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội. Việc chăm sóc người có công với cách mạng và trợ giúp người có đời sống khó khăn được duy trì và mở rộng. Đến năm 1998, khi ngân sách Nhà nước có khả năng đáp ứng, Chính phủ đã trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá X ban hành Pháp lệnh số 08/1998/PL-UBTVQH10 sửa đổi điều 21 của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Ngày 11-12-1998, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Lệnh số 08/L-CTN công bố Pháp lệnh sửa đổi điều 21 của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.
Trên cơ sở đó, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 19/2000/PL-UBTVQH10 (sửa đổi lần 2) điều 21 của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Từ năm 2005, trước tình hình kinh tế – xã hội đất nước phát triển, đòi hỏi chính sách ưu đãi người có công phải bám sát thực tiễn cuộc sống, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tham mưu trình Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bổ sung, sửa đổi Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Ngày 29-6-2005, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, sửa đổi, bổ sung (số 26/2005/PL- UBTVQH11). Theo đó, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi đã mở rộng từ 7 đối tượng ở Pháp lệnh cũ lên 13 đối tượng. Pháp lệnh sửa đổi năm 2005 còn bổ sung chế độ mai táng phí đối với một số đối tượng có công hưởng trợ cấp, phụ cấp hằng tháng; bổ sung chế độ đối với người có công sau khi chết, thân nhân của họ tiếp tục được hưởng một khoản trợ cấp; bổ sung chế độ đối với bố mẹ, vợ hoặc chồng, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ được hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng không phụ thuộc tuổi đời; thân nhân hai liệt sĩ được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng; bổ sung chế độ bảo hiểm y tế và mai táng phí đối với người hoạt động kháng chiến và người có công giúp đỡ cách mạng hưởng trợ cấp một lần; quy định người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học là người có công với cách mạng.
Ngày 26-6-2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/2006/NĐ-CP, theo đó, ngoài chế độ trợ cấp, người hoạt động kháng chiến còn được hưởng các ưu đãi khác như bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khoẻ, phục hồi chức năng lao động, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình…, con đẻ của họ được hưởng chế độ ưu đãi trong giáo dục và đào tạo.
Hơn 20 năm đổi mới đất nước cũng là hơn 20 năm Đảng từng bước đổi mới và hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công. Nghị quyết Đại hội X của Đảng (4-2006) chỉ rõ: “Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi người có công với nước; vận động toàn xã hội tham gia các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa; nâng cao mức sống về vật chất, tinh thần của người có công ngang bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư. Trợ giúp nạn nhân chất độc da cam…”. Ngày 14-12-2006, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Chỉ thị số 07-CT/TW, về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác thương binh, liệt sĩ, người có công và phong trào “đền ơn đáp nghĩa”. Đồng thời để tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công, ngày 18-6-2007, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, sửa đổi, bổ sung lần thứ ba. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng có Thông tư số 25/2007/TT-BLĐTBXH, ngày 15-11-2007, hướng dẫn bổ sung việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, trong đó quy định: người có công giúp đỡ cách mạng trong kháng chiến được Nhà nước tặng huân chương, huy chương kháng chiến đã chết mà chưa được hưởng chế độ ưu đãi thì thân nhân của họ được hưởng trợ cấp một lần như quy định đối với thân nhân người có công với cách mạng chết trước ngày 1-1-1995 (quy định tại khoản 7 mục B Bảng số 01 kèm theo Nghị định số 32/2007/NĐ-CP ngày 2-32007 của Chính phủ).
Tiếp đó, ngày 7-4-2009, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 08/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn điều kiện, tiêu chuẩn giải quyết chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học và con đẻ của họ. Theo đó điều kiện để hưởng chế độ ưu đãi người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học là: đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ tháng 8-1961 đến 30-4-1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hoá học; mắc một trong những bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm chất độc hoá học/điôxin theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT ngày 20-2-2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Danh mục bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm chất độc hoá học/điôxin.
Phong trào “đền ơn đáp nghĩa” được khởi nguồn từ năm 1947 đến nay, nhân dân cả nước đã có nhiều hoạt động phong phú, thiết thực thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc và trở thành nét đẹp trong đời sống văn hoá của nhân dân ta. Cũng từ phong trào “đền ơn đáp nghĩa” đã có hơn 300 nghìn gia đình chính sách được tặng “nhà tình nghĩa”, hơn 600 nghìn sổ tiết kiệm được gửi đến các gia đình chính sách còn khó khăn, hàng chục nghìn “vườn cây tình nghĩa”, “ao cá tình nghĩa”… được trao tặng, tổng giá trị các hoạt động tình nghĩa tới hàng nghìn tỷ đồng. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
“Trong điều kiện vừa chống lạm phát vừa chống suy giảm kinh tế, hằng năm, Nhà nước vẫn dành hơn 10 nghìn tỷ đồng thực hiện chế độ ưu đãi một lần hoặc thường xuyên cho 8,2 triệu người có công; thực hiện các chính sách bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí trong giáo dục, cấp đất, làm nhà, hỗ trợ vốn sản xuất, kinh doanh và nhiều chế độ ưu đãi đặc thù khác… Từ năm 2008 đến nay, tuy điều kiện kinh tế có khó khăn, nhưng phong trào “đền ơn đáp nghĩa” vẫn tiếp tục phát triển, cả nước đã trao tặng gần 10 nghìn nhà tình nghĩa, sửa chữa hơn 8.000 nhà, tặng hơn 21 nghìn sổ tiết kiệm, vận động “Quỹ đền ơn đáp nghĩa” được hàng trăm tỷ đồng; gần 10 nghìn xã, phường (đạt tỷ lệ gần 95%) được uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố công nhận làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ”. Một thành tựu khá nổi bật nữa là chế độ trợ cấp ưu đãi xã hội đã có sự đổi mới căn bản. Gắn liền với lộ trình cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội, mức trợ cấp ưu đãi xã hội được điều chỉnh trên cơ sở mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội, phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. “Năm 2007, nguồn lực tài chính dành riêng ưu đãi xã hội là 13.000 tỷ đồng, năm 2008 là 15.000 tỷ đồng, năm 2009 là 17.000 tỷ đồng (riêng năm 2009 cùng với nguồn lực tài chính từ địa phương, nguồn huy động từ xã hội hoá, chi ưu đãi xã hội đối với người có công lên tới 20.000 tỷ đồng)”14.
Chăm sóc nâng cao sức khoẻ nhân dân
Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được Đảng chú trọng nên đạt kết quả tốt, góp phần hạ thấp tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi, cơ bản thanh toán một số dịch bệnh phổ biến trước đây, khống chế thành công bệnh viêm đường hô hấp cấp (SARS). Mạng lưới y tế được mở rộng, đặc biệt là y tế cơ sở. Tính đến hết năm 2004, cả nước có 13.149 cơ sở y tế, tăng 1.370 cơ sở so với năm 1986; có 99.300 y, bác sĩ, tăng 35.600 người so với năm 1986. Số y tá có 49.000 người; nữ hộ sinh có 17.500 người, tăng 2.400 người so với năm 1986. Bình quân 1 vạn dân có 24,4 giường bệnh; 11,8 y, bác sĩ, tăng 1,4 người so với năm 1986. Số xã, phường có bác sĩ tăng lên đáng kể, nếu năm 1997 mới có 2.413, thì năm 2000 số xã, phường có bác sĩ đã lên tới 5.366. Chế độ khám, chữa bệnh cho người nghèo, khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi đang được triển khai thực hiện.Việc phòng, chống HIV/AIDS được đẩy mạnh hơn. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 33,4% năm 2000 xuống dưới 25% năm 2005… Tuổi thọ bình quân của dân số nước ta từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 67,8 năm 2000, 71,5 tuổi năm 2005 và 72 tuổi năm 2007.
Thực hiện chính sách an sinh xã hội Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Chính sách an sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản của quốc gia hướng vào bảo vệ, bảo đảm an toàn cho các thành viên trong xã hội trong các trường hợp rủi ro dẫn đến bị giảm hoặc bị mất thu nhập, hoặc phải tăng chi phí đột xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau – gọi là “rủi ro xã hội”. An sinh xã hội dựa trên nguyên tắc chia sẻ trách nhiệm và công bằng xã hội, là một trong những chỉ báo quan trọng của một xã hội phát triển. Xã hội càng phát triển, đời sống con người càng phong phú, nhu cầu đáp ứng về an sinh xã hội càng đa dạng và tăng lên. Các nhu cầu về an sinh xã hội cơ bản bao gồm: bảo hiểm xã hội; duy trì mức thu nhập đủ sống khi gặp rủi ro; tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, nước sạch sinh hoạt…).
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm phát triển hệ thống an sinh xã hội với những chính sách cụ thể nhằm phòng ngừa và khắc phục rủi ro trong kinh tế thị trường và rủi ro xã hội khác cho mọi người, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4-2006) đề ra chủ trương: “Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân”. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu khoá X một lần nữa nhấn mạnh: “từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống an sinh xã hội để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là của nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo”.
Thực hiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với kinh tế thị trường, tạo cơ hội cho mọi người tiếp cận các chính sách an sinh xã hội, nhất là bảo hiểm xã hội (bao gồm bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp), giảm nghèo và hoà nhập xã hội nhóm yếu thế (trợ giúp xã hội )…, chính là thực hiện công bằng xã hội, hướng vào phát triển con người, tạo động lực tăng trưởng và phát triển bền vững, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đầu tư cho chính sách an sinh xã hội cũng chính là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển.
