Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ phần Xậy dựng -Thương mại và Vận tải Ngọc Hà này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1. Khái quát về công ty cổ phần xây dựng thương mại và vận tải Ngọc Hà

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần xây dựng thương mại và vận tải Ngọc Hà

Công ty Cổ phần xây dựng thương mại và vận tải Ngọc Hà thành lập vào năm 2004 theo giấy phép kinh doanh số 0203000848 do Sở Kế Hoạch và Đầu tư Thành phố Hải Phòng cấp ngày 25/05/2004, trên lĩnh vực xây lắp, kinh doanh, phân phối đá Granite, gạch ốp lát trang trí các công trình xây dựng, phân phối các thiết bị vệ sinh cao cấp, bình nước nóng… và hiện nay công ty đang là nhà phân phối chính thức của Bình nước nóng hãng FERROLI và thiết bị vệ sinh cao cấp gốm sứ COSANI tại khu vực Hải Phòng.

  • Tên công ty : Công ty Cổ phần Xây dựng – Thương mại và Vận tải Ngọc Hà
  • Tên Tiếng Anh : Ngoc Ha Transport and Trading – Contruction Joint Stock Company.
  • Địa chỉ trụ sở chính : 65 Đà Nẵng- Ngô Quyền- Hải Phòng Với số vốn ban đầu thành lập là : 2.000.000.000 VND
  • Tài khoản ngân hàng số: 0509000001852 ngân hàng VID Public-CN Hải Phòng
  • Đến năm 2022 công ty đã mở rộng và đăng ký thay đổi lần 1 ngày 15/09/2022. Với địa điểm kinh doanh mở rộng tại: 135- A4.1/442 cụm dân cư An Trang, An Đồng, An Dương, Hải Phòng
  • Là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập và được sử dụng con dấu riêng theo quy định của nhà nước.

Từ những ngày đầu khi mới thành lập công ty đã gặp phải khá nhiều khó khăn. Khi mới ra đời vì quy mô còn nhỏ đồng thời sản phẩm đá Granit, bình nước nóng lúc đó chưa được phổ biến như hiện nay, do sự cạnh tranh với các doanh nghiệp khác,… Đến nay sau bảy năm hoạt động và phát triển, công ty đã từng bư- ớc khẳng định được chỗ đứng của mình trong lĩnh vực xây dựng cũng như kinh doanh. Một loạt các thành tựu nổi bật của công ty đã đạt được: góp phần làm đẹp thành phố với việc ốp lát đá Granite một số công trình xây dựng lớn ( như : Trụ sở Ngân Hàng Techcombank ở đường Văn Cao, khu dân cư Sunvillage ở đờng Văn Cao, và một số khách sạn..); là một trong những đại lý tiêu biểu với doanh số bán hàng cao của công ty TNHH Ferroli Việt Nam, được biểu dương và thưởng trong hội nghị các đại lý bán hàng tiêu biểu năm 2023 do công ty TNHH Ferroli Việt Nam tổ chức; ngoài ra hiện tại công ty còn là nhà phân phối của một số hàng nổi tiếng trong ngành sản xuất thiết bị vệ sinh cao cấp như: Gương Pioren của công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Rạng Đông, Gạch ốp lát DACERA của công ty cổ phần gạch men Cosevo,…. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

2.1.2 Chức năng,nhiệm vụ, phạm vi kinh doanh

Công ty cổ phần Xây dựng Thương mại và Vận tải Ngọc Hà là một doanh nghiệp thương mại nên chức năng chính của công ty là:

  • Chào hàng, bán hàng, phân phối các loại sản phẩm do công ty nhận làm đại lý đó là bình nước nóng Ferroli và thiết bị vệ sinh gốm sứ cao cấp Cosani.
  • Hoàn thành các công trình xây dựng thông qua việc ốp lát gạch, đá Granite
  • Tổ chức nghiên cứu, phát triển, mở rộng thị trường nhằm đưa sản phẩm của công ty phân phối đến với người tiêu dùng.
  • Vận tải, chuyên nhận chở hàng hóa.

Hiện nay phạm vi hoạt động của công ty Cổ phần Xây dựng Thương mại và Vận tải Ngọc Hà đã trải dài trên các quận nội thành: Lê Chân, Ngô Quyền, Hồng Bàng, Kiến An,Hải An, Dương Kinh và các huyện ngoại thành : An Lão,An Dương, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, khu vực Đồ Sơn. Gần đây công ty đã mở rộng thêm ra một số khu vực thuộc tỉnh Quảng Ninh như: Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên. Mạng lưới các cửa hàng nhập hàng từ công ty Cổ phần Xây dựng Thương mại và Vận tải Ngọc Hà ngày càng lớn và đem lại nguồn thu lớn cho công ty. Dự kiến của công ty sang năm 2026 sẽ mở rộng phạm vi kinh doanh sang khu vực thuộc một số tỉnh lân cận : Thái Bình, Nam Định, Quảng Ninh, Hải Dương – Đây là thị trường lớn của công ty tuy nhiên cũng là một thách thức lớn mà yêu cầu công ty phải vượt qua.

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty

Công ty cổ phần Xây dựng Thương mại và Vận tải Ngọc Hà có 40 cán bộ công nhân viên trong đó 20 người có trình độ là đại học; 15 người có trình độ cao đẳng, 5 người có trình độ trung cấp và 30 người là lao động phổ thông

  • Sơ đồ1. 1: Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty

Bộ máy quản lý của công ty cổ phần Xây dựng Thương mại và Vận tải Ngọc Hà gọn nhẹ linh hoạt nhưng hoạt động hiệu quả.

a. Hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị bao gồm:

  • Ông Đinh Hữu Ngọc : Nắm giữ 10.000 cổ phiếu, chiếm tỷ lệ 50% Bà Nguyễn Thị Hà : Nắm giữ 5.000 cổ phiếu, chiếm 25%
  • Ông Nguyễn Danh Hải : Nắm giữ 5.000 cổ phiếu, chiếm 25 %

b. Giám đốc Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Là người có quyền hạn cao nhất tại công ty, là người đại diện cho công ty trước pháp luật, là người đa ra quyết định cuối cùng đến từng phòng ban, là người chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.

c. Phó Giám đốc

Có hai phó giám đốc :

  • Phó giám đốc kinh doanh : phụ trách việc mua bán hàng hóa, trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh của công ty
  • Phó giám đốc điều hành: phụ trách nội bộ của công ty về mặt quản trị, tổ chức hành chính, phúc lợi công cộng.
  • Hai phó Giám đốc cùng nhau giúp đỡ Giám đốc giải quyết một số công việc.

d. Phòng hành chính nhân sự tổng hợp

Gồm trưởng phòng và các nhân viên. Đây là phòng phụ trách công việc liên quan đến các thủ tục hành chính, điều động nhân sự, tuyển dụng nhân sự, theo dõi nhân viên…

e. Phòng kinh doanh

Trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện các họat động tiếp thị- bán hàng tới các khách hàng và khách hàng tiềm năng của Doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu về doanh số, thị phần,nghiên cứu, điều tra, khảo sát thị trường, mở rộng thị trường .…..

f. Phòng kế toán – tài chính

Gồm một kế toán trưởng, hai kế toán tổng hợp, một thủ quỹ,bốn kế toán ghi sổ. Phòng kế toán là nơi tổng hợp hóa đơn chứng từ, tập hợp thành sổ sách, bảng biểu, xử lý thông tin chuyển cho Giám đốc các báo cáo .

Xây dựng và thực hiện các kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn. Thực hiện việc chi trả tiền lương cho cán bộ, nhân viên trong công ty. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

g. Phòng kế hoạch

Tổ chức thực hiện các công tác kế hoạch bao gồm :

  • Xây dựng kế hoạch trung hạn và ngắn hạn cho toàn công ty
  • Hỗ trợ Ban Giám đốc kiểm soát, giám sát, đánh giá việc thực hiện các kế hoạch.
  • Đề xuất hiệu chỉnh các kế hoạch nếu cần..

h. Kho

  • Gồm thủ kho và các nhân viên kho, bảo vệ. Là nơi lưu trữ, xuất nhập hàng hóa của công ty.

2.1.4 Khái quát về tình hình tài chính của công ty trong những năm gần đây

Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ giúp cho ta nhận định một cách tổng quát về tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là tốt hay xấu. Điều đó cho phép Giám đốc Công ty thấy rõ được thực chất của quá trình hoạt động kinh doanh thương mại và dự đoán được khả năng phát triển hay xu hướng suy thoái của Công ty mình và trên cơ sở đó đề ra biện pháp quản lý hữu hiệu.

