Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NHN&PTNT Việt Nam chi nhánh Kỳ Sơn – Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
2.1. Tổng quan về ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Kỳ Sơn – Hải Phòng
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 26/3/1988 Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đã kí ban hành nghị định số 53/HĐBT thành lập hệ thống các Ngân hàng thương mại, công bố sự ra đời của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam nay là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngoài chức năng của một ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Kỳ Sơn tiền thân là Phòng giao dịch Thanh Lãng. NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn được thành lập vào ngày 01/02/2019 theo số đăng ký 0216000113,Chi nhánh Kỳ Sơn được đặt tại xóm 5, xã Kỳ Sơn – huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng.
Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Kỳ Sơn là chi nhánh loại 3, dưới sự quản lý và chỉ đạo của ngân hàng NN&PTNT Hải Phòng, ngân hàng NN&PTNT Việt Nam.
Thời kỳ đầu chuyển sang kinh doanh chi nhánh Kỳ Sơn cũng như các chi nhánh khác trong cùng hệ thống gặp rất nhiều khó khăn. Nguồn vốn thấp, dư nợ thấp, nợ không có khả năng thu hồi lớn, cơ sở hạ tầng lạc hậu… Cùng với sự đổi mới của đất nước và những biến đổi của nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường.
Hệ thống NHNN & PTNT chi nhánh Kỳ Sơn đã có những thay đổi quan trọng về cả mặt tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động.
Là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tín dụng tiền tệ NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn luôn duy trì sự phối hợp, chia sẻ kiến thức kinh nghiệm với các ngân hàng, các tổ chức tín dụng bạn bè trong khu vực theo tinh thần hợp tác phát triển cùng có lợi.
Chi nhánh ngân hàng Kỳ Sơn hiện nay có 15 cán bộ công nhân viên, có kinh nghiệm nhiều năm công tác trong lĩnh vực ngân hàng, các thành viên có tinh thần đoàn kết nhất trí cao trong việc hoàn thành tốt nhiệm vụ, chỉ tiêu ngân hàng trung ương và ngân hàng thành phố giao.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức hoạt động, chức năng nhiệm vụ của các bộ phận Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
- Cơ cấu tổ chức hoạt động
Cơ cấu tổ chức của NHNN&PTNT Kỳ Sơn được xây dựng theo cấu trúc chức năng. Việc xây dựng theo cấu trúc chức năng được dựa trên ý tưởng về sự phân công lao động rành mạch, chuyên môn hoá sâu sắc và có sự quy định rõ ràng về quyền và trách nhiệm. Tuy có sự phân công, song giữa các phòng ban vẫn có sự hỗ trợ, thống nhất với nhau và chịu sự giám sát một cách tương đối riêng biệt của cấp trên để cùng thực hiện mục tiêu chung của ngân hàng.
Bộ máy tổ chức tại chi nhánh NHNN&PTNT Kỳ Sơn được khái quát qua sơ đồ sau:
- Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận
Ban giám đốc:Gồm 1 giám đốc và 1 phó giám đốc phụ trách các mặt hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Phòng Tín dụng: Tiến hành cấp tín dụng cho khách hàng, cố vấn ban giám đốc trong quá trình đưa ra quyết định tín dụng, xây dựng kế hoạch tín dụng, tiến hành thẩm định các dự án xin vay vốn, đề xuất ý kiến cho vay hay không với Ban giám đốc…
- Phòng Kế toán Ngân quỹ: Thực hiện các giao dịch liên quan đến ngân quỹ, tổ chức ghi chép đầy đủ, chính xác, kịp thời từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh về các hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn, lập báo cáo, bảng cân đối định kỳ gửi lên cấp trên…
- Phòng Hành chính – Nhân sự: Giám sát các hoạt động, đưa ra chế độ thưởng phạt, sắp xếp, giám sát và tổ chức cán bộ, quản lý nhân sự, đề xuất với ban giám đốc các phương án về nhân sự, tổ chức đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên toàn ngân hàng.
2.1.3. Hoạt động nhiệm vụ đang có
- Huy động vốn
Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ của các tổ chức, cá nhân theo quy định của ngân hàng nhà nước.
- Hoạt động tín dụng
- Cho vay
- Cấp tín dụng dưới các hình thức khác theo quy định
- Các hoạt động khác Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
- Mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng nhà nước, tại các tổ chức tín dụng khác
- Mở tài khoản cho khách hàng trong nước
- Cung ứng các phương tiện thanh toán
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước
- Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ
- Thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của NHNN
- Thực hiện các dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
- Thực hiện các hoạt động kinh doanh ngoại hối trên thị trường trong nước khi được NHNN cho phép.