Nhìn tổng thể, chính sách trợ giúp xã hội ở Việt Nam đã đạt được thành quả góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho người dân. Hệ thống trợ giúp xã hội tuy đã hình thành nhưng chưa được hoàn thiện theo cách tiếp cận hệ thống, đồng bộ, toàn diện, bao phủ hết đối tượng, gắn kết chặt chẽ trong mối tương quan với an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về phát triển trợ giúp xã hội, nhất là trong điều kiện Việt Nam là nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
2. PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CỨU TRỢ XÃ HỘI. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Ở Việt Nam, dù thuật ngữ “An sinh xã hội” mới chỉ xuất hiện từ những năm 70 trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài gòn nhưng cứu trợ xã hội chắc chắn đã xuất hiện từ rất lâu trong truyền thống tinh thần “lá lành đùm lá rách” của dân tộc Việt. Hiện nay, cứu trợ xã hội được nhà nước Việt nam đặc biệt quan tâm và là một trong những chính sách lớn của Nhà nước, thể hiện qua Nghị định số 07/2000/NĐ-CP quy định về đối tượng được hưởng, chế độ hưởng cũng như các hình thức cứu trợ .
2.1.Về đối tượng và điều kiện hưởng cứu trợ xã hội
Theo pháp luật hiện hành, đối tượng được hưởng cứu trợ xã hội được chia thành hai loại theo hai chế độ: cứu trợ xã hội thường xuyên và cứu trợ xã hội đột xuất.
2.1.1. Đối tượng và điều kiện được cứu trợ xã hội thường xuyên
Chế độ cứu trợ xã hội thường xuyên là sự hỗ trợ, giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần mang tính lâu dài cho những người thuộc diện cứu trợ xã hội nhằm giúp đỡ họ ổn định cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng. Tuỳ từng đối tượng cứu trợ xã hội khác nhau mà pháp luật quy định chế độ trợ cấp cụ thể. Theo quy định của pháp luật hiện hành, đối tượng cứu trợ xã hội thường xuyên bao gồm 9 nhóm đối tượng sau:
- Trẻ em mồi côi và người có hoàn cảnh tương tự như trẻ em mồ côi
- Người cao tuổi bao gồm người cao tuổi cô đơn thuộc hộ gia đình nghèo và người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo.
- Người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội.
- Người tàn tật không có khả năng lao động hoặc không có khả năn tự phục vụ
- Người mắc bệnh tâm thần hoặc tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được các cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm.
- Người nhiễm HIV/AIDS không có khả năng lao động và thuộc hộ gia đình nghèo.
- Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi.
- Hộ gia đình có 2 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ hoặc có từ 2 người mắc bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm.
- Người đơn thân thuộc hộ gia đình nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi, trường hợp con đang đi học văn hóa, học nghề được áp dụng dưới 18 tuổi.
Như vậy, so với các quy định trước đây nhóm đối tượng hưởng chế độ cứu trợ xã hội thường xuyên đã tăng lên 9 đối tượng so với 4 đối tượng đã quy định trong Nghị định số 07/2000/NĐ-CP. Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu nội dung cụ thể của nhóm đối tượng đầu tiên này: Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Trẻ em mồ côi và người có hoàn cảnh tương tự giống trẻ em mồ côi đó là:
- Trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ, mất nguồn nuôi dưỡng
- Trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng
- Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không có người nuôi dưỡng.
- Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo.
- Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên .
Đây là nhóm đối tượng đầu tiên được quan tâm trong nhóm đối tượng cứu trợ xã hội thường xuyên. Điều này cũng dễ hiểu bởi nhận thức của nhân loại nói chung và của Việt Nam nói riêng thì trẻ em được coi là tương lai của đất nước. Chính vì vậy, quyền trẻ em đã trở thành quyền hiến định, ghi nhận tại Điều 65 – Hiến pháp 1992 “trẻ em được gia đình, nhà trường và xã hội bảo vệ chăm sóc và giáo dục”. Tuy nhiên, một số trẻ em do hoàn cảnh nhất định cần đến sự giúp đỡ của Nhà nước, cộng đồng, xã hội. Trẻ em mồ côi sống trong điều kiện rất khó khăn, không được chăm sóc đầy đủ, phải lao động kiếm sống, ít có điều kiện đến trường, phải sống trong cảnh nghèo đói. Theo kết quả tổng hợp báo cáo của Bộ lao động-Thương binh và xã hội cho biết: “từ năm 2001 đến nay con số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã giảm xuống 1,7 triệu em trong giai đoạn 2005-2007 và có xu hướng ổn định, không tăng đến năm 2008. Ngoài ra còn có 1.8 triệu em trong các hộ nghèo. Đây là các đối tượng rất cần được sự quan tâm của Nhà nước và cộng đồng nhằm giúp các em sớm hòa nhập vào cuộc sống và đảm bảo phát triển đầy đủ, toàn diện. Tuy nhiên, quy định này cũng bộc lộ nhiều hạn chế nhất định. Điều kiện xác định đối tượng hưởng cứu trợ xã hội là trẻ em từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đang đi học văn hóa, học nghề (khoản 1 điều 4 Nghị định 67/2007/NĐ-CP) là không phù hợp, bởi các lí do sau:
- Theo quy định tại Điều 6 bộ luật Lao động thì người đủ từ 15 tuổi trở lên có thể tham gia quan hệ lao động
- Hiện nay, với các điều kiện kinh tế, sức khỏe trẻ em nói chung đã tham gia quan hệ lao động dưới các hình thức khác nhau trong độ tuổi từ 12-13 trở lên và thậm chí ở một số gia đình khó khăn các em là trụ cột gia đình. Chính vì vậy, trong khi nguồn ngân sách cho cứu trợ xã hội chưa đủ mức độ bao phủ thì việc lựa chọn đúng đối tượng cứu trợ, đúng người là cần thiết nhất. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Người cao tuổi: vấn đề người cao tuổi đã và đang trở thành vấn đề xã hội của nhiều quốc gia quan tâm. Quan tâm chăm sóc người già nói chung và người già cô đơn không người nuôi dưỡng là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội, nhất là đối với Việt Nam, một đất nước có truyền thống tôn trọng người già. Theo quy định của pháp luật hiện hành, những người cao tuổi sau thuộc diện hưởng chế độ cứu trợ xã hội:
- Người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo
- Người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo.
Bằng quy định này, Nhà nước đã giúp không ít các đối tượng người già duy trì ổn định cuộc sống lúc cuối đời.Tuy nhiên, căn cứ vào quy định trên ta thấy tiêu chí quan trọng của người cao tuổi được hưởng cứu trợ xã hội là “cao tuổi” và “hộ nghèo”.
Các đối tượng trên được quy định mức độ trợ cấp của chế độ trợ cấp thường xuyên trong Nghị định 67/2007/NĐ-CP với các điều khoản sau:
Điều 7.
- Quy định mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 120.000 đồng (hệ số 1); khi mức sống tối thiểu của dân cư thay đổi thì mức chuẩn trợ cấp xã hội cũng được điều chỉnh theo cho phù hợp.
- Các mức trợ cấp xã hội hàng tháng thấp nhất đối với từng nhóm đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại Nghị định này như sau:
Điều 8. Các đối tượng nêu trên tại khoản 1,2,3,4,5,6; trẻ em mồ côi; trẻ em bị bỏ rơi được gia đình, cá nhân nêu tại khoản 7 nuôi dưỡng; người tàn tật trong hộ gia đình nêu tại khoản 8; trẻ em là con của người đơn thân nêu tại khoản 9 Điều 4 Nghị định này được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định tại
Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế hoặc được khám, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở công lập theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Điều 9. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
- Trẻ em từ 13 tuổi trở lên sống tại các cơ cở bảo trợ xã hội, nhà xã hội tại cộng đồng, không còn học văn hóa thì được giới thiệu đến các cơ sở dạy nghề để học nghề theo quy định hiện hành của Nhà nước.
- Trẻ em mồ côi đã đến tuổi trưởng thành nhưng không tiếp tục học văn hóa, học nghề; người tàn tật đã phục hồi chức năng; người tâm thần đã ổn định đang ở cơ sở bảo trợ xã hội được đưa trở về địa phương (nơi đối tượng sinh sống trước khi được đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội). Ủy ban nhân dân cấp xã và gia đình có trách nhiệm tiếp nhận và tạo điều kiện cho họ có việc làm, ổn định cuộc sống.
- Trẻ em bị bỏ rơi sống tại cơ sở bảo trợ xã hội đã đến tuổi trưởng thành nhưng không tiếp tục học văn hóa ,học nghề thì cơ sở bảo trợ xã hội và địa phương nơi cơ sở bảo trợ xã hội đặt trụ sở có trách nhiệm hỗ trợ tạo việc làm và nơi ở và tiếp tục cho hưởng trợ cấp cho đến khi ổn định được cuộc sống, nhưng không quá 24 tháng.
Điều 10. Ngoài được hưởng khoản trợ cấp hàng tháng theo quy định tại Điều 7 Nghị định này, các đối tượng được nêu tại các khoản 1,2,3,4,5,6; trẻ em mồ côi; trẻ em bị bỏ rơi được gia đình, cá nhân nêu tại khoản 7 nuôi dưỡng; người tàn tật không có khả năng tự phục vụ trong hộ gia đình nêu tại khoản 8; trẻ em là con của người đơn thân nêu tại khoản 9 Điều 4 Nghị định này còn được hưởng thêm các khoản trợ giúp sau:
- Các đối tượng đang học văn hóa, học nghề được miễn giảm học phí; được cấp sách vở, đồ dùng học tập theo quy định của pháp luật.
