Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hoạt động dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

I. Tổng quan về sự phát triển của các siêu thị Việt Nam:

1. Định nghĩa và phân loại theo Quy chế siêu thị

1.1 Định nghĩa

Theo Quyết định số 1371/2024/QĐ-BTM ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Bộ Thương mại (gọi tắt là Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại), siêu thị được định nghĩa là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng.

1.2 Các tiêu chuẩn phân loại

Theo Quy chế Siêu thị, trung tâm thương mại của Bộ Thương mại được ban hành vào ngày 24 tháng 9 năm 2024, công văn số 0529/TM-TTTN ngày 31 tháng 1 năm 2025 hướng dẫn thực hiện Quy chế siêu thị các siêu thị và trung tâm thương mại được phân loại thành 3 hạng, với các mức độ và tiêu chuẩn khác nhau theo từng hạng. Trong các tiêu chuẩn, có 2 tiêu chuẩn đối với siêu thị và 1 đối với trung tâm thương mại.

1.2.1 Các tiêu chuẩn cơ bản

  • Bảng 2.1: Phân hạng siêu thị theo Quy chế siêu thị

1.2.2 Các tiêu chuẩn chung:

Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng; có bố trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của Siêu thị

Có hệ thống kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại.

Tổ chức, bố trí hàng hóa theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh, khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh tóan thuận tiện, nhanh chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân; có các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ người khuyết tật, phục vụ trẻ em, giao hàng tận nhà, bán hàng mạng, qua bưu điện, điện thoại

2. Sự hình thành và phát triển của hệ thống siêu thị tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

  • Chúng ta có thể khái quát những nét chính về sự phát triển của siêu thị Việt Nam thời gian 10 năm qua như sau:

Tại Việt Nam, siêu thị đã có mặt từ cuối những năm 60 dưới chế độ cũ và phát triển cho đến năm 1975, chủ yếu là ở Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Khi đất nước thống nhất, các siêu thị này chuyển từ hình thức kinh doanh tự phục vụ trở về phương thức bán hàng truyền thống.

Thời kỳ 2013 – 2014: siêu thị đầu tiên xuất hiện ở nước ta là Minimart, của công ty Xuất nhập khẩu nông sản và tiểu thủ công nghiệp Vũng Tàu (Vũng Tàu – Sinhanco) khai trương vào tháng 10/2013, nằm ngay trong Intershop nhưng quy mô còn rất nhỏ và khách hàng chủ yếu là người nước ngoài. Sau sự ra đời của siêu thị Minimart, một loạt các siêu thị khác tiếp tục xuất hiện ở khu vực trung tâm quận Một, quận Ba và quận Năm, về sau lan ra các vùng ven như Gò Vấp, Tân Bình.

Thời kỳ 2015 – 2017: siêu thị bắt đầu phát triển đến các tình, thành phố khác trong phạm vi cả nước. Trong thời kỳ này bắt đầu có sự góp mặt của các siêu thị ở Hà Nội như siêu thị thuộc trung tâm thương mại Đinh Tiên Hoàng (1/2015) và Minimart Hà Nội (3/2015) trên tầng 2 chợ Hôm. Tuy nhiên, vào thời điểm cuối năm 2015 đầu 2016, ở thành phố Hồ Chí Minh đã xuất hiện những siêu thị có quy mô lớn hơn về diện tích và chủng loại hàng hoá như Coopmart, Maximart được tổ chức theo hình thức liên hợp bao gồm các khu vực bán hàng hoá, ăn uống, giải trí. Hàng hóa cũng bắt đầu đa dạng hơn, một số siêu thị đã có 5000 – 6000 m2 như Maximart, Trong khi đó, các siêu thị ở Hà Nội cũng đua nhau ra mắt nhưng quy mô nhỏ hơn, các mặt hàng đơn điệu, số lượng ít hơn.

Thời kỳ từ năm 2018 đến nay: Do sự xuất hiện ồ ạt, kinh doanh không bài bản, thiếu kiến thức nghiệp vụ kinh doanh siêu thị, môi trường hạ tầng kinh tế còn nhiều bất cập và phải cạnh tranh với các hình thức bán lẻ truyền thống như chợ, cửa hàng, hàng rong và cạnh tranh lẫn nhau nên rất nhiều “sản phẩm” gọi là siêu thị đó đã vỡ nợ, phá sản, làm ăn thua lỗ và mấp mé bên bờ vực phá sản. Ở Hà Nội, siêu thị 63 Hàm Long phá sản, mất khả năng thanh toán, các siêu thị Thành Hưng, Dream, Thủ đô thì tuyên bố giải thể. Những siêu thị còn tồn tại và phát triển những sản phẩm theo đúng nghĩa “supermarket” hơn như Sài Gòn Superbowl, liên doanh giữa Việt Nam và Singapore, siêu thị miền Đông (tổng diện tích 10.000 m2, có đầy đủ các khu kinh doanh hàng hoá nhà hàng, giải trí, bãi để xe), đại siêu thị Cora (tổng diện tích 000m2, vốn đầu tư 20 triệu USD tại khu công nghiệp Biên Hoà có 20.000 mặt hàng trưng bày theo tiêu chuẩn hệ thống siêu thị trên thế giới của tập đoàn Bourbon (Pháp). Ở Hà Nội, hoạt động kinh doanh siêu thị cũng bắt đầu có những nét mới: nhiều siêu thị mới ra đời và được đặt trong tổng thể các mô hình trung tâm thương mại lớn: Hà Nội Tower, Starbowl, Fivimart, Tràng Tiền Plaza.

Tính đến tháng 8 năm 2026, cả nước có hơn 260 siêu thị hoạt động tại 32 tỉnh thành phố, trong đó trên 70% tập trung chủ yếu tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Để có cái nhìn tổng quát hơn về sự phân bố số lượng siêu thị ở các địa phương trên cả nước chúng ta hãy xem biểu đồ dưới đây.

  • Biểu đồ 2.1: Phân bố số lượng siêu thị ở các địa phương trên cả nước năm 2025

Biểu đồ 2.1 cho thấy, số lượng siêu thị tập trung nhiều nhất ở Hà Nội, chiếm khoảng 38% tổng số siêu thị cả nước, tiếp theo đó là thành phố Hồ Chí Minh với tỉ lệ là 33%. Hai thành phố loại I khác là Đà Nẵng, Hải Phòng cũng có số lượng siêu thị đáng kể tương ứng là 2% và 4% tổng số siêu thị cả nước. Ngoài ra thành phố Thanh Hoá, Cần Thơ và tỉnh Kiên Giang cũng là những nơi có số siêu thị chiếm tới 2% số lượng siêu thị cả nước. 17% còn lại nằm rải rác ở các tỉnh trên cả nước.

Theo tiêu chuẩn của Bộ Thương mại, hiện cả nước có đến 33% số lượng siêu thị chưa đáp ứng được tiêu chuẩn phân hạng siêu thị, 44,7% số siêu thị thuộc tiêu chuẩn hạng III, 11,7% thuộc hạng II và chỉ có khoảng 10,6% đạt tiêu chuẩn siêu thị hạng I. Tình hình phân hạng siêu thị cả nước được minh hoạ qua biểu đồ 2.2.

  • Biểu đồ 2.2: Phân hạng siêu thị cả nước theo tiêu chuẩn phân hạng trong Quy chế siêu thị

Qua biểu đồ 2.2 ta thấy con số 33% chưa đáp ứng tiêu chuẩn phân hạng siêu thị không phải là một con số nhỏ, chỉ sau số siêu thị thuộc tiêu chuẩn hạng III (44,7%). Còn số siêu thị thuộc hạng I và hạng II quá thấp chỉ bằng 1/3 số siêu thị chưa đáp ứng tiêu chuẩn (10,6% và 11,7%). Tuy nhiên, một thực tế cho thấy hầu hết các siêu thị hiện nay đều được thành lập trước khi Quy chế siêu thị được ban hành, mặt khác từ trước đến giờ Bộ Thương mại cũng không có quy hoạch chi tiết cho việc xây dựng các siêu thị nên các siêu thị đều được hình thành một cách tự phát, không theo một tiêu chuẩn chung. Do đó, khi quy chế siêu thị ra đời tỉ lệ các siêu thị đạt tiêu chuẩn phân hạng còn chưa cao.

II. Thực trạng hoạt động dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

1. Bán hàng trực tiếp

1.1 Về hàng hoá

Các siêu thị loại I và loại II có chủng loại hàng hoá phong phú, tập hợp hàng hoá vừa rộng vừa sâu còn lại đa phần các siêu thị của Việt Nam (siêu thị loại III và nhất là các siêu thị không được phân loại) tuy tập hợp hàng hoá tương đối phong phú xong, xét về chủng loại thì còn khá nghèo nàn. Các siêu thị cũng chưa có sự chuẩn bị chu đáo về nguồn hàng, chưa tiếp xúc trực tiếp với các nhà sản xuất để “mua tận gốc” mà phần lớn đều thông qua trung gian hoặc các đại lý cấp 2, 3. Điều này đã khiến cho giá thành tại các siêu thị trong nước bị đẩy lên rất nhiều so với các siêu thị nước ngoài luôn lấy các nhà sản xuất, xuất khẩu làm cơ sở cung cấp nguồn hàng cho mình. Một số siêu thị lấy hàng ở các chợ buôn nên dẫn đến tình trạng hàng hoá trong siêu thị cũng giống như ở các chợ, các cửa hàng truyền thống.