- Được cung ứng các dịch vụ bảo hiểm theo quy định của pháp luật
2.1.4. Những thuận lợi và khó khăn
- Thuận lợi
- Nhân tố khách quan
Nằm trên địa bàn huyện Thủy Nguyên thuộc phía Bắc thành phố Hải Phòng, Chi nhánh được đặt tại một trong những huyện phát triển nhất của thành phố Hải Phòng. Huyện được thành phố xác định là vùng kinh tế động lực, đi đầu trong sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn. Trong kết cấu dân cư của huyện thành phần cán bộ, công nhân viên và thương nhân chiếm tỷ trọng lớn… Dựa vào những điều kiện kinh tế xã hội này NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình.
- Agribank là thương hiệu lớn, có uy tín, lâu đời .
Khách hàng của chi nhánh bao gồm đủ các thành phần kinh tế. Vì vậy chi nhánh có điều kiện thuận lợi trong việc huy động vốn và mở rộng các hình thức dịch vụ phụ trợ cho những dịch vụ chính để phục vụ đông đảo khách hàng.
Nền kinh tế huyện Thủy Nguyên đang có những chuyển biến tích cực, số lượng các dự án tăng lên tạo điều kiện cho chi nhánh tăng số dư nợ tín dụng.
Quy mô thị trường tài chính đang được phát triển theo chiều sâu với việc các dịch vụ ngân hàng ngày càng trở lên quen thuộc, cần thiết với dân chúng và toàn xã hội .
- Nhân tố chủ quan
NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn có nhiều kinh nghiệm và quen thuộc với đại bộ phận dân cư do đó chi nhánh có cơ hội phát triển, thu hút khách hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
- Cơ sở vật chất của chi nhánh tiện nghi, phòng làm việc rộng rãi, thoáng mát, tạo cho khách hàng sự thoải mái khi đến giao dịch tại ngân hàng.
- Lợi thế về cơ cấu khách hàng: khách hàng của Agribank bao gồm đủ các thành phần kinh tế như công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã và các cá nhân,hộ gia đình…
- Lợi thế về nhân sự: Chi nhánh có đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên nghiệp, trẻ trung năng động tạo thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy và phát triển hoạt động của ngân hàng.
- Lợi thế về cơ cấu tổ chức: Theo mô hình quản lý tập trung có phân cấp với bộ máy quản lý gọn nhẹ
- Lợi thế về công nghệ: Ứng dụng nhiều công nghệ phần mềm cao và sản phẩm đa dạng
Khó khăn
- Sức ép cạnh tranh ngày càng lớn từ các ngân hàng khác cùng địa bàn.
- Sự hội nhập quốc tế nhanh chóng gây áp lực cạnh tranh, khủng hoang kinh tế mang lại rủi ro cho các doanh nghiệp trên địa bàn huyện là khách hàng của ngân hàng.
- Giá cả thị trường hiện nay biến động như giá vàng, USD…Tất cả tạo nên những khó khăn, thử thách đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNN&PTNN Việt Nam chi nhánh Kỳ Sơn – Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
2.2.1. Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2023 – 2025
Trong những năm qua ngân hàng NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn đã mở rộng quy mô hoạt động và ngày càng phát triển. Bên cạnh đó công tác huy động vốn, sử dụng vốn được chú trọng không kém, nhiều hình thức tiếp cận khách hàng được sử dụng. Từ đó đã nâng cao được hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Bảng 1 : Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Kỳ Sơn giai đoạn 2023-2025
Theo bảng số liệu trên ta thấy chi nhánh cũng luôn đảm bảo kinh doanh ổn định và hiệu quả. Lợi nhuận năm 2023 đạt 5.818 triệu đồng, năm 2024 lợi nhuận đạt 5.894 triệu đồng tăng 76 triệu đồng (tăng 1,3 %) so với năm 2023. Tuy nhiên đến năm 2025 thì lợi nhuận của chi nhánh giảm còn 4.548 triệu đồng so với năm 2024 thì giảm 1.346 triệu đồng (giảm 22,8%). Đạt được lợi nhuận trên là do thu nhập của ngân hàng ngày càng tăng và chi phí tiết kiệm. Thu nhập của ngân hàng tăng đều qua các năm.Thu nhập năm 2023 đạt 15.641 triệu đồng. Năm 2024 là 19.192 triệu đồng tăng 3.551 triệu đồng (tăng 22,7%) so với năm 2023. Đến năm 2025 thu nhập tăng 664 triệu đồng (tăng 3,5%) so với năm 2024.Dựa vào bảng số liệu trên ta thấy thu từ lãi là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng, việc tăng thu nhập là do tăng thu từ lãi, điều đó cho thấy hoạt động tín dụng ngày càng phát triển của ngân hàng. Bên cạnh đó việc tăng thu khác như thu phí dịch vụ cũng mang lại thu nhập cho ngân hàng.