- Khi chết được hỗ trợ kinh phí mai tang 2.000.000/ người.
- Các đối tượng ở cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Nhà nước quản lý ngoài các khoản trợ giúp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này còn được:
- Trợ cấp để mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt đời sống thường ngày.
- Trợ cấp mua thuốc chữa bệnh thông thường;riêng người nhiễm HIV/AIDS được hỗ trợ điều trị nhiễm trùng cơ hội mức 150.000/người/năm.
- Trợ cấp vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với đối tượng nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
Điều 11. Căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng các ngành, đoàn thể ở Trung ương (có cơ sở bảo trợ xã hội) quyết định mức trợ cấp, trợ giúp cho các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc quyền quản lý cho phù hợp, nhưng không thấp hơn các mức quy định trên.
2.1.2. Đối tượng và điều kiện được cứu trợ xã hội đột xuất: Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Cứu trợ xã hội đột xuất là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về điều kiện sinh sống cho các thành viên trong cộng đồng khi gặp các rủi ro khó khăn bất ngờ khiến cho cuộc sống của họ tạm thời bị đe dọa, nhằm giúp họ vượt qua sự hụt hẫng, ổn định cuộc sống và sớm trở lại hòa nhập với cộng đồng. Theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP quy định đối tượng được cứu trợ như sau:
Đối tượng được trợ giúp cứu trợ đột xuất (một lần) là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác gây ra, bao gồm:
- Hộ gia đình có người chết, mất tích;
- Hộ gia đình có người bị thương nặng;
- Hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng;
- Hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất-lâm vào cảnh thiếu đói
- Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quyét;
- Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú dẫn đến bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc.
- Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú.
Uỷ ban nhân dân cấp xã, bệnh viện, cơ quan, đơn vị đứng ra tổ chức mai táng cho người gặp rủi ro ngoài vùng dân cư bị chết, gia đình không biết để mai táng.
Chế độ trợ cấp cho các đối tượng thuộc diện cứu trợ thường xuyên được quy định trong Nghị định số 67/2007/NĐ-CP như sau:
Theo điều 12 mức độ cứu trợ cấp cứu đột xuất thấp nhất đối với các đối tượng quy định tại Điều 6 của Nghị định này như sau:
Đối với hộ gia đình:
- Có người chết, mất tích: 3.000.000/người.
- Có người bị thương nặng:1.000.000/người.
- Có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy hỏng nặng: 5.000.000/hộ
- Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét: 5.000.000/hộ
Đối với cá nhân:
- Trợ giúp cứu đói: 15kg/người/tháng; trong thời gian từ 1 đến 3 tháng.
- Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị thương nặng, gia đình không biết chăm sóc: 1.000.000/người.
- Người lang thanh xin ăn trong thời gian tập trung để đưa về nơi cư trú: 10.000/người /ngày nhưng không quá 30 ngày. Trường hợp đặc biệt cần phải kéo dài thì thời gian đươc hưởng trợ cấp tối đa không quá 3 tháng và mức trợ cấp bằng mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng tại cơ sở bảo trợ xã hội.
Đối với người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị giết, gia đình không biết mai táng đươc Ủy ban nhân dân cấp xã, bệnh viện, cơ quan, đơn vị tổ chức mai táng thì các cơ quan, đơn vị đứng ra mai táng được hỗ trợ kinh phí mai táng thấp nhất là 2.000.000 đồng. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Điều 13. Hộ gia đình có người lao động chính bị chết, mất tích; hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất; hộ gia đình có nhà bị đổ sập, trôi, cháy, hỏng nặng, lâm vào cảnh bị đói do thiếu lương thực, ngoài khoản trợ cấp nêu trên tại Điều 12 Nghị định này, được xem xét trợ giúp thêm các khoản sau cho đến khi hộ thoát khỏi hộ nghèo:
- Miễn giảm học phí cho người đang học văn hóa, học nghề.
- Được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc khám chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở chữa bệnh Nhà nước.
- Được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất.
Điều 14.Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mức trợ giúp cụ thể đối với trường hợp nêu tại mục d khoản 1 Điều 6 cho phù hợp với tình hình thực tế và khả năng huy động nguồn lực của địa phương.
Nhà nước khuyến khích các địa phương nâng mức trợ cấp, trợ giúp cao hơn mức thấp nhất quy định tại Điều 12 Nghị định này.
Cứu trợ xã hội và Bảo hiểm xã hội đều là các nhánh của An sinh xã hội. Chúng đều là những chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia. Chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau và góp phần ổn định cuộc sống cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội, từ đó góp phần ổn định và an toàn cho xã hội. Qua đây, chúng ta sẽ tìm hiểu và so sánh qua đối tượng của Cứu trợ xã hội và Bảo hiểm xã hội.
Chúng ta có thể so sánh qua đối tượng cứu trợ xã hội và đối tượng của bảo hiểm xã hội.Cùng là những mảng chính trong hệ thống chính sách của an sinh xã hội,cứu trợ xã hội và bảo hiểm xã hội đều thực hiện mục tiêu tạo ra mạng lưới bảo vệ an toàn cho các thành viên trong xã hội khi gặp điều kiện rủi ro,yếu thế trong cuộc sống;cả hai hoạt động trên đều dựa vào nguồn quỹ tập trung hoặc quỹ thành phần và đều nằm dưới sự quản lý của Nhà nước.CTXH và BHXH đều mang hình thức thực hiện phân phối lại thu nhập trong xã hội;nội dung và phạm vi điều chỉnh của chính sách phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ.Bên cạnh điểm giống nhau thì BHXH và cứu trợ xã hội còn có những điểm khác nhau đó là:về đối tượng của BHXH thì thu nhập bị giảm hoặc mất của người lao động khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động,mất việc làm.;còn cứu trợ xã hội-thành viên gặp khó khăn,bất hạnh,ruit ro trong cuộc sống như thiên tai,hỏa hoạn,bị tàn tật,già yếu…dẫn đến cuộc sống túng quẫn không đảm bảo điều kiện sống tối thiểu.Đối tượng hưởng của BHXH mang phạm vi hẹp gồm người tham gia bảo hiểm xã hội và người thứ ba;còn cứu trợ xã hội lại có phạm vi rộng gồm những người gặp rủi ro,bất hạnh trong cuộc sống. BHXH có tính pháp lý cao được các nước luật hóa tương đối thống nhất trên cơ sở các khuyến cáo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO);còn cứu trợ xã hội tính pháp lý luô bị hạn chế do đối tượng rộng nên phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi nước.Về đặc điểm:người muốn được hưởng BHXH thi phải có hai yếu tố một là phải đóng góp phí bảo hiểm,hai là rủi ro khi xảy ra;CTXH-người được trợ cấp không nhất thiết phải tham gia hình thành nên quỹ.BHXH mang tính chất bắt buộc đối với người lao động và người sử dụng lao động;còn cứu trợ xã hội ít mang tính chất bắt buộc thiên về mảng nhân đạo, đạo đức.
2.2. Các hình thức cứu trợ xã hội Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
2.2.1. Cứu trợ bằng tiền
Cứu trợ xã hội bằng tiền là việc thực hiện giúp đỡ dưới hình thức tiền mặt cho người được cứu trợ. Hình thức cứu trợ này có nhiều ưu điểm những có các hạn chế. Các khoản viện trợ bằng tiền tạo cơ hội cho người nhận có nhiều lựa chọn hơn và mang lại cho người nhận mức thỏa mãn cao hơn với bất kỳ một mức thu nhập nào so với cứu trợ bằng hiện vật. Song mức cứu trợ bằng tiền được xác định như thế nào cho hợp lý không phải điều dễ dàng.
Ví dụ: Với các cá nhân, hộ gia đình gặp nạn do thiên tai hoặc những lí do bất khả kháng , thành phố Đà Nẵng sẽ hộ trợ 2 triệu đồng/người cho gia đình có người chết hoặc mất tích. 3-5 triệu đồng/hộ bị cháy, sập trôi nhà và hộ phải di dời khẩn cấp. Nhà bị hư hỏng nặng ,Tp hỗ trợ 1,5 -2 triệu đồng.
Việc xác định mức tiền cứu trợ quả thật là không dễ dàng đối với Nhà nước và các cơ quan chức năng tham gia hoạt động cứu trợ.Ví dụ như cùng chung một hoàn cảnh bị thiên tai,bão lũ nhưng có hộ gia đình bị thiệt hại ít và có hộ gia đình bị thiệt hại nhiều mất cả người lẫn của.Tuy nhiên các ban nghành, cơ quan chức năng không thể nào đi sâu hết chi tiết hoàn cảnh của từng gia đình một để xem xét và quyết định mức tiền trợ cấp.Mức tiền trợ cấp thì luôn có một mức chung cho từng hoàn cảnh,từng gia đình.Ngoài ra,còn tồn tại rất nhiều trường hợp vô lý của từng địa phương khi dân nhận tiền trợ cấp ủng hộ nhưng lại bị cơ quan ban ngành địa phương thu lại :tiêu biểu như vụ việc trưởng thôn đến thu lại tiền hàng trợ cấp của dân tại thị xã Ba Đồn- Quảng Bình
2.2.2. Cứu trợ bằng hiện vật
Bên cạnh các khoản cứu trợ bằng tiền mặt, người được cứu trợ có thể nhận cứu trợ bằng hiện vật. Đó là các vật phẩm, hàng hóa được cấp phát và các dịch vụ mà Nhà nước và cộng đồng xã hội trợ giúp.
