Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng Phân tích mối quan hệ giữa trách nhiệm của hội đông quản trị đến hiệu quả hoạt động của các công ty chế biến thủy sản được niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2023-2024 này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

3.1 Tình hình chung

3.1.1 Sơ lược về lịch sử Quản trị công ty và kinh tế Việt Nam

Các hệ thống Quản trị công ty đã phát triển qua nhiều thế kỷ, bắt nguồn từ những thất bại của các công ty hay những cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống. Thất bại đầu tiên trong Quản trị công ty được ghi lại chính là Bong bóng Nam hải (South Sea Bubble) trong thế kỷ 18, một sự kiện tạo nên cuộc cách mạng trong việc xây dựng luật doanh nghiệp và cách thức kinh doanh Anh quốc.Tương tự, phần lớn những quy định về thị trường chứng khoán ở Mỹ được đưa ra sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán vào năm 1929. Đã từng có vô số cuộc khủng hoảng từ trước tới nay, chẳng hạn như cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng thứ cấp ở Anh quốc vào những năm 1970, cuộc khủng hoảng tài chính ở Nga vào năm 1998, cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á trong giai đoạn 1997-1998 (đặc biệt là In-đô-nê-xia, Hàn Quốc và Thái Lan) và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2018 dẫn tới nhiều hậu quả cho nên kinh tế. Lịch sử Quản trị công ty cũng được ghi nhận bằng một loạt những thất bại mà ai cũng biết đến của nhiều công ty. Những thất bại ấy thường là hậu quả của sự thiếu năng lực hay sự lừa đảo trắng trợn, nhanh chóng dẫn đến sự ra đời của những khuôn khổ và luật lệ Quản trị công ty mới, đáng chú ý nhất là những đạo luật về Quản trị công ty của nhiều quốc gia để giám sát các hoạt động của các công ty.

Khuôn khổ Quản trị công ty tại Việt Nam được thay đổi và được cải thiện một cách đáng kể trong những năm gần đây. Điều đó được thể hiện thông qua 114 loại luật và một số liên quan chủ yếu tới quản trị công ty như: Luật đầu tư (2015 và 2024); Luật doanh nghiệp (2015 và 2024); Luật chứng khoán (2016 và được sửa đổi, bổ sung 2020); Luật kiểm toán độc lập (2021); Luật kế toán (2025). Ngoài ra khuôn khổ quản trị công ty được thể chi tiết theo những nghị định và thông tư hướng dẫn cụ thể.

Với sự thay đổi đó, thì cần phải nhìn lại chặng đường đã qua của Việt Nam, có thể thấy 3 thế hệ hiệp định thương mại tự do (FTA) nối tiếp nhau diễn ra trong quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa. Tính đến cuối năm 2023, Việt Nam đã tham gia 8 FTA, trong đó có 6 FTA khu vực (ASEAN, ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc, ASEAN – Nhật Bản, ASEAN – Ô-trây-li-a – Niu Di-lân, ASEAN – Ấn Độ) và 2 FTA song phương ( Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) và FTA Việt Nam – Chi-lê). Cùng với 8 FTA truyền thống, ngoài FTA giữa Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA), giữa Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á – Âu (EEU) mới được ký kết và việc tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào tháng 12/2025, có thể kể đến sự kiện đặc biệt là Việt Nam kết thúc đàm phán FTA thế hệ mới với Liên minh châu Âu (EVFTA) và đầy triển vọng là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Các FTA này có hiệu lực sẽ ảnh hưởng rất mạnh tới nền kinh tế của Việt Nam. Đó vừa là cơ hội để phát triển nền kinh tế, vừa là thách thức do các tiêu chuẩn đặt ra giữa các nước, chênh lệch về giá và công nghệ. Sự cạnh tranh giữa các nước với nhau ngày càng quyết liệt hơn.

Còn về lịch sử phát triển của các công ty ở Việt Nam còn chưa hoàn thiện so với nhiều nước khác. Đặc biệt, nhiều công ty đang hoạt động hiện nay có nguồn gốc từ Doanh nghiệp Nhà nước. Công chúng đầu tư, cổ đông, nhà quản lý trong doanh nghiệp và ngay cả cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp chưa nắm rõ các quy định pháp luật về tổ chức hoạt động công ty cổ phần, cơ chế bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cổ đông, ngăn chặn các giao dịch nội gián,… Ngay cả quy định pháp luật về doanh nghiệp và các thủ tục về đăng ký thành lập, thay đổi, giải thể, mua bán, sáp nhập, phá sản doanh nghiệp,… cũng đang trong quá trình hoàn thiện.

3.1.2 Thực trạng quản trị công ty tại các công ty niêm yết tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

Hiện tại, các công ty niêm yết tại Việt Nam thực hiện việc tuân thủ quản trị công ty theo Luật doanh nghiệp 2024 có hiệu lực ngày 01/07/2025 và thông tư hướng dẫn về Quản trị công ty 121/2022/TT-BTC, quy định về niêm yết và giám sát niêm yết của Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Hà Nội (HNX). Về cơ bản, các doanh nghiệp đã tuân thủ các quy định về việc xây dựng quy chế Quản trị nội bộ của công ty, thực hiện công bố thông tin định kỳ và bất thường. Theo thống kê của HOSE chỉ có 1/3 số công ty niêm yết đáp ứng được quy định tối thiểu một phần ba số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên Hội đồng quản trị độc lập và phần lớn các công ty niêm yết không có các tiểu ban giúp việc cho Hội đồng quản trị. Ngay cả khi các công ty có thành lập các tiểu ban thì hiện mới chỉ để đảm bảo vấn đề hình thức theo quy định mà hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Vấn đề mà các doanh nghiệp đang gặp phải là thiếu cơ cấu thành viên Hội đồng quản trị độc lập để tham gia vào các tiểu ban và thành viên của các tiểu ban đồng thời là thành viên ban điều hành dẫn đến sự không độc lập giữa một bên đề xuất (ban điều hành) và một bên thẩm định cho Hội đồng quản trị (các tiểu ban). Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực quản trị công ty của các doanh nghiệp niêm yết.