Tập hợp hàng hoá trong các siêu thị của Việt Nam hiện nay đến từ các nguồn cung cấp chủ yếu là hàng nguồn nhập khẩu và sản xuất trong nước với xu hướng như sau: Thời gian đầu khi mới ra đời, các siêu thị kinh doanh chủ yếu hàng ngoại nhập nhưng dần dần cùng với sự phát triển của hệ thống siêu thị ở Việt Nam, tình hình nguồn cung cấp cũng được cải thiện theo hướng tăng tỷ trọng hàng chất lượng cao sản xuất tại Việt Nam.

Về tỷ lệ hàng Việt Nam tại các siêu thị: Trải qua quá trình phát triển, các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị đã thay đổi cách nhìn và điều chỉnh cách xác định khách hàng mục tiêu. Nếu như khi mới ra đời, khách hàng của siêu thị được xác định là người nước ngoài và những người Việt Nam có thu nhập cao thì hiện nay đối tượng khách hàng đã được mở rộng tới người tiêu dùng Việt Nam có thu nhập trung bình hoặc trung bình khá. Chính vì vậy, các siêu thị đã đưa ngày càng nhiều hàng hoá là hàng Việt Nam chất lượng cao vào kinh doanh với giá cả hợp lý, xoá bỏ quan niệm siêu thị là siêu giá vốn không còn thích hợp ở thời kỳ này. Hiện nay, tỉ lệ hàng nội thậm chí đã chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong các siêu thị, từ 85% – 90% đối với nhóm hàng tiêu dùng: thực phẩm, hoá mỹ phẩm, quần áo may sẵn, nước giải khát. Theo số liệu thống kê của Bộ Thương mại, bình quân mỗi siêu thị có từ 2.000 đến 3.000 nhà cung cấp là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong nước (Xem bảng 2.2).

  • Bảng 2.2: Tỷ lệ hàng Việt Nam trong một số siêu thị Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Đi tiên phong thực hiện chiến lược “nội địa hoá” hàng hoá trong siêu thị là các siêu thị thuộc chuỗi siêu thị Co.op Mart thành phố Hồ Chí Minh. Ở giai đoạn đầu, tỷ lệ hàng sản xuất trong nước tại các siêu thị chỉ đạt mức 20% – 30%. Đến giai đoạn hiện tại, con số này đã đạt tới 80% – 90%. Đến hết năm 2024, Co.op Mart đã chiếm lĩnh trên 50% thị phần kinh doanh siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh và là “bạn đồng hành” của nhiều nhà sản xuất hàng Việt Nam chất lượng cao. Hệ thống siêu thị Co.op Mart với hàng chục ngàn chủng loại hàng hoá đảm bảo chất lượng, giá cả phải chăng đã trở nên gần gũi, thân thiết và là “nơi mua sắm tin cậy” của đông đảo dân cư thành phố Hồ Chí Minh và các địa bàn lân cận.

Chuỗi siêu thị Maximark sau 9 năm phát triển hiện đang kinh doanh thường xuyên trên 25.000 mặt hàng trong đó tỷ lệ hàng nội địa chiếm trên 70%. Đây cũng là một trong những bí quyết quan trọng để siêu thị này thu hút được số lượng lớn khách hàng vào mua sắm mỗi ngày và giá trị mỗi hoá đơn thanh toán luôn ở mức cao.

Thời gian gần đây, tại Hà Nội, các siêu thị cũng bắt đầu thu hút được một lượng lớn khách hàng có mức thu nhập trung bình.

Tại hệ thống siêu thị Fivimart, người tiêu dùng có thể lựa chọn trong số trên 20.000 mặt hàng với trên 70% là hàng Việt Nam chất lượng cao hoặc sản phẩm của các liên doanh nước ngoài tại Việt Nam để tìm cho mình những sản phẩm phù hợp với nhu cầu và túi tiền của mình.

1.2 Về chất lượng

Một vấn đề rất đáng quan tâm khác đối với hàng hoá trong siêu thị là chất lượng sản phẩm. Nhìn chung, qua điều tra ban đầu, người tiêu dùng đánh giá cao chất lượng hàng hoá trong siêu thị và họ đến siêu thị với lý do chính là chất lượng đảm bảo (70% khách hàng trả lời họ đến siêu thị vì tin tưởng vào chất lượng hàng hoá của siêu thị – biểu đồ 2.3). Hầu hết hàng hoá bán trong siêu thị có nguồn gốc rõ ràng, đầy đủ nhãn mác và được kiểm tra chất lượng một cách nghiêm ngặt. Tuy nhiên, vẫn còn có hiện tượng người tiêu dùng mua phải hàng quá hạn sử dụng hay chất lượng giảm sút do công tác bảo quản, vận chuyển yếu kém. Ngoài ra, tại nhiều siêu thị, tỷ lệ hàng hoá có nguồn gốc Trung Quốc được bày bán khá nhiều, song có nhiều mặt hàng không đề rõ nơi sản xuất, gây tâm lý e ngại cho người tiêu dùng.

  • Biểu đồ 2.3: Lý do khách hàng đến với siêu thị

1.3 Về giá cả hàng hoá trong siêu thị Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Giá cả hàng hoá trong siêu thị là vấn đề luôn được người tiêu dùng rất quan tâm. Kết quả khảo sát sơ bộ cho thấy giá cả hàng hoá trong các siêu thị Việt Nam luôn cao hơn so với giá của sản phẩm đó bán tại các chợ truyền thống hoặc tại cửa hàng bách hoá. Về mức độ chệnh lệch giá cả cũng rất đa dạng. Nhìn chung, mức chênh lệch giá phổ biến giữa các siêu thị với các dạng cửa hàng là 10 – 15% và với các chợ truyền thống là khoảng 10 – 25%.

Nguyên nhân của sự chênh lệch này được lý giải theo nhiều cách. Siêu thị phải chịu chi phí lớn như tiền thuê mặt bằng, cải tạo và xây dựng thành cửa hàng, trang thiết bị, tiền điện nước, lương nhân viên, thuế. Mặt khác, nhiều siêu thị phải nhập hàng với giá cao do siêu thị bán nhiều mặt hàng khác nhau mà số lượng mỗi loại cũng không nhiều đủ để làm đại lý cho các hãng sản xuất. Do đó phải nhập bằng từ các đại lý khiến cho giá bị đội lên. Hiện nay, tình trạng hàng bị mất cắp xảy ra rất phổ biến, các siêu thị phải cộng thêm cả tỉ lệ mất mát vào giá bán, khiến giá bán bị cao lên. Giá bán cao khiến các siêu thị gặp nhiều khó khăn hơn trong việc thu hút được khách hàng từ loại hình bán lẻ truyền thống như chợ, cửa hàng tạp hóa.

Mặt khác, giá cả giữa các loại siêu thị cũng có sự khác nhau đáng kể. Nhìn chung, giá cả hàng hoá ở các siêu thị thuộc hệ thống thương mại Nhà nước như siêu thị số 5 Nam Bộ, siêu thị Intimex (ở Hà Nội) và các siêu thị trong hệ thống thương mại tập thể như Co.op Mart (ở thành phố Hồ Chí Minh) có mức giá bán phù hợp hơn so với các siêu thị tư nhân.

Trong siêu thị, hàng tiêu dùng phổ biến như các loại sữa hộp, sữa tươi, mì ăn liền, bột giặt, kem đánh răng, dầu gội đầu là mặt hàng có giá bán tương đối sát với giá bên ngoài do mặt hàng này được quảng cáo mạnh, thường xuyên và được phân phối rộng khắp trên toàn quốc. Các hàng hoá ít thông dụng nhất là các sản phẩm nhập ngoại như rượu ngoại, bánh kẹo ngoại, mỹ phẩm, máy massage, quần áo nhập ngoại mức giá bán tại các siêu thị thường cao hơn nhiều so với giá của các loại hình cửa hàng khác.

1.4 Về việc xây dựng các mặt hàng đặc trưng cho từng siêu thị

Thực ra, siêu thị là nơi kinh doanh hàng tiêu dùng phổ biến nên những yếu tố cơ bản để hấp dẫn khách hàng chính là quy mô của tập hợp hàng hoá, chất lượng hàng hoá và giá cả hợp lý. Tuy nhiên, các nhà kinh doanh siêu thị vẫn có thể thông qua việc lựa chọn, xây dựng tập hợp hàng hoá phù hợp, mang phong cách riêng để hấp dẫn khách hàng. Ví dụ, siêu thị Fivimart (ở Hà Nội) nổi tiếng với hàng rau quả, thực phẩm sơ chế; hay Co.op Mart Phú Lâm (thành phố Hồ Chí Minh) có thế mạnh về nhóm hàng thực phẩm tươi sống, chế biến và nấu chín an toàn.