Qua số liều trên bảng cân đối kế toán (Phụ lục) ta sẽ thấy được quy mô mà Công ty hiện đang quản lý và sử dụng cùng với sự hình thành nguồn vốn ấy như thế nào, đồng thời thấy được xu hướng biến động của chúng là tốt hay chưa tốt qua các kỳ kế toán. Để tìm ra nguyên nhân chủ yếu tác động đến sự biến đổi ấy chúng ta cần đi xâu xem mức độ ảnh hưởng của các khoản mục đến tài sản và nguồn hình thành tài sản như thế nào. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp.

Để có thể đạt được mục tiêu trên, ta cần phân tích, đánh giá cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn hình thành tài sản.

  • Phân tích đánh giá cơ cấu vốn và nguồn hình thành vốn

Thực trạng tài chính của Công ty được biểu hiện rõ nét trên bảng cân đối kế toán (Phụ lục) nó nói lên sự biến động trong cơ cấu tài sản, trong cơ cấu nguồn vốn đồng thời cũng chỉ rõ việc doanh nghiệp huy động và sử dụng vốn có hiệu quả hay không giữa các kỳ kế toán liên tiếp.

  • Về cơ cấu vốn

Qua bảng cân đối kế toán năm 2025 và 2024 (phụ lục) ta thấy tổng số tài sản hiện Công ty đang quản lý và sử dụng là 4,934,171,000 đồng, tăng tuyệt đối so với năm 2024 là 1,835,261,000 đồng với tỷ lệ tăng tương đối là 59.22%. Điều này cho thấy quy mô kinh doanh của Công ty tăng lên nhiều so với năm 2024. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để có thể duy trì và mở rộng thị trường, để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp cùng ngành khác thì việc mở rộng quy mô vốn kinh doanh là điều hợp lý và tất nhiên. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Tuy nhiên để đánh giá thực trạng tài chính của Công ty ta không chỉ dừng lại ở quy mô vốn kinh doanh mà vẫn nắm được sự biến động của tài sản cùng những yếu tố tác động đến sự biến đổi này.

  • Bảng 2.1: Cơ cấu vốn

Ta thấy mức tăng năm 2024 là 369,512,500 đồng và năm 2025 là 835,261,000 đồng , mức tăng này được đánh giá là khá cao và là điều kiện tốt để Công ty mở rộng phạm vi hoạt động của mình. Năm 2023 và 2024 Công ty đầu tư lần lượt là 57.4% và 56.6% tổng tài sản vào tài sản lưu động trong khi đó TSCĐ là 42.6% và 43.4%. Đến năm 2025 tỷ trọng tương ứng là 66.8%và 33.2%. Đối với doanh nghiệp như Công ty Cổ phần xây dựng thương mại và vận tải Ngọc Hà thì TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn hơn không nhiều so với TSCĐ bởi lẽ chu kỳ kinh doanh của công ty ko quá ngắn, số vòng quay trung bình. So với những doanh nghiệp khác trong cùng ngành thì TSLĐ chiếm trên 50% tổng tài sản là hợp lý. Việc đầu tư vào TSLĐ sẽ tạo vốn cho hoạt động kinh doanh đồng thời giải quyết nhanh khâu thanh toán cũng như trả nợ vay. Đồng thời doanh nghiệp cũng vẫn chú trọng vào TSCĐ nhằm mục đích mở rộng kinh doanh. Đến năm 2025, công ty chú trọng đầu tư vào TSLĐ nhiều hơn 66.8%, chứng tỏ công ty có để ý hơn đến việc tạo vốn cho hoạt động kinh doanh, tuy nhiên việc điều chỉnh này không đáng kể và không làm thay đổi cơ cấu vốn.

Từ số liệu bảng 1, ta thấy so với năm 2023 và năm 2024 lượng tiền và TSLĐ khác tăng lên rất nhanh. So với năm 2023, lượng tiền năm 2024 chỉ tăng 11,252,000 đồng thì năm 2025 lượng tiền tăng lên 187,490,000đồng so với năm 2024, tương ứng với tỷ lệ tăng 78.6%. Điều này cho thấy tốc độ tăng của các khoản mục này là rất lớn, song do tỷ trọng của chúng chiếm trong tổng TSLĐ khá nhỏ nên mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự biến động của TSLĐ là không lớn. Sở dĩ năm 2025 Công ty có lượng tiền và TSLĐ khác tăng như vậy là do đã giảm được tỷ trọng của các khoản phải thu và hàng tồn kho và do việc mở rộng quy mô kinh doanh.

Trong cơ cấu TSLĐ thì các tài khoản phải thu và hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2023 các khoản phải thu chiếm 18.9% và hàng tồn kho chiếm 56.7% tổng tài sản, năm 2024 là 25.5% các khoản phải thu ngắn hạn và 49.1% hàng tồn kho, con số tương ứng của năm 2025 là 22.1% và 27.7%.

Số liệu trên bảng 2 ta thấy tốc độ tăng của các khoản phải thu năm 2024 là 6.6%, trong khi đó tỷ trọng của TSLĐ năm này lại giảm đi 0.8%.Và tốc độ tăng của hàng tồn kho là 7.6%. Điều này chứng tỏ năm 2024 công ty chưa chú trọng giảm lượng hàng tồn kho và các khoản phải thu. Nhưng đến năm 2025, các khoản phải thu giảm 3.4% và hàng tồn kho giảm 21.4%. Đây là một dấu hiệu tốt vì công ty đã có xu hướng giảm lượng hàng tồn kho và các khoản phải thu nhằm tránh ứ đọng vốn.

Năm 2025, công ty chú trọng hơn vào việc đầu tư ngắn hạn, trong khi năm 2023 tỷ trọng của đầu tư ngắn hạn là 8%, năm 2024 là 9.9% thì năm 2025 là 1 bước nhảy lớn khi tỷ trọng đầu tư ngắn hạn là 28.5% tổng TSLĐ. Như vậy với số vốn nhàn rỗi, công ty đã đem đi đầu tư, mang lại nguồn lợi nhuận cho Công ty. Tuy nhiên Công ty cần xem xét cân đối giữa lượng vốn cần cho việc kinh doanh với lượng vốn mang đi đầu tư. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Như vậy, sự biến động của TSLĐ chịu ảnh hưởng của 5 nhân tố: tiền,đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho, TSLĐ khác. nhìn chung sự biến động này là tương đối tốt song Công ty cần phải quan tâm nhiều hơn nữa trong việc giảm các khoản phải thu và hàng tồn kho vì xét trong 1 quá trình lâu dài thì 2 khoản này có tác động rất mạnh mẽ đến TSLĐ đồng thời nó cũng thể hiện hiệu quả sử dụng vốn TSLĐ ngày càng tốt hơn.

Trong cơ cấu tài sản, TSCĐ và đầu tư dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn mặc dù đầu tư vào năm 2024 tăng tuyệt đối 2,004,000 đồng,với tỷ lệ tương đối là 9.2%. Nhưng đến năm 2025 con số tương ứng là 28,777,000 đồng và 121.4%. Chứng tỏ qua xem xét tình hình tài chính năm 2025, công ty đã dành khá nhiều vốn cho việc đầu tư dài hạn. Việc đầu tư này nhìn chung là tốt vì mang lại lợi nhuận cho công ty, tránh lãng phí vốn nhưng cũng khá nhiều rủi ro.Qua khảo sát tình hình TSCĐ tăng là do các khoản phải thu dài hạn và tài sản cố định tăng. Các khoản phải thu tăng nếu chưa đến hạn thì hoàn toàn hợp lý vì đó là chính sách của công ty đối với khách hàng. Trong kỳ, công ty đã mua sắm thêm tài sản cố định nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh và mở rộng kinh doanh của công ty.

Bên cạnh việc tăng TSCĐ thì hoạt động đầu tư tài chính dài hạn của Công ty cũng tăng rõ rệt. Cụ thể: Năm 2023 Công ty đầu tư 21,698,000 đồng tương ứng 1.9%, năm 2024 là 23,702,000 đồng tương ứng 1.8%, nhưng đến năm 2025, con số này tăng lên đáng kể: 52,479,000 đồng tương ứng 3.2% tổng TSCĐ.