Từ năm 2022, dự án đánh giá Thẻ điểm Quản trị công ty khu vực ASEAN– sáng kiến của Diễn đàn thị trường tài chính khu vực ASEAN (ACMF)–đã bắt đầu tiến hành đánh giá các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Các tổ chức đánh giá tham gia dự án bao gồm : Viện Quản trị công ty Indonesia, Tổ chức bảo vệ nhà đâu tư thiểu số Malaysia, Viện Quản trị công ty Philippines, Viện Quản trị công ty Singapore, Viện Quản trị công ty Thái Lan, Trung tâm Nghiên cứu quản trị công ty, định chế và tổ chức – Trường Đại học Quốc gia Singapore và nhóm chuyên gia về quản trị công ty từ Việt Nam, đứng đầu là TS.Nguyễn Thu Hiền, Giám đốc Chương trình Maastricht MBA, Trường đại học Bách khoa TP.HCM. Các đánh giá được thực hiện căn cứ trên năm lĩnh vực, bao gồm: (i) Quyền của cổ đông; (ii) Đối xử bình đẳng với các cổ đông; (iii) Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan; (iv) Công bố thông tin và minh bạch; (v) Trách nhiệm của Hội đồng quản trị.

Theo báo cáo Thẻ điểm Quản trị công ty 2022 tiến hành đánh giá kết quả về quản trị công ty ở Việt Nam trong vòng 3 năm 2019-2021. Trong thời gian đó có một số thay đổi về điều lệ Quản trị công ty ở Việt Nam. Tuy vậy, về phía các công ty vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực, trừ một thiểu số. Không công ty nào đạt kết quả đáng hài lòng vì toàn bộ điểm số Quản trị công ty đều dưới 60%, với điểm bình quân của tất cả các công ty là 42,5%. Trong khi đó, các Báo cáo Thẻ điểm khác ở các nước bạn có nội dung tương tự cho kết quả cao hơn. Đánh giá thẻ điểm khảo sát 100 công ty niêm yết trên HOSE và HNX, có 25 công ty lớn nhất và 75 công ty tương đối. Kết quả chung của thẻ điểm được thể hiện ở Bảng 3.1, điểm được chia làm 3 loại tối đa, trung bình và tối thiểu. Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

  • Bảng 3.1: Kết quả chung về quản trị công ty của IFC qua các năm 2019 – 2021

Theo kết quả đánh giá thì kết quả lĩnh vực trách nhiệm của Hội đồng quản trị năm 2021 giảm so với năm 2020. Mức trọng số cụ thể của lĩnh vực này là 30% trong nội dung đánh giá của thẻ điểm 2022.

Theo các Dự án đánh giá Thẻ điểm Quản trị Công ty khu vực ASEAN, Việt Nam có 50 công ty niêm yết được đánh giá. Điểm số của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam đã từng bước cải thiện nhưng vẫn đạt điểm thấp nhất và dưới mức trung bình so với các nước tham gia đánh giá trong khu vực ASEAN (bao gồm: Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines và Việt Nam). Năm 2024, Việt Nam đạt tổng điểm trung bình là 35,1 điểm, tăng 1,2 điểm so với năm 2023, tuy nhiên vẫn còn cách biệt rất xa so với điểm của nước đạt điểm cao nhất là Thái Lan với 84,5 điểm. Công ty đánh giá đạt điểm Quản trị Công ty tốt nhất là 52,6 điểm và điểm Quản trị Công ty thấp nhất là 19,5 điểm. Trong đó, điểm số liên quan đến trách nhiệm của Hội đồng quản trị của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam chỉ đạt trên 20% và là điểm số thấp nhất trong số năm lĩnh vực được đánh giá. Kết quả khẳng định năng lực quản trị công ty của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam còn khá thấp và là lĩnh vực cần được nghiêm túc nghiên cứu, đầu tư và tăng cường hơn nữa để các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp cận với thị trường vốn khu vực và quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ.

3.1.3 Thực trạng ngành thủy sản

Ngành thủy sản Việt Nam qua các năm có bước phát triển vượt bậc, trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển thủy sản nhanh trên thế giới. Theo báo cáo của Tổng cục thủy sản, năm 2023 sản lượng thủy sản ước đạt 6,05 triệu tấn (tăng 2,1% so với 2022),Tổng sản lượng thủy sản năm 2024 ước đạt 6,3 triệu tấn, tăng 4,4% so với 2023, giá trị xuất khẩu đạt mức kỷ lục ước đạt 7,92 tỷ USD tăng 18% so với 2023. Năm 2025 xuất khẩu thủy sản của cả nước ước đạt 6,7 tỷ USD, giảm 14,5% so với năm 2024, do thị trường tiêu thụ kém, giá xuất khẩu hạ và biến động giảm giá của các đồng ngoại tệ so với USD đã tác động mạnh đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