Siêu thị Co.op Mart Phú Lâm hiện đang kinh doanh gần 100 mặt hàng rau, củ, quả (trong đó có 70% là rau, củ, quả an toàn, còn lại là rau, củ, quả thông dụng), trên 40% mặt hàng là rau quả, thực phẩm tẩm ướp sẵn, 25% mặt hàng là thức ăn chín mỗi ngày. Sự độc đáo của các mặt hàng trong siêu thị Phú Lâm đã và đang tạo những nét đặc trưng riêng để thu hút và tăng độ tin cậy đối với khách hàng khi đến mua sắm ở siêu thị này. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

1.5 Về công tác quản lý hàng hoá trong siêu thị

Khi mới đi vào hoạt động, việc quản lý hàng hoá trong các siêu thị từ khâu nhập hàng đến khâu xuất bán và tồn kho đều gặp rất nhiều khó khăn. Có rất ít siêu thị quản lý theo mã vạch đối với toàn bộ số hàng hoá của mình mà chủ yếu là quản lý theo mã số, thậm chí mã số viết bằng tay. Đây là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc tính tiền hàng, việc lưu giữ số liệu tốn rất nhiều thời gian và hay bị sai sót.

Trong khoảng nửa thập niên trở lại đây, công tác quản lý hàng hoá trong các siêu thị đã có nhiều thay đổi. Đại đa số hàng hoá trong siêu thị đã được quản lý bằng mã vạch. Đây là cơ sở quan trọng để công tác quản lý hàng hoá nhập vào, xuất bán, tồn kho được dễ dàng và chính xác. Với hệ thống máy tính được trang bị ngày càng nhiều và ngày càng hiện đại, thường ngày, mỗi khi đóng cửa, các siêu thị có thể biết một cách chính xác lượng hàng hoá bán ra trong ngày, lượng hàng hoá dự trữ, loại hàng hoá nào cần huy động bổ sung, số lượng càn thiết là bao nhiêu để phục vụ bán hàng trong ngày sau, tuần sau, tháng sau.

Hơn nữa, siêu thị hiện đại đã trang bị hệ thống camera để quản lý hàng hoá trong siêu thị. Hệ thống thiết bị hiện đại này đã giúp các siêu thị hạn chế hiện tượng hàng hoá bị mất cắp hoặc bị thất lạc vì nhiều lý do khác nhau.

1.6 Về việc trưng bày hàng hoá trong siêu thị

Việc sắp xếp, trưng bày hàng hoá trong siêu thị được coi là một trong những yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng.

Ở các nước phát triển, hàng hoá trong siêu thị được trưng bày một cách hết sức “nghệ thuật” giúp cho khách hàng có thể tìm thấy loại hàng mình cần mua một cách dễ dàng, thuận tiện. Đặc biệt, việc trưng bày hàng hoá còn có tác dụng khuyến khích khách hàng mua hàng ngẫu hứng. Đây là một ưu thế của kinh doanh siêu thị mà các phương thức bán hàng khác khó có thể đạt được.

Trưng bày hàng hoá trong siêu thị phải phù hợp với quá trình vận động mua hàng từ khi bước chân vào cho đến khi ra khỏi siêu thị, không để một quầy hàng nào đó bị khách hàng bỏ qua do vị trí trưng bày hàng hoá quá khuất. Quầy thực phẩm tươi sống, chế biến và nấu chín nên để ở cuối lộ trình vận động của khách hàng. Đây là loại hàng hoá mà khách hàng nên mua sau cùng trước khi ra quầy thanh toán.

Giao thông, đi lại trong siêu thị cũng là vấn đề cần được tính toán kĩ lưỡng, tránh hiện tượng bị tắc nghẽn ở quầy hàng nào đó do số người tìm kiếm, lựa chọn hàng hoá quá đông. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Sơ đồ gian hàng hoặc biển chỉ dẫn khu vực hàng hoá trong mỗi siêu thị là hết sức cần thiết. Thông qua sơ đồ gian hàng hoặc biển chỉ dẫn khu vực hàng hoá trong siêu thị, khách hàng có thể đến được gian hàng mà mình cần chọn mua một cách nhanh nhất, bỏ qua những gian hàng mà họ không có ý định mua sắm.

Ở Việt Nam, do các siêu thị ra đời và phát triển một cách tự phát, thiếu quy hoạch, đội ngũ nhân viên chưa được đào tạo một cách bài bản nên tính “nghệ thuật” trưng bày hàng hoá chưa cao, chưa thật sự tiện lợi và hấp dẫn khách hàng. Một số siêu thị ở Việt Nam có danh mục hàng hoá phong phú nhưng do quá chú trọng đến số lượng hàng hoá mà bố trí, thiết kế các quầy hàng, các giá đỡ sát nhau làm cho việc di chuyển của cả khách hàng và nhân viên trong siêu thị đều khó khăn, thậm chí làm đổ, rơi hàng từ trên giá. Trong nhiều siêu thị, cách bày biện, sắp xếp hàng hoá còn tuỳ tiện, chưa thật hợp lý, thiếu thẩm mỹ và không đúng nguyên tắc trưng bày hàng hoá trong siêu thị và chưa tạo ra được một không gian thoáng đãng, hút mắt khi khách hàng bước chân vào siêu thị. Hơn nữa, lối đi giữa các kệ hàng còn chật hẹp, không đủ để hai người cùng song song đi chọn hàng, chưa tạo được sự thoải mái cho khách hàng trong việc ngắm và lựa chọn hàng hoá. Việc bố trí các biển báo giá của hàng hoá nhiều khi không rõ ràng, đôi khi khách hàng không biết được đó là giá của hàng hoá nào. Khi có sự thay đổi về giá cả của mặt hàng, nhân viên siêu thị chưa cập nhật giá mới nên vẫn có tình trạng biển giá một giá và khi thanh toán tại quầy lại là một giá khác. Điều này gây cho khách hàng sự khó chịu và không thoải mái về sự chênh lệch giá khi thanh toán.

1.7 Lực lượng lao động của siêu thị

Đa số các siêu thị có quy mô nhỏ đều sử dụng số lượng nhân viên tối thiểu. Với số lượng danh mục hàng hoá bày bán ít và lượng khách đến mua sắm hàng ngày không đông nên các siêu thị nhỏ thường chỉ có khoảng 20 – 30 nhân viên.

Đối với các siêu thị có quy mô lớn, số lượng cán bộ quản lý và nhân viên trong siêu thị sẽ lớn hơn và cách tổ chức, bố trí và phân công lao động trong siêu thị cũng bài bản hơn. Phần lớn các siêu thị loại này tuyển dụng những cán bộ quản lý giỏi, có đầu óc kinh doanh, nắm vững và có khả năng vận dụng các chính sách của Nhà nước và ứng xử nhanh trước những biến động của thị trường. Thường trong các siêu thị lớn, các phòng, ban chức năng được tổ chức một cách rõ ràng và quan hệ giữa họ cũng được quy định rõ ràng trong điều lệ hoạt động của doanh nghiệp.

Ví dụ: Siêu thị Maximark ở thành phố Hồ Chí Minh hiện có tới trên 600 nhân viên, chuỗi siêu thị Co.op Mart (gồm 11 siêu thị ở Sài Gòn và 2 siêu thị ở Cần Thơ và Quy Nhơn) có tới gần 1.500 nhân viên (trung bình khoảng 160 người/siêu thị).

Trong tổng số lao động trong siêu thị, một phần lớn số nhân viên được bố trí làm việc ở các quầy hàng, một số ít được bố trí ở bộ phận kế toán và thu ngân, một số làm các công việc khác như: bảo vệ, giữ đồ, vệ sinh siêu thị. Nét chung nhất là lực lượng lao động trong các siêu thị hầu như còn trẻ, hơn 70% trong số đó là lao động nữ. Tuy làm việc trong môi trường mát mẻ, dễ chịu nhưng đây lại là công việc khá vất vả vì họ phải tiếp xúc với hàng hoá, phải hướng dẫn và phục vụ yêu cầu của khách hàng.

Một điểm đáng lưu ý là đội ngũ nhân viên ở các siêu thị Việt Nam phần đông chưa được đào tạo một cách có hệ thống và bài bản. Đa số các nhân viên đứng quầy chỉ có trình độ trung học phổ thông, kiến thức về hàng hoá và kiến thức xã hội trong giao tiếp còn hạn chế nên cách hướng dẫn, mời chào của họ nhiều lúc khiến người mua “ngại” nếu không mua hàng. Đôi lúc, trong các siêu thị đội ngũ nhân viên bán hàng, nhân viên bảo vệ quá đông. Họ thường xuyên để mắt tới khách hàng để quan sát, theo dõi mà chưa có được khả năng tiếp cận giới thiệu, hướng dẫn tiêu dùng. Điều này không mấy hấp dẫn với khách hàng, dễ gây cảm giác khó chịu cho khách hàng. Mặt khác, điều này làm cho chi phí bán hàng tăng lên khiến các siêu thị khó có thể cạnh tranh về giá với các cửa hàng truyền thống. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Có nhiều ý kiến cho rằng đội ngũ nhân viên trong các siêu thị tư nhân luôn tỏ ra năng động, phong cách bán hàng nhiệt tình, lịch sự nên tạo được ấn tượng tốt với khách hàng. Tiêu biểu như siêu thị Minimart Thái Hà, siêu thị Láng Hạ, siêu thị Fivimart, siêu thị Co.op Mart, Còn tại các siêu thị quốc doanh, tuổi trung bình của các nhân viên siêu thị tương đối cao, tác phong kém linh hoạt, kém nhanh nhạy trong việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng nên hiệu quả làm việc không cao. Đây là vấn đề mà các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị cần nghiên cứu để có sự tổ chức và phân công lao động hợp lý nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao.