Ví dụ:
- Các chương trình cứu trợ đồng bào miền Trung bị lũ lụt bằng quần áo ,thức ăn, thuốc men và các nhu yếu sản phẩm.
- Với các gia đình bị mất phương tiện sản xuất, lâm vào hoàn cảnh thiếu đói, TP Đà nẵng hỗ trợ 10kg/khẩu/tháng (hộ chính sách được 12kg/khẩu/tháng) trong thời gian tối đa 3 tháng. TP cũng sẽ hỗ trợ những người thiếu đói giáp hạt 8kg gạo/tháng/khẩu (hộ chính sách 10kg/khẩu/tháng) trong thời gian tối đa 2 tháng.
Có thể thấy so với BHXH thì hính thức của cứu trợ xã hội có điểm giống nhau: Nhà nước là chủ thể chính thực hiện chính sách. Điểm khác nhau: BHXH là hệ thống mang tính chất chia sẻ rủi ro,việc tri trả bảo hiểm xã hội chủ yếu căn cứ vào mức đóng góp các bên tham gia bảo hiểm xã hội,quỹ bảo hiểm xã hội hình thành với cơ chế đóng góp ba bên là chủ yếu,chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội chỉ yếu được thực hiện định kì với phương thức thành toàn chủ yếu bằng tiền. CTXH có đặc điểm riêng đó là.mọi thành viên trong xã hội đều được cứu trợ xã hội khi cần thiết,đó là các biến cố bất ngờ khiến cho các cá nhân gia đình có thể rơi vào tình trạng không thể lo liệu được cuộc sống bản thân và những người phụ thuộc hoặc rơi vào hoàn cảnh cực kì vất vả khó khăn,cứu trợ xã hội có cả hình thức cứu trợ bằng tiền và vật. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
2.3 Các chế độ cứu trợ xã hội
Chế độ cứu trợ xã hội là những lợi ích mà cá nhân thuộc diện cứu trợ xã hội được hưởng từ Nhà nước và cộng đồng mà nghĩa vụ phải đóng góp không đặt ra. Tuy nhiên, mức độ hưởng chế độ cứu trợ xã hội không phải là cào bằng, áp dụng cho mọi người hưởng như nhau mà phải đáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định pháp luật hiện hành. Xuất phát từ đối tượng hưởng cứu trợ xã hội khác nhau, pháp luật hiện hành thực hiện hai nội dung chính là chế độ cứu trợ xã hội thường xuyên và chế độ cứu trợ xã hội đột xuất.
2.3.1.Cứu trợ xã hội thường xuyên.
Như đã nêu ở phần trước, cứu trợ xã hội thường xuyên là sự hỗ trợ, giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần mang tính lâu dài cho những người thuộc diện cứu trợ xã hội nhằm giúp đỡ họ ổn định cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng.
Về bản chất
Bản chất chính sách cứu trợ xã hội thường xuyên là giải pháp cụ thể, hợp phần chính của cứu trợ xã hội và do Nhà nước là chủ thể chính thực hiện. Như vậy, có thể hiểu: “Chính sách cứu trợ xã hội thường xuyên là hợp phần của chính sách cứu trợ xã hội được cụ thể các biện pháp, giải pháp bảo đảm của Nhà nước để giúp đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khắc phục khó khăn trước mắt và lâu dài. Việc đảm bảo này thông qua việc cung cấp nguồn tài chính hàng tháng, dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các dịch vụ cứu trợ xã hội thường xuyên khác.
Mục tiêu
Mục tiêu tổng thể của chính sách cứu trợ xã hội thường xuyên là hướng tới giải quyết vấn đề công bằng, ổn định và phát triển bền vững về chính trị, kinh tế và xã hội của quốc gia. Mục tiêu cụ thể nhằm giúp đối tượng bảo trợ xã hội bảo đảm các điều kiện sống ổn định, an toàn, hòa nhập, tham gia đóng góp vào quá trình phát triển xã hội.
Nguyên tắc thực hiện
Nguyên tắc chính sách cứu trợ xã hội thường xuyên gồm:
- Tuân thủ hệ thống chính trị.
- Bảo đảm tính khoa học
- Bảo đảm tính hiệu lực Bảo đảm tính hiệu quả
- Bảo đảm tính công bằng
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch
- Bảo đảm sự ổn định bền vững
- Bảo đảm sự chia sẻ trách nhiệm.
Nhân tố ảnh hưởng
Những nhân tố ảnh hưởng chính sách bao gồm:
- Các nhân tố từ đối tượng hưởng lợi (quy mô, phân bố đối tượng, nhu cầu trợ giúp của các đối tượng; và năng lực cá nhân của đối tượng thụ hưởng)
- Các nhân tố từ cơ chế, công cụ chính sách (hệ thống hóa các văn bản pháp luật, năng lực hoạch định chính sách và tổ chức thực thi chính sách của các cơ quan và hệ thống các công cụ chính sách)
- Nhân tố thuộc về chính trị, kinh tế văn hóa và xã hội.
Nội dung Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Chính sách cứu trợ xã hội thường xuyên được hình thành từ nhu cầu thực tế của đối tượng. Các chính sách bộ phận bao gồm:
- Chính sách trợ cấp xã hội
- Chính sách trợ giúp y tế.
- Chính sách trợ giúp giáo dục, đào tạo.
Một số chính sách khác như dậy nghề, tạo việc làm, vay vốn, hỗ trợ cải thiện hoặc làm mới nhà ở, nước sạch vệ sinh môi
Công cụ thực hiện
Chính sách cứu trợ xã hội thường xuyên được thực hiện thông qua các công cụ cơ bản: Công cụ hành chính và tổ chức (văn bản chính sách, kế hoạch chính sách, tổ chức bộ máy và cán bộ); công cụ tài chính; công cụ giáo dục và tâm lý; công cụ kỹ thuật nghiệp vụ của chính sách.
Quyền lợi cơ bản của đối tượng cứu trợ xã hội thường xuyên là được trợ cấp hàng tháng. Mức trợ cấp được xác định dựa trên nhu cầu tối thiểu của đối tượng và khả năng đáp ứng của Nhà nước và điều kiện cụ thể của từng địa phương. Các địa phương có thể tự quyết định mức trợ giúp cho đối tượng hưởng cứu trợ xã hội nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu do Nhà nước quy định hiện nay. Quy định này của pháp luật nhằm đảm bảo cuộc sống tối thiểu nhất cho đối tượng được hưởng cứu trợ xã hội, đồng thời tránh sự tùy tiện của các địa phương trong công tác thực hiện chế độ cứu trợ.
Mức trợ cấp hàng tháng hiện nay theo quy định của Nghi định số 13/NĐ-CP ngày 27/2/2010 là 180.000 đồng/tháng/đối tượng (hệ số 1), tùy từng đối tượng cụ thể và điều kiện sinh hoạt mà quy định hệ số khác nhau. Như vậy, mức trợ cấp hiện tại đã được tăng lên 50% so với mức quy định trước đây (Nghị định 67/2007/NĐ-CP đối tượng trợ cấp được hưởng 120.000 đồng/tháng). Các đối tượng khác nhau, nhu cầu khác nhau thì được hưởng mức trợ cấp khác nhau. Quy định này tránh được hiện tượng cào bằng, bình quân áp dụng cho mọi đối tượng được hưởng trợ cấp.
Ngoài ra, đối tượng cứu trợ xã hội thường xuyên còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc khám chữa bệnh không phải trả tiền ở các cơ sở y tế công lập; hỗ trợ học văn hóa, học nghề; hỗ trợ kinh phí mai táng khi chết; riêng các đối tượng thuộc diện đặc biệt khó khăn không thể tự lo được cho cuộc sống thì được xem xét tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc nhà xã hội tại cộng đồng. Các đối tượng sống tại cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước, ngoài các chế độ trên còn được hưởng:
- Trợ cấp để mua sắm tư trang, vật dụng sinh hoạt đời sống hàng ngày.
- Trợ cấp để mua thuốc chữa bệnh thông thường, riêng người nhiễm HIV/AIDS được hỗ trợ điều trị nhiễm trùng cơ hội mức 250.000 đồng/năm/người.
- Trợ cấp vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với đối tượng nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
Như vậy, chế độ cứu trợ xã hội thường xuyên ngày được nâng lên đảm bảo đáp ứng nhu cầu tối thiều hàng ngày của đối tượng hưởng. Bên cạnh đó, Nhà nước không chỉ giúp đỡ các đối tượng hưởng đơn thuần về mặt kinh tế mà còn góp phần tạo điều kiện giúp các đối tượng có điều kiện vươn lên, hòa nhập cuộc sống.
2.3.2. Cứu trợ xã hội đột xuất: Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Cứu trợ xã hội đột xuất là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về điều kiện sinh sống cho các thành viên trong cộng đồng khi gặp các rủi ro khó khăn bất ngờ khiến cho cuộc sống của họ tạm thời bị đe dọa, nhằm giúp họ vượt qua sự hụt hẫng, ổn định cuộc sống và sớm trở lại hòa nhập với cộng đồng.