Trước bối cảnh hội nhập, nền kinh tế trong nước và trên thế giới có nhiều biến động, hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu,…, việc xác định, nhận diện rõ thời cơ, thuận lợi, khó khăn và thách thức có vai trò quan trọng để định hướng ngành thủy sản phát triển. Lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam là: luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các cấp chính quyền trong mội hoạt động của ngành thủy sản; điều kiện tự nhiên thuận lợi và tiềm năng nguồn lợi thủy sản đa dạng phong phú; dân số gia tăng, kinh tế phát triển nên thị trường thủy sản ngày càng phát triển, do ảnh hưởng của các cuộc suy giảm kinh tế thế giới, thực phẩm thủy sản vẫn được ưa chuộng, giá cả ổn định; Công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, đặc biệt là công nghệ sinh học phát triển nhanh và mạnh, tạo cơ hội cho nghiên cứu và nuôi trồng thủy sản; nguồn nhân lực dồi dào, có kinh nghiệm thuận lợi cho phát triển ngành thủy sản; chất lượng sản phẩm nhìn chung có thể đáp ứng được các yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tuy vậy, tại Việt Nam ngành thủy sản còn xuất thiện nhiều hạn chế như: việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm còn khó khăn; công nghệ, lao động còn lạc hậu; Giá thành sản phẩm còn cao; thiếu vốn cho đâu tư; sản phẩm còn gặp khó khăn ở rào cản kỹ thuật và hàng rào hải quan;…Trước những cơ hội mở rộng thị trường và hưởng mức thuế ưu đãi từ các hiệp định, thì ngay lúc này các doanh nghiệp cần đẩy mạnh áp dụng các quy trình nuôi và đạt được chứng nhận nuôi thủy sản an toàn như: VietGAP, GlobalGAP, ASC, BMP,… Đồng thời, đầu tư áp dụng công nghệ tiên tiến trong chế biến để nâng cao năng suất lao động và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm theo ISO, HACCP, GMP, SSOP,… tại các nhà máy chế biến thủy sản. Chuyển đổi cơ cấu các sản phẩm thủy sản chế biến xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm giá trị gia tăng. Đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm từ ao nuôi đến bàn ăn, truy xuất nguồn gốc trong nuôi trồng thủy sản, cải thiện chất lượng con giống để góp phần giảm giá thành sản phẩm (chất lượng con giống không tốt có thể đẩy tỷ lệ hao hụt lên tới 20-30%), trong đó doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt. Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

Ngoài những thuận lợi và khó khăn của các công ty thủy sản nói chung, thì ở các công ty thủy sản còn cần thêm nguồn vốn để kinh doanh để giúp cho công ty có thể hoạt động tốt. Thực tế, những năm qua, không chỉ vốn đầu tư vào ngành thủy sản èo uột, mà vốn ngân sách nhà nước đầu tư vào ngành này cũng rất ít ỏi. Là một trong những nước xuất khẩu thủy sản hang đầu thế giới, nhưng đáng ngạc nhiên là lĩnh vực này ở Việt Nam lại hầu như vắng bong các nhà đầu tư tầm cỡ, ngoại trừ lĩnh vực thức ăn chăn nuôi thủy sản.

Để có nguồn mới thì các công ty cần phải huy đông bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu, vay ngân hang hoặc chủ sở hữu công ty phải tự bỏ thêm vốn vào, trong các phương án đó thì cách phát hành cổ phiếu để huy động nguồn vốn là tốt nhất. Vì đây là nguồn vốn ổn định và không phải tốn nhiều chi phí cho việc huy đông thêm nguồn vốn. Nhưng để thực hiện được thì các công ty cần phải thực hiện tốt việc Quản trị Công ty theo thông lệ quốc tế. Trong tình hình hiện nay thì các nhà đầu tư trong và ngoài nước ít đầu tư trong lĩnh vực thủy sản vì có độ rủi ro cao. Ngoài ra, sự minh bạch của các công ty tại Việt Nam còn hạn chế theo nhận định của các tổ chức quốc tế và hiện nay vấn đề này đang được cải hiện một cách rõ rệt. Nên khi thực hiện Quản trị Công ty tốt thì nhà đầu tư sẽ an tâm hơn trong việc lựa chọn công ty đầu tư vì có thể nắm rõ tình trạng của công ty mà mình đầu tư.

Với sự phát triển của môi trường đầu tư và tài chính hiện nay, để đảm bảo thu hút nguồn vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước một cách hiệu quả, các cơ quan xây dựng luật pháp đang thực hiện việc đảm bảo rằng, những quy định về Quản trị Công ty và khuôn khổ pháp lý đã ban hành phải phù hợp với thông lệ quốc tế tốt nhất.

3.2 Phân tích Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

Việc đánh giá mỗi công ty dựa trên các thông tin tin cậy và được công bố trên Sở giao dịch Chứng khoán. Đó là những thông tin mà một nhà đầu tư có thể xem xét để đầu tư, thoái vốn hay giữ nguyên khoản đầu tư .Các thông tin bao gồm báo cáo thường niên của công ty, các báo cáo tài chính, báo cáo quản trị công ty, các tài liệu, báo cáo nộp cơ quan quản lí và Sở giao dịch Chứng khoán, các thông tin họp ĐHĐCĐ thường niên, biên bản họp ĐHĐCĐ thường niên, điều lệ , quy chế của công ty của công ty.

Đánh giá được thực hiện cho 14 công ty thủy sản niêm yết tại HOSE được thể hiện ở Bảng 3.2.