Trang phục của nhân viên siêu thị cũng là yếu tố quan trọng tạo nét đặc trưng riêng của mỗi siêu thị hay chuỗi siêu thị. Từ nhiều năm nay, các siêu thị đã tổ chức may đồng phục cho cán bộ, nhân viên. Nhìn vào trang phục này, người ta có thể phân biệt giữa khách hàng và nhân viên siêu thị, đồng thời cũng thể hiện nét văn hoá trong giao tiếp với khách hàng.

2. Bán hàng qua điện thoại

Bên cạnh hình thức bán hàng trực tiếp truyền thống, phương thức bán hàng qua điện thoại cũng đã được hầu hết các siêu thị trong cả nước áp dụng. Và khách hàng đã bắt đầu làm quen với phương thức này, do cuộc sống ngày càng tất bật hơn, nhiều gia đình không có nhiều thời gian để tới các siêu thị trực tiếp mua hàng.

Dịch vụ bán hàng này lại phát triển hơn ở các siêu thị phía Nam, điển hình là ở chuỗi siêu thị Co.op Mart. Trung bình mỗi ngày có khoảng 30 đến 50 khách hàng gọi điện mua hàng. Những ngày lễ tết, lượng khách dồn về các siêu thị để mua sắm ngày càng tăng cao, khiến nhiều người ngại chen lấn, do đó lượng khách đặt hàng qua điện thoại tăng gấp 2 -3 lần. Vào những dịp này, chuỗi siêu thị Co.op mart đã nhận gần 100 cuộc điện thoại đặt hàng mỗi ngày. Lượng khách mua hàng qua điện thoại ở các siêu thị thuộc hệ thống Co.op Mart khá đông và ổn định trong khi đó ở các siêu thị Maximark, Citimart, thì dịch vụ này ít được khách hàng sử dụng hơn.

Các siêu thị bán hàng qua điện thoại thường kèm theo điều kiện là khách hàng phải mua với số lượng lớn trị giá tối thiểu là 200.000đ (Co.op Mart), hay ít nhất vài trăm ngàn trở lên (Fivimart), hoặc như siêu thị Sao yêu cầu khách phải đến tận nơi chọn hàng rồi yêu cầu vận chuyển, nếu mua hàng từ 3 triều đồng trở lên sẽ được giảm giá 2%. Nhìn chung, hình thức bán hàng qua điện thoại của các siêu thị chưa cao, chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng doanh thu của siêu thị. Tuy số lượng khách hàng đặt mua hàng qua điện thoại còn quá thấp so với số lượng khách đến mua trực tiếp tại siêu thị nhưng hình thức bán hàng này lại rất cần thiết và phù hợp với những gia đình quá bận rộn với công việc, không có nhiều thời gian để đi mua sắm. Khách hàng cảm thấy rất thoả mãn và hài lòng với hình thức này vì chỉ với một hoá đơn tối thiểu từ 200.000đ trở lên, được mang đến tận nhà và hàng hoá đặt mua vẫn tươi sống.

Doanh thu hàng tháng từ riêng việc bán hàng qua điện thoại của siêu thị Co.op Mart Đinh Tiên Hoàng, quận Bình Thạnh đạt bình quân 1,8 – 2 tỉ đồng, cao nhất trong số các siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh. Vào những dịp lễ, tết, doanh thu bán hàng bằng hình thức này có thể tăng gấp đôi. Những siêu thị khác trong hệ thống Co.op Mart có doanh số bán hàng qua điện thoại khá cao. Siêu thị Nguyễn Đình Chiểu trung bình thu về 360 triệu đồng/tháng, còn siêu thị Cống Quỳnh đạt khoảng 270 triệu đồng/tháng.

Hoạt động bán hàng qua điện thoại, phục vụ tận nhà nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng là kênh phân phối hiệu quả trong xu thế cạnh tranh hiện nay. Ngoài ra, cách bán hàng này còn giúp siêu thị thu hút lượng khách hàng thân thiết nhưng bận rộn, không có nhiều thời gian để đi chợ, đặc biệt là với khách hàng là công ty.

3. Bán hàng qua mạng Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Bên cạnh phương thức bán hàng trực tiếp, các siêu thị Việt Nam bắt đầu triển khai việc bán hàng qua mạng. Các siêu thị Việt Nam xem hình thức bán hàng qua mạng chỉ là thử nghiệm, chưa quan tâm phát triển và quảng bá việc này như bán hàng trực tiếp.

Trong một vài năm gần đây, đã có một số tiến hành việc bán hàng qua mạng. Đó là siêu thị Co.op Mart ở thành phố Hồ Chí Minh và siêu thị Intimex và siêu thị Seiyu ở Hà Nội.

Năm 2023, Co.op Mart đưa dịch vụ bán hàng qua mạng vào thử nghiệm nội bộ cho khách hàng là cán bộ, nhiên viên Co.op Mart và các khách hàng thành viên. Hiện tại, Sài Gòn Co.op Mart có hai trang web chính, khách hàng có thể truy cập vào trang web của siêu thị Co.op Mart theo địa chỉ: www.saigoncoopmart.cm.vn hoặc www.saigon-coopmart.cm. Tại trang web của Co.op Mart khách hàng có thể đặt mua các loại hàng hoá theo yêu cầu, hàng sẽ được giao đến tận nhà. Khách hàng có thể lựa chọn hình thức thanh toán tiền trực tiếp (tiền mặt) cho người giao hàng hoặc thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng. Ngoài ra, trang web còn cung cấp các thông tin cần thiết về sản phẩm và dịch vụ của Sài Gòn Co.op Mart, các thông tin khuyến mãi cho khách hàng. Điểm lợi thế của các siêu thị thực khi kinh doanh qua mạng so với các siêu thị điện tử như: www.tienphong-vdc.com.vn, www.vdcsieuthi.vnn.vn, www.golmart.com.vn là siêu thị đã có một lượng khách lớn và ổn định mua hàng và biết đến siêu thị thực và khi siêu thị phát triển thêm hình thức bán hàng qua mạng thì các siêu thị không phải mất quá nhiều chi phí và thời gian vào việc quảng bá đến khách hàng.

Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất Co.op Mart là quy định giá tối thiểu của một đơn đặt hàng phải từ 100.000đ trở lên, một mức giá quá cao đối với một khách hàng bình thường. Điều này khiến cho khách hàng dè dặt và ngại mua hàng mạng hơn vì họ có thể đến một trong nhiều siêu thị Co.op Mart để mua một món đồ trị giá chỉ vài nghìn đồng. Hơn nữa, hàng hoá chưa phong phú để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Trang web của Co.op Mart chủ yếu giới thiệu hàng tiêu dùng gia đình, số lượng hàng chưa bằng 20% số lượng hàng ở siêu thị thực, lý do là đang trong quá trình thử nghiệm và chỉ giao hàng miễn phí trong nội thành thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ. Khách ở ngoài phạm vi quy định muốn mua hàng phải chịu khoản phí vận chuyển hoặc cước gửi hàng qua bưu điện nhiều khi cao hơn giá trị hàng mua.

Bên cạnh đó, một hạn chế khách quan ảnh hưởng không nhỏ tới việc tiến hành bán hàng qua mạng của các siêu thị là mạng Internet nước ta tốc độ còn quá chậm, cước lại quá cao, khiến người truy cập phải chờ đợi, có khi mất thời gian bằng thời gian đi siêu thị thật. Mật độ kết nối Internet còn chưa cao. Phần lớn người đi mua sắm là các bà nội trợ hiếm khi lên mạng. Hơn nữa, việc mua sắm hàng hoá trong không gian rộng rãi, đông đúc của các siêu thị, các cửa hàng tạp hoá, chuyên doanh với người bán hàng trực tiếp vẫn là thói quen dẫn dắt người tiêu dùng đến với các siêu thị hay cửa hàng thật.

4. Các dịch vụ hỗ trợ

Dịch vụ hỗ trợ là yếu tố rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến việc thu hút khách hàng nhất là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Kinh nghiệm cho thấy là có được một khách hàng mới sẽ tốn kém gấp 5 lần so với việc tạo ra một khách hàng trung thành trong số các khách hàng đã có. Bởi vậy, siêu thị dù là cửa hàng tự phục vụ, vẫn phải hết sức chú trọng đến yếu tố dịch vụ hỗ trợ. Đây có thể coi là một điểm yếu của hầu hết các siêu thị ở Hà Nội so với ở thành phố Hồ Chí Minh.

  • Về dịch vụ trông giữ xe cho khách vào siêu thị Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Tại Hà Nội, trước đây, nhiều siêu thị không có nơi gửi xe cho khách hàng (kể cả xe đạp, xe máy) hoặc có thì diện tích rất nhỏ. Nhiều nơi như siêu thị Marko, siêu thị trong trung tâm thương mại Đinh Tiên Hoàng không có chỗ gửi xe.