  • Về cơ cấu nguồn vốn:

Qua việc phân tích cơ cấu nguồn vốn giúp chúng ta thấy, để có vốn cho sản xuất kinh doanh Công ty đã huy động từ những nguồn nào và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của nguồn vốn. Qua đó thấy mức độ độc lập về mặt tài chính và trách nhiệm pháp lý đối với các khoản nợ của Công ty :

  • Bảng 2.2 : Cơ cấu nguồn vốn
  • Số liệu ở biểu cho thấy:

Tổng nguồn vốn huy động được của công ty, cũng là tổng số vốn mà công ty có thể sử dụng, liên tục có sự tăng trưởng nhưng không đều qua các năm. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Năm 2024 so với năm 2023, tổng nguồn vốn tăng không nhiều: 369,512,500 đồng(13.5%). Trong khi đó, năm 2025 so với năm 2024 tổng nguồn chi phí mới phát sinh do đó công ty đã phải đầu tư thêm một lượng vốn lớn.vốn tăng khá nhiều: 1,835,261,000 đồng tương ứng 59.2%.Nguyên nhân của sự tăng không đồng đều này là do năm 2024, khi các thị trường ổn định, lượng vốn đầu tư đã đáp ứng nhu cầu sử dụng thì lượng vốn tăng thêm là không đáng kể. Nhưng khi bước vào năm 2025 công ty đã chủ trương mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hoá không những duy trì được những thị trường truyền thống và trong địa bàn Hải Phòng mà còn mở rộng được sang các thị trường mới, nhiều tiềm năng trên địa bàn các tỉnh thành phố khác. Do việc mở rộng thị trường, đòi hỏi công ty cũng phải có thêm các nguồn hàng, các

Tổng nguồn vốn tăng lên được giải thích bởi sự tăng giảm của hai bộ phận là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Sự tăng, giảm nguồn vốn chịu ảnh hượng của 2 nhân tố là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu. Nếu như nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ cao trong tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp có khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với chủ nợ là rất cao.

Ngược lại nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn thì khả năng bảo đảm về mặt tài chính là rất thấp.

  • Nguồn vốn chủ sở hữu:

Nguồn vốn chủ sở hữu qua ba năm có sự thay đổi nhiều, đặc biệt là năm 2025. Với số vốn ban đầu là 2,000,000,000 đồng năm 2023 và năm 2024 số vốn tăng lên là ko đáng kể. Đến năm 2024 số vốn là 3,098,910,000 đồng. Nhưng đến năm 2025 thì số vốn lại tăng khá nhiều, lên đến 4,934,171,000 đồng, tăng đến 59.2% so với năm trước. Sở dĩ có sự biến động mạnh về vốn như thế là do đến năm 2025, , do yêu cầu của việc mở rộng kinh doanh hàng hoá, dịch vụ công ty đã chủ động tăng thêm vốn đầu tư như đã nói ở trên. . Nhưng vốn đầu tư vào mở rộng kinh doanh chủ yếu được huy động từ các cổ đông và lợi nhuận của công ty, chứ ít tăng thêm các khoản chiếm dụng vốn.

Để thấy rõ hơn tình hình vốn chủ sở hữu của công ty, ta phân tích cụ thể từng bộ phận của vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu được hình thành từ các bộ phận chủ yếu là lãi chưa phân phối và các quỹ.

  • Qua bảng cân đối kế toán (phụ lục) ta thấy:

Phần lãi chưa phân phối của công ty đều tăng qua các năm,số lãi này 2 năm 2023 và 2024 tăng không lớn, nhưng đến năm 2025 tăng cao nhất đạt 1,592,344,000 đồng.Tuy vậy, sự tăng này cũng ảnh hưởng tới tỷ trọng vốn chủ sở hữu.

Các nguồn quỹ của doanh nghiệp như quỹ phát triển kinh doanh, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm được công ty duy trì ổn định qua các năm. Đây là điều tốt, bởi nó sẽ giúp công ty ổn định được nếu gặp những rủi ro trong kinh doanh và cũng đáp ứng nhu cầu thanh toán khi cần thiết. Riêng quỹ đầu tư phát triển lại có xu hướng tăng mạnh vào năm 2025, lượng tiền bổ sung vào quỹ này tăng gấp đôi so với năm trước. Trong các năm qua, do công ty ăn có hiệu quả là cũng một phần do công ty đã biết khuyến khích, khen thưởng kịp thời cán bộ công nhân viên,do vậy quỹ khen thưởng phúc lợi cũng tăng lên đáng kể. Đây là một dấu hiệu tốt chứng tỏ tình hình tài chính của công ty tương đối ổn định và có xu hướng tốt lên.

  • Nợ phải trả : Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Một điều dễ nhận thấy trong các khoản nợ của công ty là công ty rất ít sử dụng các khoản vay dài hạn. Các khoản nợ của công ty chủ yếu bắt nguồn từ vay ngắn hạn và các khoản phải trả. Như vậy toàn bộ các tài sản thường xuyên và một phần tài sản không thường xuyên của công ty được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu, phần tài sản không thường xuyên còn lại được tài trợ bằng việc sử dụng nợ.

  • Bảng 2.3 : Nợ phải trả của công ty

Số liệu ở biểu 3 cho thấy tỷ lệ nợ của công ty khá cao nhưng tỷ lệ vay ngắn hạn Ngân hàng lại rất thấp. Như vậy nợ của công ty chủ yếu nằm trong các khoản phải trả. Đây là một điều rất tốt đối với mỗi doanh nghiệp bởi lượng vốn chiếm dụng được nhiều, mà lượng vốn này hầu như không có chi phí, do đó lợi nhuận kiếm được không lo phải trả lãi vay. Việc công ty sử dụng tỷ lệ nợ cao là xuất phát từ nhiều nguyên nhân:

Trước hết, do lượng vốn chủ sở hữu ban đầu không thể đáp ứng được nhu cầu vốn kinh doanh. Mặt khác, phạm vi hoạt động kinh doanh rộng cả trong và ngoài thành phố, thực hiện nhiều chức năng hay nghiệp vụ kinh doanh do đó đòi hỏi phải có một lượng vốn đủ lớn. Vì vậy, nhu cầu sử dụng nợ của công ty là điều tất yếu. Việc sử dụng nợ của công ty tỏ ra rất thuận lợi, việc vay vốn Ngân hàng rất dễ dàng, và nhất là việc mua bán chịu của công ty đối với các công ty trong nước không gặp khó khăn gì. Do có những thuận lợi như vậy nên công ty có thể sử dụng tỷ trọng nợ rất cao, và có thể còn cao hơn trong thời gian tới.

Thứ hai, do đặc thù kinh doanh của công ty là chào hàng, bán hàng, phân phối các loại sản phẩm do công ty nhận làm đại lý đó là bình nước nóng Ferroli và thiết bị vệ sinh gốm sứ cao cấp Cosani và hoàn thành các công trình xây dựng thông qua việc ốp lát gạch, đá Ví dụ, trong việc kinh doanh hàng hoá: xuất bán hàng hóa, công ty luôn muốn giữ mối làm ăn với các công ty có uy tín khác do đó công ty cứ việc lấy hàng xuất bán thu tiền sau đó mới thanh toán với phía nhà cung cấp. Tuy cũng có lúc công ty phải đặt cọc để giữ mối hàng nhưng lượng đặt cọc cũng không lớn nên không phát sinh những khoản chi bất thường lớn. Những khoản vay ngắn hạn Ngân hàng chính là nhằm đáp ứng cho những nhu cầu bất thường này.

Tuy việc sử dụng nợ có chi phí thấp, nhưng rủi ro từ nợ cũng không phải là ít. Điều gì sẽ xảy ra đối với công ty khi các khoản nợ đến hạn thanh toán mà các khoản phải thu chưa đòi được hoặc không đòi được. Hoặc giả dụ, khi công ty không thể huy động được nợ do các bạn hàng không đồng ý bán chịu, hoặc lãi suất vay nợ quá cao thì công việc kinh doanh nhất định sẽ gặp khó khăn. Vì vậy, trong thời gian tới công ty cần có kế hoạch cơ cấu lại nguồn vốn cho phù hợp. Bên cạnh sử dụng nợ, công ty cũng có thể tự tích luỹ nội bộ để có thể có một lượng vốn chủ sở hữu lớn hơn để đảm bảo an toàn trong kinh doanh.

  • Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh
  • Bảng 2.4 : Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty

Qua bảng trên ta thấy nhìn chung lợi nhuận của công ty liên tục tăng qua 3 năm: Mức lợi nhuận năm 2023 đạt 968,453,000 đồng nhưng đến năm 2024 mức lợi nhuận đạt 1,248,698,000 đồng tăng 28.94% so với năm 2023. Năm 2025 mức lợi nhuận tiếp tục tăng lên 2,376,067,000 đồng tăng 90.3% so với năm 2024. Có được kết quả trên là do ảnh hưởng của các yếu tố sau:

Tổng doanh thu tăng: Năm 2023 tổng doanh thu đạt 7,805,692,000 đồng; năm 2024 đạt 8,380,563,000 đồng tăng 36% so với năm 2023 đến năm 2022 tổng doanh thu đạt 10,820,142,000 đồng. Năm 2024 doanh thu thuần đạt 8,208,982,000 đồng tăng 7.91% so với năm 2023 là 7,607,330,000 đồng. Năm 2025 doanh thu thuần đạt 10,613,771,000 đồng tăng 29.3% so với năm 2024. Doanh thu thuần bình quân qua 3 năm tăng nguyên nhân là tốc độ tăng doanh thu cao trong khi đó các khoản giảm trừ doanh thu ít biến động. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Giá vốn hàng bán biến động ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh. Giá vốn hàng bán năm 2024 là 5,610,969,000 đồng tăng 64,87% so với năm 2023 là 5,369,323,000 đồng. Năm 2025 giá vốn hàng bán là6,735,062,000 đồng tăng 25.44% so với năm 2024.