  • Bảng 3.2: Danh sách các công ty thủy sản

Từ các thông tin của các công ty sử vá phương pháp đánh giá Quản trị Công ty của OECD , ta có được kết quả đánh giá cho lĩnh vực trách nhiệm của Hội đồng quản trị được thể hiện ở Bảng 3.3 và Bảng 3.4 phần phụ lục.

3.2.1 Nhận xét kết quả đánh giá

3.2.1.1 Đánh giá chung

Qua kết quả đánh giá, các công ty thủy sản đã cố gắng triển khai các yếu tố trong quản trị công ty, kết quả chấm điểm của các công ty thủy sản tương đối cao hơn so với kết quả của báo cáo “Thẻ điểm Quản trị Công ty của ASEAN” được công bố tháng 3/2022. Từ kết quả Bảng 3.3 phần phụ lục, có thể đưa ra các nhận xét như:

  • Từ các câu hỏi của bảng đánh giá, số câu hỏi được từ 13-14 công ty thực hiện ở lĩnh vực RE là 19/75 câu hỏi, còn lại thì có ít công ty thực hiện và số câu hỏi không thực hiện là 37/75 câu hỏi.
  • Kết quả chấm điểm của các công ty thủy sản hai năm 2023-2024 không có sự chênh lệch lớn, hầu như là giống nhau qua hai năm.
  • Các công ty chưa nhận thức rõ về các yếu tố trong bảng chấm điểm (Khái niệm về Quản trị Công ty còn mới đối với các công ty), việc thực hiện các yếu tố chủ yếu nhằm đối phó với quy định và không tự nguyện thực hiện.
  • Bảng điều lệ, quy chế của các công ty thì tuân thủ theo luật doanh nghiệp và quy định đối với các công ty niêm yết, nhưng vẫn còn sơ sài và dập khuôn theo mẫu. Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.
  • Báo cáo thường niên của các công ty chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế về nội dung và hình thức trình bài.
  • Tất cả các công ty điều không có các tiểu ban dưới Hội đồng quản trị, câu hỏi về các tiểu ban này là 20/75 câu hỏi. Điều này cho thấy sự hiện diện của các tiêu ban trong tiêu chí đánh giá của OECD cũng rất quan trọng trong Quản trị Công ty.
  • Một số tiêu chí chấm điểm các công ty có thực hiện nhưng không được thể hiện rõ trong báo cáo thường niên và báo cáo quản trị của các công ty.
  • Một số thông tin của công ty còn chưa được công bố chi tiết.
  • Tỷ lệ các công ty không có báo cáo phát triển bền vững là 92,86%.
  • Việc tách bạch chức chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc chỉ có 4/14 công ty thực hiện, còn lại vẫn đang kiêm nhiệm.

Vì vậy, đòi hỏi các công ty thủy sản cần cải thiện về lĩnh vực trách nhiệm của Hội đồng quản trị, để giúp cho công tác Quản trị Công ty của các công ty theo các thông lệ tốt của quốc tế.

3.2.1.2 Kết quả đánh giá trách nhiệm của Hội đồng quản trị của 14 công ty thủy sản.

  • Kết quả đánh giá được thể hiện ở Bảng 5.

Bảng 3.5: Kết quả đánh giá trách nhiệm của Hội đồng quản trị

Kết quả đánh giá lĩnh vực trách nhiệm của Hội đồng quản trị của các công ty thủy sản không có sự thay đổi lớn, trách nhiệm của hội đồng quản trị qua hai năm có chênh lệch thấp. Tuy vậy, sự chênh lệch này cho thấy các công ty đang cải thiện về lĩnh vực trách nhiệm của Hội đồng quản trị, vì lĩnh vực này được đánh giá là thấp nhất so với bốn lĩnh vực còn lại của Quản trị Công ty. Điểm bình quân của các công ty năm 2023 là 41,99 đối với năm 2024 là 42,68 tăng 1,64% so với năm 2023 và có thể được cho là nằm trong mức trung bình theo kết quả đánh giá của báo cáo thẻ điểm năm 2022. Trong năm 2023 VHC có điểm cao nhất đạt 51,33 điểm và 53,82 điểm ở năm 2024 tăng 4,85% do công ty có báo cáo phát triển bền vững năm 2024. Bên cạnh đó thì AGF có điểm giảm xuống 3,58% so với 2023 do số thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong công ty giảm xuống dưới mức 50%(theo thông tư 121 thì chỉ cần số thành viên Hội đồng quản trị độc lập chiếm từ 1/3 số thành viên Hội đồng quản trị là được) so với số thành viên Hội đồng quản trị. Công ty có điểm thấp nhất trong 14 công ty là ICF đạt 20,42 điểm qua hai năm, nguyên nhân khiến ICF có điểm rất thấp so với điểm bình quân là do ICF không công bố bảng điều lệ và quy chế quản trị công ty. Điều lệ và quy chế là chuẩn mực để công ty khẳng định công ty có chấp hành và thực hiện đúng quy định hiện hành đối với các công ty niêm yết, có thể được xem là bộ khung của công ty. Đối với các công ty còn lại thì ANV có mức điểm tăng cao nhất trong 14 công ty tăng 9,89% so với năm 2023, điều này thể hiện rằng ANV đang thay đổi về cách quản trị công ty. Nhìn vào kết quả chấm điểm thì có 4 công ty có mức điểm tăng lên so với năm 2023 là ANV, ACL, ATA, CMX, FMC, HVG, VHC. Đối với 6 công ty còn lại thì kết quả chấm điểm qua hai năm không có sự thay đổi. Vậy có 7/14 công ty thay đổi về cách quản trị công ty của mình, các công ty còn lại thì chưa đổi mới để nâng cao vai trò và trách nhiệm của hội đồng quản trị.