Công tác cứu trợ đột xuất bao gồm tổng hợp tất cả các hoạt động liên quan đến CTĐX cho các đối tượng, từ khâu xây dựng chính sách, huy động nguồn lực đế khâu tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Trong công tác CTĐX thì khâu huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện cứu trợ được coi là khâu có ý nghĩa quan trọng nhất, kết quả của nó có ý nghĩa quyết định đến thành công hay thất bại của CTĐX.
Nội dung của CTĐX:
Với cách hiểu về CTĐX như trên, có thể thấy CTĐX sẽ bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
- Cứu trợ về đời sống nhân dân (ăn, ở, mặc…) sau thiên tai. Công việc cứu trợ về đời sống cho nhân dân sau thiên tai là một trong những công việc khá quan trọng của CTĐX. Nó giữ vai trò giúp cho đời sống của nhân dân vùng thiên tai (về cả vật chất và tinh thần), tạo điều kiện ban đầu để người dân có thể nhanh chóng ổn định lại cuộc sống, tiếp tục lao động sản xuất.
- Cứu giúp nhân dân bị tai nạn ở những vùng xảy ra chiến tranh. Mặc dù chiến tranh đã lùi xa chúng ta hơn 30 năm nhưng công việc CTĐX cho nhân dân ở những vùng xảy ra chiến tranh vẫn luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, sẵn sàng mỗi khi có tình huống xảy ra. Đây là một hoạt động vô cùng quan trọng mà vai trò của nó chắc không ai có thể phủ nhận được, nó không những có ý nghĩa về mặt kinh tế-xã hội mà còn có ý nghĩa về cả chính trị -an ninh-quốc phòng.
- Hỗ trợ khi có đói giáp hạt (phần lớn là do hậu quả thiên tai…) Trước đây trong thời kì chiến tranh, đói giáp hạt là một hiện tượng phổ biến, là hậu quả của nhiều biến cố (cả chiến tranh, cả thiên tai) chiếm đến phần lớn công việc của CTĐX. Từ khi chiến tranh kết thúc, đói giáp hạt vẫn là một hiện tượng tuy không còn phổ biến nhưng vẫn thường xuyên xảy ra một cách cục bộ ở nơi này hay nới khác trên đất nước ta mà phần lớn là đói giáp hạt do hậu quả của thiên tai. Chính vì vậy, hỗ trợ khi có đói giáp hạt vẫn là một nội dung công việc của CTĐX.
Nguyên tắc của cứu trợ đột xuất:
CTĐX cần phải coi trọng những nguyên tắc: Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
- Nắm chắc tình hình, luôn có kế hoạch dự phòng sát với từng vùng, từng địa phương.
- Việc cứu trợ phải nhanh chóng, kịp thời, đúng đối tượng, đúng chính sách đến tận tay người cần cứu trợ.
- Cứu trợ tập trung vào những vùng tổn thất nặng, cứu trợ cho những người không có khả năng tự cứu mình, không bình quân dàn đều, cứu trợ để nâng đỡ vượt khó khăn, không cứu trợ để ỷ lại.
- Là trách nhiệm của cả 3 phía: Nhà nước, cộng đồng xã hội và người cần cứu trợ, trong đó chú ý phát huy sức mạnh cộng đồng, cứu trợ kịp thời tại chỗ ngay sau khi có thiên tai…
Nhân tố ảnh hưởng đến cứu trợ xã hộiĐ
Điều kiện tự nhiên:đối với nước ta,điều kiện tự nhiên là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đối với công tác cứu trợ xã hội.Bao gồm:điều kiện về thời tiết và điều kiện về địa hình.
Đặc điểm về thời tiết,khí hậu:Việt nam là một quốc gia nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa,khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt:mùa mưa và mùa khô.Đặc biệt tỏng những năm gần đây thời tiết diễn biến có xu hướng khó lường một mặt do thay đổi khí hậu toàn cầu,mặt khác do rừng bị tàn phá nặng nề,môi trường sinh thái chuyển biến theo hướng xấu nên thiên tai xảy ra càng nhiều hơn,với cường độ và mức tàn phá ngày càng lớn gây mất mác lớn về người và tài sản cũng như các công tình công cộng .Đối tượng phải CTĐX hàng năm rất lớn và đa dạng .Công tác CTĐX mặc dù luôn coi trọng khâu nắm tình hình để tổ chức thực hiện nhưng trước những diễn biến đó công tác CTĐX cũng gặp nhiều khó khăn và thường ở trong tình trạng bị động.
Đặc điểm về địa hình:nước ta với diện tích không lớn nhưng trải dài từ Bắc xuống Nam .Địa hình hẹp và tương đối phức tạp hàng năm đều có thiên tai xảy ra ở nhiều địa phương,đặc biệt là ở khu vực miền núi phía bắc,miền trung,tây nguyên và ĐBSCL gây thiệt hại về người và tài sản ,mùa màng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân và sự phát triển kinh tế của đất nước.Với điều kiện địa hình như vậy,công tác triển khai cứu trợ thường gặp rất nhiều khó khăn ,không chủ động đáp ứng không kịp thời yêu cầu của nhân dân.Như vậy,có thể nói đối với nước ta ,điều kiện tự nhiên là nhân tố có tác động rất lớn đối với CTĐX –chủ yếu là tác động tiêu cực.Những tác động này đã và sẽ làm cho công tác CTĐX gặp nhiều khó khăn.Do đó mà trong thời gian tới Bộ LĐTBXH cũng như các cơ quan chức năng khác cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương để chủ động nắm tình hình và khuyến nghị với Chính phủ các chính sách về đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng ,khắc phục những khó khăn về điều kiện địa hình,phát triển kinh tế cho các vùng có địa hình hiểm trở và phức tạp ,tạo điều kiện tốt cho các hoạt động cứu trợ và tăng khả năng tự phòng chống thiên tai cho các địa phương.
Các điều kiện kinh tế-xã hội: Nếu như điều kiện tự nhiên là những nhân tố tác động khách quan thì điều kiện kinh tế-xã hội lại là những nhân tố có ảnh hưởng chủ quan tới công tác CTĐX mà chúng ta hoàn toàn có thể điều tiết được.Các điều kiện kinh tế-xã hội chủ yếu là: điều kiện về cơ sở hạ tầng; quá trình đô thị hóa; phong tục tập quán; cơ chế-chính sách đầu tư ;chính sách hỗ trợ sản xuất… Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Cơ sở hạ tầng:Trong những năm qua mặc dù Đảng và Nhà nước đã chú trọng rất nhiều tới vấn đề phát triển hạ tầng ,đặc biệt là cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo ,vùng đồng bào dân tộc thiểu số,vùng sâu,vùng xa;vùng biên giới hải đảo.Nhiều chương trình,dự án đã được xây dựng và thực hiện bước đầu về cơ bản đã thu được những thành quả đáng kể nhưng do nguồn vốn còn hạn chế ,quá trình tổ chức thực hiện ,quản lý còn chưa tốt cho nên tới nay cơ sở hạ tầng phần lớn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội .Do cơ sở hạ tầng chưa phát triển theo yêu cầu nên kinh tế nhiều vùng vẫn còn nghèo,khả năng tự ứng phó với các điều kiện tự nhiên không có.Do đó,khi thiên tai ,dịch họa xảy ra thì để lại những tổn thất rất nặng nề và công tác tổ chức di dời và cứu trợ gặp rất nhiều khó khăn,ảnh hưởng đến kết quả của công tác cứu trợ.
Quá trình đô thị hóa:Do yêu cầu phát triển của CNH-HĐH và đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra ở các quốc gia muốn tăng trưởng và phát triển.Trong quá trình phát triển CNH-HĐH ở nước ta hiện nay,vấn đề đô thị hóa đã trở thành một hiện tượng kinh tế-xã hội bức xúc.Rõ ràng không ai có thể phủ nhận được lợi ích của quá trình CNH-HĐH.Nhờ có quá trình CNHHĐH mà bộ mặt của nhiều vùng đã đổi thay từng giờ ,đời sống của nhân dân được cải thiện đáng kể.Bên cạnh đó,nó còn tồn tại một số mặt trái đó là:quá trình CNH-HĐH tất yếu kéo theo quá trình đô thị hóa ,đô thị hóa càng tăng thì đất đai cho sản xuất nông càng bị thu hẹp.Việc mất đất canh tác là một hụt hẫng lớn đối với người nông dân,nhất là đối với những gia đình trong nhiều đời nay đã gắn bó với ruộng đồng ,với nghề nông.Đất đai bị thu hẹp làm cho những người nông dân nghèo chỉ còn được trông chờ một diện tích nhỏ để sản xuất cho nên khi có thiên tai xảy ra thì những bộ phận gia đình của bộ phận dân cư này có nguy cơ mất trắng toàn bộ diện tích sản xuất càng cao dẫn đến nguy cơ thiếu đói Như vậy,có thể thấy quá trình đô thị hóa tuy phần lớn có tác động tích cực đến công tác CTĐX.CNH-HĐH và đô thị hóa làm cho kinh tế phát triển,cơ sở hạ tầng được đầu tư ,cải tạo và nâng cấp;tăng khả năng tạo nguồn và tự phòng chống rủi ro cho nhân dân làm cho công tác CTĐX được dễ dàng và thuận lợi hơn nhưng mặt khác chúng ta cũng phải có biện pháp để dè chừng quá trình này không để nó diễn ra một cách tự phát
Phong tục tập quán:Nước ta đất trât,người đông;sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn GDP.Người dân Việt Nam đã quen với thói quen sản xuất nhỏ ,tự cung tự cấp,đặc biệt là ở khu vực nông thôn,vùng dồng bào dân tộc thiểu số.Với phong tục,thói quen sản xuất như vậy lại trong điều kiện khắc nghiệt ,bất thường cơ sở hạ tầng yếu kém nên khi xảy ra thiên tai thì người dân rất dễ có khả năng mất hết ,mất trắng mùa màng và hoàn toàn có thể rơi vào tình trạng thiếu đói chứ chưa kể bình thường đã có nhiều người ở nhiều vùng,địa phương thường xuyên bị thiếu đói giáp hạt do nhiều nguyên nhân khác nhau.Chính vì vậy,phong tục tập quán lạc hậu đang là yếu tố cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung ,đồng thời làm tăng gánh nặng cho công tác cứu trợ.