Mặc dù giá vốn hàng bán tăng mạnh qua 3 năm nhưng do tốc độ tăng của doanh thu thuần lớn nên lợi nhuận gộp của công ty cũng tăng mạnh qua 3 năm cụ thể: năm 2024 lợi nhuận gộp của công ty là 2,598,013,000 đồng tăng 16.1% so với năm 2023 là 2,238,007,000 đồng đến năm 2025 lợi nhuận gộp của công ty là 3,878,709,000 đồng tăng 49.3% so với năm 2024.

Do chi phí bán hàng thay đổi đã làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty. Chi phí này tăng sẽ làm giảm lợi nhuận và ngược lại. Năm 2024 chi phí bán hàng của công ty là 1,052,308,000 đồng tăng 4.9% so với năm 2023 là 1,003,339,000 đồng. Năm 2025 chi phí bán hàng là 1,245,476,000 đồng tăng 18.4% so với năm

  • Lợi nhuận từ hoạt động tài chính đã làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty. Hoạt động tài chính trong 3 năm chủ yếu là vay ngắn hạn ngân hàng nên đã làm giảm lợi nhuận của công ty.
  • Lợi nhuận sau thuế: 3 năm qua công ty được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về thuế.

Nhìn chung trong những năm qua chi phí có sự tăng lên nhưng công ty vẫn có mức lợi nhuận tăng. Để đạt tốc độ như vậy công ty đã không ngừng đầu tư vào các khâu trong quá trình kinh doanh, đồng thời công tác quản lý của ban lãnh đạo ngày càng chặt chẽ và hiệu quả.

Qua đó, ta thấy các nguồn doanh thu, chi phí và lợi nhuận năm 2025 có sự gia tăng hơn năm 2024 và 2023. Ở phần lợi nhuận 2025 ta thấy tỷ lệ của lợi nhuận tăng rất mạnh, tăng gấp đôi lợi nhuận năm 2024. Đây là một dấu hiệu tốt của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh

Ngoài ra, chi phí qua ba năm 2023, 2024 và 2025 ta thấy có sự tăng thêm qua năm 2024 và 2025, việc tăng chi phí này thi doanh nghiệp cần xem xét lại chi phí của doanh nghiệp vì sao lại tăng như thế. Từ đó chọn phương pháp tốt để có thể giữ ổn định chi phí.

2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm gần đây Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Từ những năm đầu thành lập, công ty luôn luôn thay đổi hoàn thiện bản thân,xây dựng thương hiệu, tự tìm đối tác ,tự tìm kiếm thị trường để từng bước đứng vững trên nền kinh tế được bạn hàng tin tưởng.

Trong những năm gần đây hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty diễn ra trong điều kiện có nhiều khó khăn trở ngại. Ngoài những khó khăn vốn có về tiền vốn, cơ chế chính sách của Nhà nước thiếu đồng bộ… lại cộng thêm những thách thức lớn trong xu thế cạnh tranh, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Nhưng với định hướng đúng đắn của ban chấp hành đảng bộ công ty và sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ của toàn thể CBCNV công ty nên đã khai thác được tối đa các yếu tố thuận lợi, tranh thủ được sự hỗ trợ, giúp đỡ của các ban ngành trung ương cũng như địa phương. Do vậy năm 2025 công ty đã đạt được kết quả đáng khích lệ.

Trong thời điểm hiện nay, Công ty đang hợp tác cùng một số đơn vị khác trong việc thi công một số công trình quan trọng ở một số địa phương trong cả nước.

  • Về tình hình huy động, quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của Công ty:

Do đặc thù của ngành xây dựng, thương mại vận tải là thường phải ứng trước một lượng vốn tương đối lớn để phục vụ cho thi công công trình nên yêu cầu huy động được vốn một cách hợp lý, đồng thời tận dụng và phát huy tối đa hiệu quả sử dụng vốn luôn được đặt lên hàng đầu trong Công ty. Hiện nay, Công ty đang huy động vốn từ các nguồn sau đây:

  • Vốn chủ sở hữu: do các cổ đông đóng góp bao gồm nhà kho, văn phòng công ty, máy móc, thiết bị, tiền vốn…
  • Vốn được bổ sung từ nguồn lợi nhuận để lại. Vốn vay, chủ yếu là vay ngân hàng.
  • Với mỗi loại vốn, Công ty có cách quản lý và sử dụng khác nhau cho phù hợp và đúng với mục đích sử dụng.
  • Nguồn vốn chủ sở hữu được quản lý chặt chẽ để đầu tư mở rộng kinh doanh theo chiến lược phát triển chung, nguồn vốn này luôn được bảo toàn và phát triển.
  • Nguồn vốn tự bổ sung được dùng để đầu tư tài sản cố định đổi mới sản phẩm, phát triển thương mại.

Nguồn vốn vay ngân hàng được quản lý chặt chẽ và giám sát để đầu tư tài sản có hiệu quả kinh tế cao, hoặc bổ sung cho vốn lưu động đáp ứng nhu cầu kinh doanh và đảm bảo hiệu quả kinh tế.

Thực hiện nghĩa vụ ngân sách và phân phối lợi nhuận: trong những năm qua, Công ty đã thực hiện đủ các khoản đóng góp cho ngân sách nhà nước như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế GTGT, … Đối với lợi nhuận, Công ty cũng đã tiến hành chia một phần lợi nhuận thu được cho các cổ đông, phần còn lại bổ sung vào làm vốn sản xuất kinh doanh.

2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty CP xây dựng – thương mại và vận tải Ngọc Hà Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

2.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Công ty Cổ phần Xây dựng Thương mại và Vận tải Ngọc Hà là một công ty hoạt động trên lĩnh vực lưu thông và dịch vụ do đó tỷ trọng vốn lưu động trên tổng nguồn vốn lớn hơn các doanh nghiệp sản xuất. Do vốn lưu động được sử dụng để mua sắm, đầu tư vào các tài sản lưu động nên cơ cấu tài sản lưu động chính là phản ánh trung thực nhất của cơ cấu sử dụng vốn lưu động.

Do đặc thù kinh doanh của các ngành thương mại và dịch vụ là chiếm dụng vốn lẫn nhau thông qua hình thức mua bán chịu, đồng thời công ty phải dự trữ những lượng hàng hoá khá lớn nên tỷ trọng tài sản lưu động trong tổng tài sản của công ty luôn luôn ở mức cao. Tỷ trọng tài sản lưu động của công ty trong các năm qua luôn chiếm trên 55% trong tổng số tài sản, thậm chí trong một năm gần đây nó luôn chiếm tới 68%.

  • Bảng 2.5 : Cơ cấu vốn lưu động
  • Vốn bằng tiền

Thông thường thì công ty và khách hàng giao dịch qua Ngân hàng là chính cho nên khoản tiền mặt tại két là rất nhỏ. Công ty chỉ giữ lại một lượng tiền dùng để thanh toán hàng ngày, như thanh toán lương cho cán bộ công nhân viên, tạm ứng… Tiền mặt không có khả năng sinh lời, mặt khác giữ nó lại phải chịu chi phí cơ hội, chi phí bảo quản do đó công ty rất hạn chế giữ tiền mặt. Bảng cân đối kế toán cho thấy lượng tiền mặt tại quỹ không ổn định nó phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu tại từng thời điểm. Lượng tiền gửi tại Ngân hàng của công ty cũng thường không lớn, bởi mỗi khi công ty thu tiền hàng thì thường trả ngay cho người cung cấp do đó lượng tiền còn dư không nhiều. Lượng vốn bằng tiền của công ty giảm trong năm 2024, nhưng lại tăng trong năm 2025 cho thấy nhu cầu thanh toán của công ty ngày một tăng.

  • Các khoản phải thu Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Các khoản phải thu thường bao gồm phải thu từ khách hàng; trả trước cho người bán, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, phải thu khác và dự phòng các khoản phải thu khó đòi. Tuy nhiên, đối với công ty thì các khoản phải thu chủ yếu là phải thu từ khách hàng. Khách hàng của công ty chủ yếu là các công ty, các doanh nghiệp đối tác. Trong các năm gần đây các khoản phải thu của công ty có xu hướng tăng mạnh cả về lượng và tỷ trọng (25.5% năm 2024 tăng 50.7% và 22.1% năm 2025 tăng 63.2%). Nguyên nhân là do công ty mở rộng công việc kinh doanh nhưng việc mua bán hàng hoá chủ yếu là mua bán chịu. Các khoản phải thu tăng nhanh cho thấy lượng vốn của công ty bị chiếm dụng nhiều, nếu chiều hướng này tiếp tục xảy ra trong khi các khoản phải trả lớn thì công ty sẽ gặp khó khăn trong thanh toán các khoản nợ.