  • So sánh theo trọng số Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

Vì trách nhiệm của Hội đồng quản trị được xác định là lĩnh vực quan trọng trong Quản trị Công ty và theo kết quả đánh giá của thẻ điểm năm 2022 thì lĩnh vực này được gắn mức điểm tối đa là 30%.

  • Bảng 3.6: So sánh kết quả nghiên cứu về trách nhiệm của Hội đồng quản trị năm 2023 – 2024 với báo cáo năm 2022.

Từ bảng 3.6 cho thấy điểm số cao nhất của lĩnh vực trách nhiệm của Hội đồng quản trị năm 2023 đạt 15,40 và năm 2024 đạt 16,15 thấp hơn so với kết quả của báo cáo thẻ điểm năm 2022. Về điểm số thấp nhất năm 2023-2024 cao gấp 2,11 lần so với báo cáo thẻ điểm năm 2022. Mức điểm trung bình cũng cao hơn so với báo cáo thẻ điểm năm 2022. So sánh kết quả của năm 2023 với năm 2024 thì trách nhiệm của Hội đồng quản trị được nâng lên nhưng tốc độ tăng rất chậm.

  • Từ kết quả đánh giá

Các công ty chú trọng đến việc nâng cao trách nhiệm của hội đồng quản trị trong công ty, cải thiện đáng kể này phần nhiều là nhờ nỗ lực của các cơ quan ban ngành trong việc cải thiện khung luật pháp về Quản trị Công ty. Bao gồm việc ban hành Thông tư 121/2022/TT-BTC về Qui định Quản trị Công ty áp dụng cho công ty đại chúng và Thông tư 52/2022/TT-BTC về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Nhưng hội đồng quản trị của các công ty còn chưa hoàn thiện theo tiêu chuẩn OECD. Mặt khác, các công ty chưa thể áp dụng quy tắc quản trị công ty theo tiêu chuẩn OECD là do: Hội đồng quản trị công ty có rất ít thành viên Hội đồng quản trị độc lập, theo OECD là 50%, còn tại Việt Nam theo thông tư 121 thì chỉ 1/3 thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong Hội đồng quản trị; Các công ty không có tiểu ban điều hành dưới Hội đồng quản trị, dẫn đến các nhận định, quyết định của Hội đồng quản trị đôi khi thiếu tính khách quan và độc lập; Hoạt động thiếu hiệu quả do thiếu năng lực chuyên môn, hiểu biết để phục vụ công việc; Vai trò của ban kiểm soát chưa thực sự được chú trọng và phát huy hiệu quả; Khuôn khổ đánh giá cho Hội đồng quản trị và các thành viên Hội đồng quản trị chưa được công khai, không được quy định cụ thể.

Các công ty ít chú trọng tới việc xây dựng các bộ quy tắc ứng xử nhằm hướng tới chuẩn mực về văn hóa công ty cho các ban quản lý, ban điều hành và các nhân viên. Ngoài ra, các công ty còn lẫn lộn giữa vai trò của chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc. Đồng thời tất cả các công ty ở Việt Nam còn chứa nhận diện được tầm quan trọng của quản trị công ty, nên khi xem xét đánh giá về trách nhiệm của Hội đồng quản trị thì kết quả còn rất thấp so với báo cáo thẻ điểm 2022.

3.2.2 Đánh giá mối quan hệ giữa vai trò và trách nhiệm của hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động. Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

Bảng 3.7 trình bày kết quả đánh giá lĩnh vực trách nhiệm của Hội đồng quản trị theo tiêu chuẩn OECD (ký hiệu RE(O)) và theo Thông tư 121 (ký hiệu RE(T)) của 14 công ty thủy sản năm 2023 – 2024.

  • Bảng 3.7: Chấm điểm trách nhiệm của hội đồng quản trị, chỉ tiêu đánh giá ROE và ROA năm 2023 – 2024.

Với mô hình nghiên cứu được xây dựng ở trên, các biến của mô hình là:

  • Biến phụ thuộc: gồm ROE và ROA dung để đo lường hiệu quả hoạt động của động của các công ty thủy sản.
  • Biến độc lập là trách nhiệm của Hội đồng quản trị được đo lường gồm các câu hỏi có mức thang điểm là 0/1.
  • Có thực hiện: 1 điểm.
  • Không thực hiện: 0 điểm.

Sau khi chấm điểm 28 mẫu quan sát quy đổi ra điểm trung bình của từng công ty qua từng năm được thể hiện ở Bảng 3.7.

  • I.) Kết quả chạy mô hình

Dựa vào kết đánh giá được ở Bảng 3.7, ta thực hiện chạy mô hình cho từng năm:

  • Mô hình 1(năm 2023): 𝑅𝑂𝐸 = 𝛼 + 𝛽1. 𝑅𝐸 + 𝜀
  • Kết quả chạy mô hình:

Từ kết quả chạy mô hình ta có hệ số xác định R2 = 0,00042 mức độ phù hợp của mô hình rất thấp, cho thấy có mối tương quan giữa RE và ROE. Tuy nhiên, biến RE chưa đủ giải thích mức độ tác động đối với ROE, biến giải thích còn lại nằm trong phần dư của mô hình. Hệ số R2 điều chỉnh (Hệ số tương quan) -0,0829 < 0,2 so với giả định. Hệ số bêta1 = 0,11 cho thấy có mối quan hệ tuyến tính dương giữa RE và ROE, tuy nhiên mối quan hệ này không có ý nghĩa do P-value của mô hình > mức ý nghĩa 10%.