Năm 2023 chi phí của ngân hàng là 9.823 triệu đồng, năm 2024 chi phí là 13.298 triệu đồng tăng 3.475 triệu đồng (tăng 35,4%) so với năm 2023.Đến năm 2025 chi phí của ngân hàng tăng so với năm 2024 là 2.010 triệu đồng (tăng 15,1%).Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy chi phí tăng chủ yếu là do chi phí trả lãi tăng. Lợi nhuận của ngân hàng tăng lên chủ yếu nguồn thu chính từ tiền lãi hoạt động cho vay, mặt khác lợi nhuận tăng là do ngân hàng đã cân đối được thu chi. Đây là biểu hiện tích cực, chứng tỏ những định hướng và chính sách của ngân hàng phù hợp với yêu cầu thị trường.
Nhìn chung hoạt động kinh doanh của NHNN&PTNN chi nhánh Kỳ Sơn có lãi. Đây có thể xem là một dấu hiệu tích cực đối với ngân hàng trong bối cảnh thị phần của ngân hàng trên thị trường tài chính – ngân hàng Việt Nam đang dần bị thu hẹp lại do sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần, các quỹ đầu tư, các công ty chứng khoán, các công ty đầu tư của các tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước… Trong ba năm lợi nhuận của ngân hàng đều tăng lên thể hiện được sự vững vàng trong chỉ đạo điều hành của ban giám đốc ngân hàng và sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt, dần đưa ngân hàng vào quỹ đạo hoạt động ổn định bất chấp áp lực cạnh tranh, tạo nên niềm tin mạnh mẽ trong lòng khách hàng và từ đó dần khẳng định vị thế của ngân hàng trên thị trường tài chính- ngân hàng Việt Nam, giúp ngân hàng kinh doanh ngày càng hiệu quả và lớn mạnh hơn.
2.2.2. Hoạt động huy động vốn Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Kỳ Sơn luôn xác định tầm quan trọng của công tác huy động vốn. Để đáp ứng được nhu cầu về vốn cho khách hàng, chi nhánh đã tích cực, chủ động khai thác nguồn vốn nhàn rỗi, đưa ra nhiều hình thức huy động vốn phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng.
- Bảng 2 :Huy động vốn theo kỳ hạn
Qua bảng trên ta thấy công tác huy động vốn của NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn đã tăng trưởng qua các năm 2023-2025.Tổng tiền gửi đã tăng từ 150.758 triệu đồng năm 2023 lên 199.596 triệu đồng năm 2024 và 231.017 triệu đồng năm 2025.
Tiền gửi không kì hạn: Loại tiền này huy động chủ yếu từ các tổ chức kinh tế- xã hội,các doanh nghiệp và tài khoản của các tổ chức tín dụng khác, dân cư huy động không đáng kể. Số dư tiền gửi từ 37.257 triệu đồng (năm 2023)giảm xuống còn 31.212 triệu đồng (năm 2024) và 28.576 triệu đồng (năm 2025). Tương đương tỷ trọng giảm từ 24,7% (2023) xuống còn 15,6% (năm 2024) và 12,4% (năm 2025). Loại tiền gửi này chủ yếu là dùng cho mục đích thanh toán vì sự tiện lợi của nó.Loại tiền này rất có ý nghĩa với ngân hàng vì nó bổ sung vào nguồn vốn tín dụng của ngân hàng, tạo thành nguồn vốn rẻ trong kinh doanh do lãi suất của loại tiền này rất thấp từ đó giảm được chi phí đầu vào cho ngân hàng.Tuy nhiên tiền gửi không kì hạn thường biến động lớn nên ngân hàng khó chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này.
Tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng :Là loại tiền rất nhạy cảm với lãi suất do thời gian dài, khách hàng đã có kế hoạch từ trước khi quyết định gửi vào ngân hàng theo những kì hạn nhất định. Tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng có cơ cấu cao và đang có xu hướng tăng. Năm 2023 đạt 95.189 triệu đồng( tỷ trọng 63,1%), năm 2024 đạt 154.710 triệu đồng (tỷ trọng 77,5%) và năm 2025 đạt 185.399 triệu đồng (tỷ trọng 80,3%).Trong thời gian qua vốn huy động từ tiền gửi dân cư tại chi nhánh có sự tăng trưởng ổn định cho thấy chi nhánh đã thực hiện tốt công tác huy động vốn.Sự tăng trưởng tiền gửi tiết kiệm cho thấy thu nhập của người dân ngày càng tăng trong khi có ít sự lựa chọn hình thức đầu tư và hình thức đơn giản nhất là gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi.Một phần là nền kinh tế đang khủng hoảng, lãi suất không ổn định dẫn tới việc gửi ngắn hạn để an toàn hơn.