  • Hàng tồn kho

Đối với một công ty sản xuất thì lượng hàng tồn kho chủ yếu là lượng dự trữ nguyên liệu, vật liệu và thành phẩm tồn kho, còn đối với các công ty thương mại và dịch vụ thì hàng tồn kho chủ yếu là các hàng hoá được nhập vào chờ ngày tiêu thụ. Hàng tồn kho của công ty trong những năm gần đây có tỷ trọng giảm đi trong tổng tài sản lưu động của công ty. Năm 2023 hàng tồn kho của công ty là 888,060,000 đồng, nhưng năm 2024 lượng hàng tồn kho đã giảm xuống 861,317,500 đồng năm 2002 tăng lên là 911,765,000 đồng nhưng tỷ trọng so với tổng vốn lưu động lại giảm chỉ còn 27.7 %. Lượng hàng tồn kho giảm chứng tỏ công ty tiêu thụ hang tồn kho ngày càng tốt.

  • Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Cũng như đối với vốn cố định, để đánh giá tình hình sử dụng vốn lưu động của công ty ta căn cứ vào một số chỉ tiêu được tính toán trong bảng 5 “Hiệu quả sử dụng vốn lưu động”.

  • Bảng 2.6 : Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty Cổ phần xây dựng- thương mại và vận tải Ngọc Hà
  • Số liệu tính toán ở biểu trên cho thấy:

Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn lưu động cho biết một đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh Qua chỉ tiêu này ta thấy hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty khá cao nhưng lại có xu hướng giảm. Năm 2023 là 8.57 năm 2024 giảm đôi chút còn 8.37 nhưng năm 2025 con số này giảm đáng kể là 4.35. Một đồng vốn lưu động tạo ra hơn 8 đồng doanh thu thuần (năm 2023 và năm 2024) ,gần 5 đồng doanh thu thuần(2025), đó là một kết quả rất tốt nhất là đối với các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ nơi mà vốn được sử dụng chủ yếu là vốn lưu động. Tuy nhiên con số này lại giảm đi,có thế là do. Việc hiệu suất sử dụng vốn lưu động năm 2025 chưa thực sự hiệu quả, cũng có thể do chính sách của công ty hoặc do công ty bỏ một lượng vốn vào các công trình chưa hoàn thành, chưa mang lại doanh thu về cho công ty.

Thời gian của một vòng luân chuyển cho ta biết khoảng thời gian bình quân một đồng vốn lưu động bỏ ra được thu hồi về để tiếp tục tái đầu tư. Vì vậy số ngày của một vòng luân chuyển càng ngắn thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng được nâng cao. Chỉ tiêu này năm vừa qua có biến động mạnh. Nếu như năm 2023 là 42ngày; năm 2024 là 43 ngày thì năm 2025 thời gian của một vòng luân chuyển lại tang lên đáng kể: 83 ngày. Chứng tỏ trong năm 2025, nguồn vốn lưu động cua công ty chưa thật mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi vốn lưu động cho biết một đồng vốn lưu động được sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lợi của vốn lưu động. Đối với một công ty thương mại thì đây chính là chỉ tiêu đáng quan tâm nhất. Với một cơ cấu sử dụng vốn có tới trên 90% là vốn lưu động thì lợi nhuận của công ty chủ yếu là do vốn lưu động tạo ra. Nếu tỷ suất sinh lợi vốn lưu động mà không cao thì chắc chắn công ty đang gặp khó khăn. Số liệu được tính toán cho thấy tỷ suất sinh lợi vốn lưu động của công ty Cổ phần xây dựng thương mại và vận tải Ngọc Hà là khá cao, năm 2023 là 1.091; năm 2024 là 1.273 và năm 2025 là 0,973. Tỷ suất này là khá cao nhưng năm 2025 tỷ suất này lại giảm đi nhưng với con số 0.973 thì công ty cũng chứng tỏ nỗ lực nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đang thành công. Tỷ suất sinh lợi vốn lưu động của công ty cao một phần nguyên nhân là do cùng với sự tăng doanh thu thì giá vốn hàng bán cũng giảm đi làm cho lợi nhuận của công ty tăng mạnh. Vì vậy, để duy trì tỷ suất sinh lợi vốn lưu động, ngoài việc phải đầu tư mở rộng kinh doanh thì công ty phải tìm mọi cách tiết kiệm chi phí, qua đó hạ giá vốn hàng bán để tăng lợi nhuận.

Kỳ thu tiền bình quân đo lường khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp đồng thời phản ánh công tác quản lý các khoản phải thu và chính sách tín dụng của doanh nghiệp đối với khách hàng của mình. Do đăc thù của kinh doanh thương mại là mua bán chịu cho nên các khoản phải thu là khá nhiều.Tuy nhiên, chỉ tiêu này của công ty lại không quá lớn. Do đó quản lý các khoản phải thu có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty. Số liệu được tính toán cho thấy kỳ thu tiền bình quân của công ty là trung bình, không quá lớn, năm 2023 là 14 ngày, năm 2024 là 19 ngày và năm 2025 là 25 ngày. Tuy nhiên chỉ tiêu này ko lớn, đó là một dầu hiệu tốt cho tình hình tài chính của công ty. Công ty cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc thu hồi các khoản nợ để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lao động.

Vòng quay hàng tồn kho của công ty có xu hướng tăng trong những năm vừa qua. Năm 2023 vòng quay hàng tồn kho là 6.05, thì năm 2024 tăng lên là 6.51 và năm vừa qua tuy có tăng nhưng cũng chỉ đạt con số 7.9. Vòng quay hàng tồn kho tăng đồng nghĩa với việc lượng hàng hoá tồn kho trong hai năm vừa qua là thấp. Khả năng tiêu thụ hàng hoá của công ty tăng hơn so với trước đây là dấu hiệu khả quan vì công ty tiêu thụ nhanh hàng hoá thì sẽ gặp không gặp khó khăn trong khả năng thanh toán các khoản nợ. Chính vì thế công ty hiện vẫn đang không ngừng cải thiện khả năng tiêu thụ của mình.

2.2.2 Hiệu quả sử dụng vốn cố định

  • Bảng 2.7 : Cơ cấu vốn cố định Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Công ty hoạt động trên lĩnh vực thương mại và dịch vụ, công ty chủ yếu là làm dịch vụ nhưng cũng hoàn thiện các công trình do đó lượng vốn cố định, lượng vốn mà công ty sử dụng để mua sắm TSCĐ ít hơn lượng vốn lưu động.

Vốn đầu tư vào tài sản cố định chiếm một tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng tài sản của công ty (năm 2023 và 2024 lần lượt là 42.6%, và 43.4% và giảm còn 33.2% trong năm 201.

Do quy mô của công ty nhỏ, nên tài sản cố định của công ty được đầu tư không nhiều.Tuy nhiên những tài sản cố định như đất đai, nhà cửa, vật kiến trúc, trụ sở, văn phòng, kho bãi chứa hàng, công ty đều thuộc sở hữu của công ty.

Vốn cố định của công ty đầu tư khá nhiều vào các máy móc, thiết bị văn phòng và phương tiện giao thông vận chuyển. Trong năm 2024, do nhu cầu đòi hỏi của việc mở rộng kinh doanh công ty đã đầu tư thêm một số thiết bị làm việc và một ô tô. Đến năm 2025 việc mua sắm tài sản cố định ít đi nên tỷ trong vốn cố định giảm đi.

Hàng năm công ty vẫn tiến hành kiểm kê tài sản cố định và lập báo cáo về tình hình tăng giảm tài sản cố định. Tài sản của công ty hầu như là thiết bị mới nên giá trị tài sản cố định tương đối lớn so với các công ty thương mại khác.

  • Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định

Trong điều kiện vốn cố định của công ty thấp, những tài sản cố định cũng được đầu tư có giới hạn. Nhưng trong khuôn khổ giới hạn về vốn cố định đó, với tinh thần tiết kiệm, tận dụng hết công suất của tài sản cố định vì vậy cũng mang lại hiệu quả nhất định cho công ty. Có thể khái quát về các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty qua bảng sau:

  • Bảng 2.8: Hiệu quả sử dụng vốn cố định tại công ty Cổ phần xây dựng- thương mại và vận tải Ngọc Hà
  • Qua số liệu được tính trong biểu trên ta thấy:

Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định cho biết một đồng vốn cố định bình quân được sử dụng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Năm 2023 chỉ số này đạt 7.233 lần; năm 2024 không biến động nhiều với con số 7.056 và năm 2025 tăng là 7.677 lần. Sự tăng mạnh của chỉ tiêu này cho thấy hiệu suất sử dụng vốn cố định ngày càng cao.