Mô hình 1(năm 2024):

  • Kết quả chạy mô hình: 𝑅𝑂𝐸 = 𝛼 + 𝛽1. 𝑅𝐸 + 𝜀 Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

Từ kết quả chạy mô hình ta có hệ số xác định R2 = 0,00156 mức độ phù hợp của mô hình rất thấp, cho thấy có mối tương quan giữa RE và ROE. Tuy nhiên, biến RE chưa đủ giải thích mức độ tác động đối với ROE, biến giải thích còn lại nằm trong phần dư của mô hình. Hệ số R2 điều chỉnh (Hệ số tương quan) -0,0816 < 0,2 so với giả định. Hệ số bêta1 = 0,13 cho thấy có mối quan hệ tuyến tính dương giữa RE và ROE, tuy nhiên mối quan hệ này không có ý nghĩa.

Từ A và B, hai mô hình kiểm chứng giả thuyết (H0): Tồn tại mối tương quan giữa trách nhiệm của Hội đồng quản trị với ROE của các công ty cổ phần thủy sản. Giả thuyết (H0) bị bác bỏ do Sig.F của hai mô hình rất lớn hơn so với mức ý nghĩa.

  • Mô hình 2 (2023): 𝑅𝑂𝐴 = 𝛼 + 𝛽1. 𝑅𝐸 + 𝜀

Từ kết quả chạy mô hình ta có hệ số xác định R2 = 0,02027 mức độ phù hợp của mô hình rất thấp, cho thấy có mối tương quan giữa RE và ROA. Tuy nhiên, biến RE chưa đủ giải thích mức độ tác động đối với ROE, biến giải thích còn lại nằm trong phần dư của mô hình. Hệ số R2 điều chỉnh (Hệ số tương quan) -0,0614 < 0,2 so với giả định. Hệ số bêta1 = 0,14 cho thấy có mối quan hệ tuyến tính dương giữa RE và ROA, tuy nhiên mối quan hệ này không có ý nghĩa do giá trị P-value của mô hình > mức ý nghĩa 10%.

  • Mô hình 2 (2024): 𝑅𝑂𝐴 = 𝛼 + 𝛽1. 𝑅𝐸 + 𝜀

Từ kết quả chạy mô hình ta có hệ số xác định R2 = 0,00131 mức độ phù hợp của mô hình rất thấp, cho thấy mối tương quan giữa RE và ROA. Tuy nhiên, biến RE chưa đủ giải thích mức độ tác động đối với ROA, biến giải thích còn lại nằm trong phần dư của mô hình. Hệ số R2 điều chỉnh (Hệ số tương quan) -0,0819 < 0,2 so với giả định. Hệ số bêta1 = 0,06 cho thấy có mối quan hệ tuyến tính dương giữa RE và ROA, tuy nhiên mối quan hệ này không có ý nghĩa do giá trị P-value của mô hình > mức ý nghĩa 10%. Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

Từ D và C, hai mô hình minh chứng cho giả thuyết (H0): Tồn tại mối tương quan giữa trách nhiệm của Hội đồng quản trị với ROA của các công ty cổ phần thủy sản. Giả thuyết này bị bác bỏ do hệ số Sig.F của hai mô hình lớn hơn so với mức ý nghĩa.

Tương tự, dựa vào kết đánh giá được ở Bảng 3.7, ta thực hiện chạy mô hình theo tiêu chuẩn Thông tư 121(ký hiệu RE(T)) cũng cho ra kết quả không có mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của công ty với RE. Kết quả chạy mô hình được thể hiện ở Phụ lục A, các Sig.F của các mô hình điều rất lớn và R2 điều chỉnh cũng nhỏ hơn 0,2.

  • Thảo luận kết quả chạy mô hình với các nghiên cứu trước

Các mô hình ở trên không thể hiện được mối quan hệ giữa trách nhiệm của Hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động của các công ty cổ phần thủy sản, điều này thể hiện kết quả nghiên cứu không giống với kết quả của Jensen (1993) là tìm thấy mối liên giữa bản chất của Hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động. Tương tự Hanoku (2018) tìm thấy tác động tích cực về bản chất của Hội đồng quản trị và hiệu suất hiệu quả hoạt động của công ty. Do việc lựa chọn mẫu của nghiên cứu, so với kết quả đánh giá về Quản trị Công ty thì số lượng công ty được thực hiện cho việc đánh giá rất ít so với các nghiên cứu tương tự. Đối với báo cáo thẻ điểm của IFC năm 2022 được đánh giá cho 100 công ty niêm yết lớn nhất ở Việt Nam trong ba năm từ 2019-2021. Tương tự như vậy, Drobetz và các cộng sự (2014) thực hiện nghiên cứu đối với 253 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Đức và tìm thấy mối tương quan dương giữa mức xếp hạng điều hành công ty và giá trị công ty. Nhìn chung các nghiên cứu liên quan đến vấn đề Quản trị Công ty thì việc chọn mẫu là rất lớn, nếu chúng ta lấy mẫu quá nhỏ, đến giai đoạn phân tích ta có thể thấy được điều đó qua sự không chính xác của việc chạy mô hình nghiên cứu.