Chính sách hỗ trợ sản xuất:trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt,cộng thêm điều kiện tự nhiên ngày càng khắc nghiệt,trong khi ở các nước phát triển Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất nông nghiệp ,thậm chí bảo hộ sản xuất nông nghiệp.Vì vậy mà người nông dân của họ ít phải đối mặt với những khó khăn và có khả năng chịu đựng cao mỗi khi khó khăn xảy ra,công tác cứu trợ ít phải thực hiện.Còn ở nước ta,một quốc gia dang phát triển,gần 80% dân số phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp ,nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu,đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn thì Chính phủ lại chưa có những chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp thích đáng thêm vào đó là những diễn biến phức tạp của điều kiện tự nhiên cho nên đời sống của nhân dân rất khó khăn ,hàng năm số người bị thiếu đói giáp hạt còn rất cao.Mỗi năm ngân sách Nhà nước phải chi đến hàng ngàn tỷ đồng cho việc cứu trợ cho những đối tượng này,làm tăng nguồn ngân sách cứu trợ,ảnh hưởng đến chất lượng cứu trợ. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Kinh tế thị trường đang trong giai đoạn chuyển đổi và những mặt trái của nó.Từ khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan lieu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì tình hình kinh tế ,xã hội đã có nhiều những chuyển biến sâu rộng.Kinh tế càng phát triển,sự phân hóa và cách biệt mức sống giữa thành thị và nông thôn,giữa các vùng,các địa phương giữa các khu vực và ngành kinh tế ,cũng như giữa các tầng lớp dân cư xã hội ngày một sâu sắc.Tình trạng”kẻ ăn không hết,người lần không ra”không phải không phổ biến trong bức tranh đời sống xã hội nước ta hiện nay.Phân hóa giàu nghèo có xu hướng làm tăng đối tượng yếu thế ,dễ bị tổn thương,dễ gặp rủi ro khi có những biến cố đột xuất như thiên tai;dịch họa và cuối cùng làm tăng số đối tượng CTĐX. Cùng với sự phân hóa và cách biệt mức sống giữa các tầng lớp dân cư ,kinh tế thị trường cũng làm cho phong tục tập quán ,lối sống của người dân có nhiều thay đối.Với những biểu hiện mặt trái hết sức tiêu biểu của kinh tế thị trường như vậy nên mỗi khi trong cộng đồng có một hoặc một số cá nhân không may rơi vào tình trạng khó khăn ,bần cùng,cần giúp đỡ thì kết quả là họ không nhận được sự giúp đỡ gì hoặc nhận được nhưng sự giúp đỡ qua loa-hình thức.Đây cũng chính là những cản trở đối với công tác CTĐX. Khi xảy ra những hiện tượng trên hoạt động cứu trợ sẽ không nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ phía cộng đồng,xã hội.CTĐX sẽ bị thiếu thốn cả về nhận lực và vật lực ,hiệu quả CTDXD sẽ bị hạn chế.
Vai trò của CTĐX:
Thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội nước ta :nước ta là một nước xã hội chủ nghĩa.Tất cả mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước đều nhằm xây dựng một Nhà nước của dân,do dân và vì dân,tất cả lợi ích thuộc về nhân dân,nhân dân là chủ thể duy nhất.Mọi nỗ lực của Đảng đều nhằm mục đích sao cho nhân dân ngày càng có cuộc sống tốt hơn.Khi một bộ phận dân cư gặp hoạn nạn,khó khăn ,Nhà nước tổ chức cứu giúp nhân dân đảm bảo công bằng xã hội .Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng đó là trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của mình.Bởi vậy có thể nói:CTĐX chính là một hoạt động thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội nước ta.
Phù hợp với truyền thống của người Việt Nam:mỗi khi có thiên tai,dịch họa xảy ra thì tất cả cộng đồng đều chung tay ,góp sức giúp nhau khắc phục hậu quả,sớm ổn định đời sống và sản xuất.Và càng ngày truyền thống này càng được phát huy thể hiện những nghĩa cả cao đẹp và tinh thần đoàn kết dân tộc của dân tộc ta.Điều này được thể hiện khá rõ qua những thành công của hàng loạt các chương trình như:tấm lòng vàng,quỹ từ thiện,ủng hộ đồng bào lũ lụt…Bởi vậy,CTĐX là hoạt động vừa thể hiện truyền thống của người Việt Nam vừa là hoạt động nhằm phát huy những truyền thống này.Nhờ hoạt động cứu trợ này lòng tin,tính đoàn kết trong nhân dân ngày càng được tăng cường và củng cố.
Phòng ngừa,giảm thiểu và khắc phục hậu quả thiên tai:Đúng như trên khái niệm CTĐX trình bày:CTĐX là sự giúp đỡ các điều kiện sinh sống của Nhà nước ,cộng đồng và xã hội cho những thành viên khi họ gặp phải những khó khăn,rủi ro bất ngờ như thiên tai ,dịch họa,hỏa hoạn,tai nạn..nhằm giúp họ nhanh chóng khắc phục hậu quả thiên tai,ổn định cuộc sống và hòa nhập trở lại cộng đồng.Khi thiên tai,dịch họa chưa xảy ra ,CTĐX giúp cho các đối tượng tăng khả năng phòng ngừa và đối phó với những hậu quả xấu do thiên tai,dịch họa gây ra như:xây dựng hệ thống đê điều,kè cống,trồng rừng chắn gió,di dời dân đến nơi an toàn;khi thiên tai xảy ra ,CTĐX giúp cho các đối tượng giảm nhẹ ảnh hưởng của chúng,thoát khỏi nơi nguy hiểm và khi thiên tai đã xảy ra rồi.CTĐX tham gia hỗ trợ các đối tượng,nhanh chóng ổn định lại cuộc sống,tái sản xuất trờ lại và hòa nhập với cộng đồng. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Góp phần giảm bớt khó khăn trước mắt,chênh lệch mức sống và xóa đói giảm nghèo.CTĐX là hoạt động nhằm vào những đối tượng khó khăn nhất trong những thời điểm nguy kịch.CTĐX nhằm đáp ứng nhu cầu của những đối tượng này trong những lúc cần thiết nhất,góp phần giảm bớt khó khăn trước mắt.Mặt khác,những người phải CTĐX phần lớn là người nghèođối tượng yếu thế trong xã hội ,không có hoặc có rất ít khả năng phòng bị và đối phó với các điều kiện khách quan bất lợi.CTĐX giúp đỡ những đối tượng này cũng tức là CTĐX đã phần nào thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo là chương trình đòi hỏi thực hiện theo một quá trình lâu dài và bền bỉ với sự hỗ trợ và giúp đỡ từ nhiều phía cộng với nỗ lực của chính bản thân những người nghèo.
Góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội:thực hiện CTĐX là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm cứu giúp những đối tượng khó khăn ,tạo cho họ những cơ hội ban đầu để có một cuộc sống tốt hơn,phát triển kinh tế gia đình.Bởi vậy,có thể nói công tác CTĐX là hoạt động góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội.
Kinh phí cụ thể:
- Ngân sách nhà nước cân đối hàng năm, ngân sách tỉnh, huyện tự cân đối.
- Do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ.
- Trợ giúp của nước ngoài, tổ chức quốc tế hỗ trợ trực tiếp cho địa phương hoặc thông qua chính phủ, các đoàn thể xã hội.
- Trường hợp các nguồn kinh phí trên không đủ thực hiện CTĐX thì Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo thủ tướng chính phủ, xem xét quyết định.
Trong tương lai, phần đóng góp huy động từ cộng đồng và xã hội có xu hướng tăng lên nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Bởi vì càng ngày đời sống nhân dân ngày càng được tăng lên; cộng thêm công tác tuyên truyền, vận động phát huy truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách của dân tộc.
Về quá trình tổ chức thực hiện, căn cứ theo những nguyên tắc của hoạt động cứu trợ, CTĐX là một công việc đòi hỏi nhanh chóng, kịp thời. Đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau; giữa các Bộ nghành với nhau, thống nhất từ trung ương tới các cấp cơ sở vùng bị thiệt hại.
Theo đó, quá trình tổ chức thực hiện được tổ chức như sau:
- Chính quyền cấp cơ sở nơi có thiên tai xảy ra, căn cứ vào chỉ đạo cấp trên tiến hành xác định, lập danh sách đối tượng; kế hoạch và tình hình huy động nguồn lực trình cấp trên xem xét giải quyết.
- Theo báo cáo cấp cơ sở, cấp trên xem xét, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện.