Như vậy, năm 2024 hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty có giảm đi chút ít so với năm 2023 nhưng không đáng kể. Doanh thu thuần tăng nhưng kèm theo vốn cố định bình quân cũng tăng lên khiến cho hiệu quả sử dụng vốn bình quân của năm ko tăng thêm được. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Năm 2025, hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty tăng 1,088 lần so với năm 2024, doanh thu thuần tăng 1.29 lần, vốn cố định bình quân tăng 1,188 lần. Cũng trong năm này, hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty tăng lên so với năm 2023 và năm 2024.Nguyên nhân dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ngày càng có hiệu quả là do lượng doanh thu thuần tăng đều, lớn hơn tốc độ tăng của tài sản cố định. Đây là một điều rất đáng khích lệ đối với công ty.

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi vốn cố định cho biết một đồng vốn vốn cố định bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra cho công ty bao nhiêu đồng lợi nhuận (sau thuế). Tỷ suất sinh lợi vốn cố định của công ty liên tục tăng trong ba năm do lượng vốn cố định sử dụng giảm nhưng lợi nhuận lại tăng đáng kể do đó có thể nói vốn cố định đang được sử dụng có hiệu quả tại công ty Cổ phần xây dựng thương mại và vận tải Ngọc Hà.

Qua các số liệu và các chỉ tiêu được tính toán trên ta đều thấy hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty là rất cao. Đóng góp của vốn cố định vào doanh thu là rất lớn. Nhưng liệu điều đó có ý nghĩa thực tế không ? Hiệu quả sử dụng vốn cố định nếu chỉ dựa vào việc đánh giá các chỉ tiêu như vậy có thực sự đúng không ?. Đây là một vấn đề cần xem xét. Chỉ quan sát qua các chỉ tiêu ta cũng có sự không bình thường bởi các chỉ tiêu này đều quá lớn, khó mà có doanh nghiệp nào có thể đạt được. Nhưng sự bất bình thường này hoàn toàn có thể lý giải được.

Thật vậy, việc các chỉ tiêu này đều vượt xa kết quả mong đợi là do các kết quả kinh doanh không phụ thuộc nhiều lắm vào lượng vốn cố định. Nói cách khác, vốn cố định không thực sự đóng góp nhiều trong việc tạo ra doanh thu hay lợi nhuận của doanh nghiệp. Đối với một doanh nghiệp sản xuất, tài sản cố định đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sản lượng, doanh thu và lợi nhuận. Nhưng ngược lại, đối với các doanh nghiệp thương mại, nhất là hầu như chỉ làm nhiệm vụ kinh doanh, mua đi bán lại sản phẩm và hoàn thiện các công trình như công ty Cổ phần xây dựng thương mại và vận tải Ngọc Hà, với lượng vốn cố định chiếm một phần không quá lớn, thì vai trò tạo ra doanh thu, lợi nhuận lại nằm ở vốn lưu động. Do đó, giữa vốn cố định và các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận có mối liên hệ rất lỏng lẻo. Điều này lý giải tại sao khi tính toán các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định lại có sự khác thường như vậy. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định quá lớn chủ yếu là do lượng vốn cố định sử dụng ko lớn trong khi kết quả kinh doanh lại rất lớn chứ không hẳn là do hiệu quả sử dụng vốn cố định cao đến mức như vậy.

Mặc dù các chỉ tiêu được tính không phản ánh thực tế sự đóng góp của vốn cố định vào thu nhập của doanh nghiệp nhưng có thể khẳng định qua các chỉ tiêu trên là vốn cố định của công ty đã được sử dụng rất có hiệu quả. Với một lượng vốn cố định không quá nhiều, lượng tài sản cố định được đầu tư khá hiện đại công ty có thể hoạt động rất tốt. Mọi công việc kinh doanh của công ty được hoạt động trôi chảy mà không hề bị gián đoạn vì một lý do nào về tài sản cố định

Việc duy trì một cơ cấu sử dụng cân đối hai loại vốn như vậy thì chắc chắn sẽ rất thuận lợi cho công ty. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như cũng như xu hướng toàn cầu hoá, hiện đại hoá nền sản xuất kinh doanh thì việc có những máy móc thiết bị hiện đại sẽ giúp công ty có thể giành lợi thế trong cạnh tranh, mở rộng hoạt động một cách dễ dàng hơn. Do đó việc duy trì cơ cấu sử dụng vốn của công ty như bây giờ là việc làm cần thiết và đúng đắn.

Chỉ tiêu hàm lượng vốn cố định phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng vốn cố định. Con số này càng ít càng chứng tỏ vốn cố định trong công ty càng được sử dụng hiệu quả. Năm 2023 để tạo ra 1 đồng doanh thu thì cần 0.1382 đồng vốn cố định, đến năm 2024 con số này có tăng lên là 0.1417 đồng, nhưng lượng tăng thêm này là ko đáng kể, ko có nghĩa là năm 2024 vốn cố định ko đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp mà là doanh thu của doanh nghiệp được tạo ra từ vốn lưu động nhiều hơn. Đến năm 2025, để tạo ra 1 đồng doanh thu thì công ty chỉ cần đến 0.1303 đồng vốn cố định, giảm 0.0114 đồng so với năm Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Như vậy, hàm lượng vốn cố định của công ty là thấp trong khi tài sản cố định lại chiếm một tỷ trọng không nhiều trong tổng tài sản. Tuy nhiên, với sự tăng dần về hiệu quả sử dụng vốn cố định và sự giảm dần về hàm lượng vốn cố định của công ty qua các năm cũng cho thấy công ty đã cố gắng hơn trong việc sử dụng nguồn vốn cố định của mình. Đây là một ưu thế của công ty, công ty nên phát huy mạnh hơn mặt tích cực này.

Chỉ tiêu hiệu suất tài sản cố định phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hiệu suất càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSCĐ càng cao. Hiệu quả sử dụng vốn cố định cuả công ty có xu hướng ổn định trong các năm, cụ thể:

Năm 2023, một đồng vốn cố định của công ty tạo ra được 5.7558 đồng doanh thu. Năm 2024, một đồng vốn cố định của công ty tạo ra được 5,0715 đồng doanh thu.Năm 2025, một đồng vốn cố định của công ty làm ra được 5,2143 đồng doanh thu.

Như vậy, năm 2024 hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty giảm 5.0715/5.7558) 0.88 lần so với năm 2023, trong khi đó doanh thu thuần tăng 1,079 lần còn tài sản cố định tăng 1.135 lần. Doanh thu thuần tăng ít hơn tốc độ tăng tài sản cố định.

Năm 2025, hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty tăng 1,03 lần so với năm 2024, doanh thu thuần tăng 1.29 lần, tài sản cố định tăng 1,24 lần. Cũng trong năm này, hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty tăng lên so với năm 1010 tuy nhiên vẫn thấp hơn năm 2023

Nguyên nhân dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp có hiệu quả nhưng ko tăng lên là do lượng doanh thu thuần tăng đều, nhưng lại không lớn hơn tốc độ tăng của tài sản cố định. Đây là một điều cần xem xét về hiệu quả sử dụng tài sản cố định đối với công ty.

Chỉ tiêu hệ số hao mòn tài sản cố định phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong doanh nghiệp so với thời điểm đầu tư ban đầu. Hệ số càng lớn chứng tỏ mức độ hao mòn TSCĐ càng cao và ngược lại. Chỉ tiêu này tăng đều qua các năm, tuy nhiên nó lại đem lại doanh thu cho công ty nên chỉ tiêu này có cao nhưng không ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản cố định. Năm 2023, hệ số hao mòn TSĐ là 0.4849, năm 2024 tăng thêm 0.0618, năm 2025 con số này la 0.6185 lần. Qua phân tích, hệ số hao mòn TSCĐ đang tăng lên, nếu công ty không có điều chỉnh thích hợp thì sẽ rất lãng phí, hiệu quả sử dụng vốn cố định cũng không được cao. Chính vì vậy, công ty nên xem xét và điều chỉnh lại tình hình sử dụng tài sản cố định của công ty mình cho hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Qua các số liệu và các chỉ tiêu được tính toán trên ta đều thấy hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty là tương đối cao. Đóng góp của vốn cố định vào doanh thu là lớn. Nhưng liệu điều đó có ý nghĩa thực tế không ? Hiệu quả sử dụng vốn cố định nếu chỉ dựa vào việc đánh giá các chỉ tiêu như vậy có thực sự đúng không ?. Đây là một vấn đề cần xem xét. Chỉ quan sát qua các chỉ tiêu ta cũng có sự không bình thường bởi các chỉ tiêu này đều quá lớn, khó mà có doanh nghiệp nào có thể đạt được. Nhưng sự bất bình thường này hoàn toàn có thể lý giải được.