Hiện nay, có thể nói hầu hết các siêu thị được phân loại (kể cả loại I, II và III) đều có bãi đỗ xe miễn phí cho khách hàng. Đối với các siêu thị loại I và II, do được xây dựng trên cơ sở có quy hoạch và trên diện tích rộng nên chỗ để xe cho khách là khá rộng, cách bố trí tương đối thuận tiện, kể cả nơi để ô tô. Tuy nhiên, nhiều siêu thị nhỏ (không được xếp loại), thậm chí cả một số siêu thị loại III, có bãi đỗ xe cho khách nhưng lại thu phí trông xe. Có thể kể ra các siêu thị loại này như Siêu thị Sao ở phố 2B Phạm Ngọc Thạch, siêu thị trong trung tâm thương mại Cát Linh, các siêu thị thuộc chuỗi siêu thị Fivimart. Siêu thị nào cũng có tủ giữ đồ cho khách để phòng nạn mất mát hàng hoá. Dịch vụ này cũng tạo sự thuận tiện, thoải mái cho khách hàng khi đi xem và chọn mua. Tuy nhiên, có nơi ngăn tủ quá nhỏ, khoá bị hỏng và có quá ít các ngăn để đồ. Có trường hợp, do số ngăn tủ quá ít mà lượng khách đến siêu thị lại quá đông nên đồ đạc của khách được để trong một túi ni lon và để dưới đất như ở siêu thị Intimex Bờ hồ, thậm chí có nhiều người đã không vào được siêu thị để mua hàng vì không gửi được đồ như siêu thị Vinaconex trong trung tâm thương mại Tràng Tiền.

Một số siêu thị có dịch vụ giao hàng đến tận nhà người mua như: Minimart Thái Hà, Minimart Láng Hạ, siêu thị trong trung tâm thương mại Cát Linh.

Một số siêu thị có thêm dịch vụ gói quà tặng cho khách, song sự hấp dẫn của loại dịch vụ này chưa được khai thác triệt để. Thao tác của nhân viên nhiều khi còn chậm, chưa thực sự khéo léo, sáng tạo. Nhiều siêu thị không thông báo rõ nên khách hàng không biết có loại dịch vụ này. Đây là một điểm siêu thị cần khắc phục.

Hiện nay, bên cạnh việc thanh toán bằng tiền mặt là chính của hệ thống siêu thị, ngày càng có nhiều siêu thị chấp nhận thanh toán bằng thẻ thanh toán hay thẻ tín dụng. Đây là bước phát triển mới trong hiện đại hoá siêu thị đáp ứng nhu cầu mua sắm của các đối tượng có nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng nhiều trong xã hội.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, dịch vụ hỗ trợ khách hàng trong các siêu thị tốt hơn so với các siêu thị ở Hà Nội. Nhiều dịch vụ mới đã được các siêu thị ở thành phố Hồ Chí Minh đưa vào phục vụ khách hàng như: dịch vụ giao hàng tại nhà, dịch vụ gói quà, tặng quà sinh nhật theo yêu cầu của khách, dịch vụ trong giữ xe. Riêng chuỗi siêu thị Co.op Mart đã nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng quốc tế. Siêu thị này cũng đã liên kết với hệ thống ngân hàng lắp đặt hệ thống máy rút tiền tự động, tổ chức dịch vụ thu đổi ngoại tệ. Đặc biệt, Co.op Mart đang thực hiện dịch vụ cho vay để mua trả góp các sản phẩm công nghệ cao như: Máy tính, máy in, các sản phẩm kỹ thuật số, và đã thu hút được nhiều khách hàng tham gia.

  • Về hoạt động xúc tiến thương mại Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Khuyến mại: Trong thời gian gần đây, để thu hút khách hàng vào lựa chọn và mua hàng hoá, các siêu thị liên tiếp có những đợt khuyến mại đối với nhiều hàng hoá bày bán trong siêu thị. Các hình thức khuyến mại cũng ngày càng phong phú, đa dạng. Có những đợt khuyến mại lớn do các nhà cung cấp tiến hành nhằm khuyến khích khách hàng mua sản phẩm của mình theo nhiều hình thức như: Mua 2 hoặc 3 sản phẩm của nhà sản xuất sẽ được tặng thêm 1 sản phẩm cùng loại, hoặc mua 1 sản phẩm có khối lượng 600g nhưng chỉ phải trả tiền cho 500g. Hình thức khuyến mại này được áp dụng phổ biến đối với hàng công nghệ phẩm, hoá mỹ phẩm, chất tẩy rửa. Ngoài ra các siêu thị cũng áp dụng các hình thức khuyến mại khác để nâng mức tiêu thụ hàng hoá trong siêu thị như tặng quà, quay xổ số, giảm giá…Các chuỗi siêu thị Fivimart ở Hà Nội, chuỗi siêu thị Co.op Mart, Maximark ở thành phố Hồ Chí Minh tổ chức phát hành phiếu mua hàng ưu đãi trị giá 20.000 – 50.000 – 100.000đ trong những dịp lễ, tết và tổ chức rút thăm, công bố danh sách những người trúng thưởng trên các báo lớn.

Mặt khác, các siêu thị và nhà sản xuất cũng tổ chức các đợt khuyến mại theo chủ đề nhân dịp đầu năm mới, nhân dịp ngày giải phóng Thủ đô, nhân dịp kỷ niệm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, nhân dịp 8/3 hoặc 20/10. Đặc biệt, chuỗi siêu thị Co.op Mart đã đẩy mạnh cá chương trình khuyến mại nhằm giữ vững khách hàng thường xuyên và thu hút khách hàng mới thông qua chương trình “Thành viên cá thể”. Các thành viên cá thể này được góp vốn và chia lãi hàng năm theo vốn góp. Mỗi tháng, thành viên cá thể được mua từ 20 – 50 mặt hàng với giá ưu đãi (thấp hơn từ 5 – 20% so với giá thông thường) và các ưu đãi khác như: Tặng quà sinh nhật, họp mặt tặng quà đầu xuân. Khuyến mại càng trở nên sôi động hơn do nàh sản xuất luôn muốn đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của mình còn các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị luôn muốn bán được nhiều hàng hoá, với doanh số và lợi nhuận cao.

Quảng cáo: So với các siêu thị khác trong khu vực và trên thế giới, các siêu thị ở Việt Nam chưa chú trọng đầu tư cho hoạt động quảng cáo. Đã thấy xuất hiện những trang báo, tạp chí lớn giới thiệu về các siêu thị ở Hà Nội và các siêu thị ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng tần suất không nhiều. Các siêu thị cũng giới thiệu những mặt hàng mới lạ trên báo như báo Phụ nữ, Thanh niên. Ngoài ra, các siêu thị cũng quảng cáo bằng những tấm băng rôn khuyến mại ngay trước cửa. Riêng chuỗi siêu thị Co.op Mart ở thành phố Hồ Chí Minh và các siêu thị lớn như Metro, Big C, siêu thị Miền Đông, cứ 10 ngày hoặc hàng tuần đều xuất bản những “cẩm nang mua sắm” nhằm giới thiệu cho khách hàng những mặt hàng đang có bán hoặc sẽ có bán trong tuần sau cùng với chương trình khuyến mại dành cho mọi khách hàng và dành riêng cho thành viên. Những tờ dơi này giúp cho khách hàng có thể dự kiến các mặt hàng và số lượng hàng hoá cần mua từ ở nhà, tránh mất nhiều thời gian tìm kiếm, lựa chọn khi đi siêu thị.

5. Đánh giá chung về dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

5.1 Những mặt được:

Nhìn chung, từ khi xuất hiện đến nay, siêu thị đã ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng trong mạng lưới phân phối bán lẻ ở Việt Nam cùng với quá trình đổi mới và CNH – HĐH đất nước. Nền tảng kinh tế xã hội nước ta đã dạt được mức cần thiết cho việc phát triển kinh doanh siêu thị. Mức thu nhập bình quân đầu người của cả nước đạt 640USD năm 2025, còn ở các đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, mức thu nhập bình quân đầu người đạt trên 1000 – 1800USD, đã đủ điều kiện cơ bản cho phát triển hệ thống siêu thị đầy đủ (siêu thị nhỏ, siêu thị và đại siêu thị).

Tuy mới bước đầu phát triển, kinh doanh siêu thị ở Việt Nam đã khẳng định được vị trí của mình trong ngành thương mại bán lẻ của cả nước. Tốc độ tăng trưởng bán lẻ của siêu thị đạt mức 15% – 20%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng của tổng mức bán lẻ xã hội khoảng 10%/năm và cao hơn tốc độ tăng GDP (bình quân 7,5%/năm). Hiện tại, doanh thu kinh doanh siêu thị chiếm tỷ trọng 15% – 20% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ xã hội hiện nay (đạt mức 20 tỉ USD/năm và đang có xu hướng tăng nhanh). Hoạt động kinh doanh bán lẻ của các siêu thị đã đạt mức tăng doanh số cao và mức lợi nhuận trong kinh doanh của các siêu thị khá lớn. Với mức lợi nhuận trung bình tử 10% – 15% trong doanh thu hàng nội và 15% – 20% trong doanh thu hàng ngoại, các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị đã đóng góp lớn vào sự phát triển kinh doanh trên thị trường nội địa và đóng góp cho ngân sách Nhà nước.