Vấn đề tiếp theo là việc phân tích mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc, đề tài chỉ có một biến độc lập là trách nhiệm của Hội đồng quản trị. Trong khi đó biến phụ thuộc của mô hình là ROE và ROA, hai chỉ tiêu này thì lại bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố. Đối với các nghiên cứu liên quan đến hiệu quả hoạt động như nghiên cứu của Rami Zeitun và Gary Gang Tian (2017), Neil Nagy (2019) thì mức độ tác động đến hiệu quả hoạt động được giải thích bởi rất nhiều biến trong các nghiên cứu của họ. Và nghiên cứu của Hanoku (2018) đã tiến hành xem xét các mối quan hệ giữa các đặc điểm của Hội đồng quản trị và hiệu suất hiệu quả hoạt động của công ty, Hanoku đã tiếp cận bằng cách kết hợp giữa biến tài chính và phi tài chính.

Khó khăn lớn nhất của nghiên cứu là việc tập hợp các dữ liệu về cơ cấu sở hữu tại các công ty cổ phần tại Việt Nam, do các dữ liệu này liên tục thay đổi. Điều này dẫn đến hạn chế trong việc khai thác dữ liệu theo chiều thời gian. Đồng thời, các công ty thủy sản vẫn chưa thực sự hiểu rõ về Quản trị Công ty, hiện nay chỉ có 23% doanh nghiệp Việt Nam hiểu về vấn đề này, các thông tin liên quan đến Quản trị Công ty cũng không được công ty cung cấp trong các báo cáo thường kỳ của các công ty. Trong quá trình đánh giá kết quả các công ty cổ phần thủy sản đạt mức điểm rất thấp đã được giải thích ở phần 3.2.1.

  • Lý do dẫn đến mô hình không có ý nghĩa Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

Từ kết quả chạy mô hình thì chưa thể giải thích được mối quan hệ giữa trách nhiệm của Hội đồng quản trị (RE) với hiệu quả hoạt động của các công ty cổ phần thủy sản. Lý do dẫn đến kết quả của các mô hình không có ý nghĩa là do số quan sát của mô hình còn nhỏ, chỉ có 14 công ty thủy sản được đánh giá cho hai năm 2023 và 2024. Và các thông tin thu thập phục vụ cho việc đánh giá được lấy từ HOSE, thông tin mà HOSE cung cấp được giới hạn cho hai năm và các thông tin các công ty cung cấp chưa đầy đủ thông tin.

Lý do thứ hai, là còn thiếu các biến giải thích cho mô hình để giải thích mức độ tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty. Trên thực tế thì hiệu quả hoạt động của công ty bị tác động bởi rất nhiều yếu tố. Từ đó dẫn đến kết quả chạy mô hình không có ý nghĩa.

Lý do thứ ba là các công ty thủy sản niêm yết trên HOSE là những công ty có giá trị vốn hóa rất thấp trên thị trường. Các công ty cũng không chú trọng trong việc thực hiện Quản trị Công ty, nhất là lĩnh vực mà đề tài nghiên cứu. Điểm đánh giá của các công ty thủy sản chưa thể đáp ứng được nhu cầu về Quản trị Công ty theo thông lệ quốc tế.

3.2.3 So sánh kết quả chấm điểm theo OECD và theo TT121 của BTC cho từng yếu tố.

Để hiểu rõ vấn đề này, thì việc thực hiện của các công ty được thể hiện ở Bảng 3.8 và Biểu đồ 3.1.

  • Bảng 3.8: Bảng so sánh chấm điểm theo OECD và theo TT121 của BTC đánh giá cho từng yếu tố RE.

Dựa vào Bảng 3.8 ta có biểu đồ thể hiện các yếu tố trong lĩnh vực RE.

  • Biểu đồ 3.1 Thể hiện việc thực hiện các yếu tố của các công ty thủy sản giai đoạn 2023-2024.

Biểu đồ 3.1 thể hiện việc đánh giá lĩnh vực RE của các công ty thủy sản theo tiêu chuẩn OECD và Thông tư 121 chỉ khác nhau ở hai yếu tố là Trách nhiệm và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị; Quy trình của Hội đồng quản trị. Mức điểm chấm theo Thông tư 121 cao hơn so với tiêu chuẩn của OECD, điều này thể hiện quy định về Quản trị Công ty ở Việt Nam với mức yêu cầu thấp hơn so với các thông lệ quốc tế. Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

Các công ty thủy sản tuân thủ và thực hiện theo đúng quy định về điều lệ và quy chế dành cho các công ty niêm yết. Điều đó được thể hiện ở hai yếu tố đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị, quy trình Hội đồng quản trị có chỉ số cao nhất trong năm yết tố được đánh giá, đạt mức 60%-80% các công ty thực hiện. Vì đây là quy định bắt buộc chung cho mỗi công ty niêm yết, nếu các công ty không thực hiện đúng quy định thì sẽ bị hủy niêm yết hoặc bị cảnh cáo, nhắc nhở. Hiện tại, thì quy định về Quản trị Công ty tại Việt Nam đối với các công ty vẫn chỉ là tuân thủ đơn thuần, mục tiêu chính của nhiều công ty vẫn là tập trung lợi nhuận hơn là thông lệ Quản trị Công ty. Chính điều này làm cho số lượng doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu là nhỏ và vừa (chiếm 97%), lý giải điều này, theo nhóm nghiên cứu của Công ty Tài chính quốc tế (IFC) về Quản trị Công ty ở Việt Nam chỉ ra rằng, không định hướng được chiến lược lâu dài dẫn đến hiệu quả thực sự lâu dài là không có. Điều quan trọng nữa là tỷ lệ sở hữu cá nhân và mang tính “gia đình trị” sẽ không thu hút được nhân tài về giúp cho công ty, mà ở Việt Nam thì đây là hình thức chủ yếu nhất. Về quy định thì các công ty thủy sản thực hiện tốt, nhưng khi đi sâu vào việc đánh giá thì các công ty chưa thể đáp ứng được yêu cầu của OECD. Điều đó được minh chứng như sau:

Cấu trúc lãnh đạo của Hội đồng quản trị khi đánh giá các công ty thủy sản, vấn đề chủ tịch Hội đồng quản trị là thành viên Hội đồng quản trị không điều hành là rất đáng chú ý. Đây được coi là một thông lệ tốt theo nguyên tắc, hướng dẫn OECD về phân biệt chức năng của chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc, nhằm bảo đảm sự cân bằng về quyền hạn giữa hai vị trí quan trọng nhất của công ty. Hơn nữa, vai trò của chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc về cơ bản cũng khác nhau – chủ tịch là người lãnh đạo, điều hành Hội đồng quản trị, còn tổng giám đốc là người lãnh đạo, điều hành hoạt động của công ty. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng có chủ tịch Hội đồng quản trị là thành viên Hội đồng quản trị không điều hành là 4/14 công ty. Khi Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm giám sát ban giám đốc, khó có thể hình dung việc này được thực hiện thế nào khi chủ tịch Hội đồng quản trị cũng là tổng giám đốc. Như vậy là có xung đột về lợi ích như lý thuyết đại diện đã đề cập.

Khi tỷ lệ biểu quyết tốt trong các cuộc họp Hội đồng quản trị theo thông lệ quốc tế là 2/3 thì không có công ty nào thực hiện được. Trong khi điều lệ của các công ty quy định chỉ cần trên 50% số thành viên Hội đồng quản trị thông qua, theo Thông tư 121 thì dựa theo điều lệ mỗi công ty quy định thì có 14/14 công ty đáp ứng yêu cầu.

Các công ty hoàn toàn không có tiểu ban hỗ trợ cho Hội đồng quản trị, trong khi đó các thông lệ quốc tế thì rất quan tâm đến vấn đề này thông qua số câu hỏi dành cho các tiểu ban của công ty. Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

Việc đảm bảo số thành viên Hội đồng quản trị độc lập chiếm 50% trong số các thành viên Hội đồng quản trị chưa được đáp ứng theo tiêu chuẩn của OECD chỉ có 2/14 công ty năm 2023 và 1/14 công ty 2024. Theo Thông tư 121 thì chỉ cần 1/3 thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong các các thành viên Hội đồng quản trị thì có 3/14 công ty thực hiện trong hai nắm.

Sự thực hiện của Hội đồng quản trị và các thành viên của Hội đồng quản trị thì các công ty đáp ứng được từ 20%-40% trong tiêu chí đánh giá. Điều này nói lên các công ty thực hiện các quy đinh về Quản trị Công ty chủ yếu để nhằm đối phó và không tự nguyện thực hiện. Các công ty cũng chưa thực hiện đúng theo điều lệ do công ty đặt ra, vì vậy đồi hỏi các cơ quan quản lý cần có sự kiểm tra việc thực hiện Quản trị Công ty của các công ty thủy sản. Để đưa các công ty hoạt động theo đúng với thông lệ quốc tế. Yếu tố thấp nhất trong đánh giá là cơ cấu của Hội đồng quản trị chưa tới 10% các công ty thực hiện. Số câu hỏi cho yếu tố này là 30 câu hỏi, theo kết quả khảo sát thì có 2 câu hỏi được 13 – 14 công ty thực hiện, có 3 câu hỏi chưa tới 5 công ty thực hiện. Nguyên nhân chủ yếu làm yếu tố này thấp nhất là do có 20/30 câu hỏi là dành cho các tiểu ban của công ty, theo khảo sát thì 100% các công ty thủy sản không có tiểu ban. Các công ty áp dụng mô hình Hội đồng quản trị 2 cấp, gồm Hội đồng quản trị và BKS. Theo luật Doanh nghiệp, BKS chịu trách nhiệm trước cổ đông về việc giám sát tình hình tài chính của công ty và đảm bảo tuân thủ trong công ty đối với các quy định của pháp luật hiện hành. BKS cũng có trách nhiệm giám sát công tác kiểm soát nội bộ và phải báo cáo cho cổ đông tại ĐHĐCĐ thường niên kết quả thực hiện các chức năng của mình, cũng như mối quan hệ của BKS với Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Khi bộ máy điều hành của công ty còn chưa hoàn thiện thì khả năng hoạt động hiệu quả của công ty là không thể thực hiện được. Bộ máy điều hành cũng giống như là một bộ khung đỡ cho công ty, khi bộ khung còn yếu và chưa hoàn thiện. Khi gặp sự biến động mạnh trong nền kinh tế thì công ty đó sẽ sụp đổ hoàn toàn hoặc may mắn vượt qua thì tình hình hoạt động của công ty phải mất một khoản thời gian khá dài mới trở lại tình trạng ban đầu. Vì vậy, các công ty cần sớm thực hiện tốt Quản trị Công ty theo thông lệ quốc tế, nhất là lĩnh vực trách nhiệm của Hội đồng quản trị của công ty. Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp hoạt động của công ty chế biến thủy sản

One thought on “Khóa luận: Thực trạng hoạt động của công ty chế biến thủy sản

  1. Pingback: Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chế biến thủy sản

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537