Thật vậy, việc các chỉ tiêu này đều có kết quả như mong đợi là do các kết quả kinh doanh không phụ thuộc nhiều lắm vào lượng vốn cố định. Nói cách khác, vốn cố định không thực sự đóng góp nhiều trong việc tạo ra doanh thu hay lợi nhuận của doanh nghiệp. Đối với một doanh nghiệp sản xuất, tài sản cố định đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sản lượng, doanh thu và lợi nhuận. Nhưng ngược lại, đối với các doanh nghiệp thương mại, với lượng vốn cố định chiếm không nhiều, thì vai trò tạo ra doanh thu, lợi nhuận lại nằm ở vốn lưu động. Do đó, giữa vốn cố định và các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận có mối liên hệ không nhiều. Điều này lý giải tại sao khi tính toán các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định lại có sự khác thường như vậy. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định không quá lớn cũng không nhỏ, tất cả chỉ ở mức trung bình chủ yếu là do lượng vốn cố định sử dụng có cơ cấu hợp lý trong khi kết quả kinh doanh lại lớn.

Mặc dù các chỉ tiêu được tính không phản ánh thực tế sự đóng góp của vốn cố định vào thu nhập của doanh nghiệp nhưng có thể khẳng định qua các chỉ tiêu trên là vốn cố định của công ty đã được sử dụng rất có hiệu quả. Với một lượng tài sản cố định được đầu tư có hạn nhưng công ty vẫn có thể hoạt động tốt. Mọi công việc kinh doanh của công ty vẫn được hoạt động trôi chảy mà không hề bị gián đoạn vì một lý do nào của việc thiếu tài sản cố định.

Việc duy trì một cơ cấu sử dụng cân đối như vậy chắc chắn sẽ là điều kiện thuận lợi cho công ty. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như cũng như xu hướng toàn cầu hoá, hiện đại hoá nền sản xuất kinh doanh thì việc có những máy móc thiết bị hiện đại sẽ giúp công ty có thể giành lợi thế trong cạnh tranh, mở rộng hoạt động một cách dễ dàng hơn. Do đó việc duy trì cơ cấu sử dụng vốn của công ty như hiện nay là việc làm cần thiết.

2.2.3 Hiệu quả sử dụng tổng vốn Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

  • Bảng 2.9 : Cơ cấu vốn của công ty

Tỷ lệ vốn lưu động cao như vậy phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của một công ty xây dựng thương mại và vận tải lấy việc mua đi bán lại hàng hoá, hoàn thiện các công trình xây dựng làm công cụ kiếm lời.

Vốn cố định của công ty hay vốn mà công ty đầu tư vào tài sản cố định chiếm phần ít hơn. Do đặc thù là một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực xây dựng thương mại và vận tải nên tỷ trọng vốn cố định thường không thấp hơn vốn lưu động quá nhiều

Trong khi nghiên cứu về nguồn hình thành vốn của công ty, ta thấy có sự tăng đột biến về tổng nguồn vốn ở năm 2025, và ổn định vào năm 2024. Sở dĩ có hiện tượng như vậy là do năm 2025, công ty sử dụng thêm gần 2 tỷ đồng để đầu tư vào kinh doanh, tăng thêm 59% so với cùng kỳ năm trước. Sự tăng đột biến trong sử dụng vốn này xuất phát từ nhu cầu mở rộng thêm việc kinh doanh hàng hoá cũng như mở rộng phạm vi kinh doanh .Vậy lượng vốn tăng thêm của công ty được sử dụng đầu tư vào đâu ? Việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn của công ty sẽ trả lời cho câu hỏi đó.

Mục tiêu của mọi doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản, tối đa hoá lợi nhuận, vì thế việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng phải nhằm mục tiêu ấy. Để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vốn ta có thể xem xét một số chỉ tiêu:

Bảng 2.10 : Hiệu quả sử dụng tổng vốn tại công ty Cổ phần xây dựng thương mại và vận tải Ngọc Hà.

  1. Hiệu suất sử dụng vốn phản ánh cứ một đồng vốn doanh nghiệp bỏ ra kinh doanhthì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ. Hiệu suất sử dụng vốn của côngty năm 2023 là 79 năm 2024 giảm xuống còn 2.65 đến năm 2002 chỉ là 2.15. Như vậy, hiệu quả sử dụng vốn của công ty chưa ổn định, trong thời gian tới công ty cần chú trọng vấn đề này.
  2. Tỷ suất sinh lợi tổng vốn phản ánh một đồng vốn bỏ ra trong kỳ có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Khả năng sinh lợi của tổng vốn tương đối cao và hiện đang tăng dần qua các năm; năm 2023 là 0,35; năm 2001 là 0,40; năm 2002 tăng lên 0,48. Tỷ suất sinh lợi tăng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của công ty ngày một tốt hơn.
  3. Hệ số sinh lợi doanh thu phản ánh trong một đồng doanh thu thuần của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng lợi nhuận. Trong các năm qua hệ số này hơi thấp, nhưng đang có xu hướng tăng tuy chưa đáng kể. Đây là một dấu hiệu tốt đối với tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp.
  4. Hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra kinh doanh trong kỳ thì có thể thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu cũng tăng liên tục trong ba năm chứng tỏ chi phí cho việc sử dụng vốn chủ sở hữu ngày một giảm. Hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu ngày một tăng mở ra cho công ty một triển vọng đầu tư mở rộng việc kinh doanh của mình.

Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn của công ty cho thấy trong những năm qua công tác sử dụng vốn của công ty đã có kết quả khá tốt. Tuy vậy hiệu quả sử dụng vốn của công ty vẫn chưa tương xứng với những điều kiện thuận lợi mà công ty có được. Trong thời gian tới công ty cần tiếp tục chú trọng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để có thể hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh mà công ty đã đặt ra.

2.3. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty CP xây dựng – thương mại và vận tải Ngọc Hà Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

2.3.1 Những kết quả đạt được

Qua những phân tích về thực trạng sử dụng vốn tại công ty Xây dựng Thương mại và vận tải Ngọc Hà, ta thấy công tác sử dụng vốn tại công ty nhìn chung là tốt. Công ty đã đạt được một số kết quả cụ thể như:

Thứ nhất, lợi nhuận sau thuế của công ty ngày một tăng trong khi lượng vỗn chủ sở hữu của công ty tăng không đáng kể (hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu tăng liên tục qua ba năm) là dấu hiệu tốt cho việc mở rộng kinh doanh của công ty.

Thứ hai, vốn cố định của công ty đã được sử dụng tiết kiệm, hầu như không có sự lãng phí nên đã giúp công ty duy trì được quá trình kinh doanh ổn định.

Thứ ba, vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn nhìn chung được quản lý khá tốt. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động đang tăng làm cho lượng vốn được nhanh chóng thu hồi và đưa vào chu kỳ kinh doanh mới tạo khả năng thu lợi lớn hơn. Hiệu suất sử dụng vốn lưu động và tỷ suất sinh lợi vốn lưu động tuy chưa cao như mong đợi nhưng hiện đang biến động theo chiều hướng có lợi là một dấu hiệu tốt cho việc kinh doanh của công ty.

Hàng năm công ty đã đảm bảo được việc làm thường xuyên với thu nhập cao cho toàn bộ cán bộ, nhân viên. Công tác khen thưởng, phúc lợi cũng như việc trích lập các quỹ dự phòng tài chính, dự phòng trợ cấp mất việc làm đều được công ty quan tâm đáp ứng đầy đủ.

Bên cạnh các kết quả trên, công ty còn có đóng góp khá lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành xây dựng vận tải thương mại trong nước. Công ty đã tìm đầu ra cho rất nhiều sản phẩm thiết bị vệ sinh, hoàn thiện các công trình xây dựng. Đối với các ngành công nghiệp, công ty đã giúp các doanh nghiệp nhập về nhiều máy móc thiết bị hiện đại nhằm đổi mới, hiện đại công nghệ sản xuất trong nước.

  • Những thành công của công ty có được là do một số lí do sau:

Một là, công ty đã có những nỗ lực rất lớn trong công tác quản lý và sử dụng vốn . Nhờ vậy, vốn của công ty đã được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, phát huy được tác dụng đối với quá trình kinh doanh của công ty.

Hai là, công ty có lợi thế thương mại, thị trường, địa điểm và các đièu kiện làm việc mà các công ty khác khó có thể có được.

Ba là, việc bố trí công việc, nhân viên ngày càng hợp lý, phát huy được khả năng làm việc của nhân viên. Công tác đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho nhân viên bước đầu đã được chú trọng.