Cùng với việc mở rộng quy mô kinh doanh cả về diện tích cửa hàng và số lượng, chủng loại hàng hoá bày bán, hoạt động kinh doanh siêu thị ở nước ta đã có nhiều biến đổi về chất. Các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị đã thiết lập được quan hệ tốt với các nhà cung cấp. Việc khai thác nguồn hàng có chất lượng cao, giá cả hợp lý, phù hợp với mọi đối tượng khách không những giúp cho các siêu thị lúc nào cũng tập nập khách ra vào, mua sắm mà còn giúp các nhà sản xuất, chế biến có nơi tiêu thụ ổn định, khối lượng lớn sản phẩm của mình. Thâm nhập một mạng lưới tiêu thụ văn minh hiện đại sẽ khuyến khích đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với nhà sản xuất, cung ứng của Việt Nam. Đây chính là một động lực cho sản xuất phát triển. Siêu thị cũng góp phần tạo ra một kênh xuất khẩu mới cho các sản phẩm, hàng hoá của Việt Nam thông qua việc thâm nhập mạng lưới này. Bên cạnh đó, các dịch vụ hỗ trợ khách hàng tại các siêu thị cũng không ngừng đổi mới. Các siêu thị ngày càng văn minh, hiện đại, tiện nghi, có khả năng cung cấp dịch vụ đa dạng, phục vụ nhiều đối tượng khách hàng vừa đi mua sắm kết hợp với các hoạt động vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi thư giãn, ăn uống… Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Tuy mới hình thành và phát triển, nhưng kinh doanh siêu thị ở đã đạt được những thành công đáng khích lệ. Đây là cơ sở quan trọng cho việc phát triển ngành thương mại bán lẻ hiện đại ở Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.

5.2 Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những thành tựu mà các siêu thị Việt Nam đã đạt được vẫn còn những hạn chế cần phải khắc phục để bắt kịp tiến trình hội nhập.

Thứ nhất, hàng bán lẻ qua siêu thị mới chỉ chiếm 10% so với 40% qua hệ thống chợ và khoảng 44% qua các cửa hàng truyền thống (theo thống kê của Bộ Thương mại). Số lượng siêu thị tăng nhanh trong thời gian qua nhưng quy mô siêu thị còn quá nhỏ bé, đặc biệt là diện tích bán hàng của các siêu thị nhỏ đã hạn chế lớn tới tập hợp hàng hoá của siêu thị hay cách trưng bày hàng hoá theo tiêu chuẩn văn minh hiện đại. Mặt khác, nguồn vốn của các siêu thị vẫn còn rất hạn hẹp. Thiếu vốn nên hoạt động hậu cần chưa được đầu tư đúng mức tức là các siêu thị Việt Nam còn thiếu khả năng cung ứng, dự trữ hàng hoá trọn gói từ khâu cung cấp, đóng gói, bảo quản hàng hoá đến giao tận tay người tiêu dùng.

Thứ hai, trong đa phần các siêu thị (loại III và không phân loại) tập hợp hàng hoá chưa đủ lớn, chủng loại chưa phong phú, đa dạng và phù hợp với kinh doanh siêu thị, chất lượng chưa cao, giá cả hàng hoá thiếu cạnh tranh và các dịch vụ hỗ trợ khách hàng còn nghèo nàn. Không giống như các siêu thị nước ngoài kinh doanh hàng thực phẩm là chính, phần lớn các siêu thị ở Việt Nam kinh doanh hàng công nghệ phẩm, nhất là thực phẩm, thuỷ sản tươi sống, rau quả sạch mặc dù đây là nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày của người dân. Nhiều siêu thị nhỏ chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn siêu thị về số lượng, chất lượng, nguồn gốc xuất xứ và ghi nhãn.

Giá cả trong các siêu thị ở Việt Nam luôn cao hơn so với giá cả của hàng hoá cùng loại được bán trên thị trường (kể cả trong các cửa hàng bách hoá) tới 5 – 10%, thậm chí đối với một số mặt hàng lạ, có xuất xứ từ nước ngoài như: rượu ngoại, bánh kẹo ngoại, mỹ phẩm thì mức giá bán có thể cao hơn tới 30 – 40%. Ngoài ra, trong nhiều siêu thị hàng hoá chưa được niêm yết giá một cách rõ ràng, không có mã số, mã vạch hoặc không ghi rõ xuất xứ. Tất cả những vấn đề này không thể tồn tại trong một siêu thị theo đúng quy định trong Quy chế siêu thị. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Các dịch vụ hỗ trợ khách hàng tại nhiều siêu thị ở Việt Nam tuy đã phong phú hơn trước nhưng chưa được quan tâm phát triển đúng mức. Nhiều siêu thị không có bãi gửi xe, có siêu thị có bãi gửi xe nhưng lại thu lệ phí gấp đôi so với bên ngoài. Đã có nhiều siêu thị bán hàng qua điện thoại nhưng kèm theo điều kiện là phải mua hàng với khối lượng lớn và trị giá hàng hoá từ vài trăm ngàn trở lên. Hầu hết các siêu thị nhỏ không cho phép trả lại hàng hoá đã mua, chủ yếu thanh toán bằng tiền mặt, không chấp nhận thẻ thanh toán hay thẻ tín dụng, không có dịch vụ đổi ngoại tệ cho người nước ngoài.

Thứ ba, chất lượng và hiệu quả kinh doanh siêu thị chưa cao và không ổn định. Đa phần các siêu thị có quy mô nhỏ với diện tích bán hàng hẹp và tập hợp hàng hoá thiếu độ sâu cho thấy chất lượng hoạt động chưa cao. Hơn nữa, thời gian qua, tuy doanh số hàng hoá bán lẻ qua các siêu thị đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, nhưng còn kém xa so với tốc độ tăng số lượng siêu thị mới mở. Đó là chưa nói tới doanh số bán lẻ qua hệ thống siêu thị còn quá thấp và với tỷ lệ lợi nhuận trong doanh thu hàng nội là 10 – 15% và trong doanh thu hàng ngoại là 15 – 20% hoạt động kinh doanh siêu thị ở Việt Nam rất khó có điều kiện tích luỹ để tái đầu tư phát triển kinh doanh siêu thị. Để nâng cao mức doanh thu và tỷ lệ lợi nhuận trong doanh thu, các siêu thị Việt Nam cần nâng cao hơn nữa chất lượng kinh doanh siêu thị để thu hút khách hàng vào mua sắm và sử dụng dịch vụ ở các trung tâm bán lẻ hiện đại này.

Thứ tư, công tác quản lý hoạt động kinh doanh siêu thị còn nhiều yếu kém. Sự yếu kém trong công tác quản lý đang là hạn chế không nhỏ làm ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động kinh doanh siêu thị. Nguyên nhân chính của vấn đề này là tính chuyên nghiệp trong hoạt động siêu thị còn thấp vẫn mang tính tự phát: việc tổ chức thu mua, vận chuyển hàng thiếu liên tục, thiéu những đơn hàng lâu dài, thiếu ổn định do thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa bên cung cấp sản phẩm với siêu thị. Đối với một hệ thống siêu thị, bộ phận mua hàng đóng vai trò khá quan trọng. Chuyên viên mua hàng chuyên nghiệp có thể điều đình với nhà cung cấp trên tất cả mọi phương diện từ giá cả, số lượng, thời gian giao nhận hàng, các chương trình tiếp thị, khuyến mãi, quy cách bao bì, đóng gói. Thậm chí họ có thể tư vấn lại cho nhà cung cấp nên sản xuất hàng như thế nào, tiếp thị, quảng bá ra sao. Tuy nhiên, ở khâu này, dường như các chuyên viên mua hàng của các nhà bán lẻ nước ngoài tỏ ra lấn lướt hơn hẳn các siêu thị Việt Nam. Bên cạnh đó, lực lượng cán bộ quản lý và cán bộ nghiệp vụ kinh doanh siêu thị chưa được đào tạo một cách bài bản, nhiều cán bộ không làm đúng chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo nên việc quản lý và điều hành còn mò mẫm, nhiều khi thiếu hợp lý và sáng tạo.

Thứ năm, việc đầu tư kinh doanh siêu thị theo hướng hiện đại và hội nhập còn hạn chế. Cho đến giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị ở Việt Nam chưa đủ tiềm lực và cũng chưa thực sự mạnh dạn đầu tư xây dựng các siêu thị theo hướng hiện đại và hội nhập. Việc học tập kinh nghiệm kinh doanh của các doanh nghiệp và tập đoàn kinh doanh siêu thị lớn trong khu vực và trên thế giới chưa được quan tâm đúng mức. Hiện tượng đầu tư kinh doanh có tính chất nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ và hiện đại đang là nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp Việt Nam chưa bắt kịp và hội nhập với các doanh nghiệp và tập đoàn kinh doanh siêu thị trong khu vực và thế giới.

III. Cơ hội và thách thức đối với dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam khi Việt Nam gia nhập WTO Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

1. Một số vấn đề về Hiệp định chung về thương mại dịch vụ – GATS của WTO và lộ trình cam kết mở cửa thị trường phân phối của Việt Nam.