Trên thực tế, Việt Nam là một trong những quốc gia thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai. Những thiệt hại về người, tài sản chúng ta có thể thấy qua các số liệu dưới đây:
- Năm 2004: số người chết là 680 người; người thiếu lương thực hơn 1,4 triệu người
- Năm 2005: thiêt hại về tài sản lên tới 5.607 tỷ đồng,tình trạng người thiếu lương thực trung bình 1-1,5% dân số.
- Năm 2006: có 563 người chết,1.970 người bị thương,61.900 nhà bị sập, số người thiếu đói lên tới 1,6 triệu người.
- Năm 2007: thiệt hại về tài sản 7 nghìn tỷ đồng và khiến 1,4 triệu người rơi vào hoàn cảnh nghèo đói.
- Năm 2008: thiệt hại ước tính 10.992 tỷ đồng, 327 người chết, 73 người mất tích, 214 người bị thương
- Năm 2009: thiệt hại ước tính 19.1414 tỷ đồng, 365 người chết, 26 người mất tích,786 người bị thương.
Trước một thực trạng trên, đối tượng cần được hưởng chính sách cứu trợ xã hội là rất lớn. Tuy nhiên, những khó khăn về tài chính và hạn chế trong cơ chế quản lý nên Nhà nước không đáp ứng được nhu cầu cứu trợ của nhân dân mà đối tượng phải trông chờ nhiều vào tấm lòng hảo tâm của cộng đồng. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Đánh giá chung: như trên đã phân tích chúng ta thấy, chế độ cứu trợ xã hội nói chung và cứu trợ xã hội thường xuyên và cứu trợ xã hội đột xuất nói riêng đã có những thay đổi, chuyển biến nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thực của người hưởng cứu trợ xã hội. Mặc dù đối tượng cứu trợ được mở rộng, tình hình thiên tai, bão lụt xảy ra triền miên nhưng mức trợ cấp đối với cả chế độ cứu trợ xã hội thường xuyên và cứu trợ xã hội đột xuất đều được nâng lên.Trên thực tế năm 2009 tổng kinh phí trợ cấp thường xuyên của cả nước là:1,988,811,029,000 đồng; cứu trợ xã hội đột xuất là: 48.920 tấn gạo và 785 tỷ đồng cho các địa phương nhằm cứu đói và khắc phục thiên tai; năm 2008 Chính phủ hỗ trợ cứu trợ xã hội đột xuất là 46.600 tấ gạo và 706 tỷ đồng cho các địa phương nhằm cứu đói và khắc phục thiên tai. Điều này thể hiện vai trò quan trọng của cứu trợ xã hội trong đời sống xã hội và sự quan tâm cố gắng của Nhà nước vì cuộc sống của nhân dân.
Tuy nhiên, mức tăng của chế độ trợ giúp hàng tháng hiện nay vẫn còn thấp, chưa đảm bảo được nhu cầu chi tiêu tối thiểu hàng ngày của đối tượng cứu trợ xã hội.
2.4.Nguồn kinh phí, tài chính thực hiện cứu trợ xã hội
Nguồn lực tài chính để thực hiện cứu trợ xã hội hiện nay ở nước ta được lấy từ ngân sách Nhà nước (trung ương và địa phương), từ nhân dân, các tổ chức đoàn thể và từ sự trợ giúp quốc tế. Nhà nước phân cấp kinh phí để thực hiện cứu trợ thường xuyên cho các đối tượng được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội và hỗ trợ chăm sóc nuôi dưỡng gia đình và công cộng. Nguồn ngân sách còn được trích lập cho quỹ dự phòng quốc gia và quỹ dự phòng của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để thực hiện cứu trợ khẩn cấp cho các nạn nhân phải chịu thiên tai và trợ cấp cứu đói. Ngoài các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước thì ở nước ta còn có các cơ sở bảo trợ của các tổ chức đoàn thể các hội tổ chức tôn giáo. Nguồn tài chính cho các cơ sở do chính các tổ chức đứng ra thành lập tự huy động hoặc được tài trợ. Hiện nay ở nước ta, Nhà nước khuyến khích thành lập các hội bảo trợ người tàn tật, hội người mù, hội người cao tuổi, các làng trẻ SOS, trung tâm nuôi dưỡng người già cô đơn, các doanh nghiệp dành riêng cho người tàn tật; các trường học dành riêng cho trẻ em câm điếc…Theo thống kê trong số các cơ sở bảo trợ của nước ta hiện nay, có đến 75% là do Nhà nước cấp kinh phí, còn lại là do tổ chức cá nhân tự cấp trang trải. Đối với trường hợp có thiên tai gây thiệt hại nghiêm trọng trên diện rộng ở các tỉnh thành các cơ quan tổ chức quyên góp ủng hộ. Việc quyên góp này diễn ra trên địa bàn từng xã, phường, thị trấn…và cũng được diễn ra trên phạm vi toàn quốc. Việc ủng hộ này có thể bằng tiền hoặc hiện vật như gạo, thuốc men, quần áo, thực phẩm, vật liệu xây dựng nhà ở…sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế cho hoạt động cứu trợ xã hội ở nước ta được thực hiện thông qua các dự án nhân đạo từ thiện của liên hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế.
Nguồn ngân sách để thực hiện cứu trợ xã hội của Việt Nam được quy định trong các điều khoản ở chương V của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP:
Điều 15: Nguồn kinh phí trợ giúp thường xuyên tại cộng đồng; kinh phí nuôi dưỡng; kinh phí hoạt động bộ máy, kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản của các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội tại cộng đồng thuộc cấp nào thì do ngân sách đó đảm bảo theo phân cấp hiện hành của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn luật Ngân sách nhà nước.
Điều 16: Cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội tại cộng đồng được tiếp nhận, sử dụng quản lý các nguồn kinh phí và hiện vật (nếu có) do các tổ chức, cá nhân đóng góp và giúp đỡ từ thiện; bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và thanh quyết toán theo chế độ tài chính hiện hành. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Điều 17: Nguồn kinh phí để thực hiện CTĐX bao gồm:
- Ngân sách địa phương tự cân đối.
- Trợ giúp của các tổ chức,cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ trực tiếp cho địa phương hoặc thông qua Chính phủ, các đoàn thể xã hội.
- Trường hợp các nguồn kinh phí trên không đủ thực hiện cứu trợ đột xuất thì Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Bộ lao động –thương binh và xã hội và bộ tài chính để tổng hợp đề xuất trình Thủ tướng chính phủ xem xét, quyết định hỗ trợ từ nguồn ngân sách trung ương.
Điều 18.Việc lập dự toán, phân bổ, chấp hành và quyết toán kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật ngân sách nhà nước.
Trong những năm qua, nguồn kinh phí sử dụng cho các đối tượng hưởng trợ cấp xã hội cũng tăng khá nhanh, năm 2007 tăng gấp 4 lần năm 2000 ( 550 tỷ đồng so với 123 tỷ đồng), năm 2008 bao phủ hết số đối tượng của nghị định 67/NĐ-CP thì kinh phí tăng lên khoảng 1500 nghìn tỷ đồng, bằng 0,5 % ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, quy định trên còn bộc lộ những hạn chế nhất định, đó là nguồn kinh phí thực hiện cứu trợ xã hội (cả thường xuyên và đột xuất) chủ yếu dựa vào ngân sách địa phương tự cân đối. Ngân sách địa phương được hình thành từ các nguồn thu chính của địa phương như thuế, phí và lệ phí…và hàng năm địa phương được trích lại 2%-5% là quỹ dự phòng để chi phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn…Như vậy, đối với các địa phương khác nhau thì nguồn thu vào ngân sách sẽ là khác nhau. Các vùng có nhiều đối tượng cứu trợ xã hội thường xuyên và nhiều thiên tai hỏa hoạn sẽ cần nguồn chi cho đối tượng cứu trợ xã hội nhiều hơn.
Mặt khác, quy định cho các địa phương tự chủ về mặt tài chính trong
công tác cứu trợ xã hội đột xuất cũng chưa đảm bảo công bằng cho các đối tượng hưởng cứu trợ xã hội. Đối tượng hưởng cứu trợ xã hội lúc này không phải dựa vào tình trạng thiệt hại thực tế, những nhu cầu tối thiểu giúp họ vượt qua những khó khăn trước mắt mà phụ thuộc nguồn kinh phí ngân sách có đến đâu.
2.4.1.Nguyên tắc sử dụng nguồn tài chính:
Các nguồn tài chính được sử dụng để chi cho các nguồn trợ cấp cứu trợ (cứu trợ thường xuyên và cứu trợ đột xuất) và chi cho công tác quản lý hoạt động cứu trợ phải đảm bảo những nguyên tắc sau:
- Đảm bảo đúng đối tượng, đúng thời điểm, đáp ứng được mong mỏi của đối tượng được cứu trợ.
- Cần đảm bảo tính hài hòa
- Xác định chi tiêu cho cứu trợ xã hội cần bao hàm cả giá trị thành tiền liên quan đến các khoản cứu trợ bằng hiện vật.
2.4.2. Các biện pháp để huy động nguồn lực cứu trợ xã hội
- Xây dựng thực hiện tốt các chính sách thuế. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
- Đầu tư cho vùng sâu, vùng xa, đầu tư bảo vệ môi trường, đầu tư về phòng chống thiên tai, cứu nạn.
- Nguồn lực của trung ương và địa phương phải sử dụng đúng mục đích, đúng kế hoạch.
- Đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa cứu trợ xã hội bằng các biện pháp sau:
(1) tuyên truyền phổ biến để người dân nâng cao được nhận thức,trách nhiệm của mình.(2) lồng ghép các chính sách cứu trợ xã hội với các chương trình an sinh xã hội.
- Giáo dục cho tất cả mọi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ nâng cao hơn nữa hoạt động về vấn đề này.
- Có những chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với các tổ chức cá nhân tích cực tham gia hoạt động cứu trợ xã hội.
- Nhà nước cũng như cơ quan các cấp các ngành phải làm tốt công tác hợp tác quốc tế, đây là cầu nối góp phần thực hiện cứu trợ xã hội.
Nguồn kinh phí này không phải là chủ yếu nhưng trên thực tế trong những năm qua, chúng ta đã thu được những thành tựu rất đáng khâm phục: năm 1999 nguồn huy động từ cộng đồng cho cứu trợ dân sinh lên đến 100 tỷ đồng, bằng 1/3 nguồn kinh phí của Chính phủ trợ giúp về dân sinh cho vùng lũ lụt; trong đợt ủng hộ đồng bào miền trung năm 2009 số tiền ủng hộ qua Quỹ cứu trợ trung ương là 43.255.004.651 đồng và 410 USD. Các tổ chức, cá nhân có thể trợ giúp trực tiếp cho các đối tượng cứu trợ xã hội, cũng có thể thông qua các tổ chức như Quỹ cứu trợ trung ương, Hội chữ thập đỏ…Hình thức cứu trợ trực tiếp tạo tâm lý an tâm tin tưởng cho người đi cứu trợ, người hưởng cứu trợ được nhận nguồn cứu trợ nhanh hơn, thủ tục không quá phức tạp…Song, hình thức cứu trợ này chưa mang tính cộng đồng sâu sắc, bị chi phối nhiều bởi chủ thể đi cứu trợ, đối tượng hưởng cứu trợ không đồng đều. Đối với các hình thức hỗ trợ qua các tổ chức hiện nay còn gây nhiều nghi ngại cho người dân về cách thức sử dụng và quản lý nguồn hỗ trợ đó như thế nào.
Có thể thấy so với nguồn kinh phí của BHXH thì nguồn kinh phí của cứu trợ xã hội có những điểm giống nhau đó là:đảm bảo công bằng xã hội dựa trên cơ chế phân phối lại thu nhập;có sự tham gia của ngân sách Nhà nước và cơ chế nhà nước luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc điều hành,quản lý và sử dụng quỹ.Bên cạnh đó là những điểm khác nhau giữa nguồn kinh phí của BHXH và cứu trợ xã hội.Đầu tiên là nguồn tài chính:BHXH có nguồn tài chính là nguồn bắt buộc được phát sinh từ người lao động,người sử dụng lao động,nhà nước,các nguồn khác như tiền lãi từ hoạt động đầu tư…còn có nguồn tự nguyện chủ yếu hình thành do bên tham gia BHXH đóng góp;nguồn tài chính của cứu trợ xã hội gồm nguồn từ ngân sách nhà nước,nguồn từ cộng đồng dân cư và nguồn trợ giúp quốc tế.Về đặc điểm:BHXH không có mục tiêu lợi nhuận ,tính đa chủ thể,tính công cộng,..CTXH lại có nguồn lực tài chính khá đa dạng .Về phương tiện:BHXH chủ yếu bằng tiền ít bằng dịch vụ và hiện vật;CTXH tồn tại song song các phương tiện khác nhau là tiền,dịch vụ,hiện vật.
3. CƠ CẤU TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ XÃ HỘI VIỆT NAM. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Hoạt động cứu trợ xã hội được thực hiện bởi Nhà nước, cộng đồng, cá nhân nhưng mọi hoạt động cứu trợ đều đặt dưới sự quản lý của Nhà nước. Công tác cứu trợ xã hội hiện nay đươc tổ chức chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở, vừa theo ngành dọc, vừa theo vùng lãnh thổ, song đều có mục tiêu nhất quán là giúp đỡ các đối tượng cứu trợ xã hội.
Ở Trung ương cơ quan chịu trách nhiệm chính là Bộ Lao động- Thương binh và xã hội và cơ quan chuyên trách là Cục Bảo trợ xã hội. Bộ lao động thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động cứu trợ xã hội thông qua việc nghiên cứu ban hành pháp luật, chính sách chế độ đối với công tác cứu trợ xã hội. Đồng thời, phối hợp với cán bộ, ban ngành liên quan như Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ thủy sản và Ủy ban nhân dân các tỉnh thuộc thành phố trực thuộc Trung ương xác định mức độ thiệt hại về dân sinh và thiếu đói do thiên tai, tổng hợp đề xuất mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Ở cấp tỉnh cơ quan chịu trách nhiệm chuyên môn chính Sở Lao động-Thương binh và Xã hội. Sở Lao động –Thương binh và Xã hội thực hiện:
- Xác định mức trợ cấp, trợ giúp cho các đối tượng cứu trợ xã hội trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định.
- Quản lý đối tượng cứu trợ xã hội trên địa bàn; chuyển giao hồ sơ gia đình cá nhân đang nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi…
- Hướng dẫn và kiểm tra, giám sát cấp huyện tổ chức quản lý, thực hiện các chính sách trợ cấp, trợ giúp trên địa bàn.
- Hàng năm Sở Lao động-Thương binh và Xã hội lập kế hoạch kinh phí trợ cấp cứu trợ xã hội thường xuyên và cứu trợ xã hội đột xuất gửi sở tài chính, sở đầu tư trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
- Lập dự toán và dự kiến phân bố kinh phí cứu trợ xã hội
- Lập báo cáo định kỳ, đột xuất cho Bộ Lao động-Thương binh và xã hội
- Cấp quận, huyện chỉ đạo phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thực hiện
- Quản lý đối tượng cứu trợ xã hội trên địa bàn.
- Hướng dẫn, kiểm tra cấp xã trong việc xác định và quản lý đối tượng.
- Tiếp nhận và thẩm định hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội cấp huyện.
- Tổng hợp báo cáo định kỳ và theo yêu cầu đột xuất của cấp trên
- Cấp xã, phường
- Quản lý đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn. Thực hiện chi trả trợ cấp xã hội.
- Báo cáo cấp huyện về số lượng hưởng TCXH Thanh toán kinh phí trợ cấp xã hội.
Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành công tác cứu trợ xã hội được tổ chức thực hiện thống nhất từ trung ương đến địa phương. Phân định rõ ràng trách nhiệm của từng cơ quan cụ thể, đảm bảo hoạt động được thông suốt và cập nhật thường xuyên. Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
Tuy nhiên theo cơ cấu tổ chức hiện tại có nhiều bất cập:
Thứ nhất, việc tổ chức, thực hiện quản lý công tác cứu trợ xã hội Nhà nước giao cho Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thực hiện, song quản lý tài chính lại không được chủ động mà phụ thuộc vào Bộ Tài chính, điểm (b) khoản 1 điều 19 NĐ 67/2007/NĐ-CP quy định Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội “phối hợp với Bộ Tài chính bố trí kinh phí trợ giúp xã hội cho các bộ nghành, địa phương; kiểm tra việc sử dụng kinh phí thực hiện chính sách cứu trợ địa phương”. Quy định trên chưa phù hợp bởi lí do:
- Bộ Tài chính không thể hiểu rõ và nắm bắt sát sao về chính sách, đối tượng, mức độ…của các đối tượng cứu trợ xã hội nên không thể căn cứ vào báo cáo của Bộ lao động-Thương binh và Xã hội trình Chính phủ duyệt mức trợ cấp cho các đối tượng cứu trợ xã hội được hưởng. Quy định này chỉ mang tính hình thức mà gây thêm những thủ tục rườm rà trong việc trợ cấp kinh phí cho hoạt độn g cứu trợ xã hội
- Nguồn kinh phí thực hiện cứu trợ không chỉ từ ngân sách nhà nước mà còn từ nhiều nguồn khác nhau có thể thông qua các tổ chức như: mặt trận tổ quốc, ủy ban phòng chống lụt bão, hội chữ thập đỏ…nếu có sư can thiệp của Bộ Tài chính không có hiệu quả mà góp phần tăng sự phức tạp, khó quản lý tình hình cứu trợ xã hội nói chung và tài chính nói riêng.
Thứ hai, quy định trên của pháp luật đối với các cấp, ngành thực hiện cứu trợ xã hội mới chỉ dừng lại việc theo dõi, thống kê số lượng đối tượng cứu trợ xã hội; lập báo cáo; lên danh sách…mà thiếu hẳn một bộ phận chuyên môn phụ trách công tác cứu trợ xã hội từ việc kêu gọi ủng hộ, quản lý quỹ cứu trợ xã hội, tư vấn cho các đối tượng cứu trợ xã hội…Đây là một hạn chế rất lớn trong công tác tổ chức cứu trợ xã hội hiện nay. Chình vì vậy các hoạt động ủng hộ cứu trợ xã hội, đặc biệt cứu trợ xã hội đột xuất trong cộng đồng dân cư chỉ mang tính tự phát theo phong trào như đối với cán bộ công nhân viên trừ ngày lương, hội đoàn thể kêu gọi ủng hộ vật chất…Người dân ủng hộ nhưng không rõ khoản đóng góp đến được người cần cứu trợ là bao nhiêu? sử dụng như thế nào? Khóa luận: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hộ.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về cứu trợ xã hội