2.3.2 Một số tồn tại và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Bên cạnh những thành công mà công ty đã đạt được trong thời gian qua, công ty cũng bộc lộ một số hạn chế trong công tác sử dụng vốn, cụ thể như:

Thứ nhất, lượng vốn cố định của công ty hơi cao làm cho doanh nghiệp không tận dụng hết lợi thế của vốn cố định. Lượng vốn cao cũng gây khó khăn cho việc luân chuyển vốn.

Thứ hai, cơ cấu vốn của công ty là hợp lý nhưng đang biến động theo chiều hướng không có lợi. Qua bảng cân đối kế toán có thể nhận thấy dễ dàng là công ty đang sử dụng một tỷ lệ nợ cao. Tỷ trọng nợ, trong đó chủ yếu là nợ ngắn hạn, thường xuyên chiếm tới 70% trong tổng số vốn của công ty và có xu hướng ngày một tăng. Nhưng tỷ lệ nợ quá cao thì tất nhiên sẽ tiềm ẩn những rủi ro nhất định về khả năng thanh khoản. Rủi ro này phần lớn do người cho vay phải gánh chịu. Đối với người cho vay khi họ thấy tỷ trọng nợ trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp cao (rủi ro sẽ lớn) họ sẽ yêu cầu một lãi suất cao hơn và doanh nghiệp đến một lúc nào đó không vay được nữa. Như vậy, việc sử dụng nợ cao sẽ làm công ty mất chủ động trong kinh doanh.

Trên thực tế, có rất nhiều vụ làm ăn cần tới một lượng vốn lớn để đặt cọc, những lúc như vậy công ty mới bắt đầu vay vốn Ngân hàng nên thiếu chủ động, nhiều khi để lỡ cơ hội kinh doanh.

Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn lưu động chưa tương xứng với tỷ trọng vốn lưu động bỏ ra, làm cho lợi nhuận thu được chưa tương xứng với doanh thu. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

  • Những hạn chế trên bắt nguồn từ một số nguyên nhân cơ bản sau:

Một là, hiệu quả sử dụng vốn lưu động chưa cao là do nhiều nguyên nhân tác động nhưng chủ yếu là do:

  • Lượng hàng tồn kho của công ty khá lớn:

Với tỷ trọng tài sản lưu động luôn lớn hơn 56%, và hàng tồn kho luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản lưu động đã gây ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản lưu động. Hàng tồn kho của công ty chủ yếu là các thành phẩm tồn kho, đó là các hàng hoá mà công ty nhập về chờ ngày tiêu thụ. Mặc dù không phải là một công ty sản xuất, không phải dự trữ nguyên vật liệu nhưng lượng tồn kho của công ty lớn như vậy là một điều đáng ngại. Lượng hàng tồn kho của công ty năm 2023 tới 888,060,000 đồng chiếm 56.7% trong tổng số tài sản lưu động, năm 2024 đã giảm nhưng vẫn còn tới 861,317,500 đồng. Đến năm 2025 tuy lượng hàng tồn kho tăng lên là 911,765,000 đồng nhưng tỷ lệ lại giảm đi chỉ còn 27.7% Hàng tồn kho không đồng nghĩa với việc công ty gặp khó khăn trong đầu ra, nhưng nếu hàng tồn kho cứ tồn tại với khối lượng lớn và trong thời gian dài thì chi phí bảo quản, rủi ro sẽ lớn vì hầu hết nhà kho, nơi bảo quản, thiết bị bảo quản công ty đều phải đi thuê. Do công ty sử dụng tỷ lệ nợ rất lớn nên nếu hàng tồn kho không được tiêu thụ nhanh tất nhiên sẽ ảnh hưởng nhiều tới khả năng thanh toán.

Hàng tồn kho của công ty tăng có thể do một số nguyên nhân như: việc quản lý đầu ra hay khả năng tiêu thụ chưa tốt, công ty chưa xác định đúng nhu cầu của thị trường. Hàng tồn kho lớn cũng có thể do chủ ý của công ty giữ hàng chờ giá cao hoặc chỉ đơn giản là do chênh lệch thời gian giữa nhập hàng và bán hàng. Dù là nguyên nhân gì thì việc nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho để thu tiền là hết sức cần thiết, nhất là đối với những công ty có quy mô nhỏ.

  • Chi phí kinh doanh lớn, làm tăng giá ốn hàng bán và giảm lợi nhuận

Qua ba năm gần đây ta thấy doanh thu của công ty rất lớn, năm 2023 là 7,607,330,000 đồng; năm 2024 tới 8,208,982,000 đồng, năm 2025 là 10,613,771,000 đồng nhưng lợi nhuận của công ty lại không quá lớn Nguyên nhân chính là do doanh thu tăng mạnh nhưng chi phí tăng làm tăng giá vốn dẫn đến lợi nhuận không tăng không tương xứng. Một nguyên nhân nữa là do lượng thuế phải nộp hàng năm qua lớn làm cho lợi nhuận sau thuế của công ty bị thu hẹp lại. Trong các khoản chi phí thì chi phí bán hàng và chi phí quản lý là tăng mạnh nhất. Trong nền kinh tế thị trường muốn bán hàng thì cần phải giới thiệu sản phẩm cho khách nhưng với một khoản chi phí rất lớn mà hiệu quả lại không tương xứng với chi phí bỏ ra. Do đó công ty cần chú ý tới mặt hiệu quả của các khoản chi này.

Một nguyên nhân khác làm tăng chi phí bán hàng là do lượng hàng tồn kho cao, chi phí bảo quản rất lớn do công ty phải thuê hầu hết từ nhà kho tới phương tiện, nhân lực bảo quản. Do đó, để giảm chi phí này thì cũng cần nhanh chóng giảm hàng tồn kho, cũng như công ty cần đầu tư thêm vào các tài sản cố định để giảm chi phí thuê ngoài.

  • Trình độ cán bộ và nhân viên còn nhiều bất cập Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

Xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế đã và đang tạo ra những cơ hội mới, và cả những thách thức mới đối với các doanh nghiệp trong đó có công ty Xây dựng Thương mại và vận tải Ngọc Hà. Trong khi đó, trình độ năng lực của cán bộ, công nhân viên công ty tuy đã được đào tạo, rèn luyện qua thử thách nhưng trước những cơ hội và thách thức mới vẫn bộc lộ những hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, và nhất là khả năng làm việc độc lập.

Hạn chế lớn nhất của nhân viên công ty chính là khả năng tiếp cận khách hàng, tiếp cận thị trường để có được những khách hàng thường xuyên, thị trường ổn định và mang tính chất bền vững cho các sản phẩm dịch vụ của công ty. Mặc dù có được những mối quan hệ rất thuận lợi ở trong và ngoài nước, đáng lẽ ra việc mở rộng thị trường cho các sản phẩm thương mại của công ty, công tác xúc tiến thương mại, và xuất nhập khẩu hàng hoá nhưng đến nay công ty vẫn chưa phát huy được hết các thế mạnh của mình. Những công việc của công ty vẫn là những công việc truyền thống từ ngày đầu thành lập, việc tìm ra các công việc làm ăn mới là rất ít, chứng tỏ công ty chưa tận dụng được hết các cơ hội kinh doanh của mình để thu lợi nhuận.

Trong thời gian tới, để có thể tiếp tục đứng vững và mở rộng quy mô kinh doanh thì công ty cần phải có kế hoạch đào tạo, bổ sung kiến thức cho nhân viên, cũng như cần có thêm những nhân tố mới tạo ra chuyển biến tích cực cho công ty.

Hai là, cơ cấu vốn của công ty chưa hợp lý với một tỷ trọng nợ cao trong tổng nguồn vốn. Nguyên nhân chính của việc công ty phải sử dụng một tỷ lệ cao như vậy là do vốn kinh doanh của công ty đang thiếu. Lượng vốn chủ yếu nằm trong một số tài sản cố định nhưng đến nay giá trị còn lại không còn nhiều. Lượng vốn bằng tiền không lớn trong khi quy mô kinh doanh của công ty ngày càng mở rộng do đó sử dụng nợ là điều tất yếu.

Trong những năm tới, do sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ và nhu cầu của việc mở rộng quy mô kinh doanh, việc tăng cường tích luỹ vốn kinh doanh là việc làm hết sức cần thiết nhằm cải thiện cơ cấu vốn của công ty.

Ba là, hiệu quả sử dụng vốn lưu động chưa tương xứng với tỷ trọng vốn lưu động bỏ ra do nguyên nhân công ty còn gặp nhiều khó khăn trong việc bán hang. Vấn đề này cần được giả quyết hợp lý để tránh lãng phí nguồn vốn, công ty cần xem xét và lên kế hoạch bán hang phù hợp và hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng

One thought on “Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xây dựng

  1. Pingback: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty xây dựng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537