1.1 Một số vấn đề về Hiệp định chung về thương mại dịch vụ – GATS

Lĩnh vực thương mại dịch vụ được điều chỉnh bởi Hiệp định thương mại dịch vụ – GATS. GATS đưa ra các nguyên tắc, chế độ, chuẩn mực pháp lý quốc tế để điều chỉnh những khía cạnh thương mại trong việc cung ứng dịch vụ giữa các nước thành viên của WTO và đặt nền tảng cho việc xây dựng hệ thống văn bản pháp lý toàn diện hơn trong tương lai.

1.1.1 Phạm vi áp dụng của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ – GATS

Hệ thống phân loại của WTO phân chia dịch vụ thành 12 ngành và 155 phân ngành, trong đó các dịch vụ phân phối được chia như sau:

  • Các dịch vụ của đại lý ăn hoa hồng
  • Các dịch vụ thương mại bán buôn
  • Dịch vụ bán lẻ
  • Dịch vụ cấp quyền kinh doanh
  • Các dịch vụ phân phối khác

Theo GATS, việc cung cấp các loại dịch vụ này có thể được tiến hành theo một trong những bốn phương thức hoặc kết hợp giữa các phương thức sau (Điều 1, Khoản 2 – GATS):

Phương thức 1: Cung ứng qua biên giới– dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ một nước này sang lãnh thổ một nước khác. Ví dụ, một công ty tư vấn tài chính của Mĩ tư vấn cho một công ty Việt Nam bằng điện thoại. Đặc điểm của loại hình này là chỉ có bản thân dịch vụ là đi qua biên giới, còn người cung cấp dịch vụ không có mặt tại nước nhận dịch vụ.

Phương thức 2: Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài – người tiêu dùng của một nước tiêu dùng dịch vụ tại lãnh thổ của một nước khác. Ví dụ, người du lịch Việt Nam đi du lịch sang Trung Quốc và tiêu dùng các dịch vụ du lịch do các cá nhân và công ty Trung Quốc cung cấp. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Phương thức 3: Hiện diện thương mại – một công ty nước ngoài thành lập chi nhánh hoặc công ty con để cung cấp dịch vụ tại một nước khác. Ví dụ, một ngân hàng của Mĩ lập chi nhánh tại Việt Nam.

Phương thức 4: Sự hiện diện của thể nhân – công dân của một nước này cung cấp dịch vụ tại nước khác. Ví dụ, một giáo sư Mĩ được mời sang Việt Nam để giảng bài ở một trường đại học.

1.1.2 Các nguyên tắc pháp lý cơ bản

a, Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN): đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của GATS. Theo nguyên tắc này, chính phủ của nước thành viên không được phép có sự phân biệt đối xử giữa các dịch vụ hoặc các nhà cung cấp dịch vụ của các nước thành viên mà phải dành cho họ sự đối xử không kém phần ưu đãi so với mức mà nước thành viên đó đã, đang và sẽ dành cho bên thứ ba nào đó (Điều II – GATS). Đây là nguyên tắc bắt buộc nhằm tạo một “sân chơi” bình đẳng cho các nhà dịch vụ nước ngoài trên thị trường của nước khác.

b, Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT): nguyên tắc này được xây dựng trên nền tảng của nguyên tắc không phân biệt đối xử và chỉ thực hiện trên cơ sở kết quả của các cuộc đàm phán và các cam kết về tiến trình tự do hoá dịch vụ giữa các thành viên. Nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với các lĩnh vực và trong chừng mực nước đó cam kết thực hiện chứ không áp dụng đối với các lĩnh vực mà nước đó chưa cam kết.

c, Nguyên tắc minh bạch hoá hệ thống chính sách: theo nguyên tắc này tính minh bạch thể hiện ở việc đáp ứng các yêu cầu sau:

  • Tất cả các quy định, văn bản pháp lý, các hiệp định quốc tế có liên quan hoặc tác động đến thương mại dịch vụ mà các nước thành viên tham gia phải được công bố, ấn hành một cách công khai, rộng rãi.
  • Mọi nước thành viên phải có nghĩa vụ đáp ứng đầu đủ các yêu cầu cảu bất kỳ nước thành viên nào khác về những thông tin cụ thể liên quan đến việc áp dụng các quy định nêu trên. Các nước thành viên phải thành lập ít nhất một cơ quan chuyên trách cung cấp thông tin này cho nước thành viên khác khi họ yêu cầu;
  • Tất cả các thành viên phải có nghĩa vụ thông báo khẩn trương và ít nhất mỗi năm một lần cho Hội đồng Thương mại dịch vụ của WTO về việc ban hành hoặc bất kỳ sửa đổi nào trong các luật, quy chế hoặc hướng dẫn hành chính có tác động cơ bản đến thương mại dịch vụ thuộc các cam kết cụ thể;
  • Các nước thành viên không được phép áp dụng những yêu cầu chuyên môn, yêu cầu về chất lượng dịch vụ, yêu cầu về giấy phép cũng như các tiêu chuẩn kỹ thuật quá cao – mà trong chừng mực nào đó, có thể vô hiệu hoá về mặt pháp lý hoặc làm nguy hại đến việc thực hiện các cam kết cụ thể.
  • Khi chính phủ nước thành viên đưa ra những quyết định hành chính có nguy cơ ảnh hưởng tới thương mại dịch vụ, họ cũng phải thiết lập những công cụ mang tính khách quan để rà soát các quyết định này nhằm đảm bảo chúng không bóp méo quá đáng các điều kiện cạnh tranh công bằng của thị trường dịch vụ nội địa.

d, Nguyên tắc công nhận lẫn nhau: mục đích của nguyên tắc này là nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử trên thực tế đối với các dịch vụ và người cung cấp dịch vụ nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

e, Nguyên tắc tự do hoá từng bước thương mại dịch vụ

Để thực hiện tiến trình tự do hoá thị trường dịch vụ, Điều XX của GATS quy định mỗi nước thành viên phải đưa ra lịch trình những cam kết của mình theo những yêu cầu sau:

  • Các điều kiện, quy định, giới hạn về mở cửa thị trường;
  • Các điều kiện và tiêu chuẩn về đãi ngộ quốc gia;
  • Những bảo đảm liên quan đến các cam kết bổ sung;
  • Lộ trình thực hiện các cam kết đó;
  • Thời hạn các cam kết đó có hiệu lực.

f, Nguyên tắc liên quan đến các quy tắc trong nước

Theo quy định tại Điều IV, GATS công nhận chủ quyền của các nước thành viên trong việc đưa ra những quy định điều chỉnh các lĩnh vực dịch vụ trong nước và cố gắng thúc đẩy các nước thành viên minh bạch hoá các quy định, chính sách của mình.

g, Nguyên tắc liên quan đến vấn đề độc quyền và đặc quyền cung cấp dịch vụ

Các nước thành viên có thể cho một số ngành dịch vụ được hưởng độc quyền và đặc quyền. Theo quy định của GATS thị điều này là hoàn toàn hợp pháp (Điều VIII). GATS không ngăn cản việc duy trì hình thức độc quyền nhưng yêu cầu các nước thành viên phải đảm bảo rằng hoạt động của người cung cấp dịch vụ độc quyền phải phù hợp với các nghĩa vụ chung và nghĩa vụ đã cam kết của nước thành viên đó.

h, Nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước thành viên đang phát triển và/hoặc đang trong quá trình chuyển đổi. Nguyên tắc này không chỉ kế thừa những quy định ưu đãi của GATT về thương mại hàng hoá dành cho các nước đang phát triển, mà còn mở rộng áp dụng cho cả thương mại dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ. Đây là thàn quả đấu tranh liên tục của các nước đang phát triển qua những vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT, đặc biệt là vòng đàm phán Uruguay.

i, Nguyên tắc liên quan đến thanh toán và chuyển tiền quốc tế: theo điều XI, GATS thừa nhận việc tự do hoá thực tiễn các giao dịch kinh tế nhưng đòi hỏi phải có kỷ luật áp dụng cho việc di chuyển tư bản.

1.2 Lộ trình cam kết mở cửa thị trường phân phối của Việt Nam Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Năm 2015, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập tổ chức Thương mại thế giới – WTO và hiện vẫn đang trong quá trình đàm phán. Để trở thành thành viên chính thức, chúng ta phải thừa nhận các nguyên tắc cơ bản của tổ chức này và thực hiện đàm phán song phương và đa phương với các nước thành viên của WTO. Hiện nay, nước ta đã ký kết được 83 hiệp định thương mại song phương trong đó có Hiệp định thương mại Việt – Mĩ. Hiệp định này xây dựng, đàm phán và ký kết trên cơ sở các nguyên tắc và quy định của WTO. Do vậy, xét về mặt kỹ thuật, Việt Nam đã đáp ứng đương nhiên các yêu cầu căn bản của WTO, giảm đi những khó khăn trong tiến trình những cam kết và thực hiện cam kết để sớm trở thành thành viên của WTO. Nhưng trước mắt Việt Nam phải mở cửa hoàn toàn trong lĩnh vực thương mại dịch vụ theo lộ trình Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ vào năm 2027. Hiệp định quy định đối với dịch vụ bán lẻ: mỗi nhà cung cấp dịch vụ bán lẻ sẽ tự động được mở một đại lý. Việc thành lập này được xem xét theo từng trường hợp.

Với những cam kết của Việt Nam trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ và một số cam kết của Việt Nam trong việc gia nhập WTO, đến năm 2028 các nhà phân phối nước ngoài có thể thành lập liên doanh với vốn tối đa là 99,99% ở Việt Nam và từ 1/1/2029, những tập đoàn phân phối này mới được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài.

GATS bao gồm các nguyên tắc vô điều kiện (tức là không phụ thuộc vào quá trình đàm phán) và các biện pháp áp dụng có điều kiện (chủ yếu dựa trên các cam kết là kết quả đàm phán của mỗi nước). Vì vậy, không phải ngay lập tức mọi lĩnh vực dịch vụ đều phải vận dụng toàn diện các nguyên tắc của GATS, mà tùy thuộc vào kết quả đàm phán và các cam kết trong lĩnh vực dịch vụ, một quốc gia sẽ thực thi mở cửa thị trường toàn diện hay hạn chế đối với lĩnh vự c dịch vụ đó. Việt Nam đã có những đối sách hết sức hữu hiệu với những nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, Việt Nam chỉ cho phép công ty thành lập một siêu thị 100% vốn nước ngoài tại một tỉnh thành, địa điểm nhất định. Khi họ muốn mở siêu thị thứ hai, Việt Nam có quyền từ chối mà vẫn tuân thủ những quy định của WTO, dựa trên đánh giá nhu cầu thực tế. Như vậy, điều quan trọng nhất của việc kinh doanh bán lẻ là hệ thống phân phối được mở rộng ra, nhưng nhà đầu tư nước ngoài không được phép mở siêu thị thứ hai, thứ ba. Rõ ràng, những nhà kinh doanh siêu thị trong nước được hưởng lợi từ điều này.

2. Cơ hội Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Tuy thị trường bán lẻ Việt Nam còn rất non trẻ và sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn khi Việt Nam mở cửa thị trường cho các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới vào kinh doanh tại đây. Nhưng không vì thế mà các siêu thị Việt Nam sẽ thua ngay từ đầu bởi chúng ta vẫn còn những thuận lợi sau:

Về quy mô dân số, thị trường Việt Nam đang tỏ ra có sức hấp dẫn lớn đối với kinh doanh siêu thị. Dân số Việt Nam hiện nay là trên 83 triệu người và cơ cấu dân số trẻ đang chiếm tỷ trọng lớn, tốc độ tăng dân số đang được kiểm soát ở mức 1,4%/năm.

Về mức sống của người tiêu dùng, thu nhập bình quân đầu người là một chỉ tiêu hết sức quan trọng để các nhà đầu tư quyết định có kinh doanh siêu thị ở khu vực đó hay không. Có thể nói thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam đã không ngừng tăng lên trong thời gian 10 năm qua, năm 2025 thu nhập bình quân đầu người đạt 640 USD/người.

Một tín hiệu đáng mừng nữa là theo Tổng cục Thống kê, năm 2025 sức mua hàng hoá và dịch vụ của người dân Việt Nam tăng khá mạnh, bình quân chi tiêu đầu người một tháng đã lên đến 438.000 đồng/tháng, cao hơn nhiều so với mức 378.000 đồng/tháng của năm ngoái. Tỷ lệ tiêu dùng cuối cùng so với GDP của Việt Nam đạt khoảng trên 70%, thuộc loại cao so với các nước trong khu vực (Singapore đạt 57%, Malaysia đạt khoảng 59%, Thái Lan khoảng 68%…).

Bên cạnh đó, chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng bán lẻ hàng năm cũng là một chỉ tiêu đang thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội của Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng trên 10% (bảng 2.4), đặc biệt năm 2025 tốc độ tăng trưởng đã đạt mức 476.000 tỉ đồng với tốc độ tăng trưởng là 20,5%. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ và dịch vụ xã hội đã đạt 46.362 tỉ đồng tăng 19,7% so với cùng kỳ năm 2025.

Mặt khác, các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị Việt Nam hiểu tâm lý, tập quán tiêu dùng của người tiêu dùng trong nước để phục vụ đúng nhu cầu. Trong thời gian gần đây, thói quen của người tiêu dùng đang dần thay đổi, người dân đã bắt đầu quen và thích việc vào siêu thị mua sắm vì ở siêu thị họ có thể mua một lúc được rất nhiều thứ mà họ cần, chất lượng lại đảm bảo, phong cách phục vụ văn minh, Một nghiên cứu của Liên hiệp HTX thương mại thành phố Hồ Chí Minh thực hiện tại các thành phố lớn như Mỹ Tho, Long Xuyên, Phan Thiết, cũng cho thấy có đến 50% những người mua sắm chính trong hộ gia đình đã từng mua hàng tại siêu thị (mặc dù các thành phố trên chưa có siêu thị) và có đến hơn 85% những người được phỏng vấn sẵn sàng đi mua sắm tại siêu thị nếu có loại hình này tại thành phố của họ.

Những thuận lợi trên sẽ tạo ra được những cơ hội mới cho thị trường bán lẻ Việt Nam nói chung và hệ thống siêu thị Việt Nam nói riêng. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

Những ưu điểm của việc hội nhập và tự do hoá thị trường dịch vụ là không thể phủ nhận được. Sự góp mặt của các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường phân phối sẽ tạo nên áp lực cạnh tranh rất lớn buộc các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị trong nước phải luôn không ngừng cải thiện, đổi mới, nâng cao mọi mặt như: giá cả, chất lượng hàng hoá, cung cách phục vụ. Do đó người dân có nhiều điều kiện tiếp cận với nhiều chủng loại hàng hoá với chất lượng và giá cả khác nhau để có thể lựa chọn.

Bên cạnh đó, việc mở cửa thị trường cũng tạo ra những cơ hội mới về hợp tác với các tập đoàn siêu thị nước ngoài. Qua đây, các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị Việt Nam được học hỏi, nâng cao các kinh nghiệm quản lý, điều hành siêu thị, bảo quản hàng hoá, kỹ thuật marketing mới.

Mặt khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài cao vào lĩnh vực bán lẻ sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Không những thế các nhà sản xuất trong nước còn có cơ hội xuất khẩu hàng của mình ra nước ngoài thông qua liên doanh phân phối.

3. Thách thức

Thách thức lớn nhất đối với các siêu thị Việt Nam là phải cạnh tranh không cân sức với các tập đoàn bán lẻ quốc tế có sức mạnh về tài chính, thế mạnh về công nghệ quản lý, thương hiệu và kinh nghiệm. Các tập đoàn này dễ dàng đầu tư hàng chục triệu USD để xây dựng các siêu thị rộng vài héc ta, thậm chí còn chịu lỗ để thu hút khách hàng. Sự xuất hiện của nhiều tập đoàn siêu thị lớn trên thế giới sẽ làm giảm đi đáng kể lượng khách của các siêu thị trong nước. Đặc biệt là các siêu thị loại III và không phân loại được có thể sẽ biến mất nhanh chóng cùng với sự xuất hiện của các siêu thị hiện đại, chuẩn mực hơn.

Cơ sở kỹ thuật còn lạc hậu, nghèo nàn, thiếu vốn. Phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị ở Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, vốn ít nên khả năng phát triển xây dựng các siêu thị quy mô lớn hay phát triển các chuỗi siêu thị gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó các doanh nghiệp nước ngoài lại có đủ tiềm lực kinh tế và kinh nghiệm để phát triển.

Việc thâu tóm và điều chỉnh được cuộc cạnh tranh khốc liệt này là một bài toán khó đối với các nhà quản lý. Những nhà độc quyền này có thể sẽ sử dụng các biện pháp không lành mạnh để loại bỏ đối thủ cạnh tranh cũng như lạm dụng khách hàng. Để đối phó với việc này, Bộ Thương mại nên tính đến các biện pháp phòng chống các chiến lược về giá cả không lành mạnh đối với một số mặt hàng.

Tóm lại, việc mở cửa thị trường phân phối đặc biệt là thị trường bán lẻ là rất cần thiết nhưng cũng phải tính đến các biện pháp can thiệp của Nhà nước, tránh việc mở cửa một cách quá nhanh chóng và tuỳ tiện dẫn đến việc Nhà nước không thể kiểm soát được thị trường. Vấn đề mấu chốt là phải tạo ra được môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà phân phối cả trong và ngoài nước, bảo đảm các nhà đầu tư nước ngoài không có cảm giác rằng mình bị phân biệt đối xử nhưng cũng phải tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tự hoàn thiện mình, đứng vững trước sự cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài. Trước thực trạng trên, không chỉ có Nhà nước cần đưa ra các biện pháp để hệ thống siêu thị Việt Nam có thể tồn tại, phát triển và cạnh tranh được với các siêu thị nước ngoài mà bản thân các doanh nghiệp cũng cần tự ý thức tầm quan trọng và tính cấp thiết khi Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ. Các biện pháp cụ thể từ phía Nhà nước và doanh nghiệp sẽ được để cập ở chương 3. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Thực trạng dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam”

  1. Pingback: Khóa luận: Hoạt động dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537