Tiền gửi có kì hạn trên 12 tháng: Tiền gửi có kỳ hạn dài của chi nhánh có quy mô và cơ cấu không lớn, tăng trưởng không đáng kể.Năm 2023 số dư tiền gửi có kì hạn trên 12 tháng là 18.312 triệu đồng (tương đương tỷ trọng 12,1%).Đến năm 2024 giảm xuống còn 13.674 triệu đồng (tương đương 6,9%) và năm 2025 là 17.042 triệu đồng (tương đương 7,4%).Điều đó là do lãi suất tiền gửi không ổn định trong mấy năm gần đây gây hoang mang tâm lý cho khách hàng khi gửi tiền với thời gian dài.Mặt khác sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên lượng tiền nhàn rỗi của các tổ chức bị hạn chế.
- Bảng 3: Tình hình huy động vốn theo loại tiền
Qua bảng huy động vốn theo loại tiền của chi nhánh ta thấy chi nhánh huy động vốn chủ yếu là nội tệ, ngoại tệ chỉ chiếm một phần nhỏ.Năm 2023 huy động vốn bằng nội tệ đạt 242.067 triệu đồng (tỷ trọng 91,2%) còn ngoại tệ chỉ đạt 23.472 triệu đồng (tỷ trọng 8,8%). Đến năm 2025 huy động vốn bằng nội tệ đã tăng lên và đạt 327.811 triệu đồng (tỷ trọng 92,9%) và ngoại tệ đạt 25.195 triệu đồng và tỷ trọng có xu hướng giảm chỉ còn 7,1%. Nguyên nhân của việc tăng huy động vốn nội tệ là do trên địa bàn chi nhánh chủ yếu khách hàng là cá nhân, hộ sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ, chỉ có một số ít doanh nghiệp nước ngoài, khách hàng có người nhà ở nước ngoài, đi du học.
2.2.3. Hoạt động tín dụng Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
Tín dụng là một hoạt động vô cùng quan trọng của một ngân hàng bời vì nó vừa chiếm tỷ trọng lớn vừa đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Vì vậy hoạt động tín dụng luôn được ngân hàng chú trọng, là nhiệm vụ hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bám sát sự chỉ đạo của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trong những năm qua cùng với chiến lược kinh doanh hợp lý mà hoạt động tín dụng của chi nhánh Kỳ Sơn ngày càng ổn định và phát triển.
- Bảng 4: Tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng NN&PTNN chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023- 2025
- Biểu đồ 1: Tình hình hoạt động tín dụng giai đoạn 2023 – 2025
Năm 2023 tổng doanh số cho vay của chi nhánh đạt 156.786 triệu đồng. Năm 2024 đạt 182.106 triệu đồng tăng 25.320 triệu đồng tương đương với tốc độ tăng 16,1% so với năm 2023. Đến năm 2025 tổng doanh số cho vay đạt 168.935 triệu đồng, giảm 13.171 triệu đồng tương đương với tốc độ giảm 7,2% so với năm 2024.
Năm 2023 dư nợ tín dụng đạt 112.757 triệu đồng. Năm 2024 tăng lên đạt 137.581 triệu đồng. Năm 2025 lại có xu xướng giảm xuống còn 133.041 triệu đồng. Nhưng nhìn chung doanh số cho vay và dư nợ tín dụng của chi nhánh tăng trưởng ổn định mặc dù nền kinh tế giai đoạn 2023 – 2025 gặp nhiều khó khăn . Điều này cho thấy chi nhánh đã làm tốt công tác thu hút khách hàng. Tuy nhiên trong nền kinh tế khó khăn thì rủi ro mang lại cũng cao, việc thu hồi vốn khó khăn…Vì vậy chi nhánh nên giám sát chặt chẽ các khoản tín dụng, thường xuyên đôn đốc khách hàng trả lãi và nợ gốc khi đến hạn.
2.2.4. Hoạt động dịch vụ khác
Bên cạnh hai hoạt dộng dịch vụ chính thì NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn còn cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ khác như: dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ thu hộ và chi hộ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ, dịch vụ bảo hiểm…
- Bảng 5: Doanh thu từ hoạt động dịch vụ của NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023- 2025
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng mặc dù doanh thu của hoạt động dịch vụ của chi nhánh không lớn, chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu của chi nhánh nhưng đã có sự tăng trưởng qua các năm. Năm 2023 thu từ hoạt động dịch vụ đạt 1.210 triệu đồng, năm 2024 đạt 1.531 triệu đồng tăng 312 triệu (tăng 26,5%) so với năm 2023. Đến năm 2025 thì doanh thu từ hoạt động dịch vụ tăng mạnh lên 2.025 triệu đồng tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn thu này chủ yếu ở dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ Mobile banking, dịch vụ bảo hiểm…Sự tăng lên của doanh thu hoạt động dịch vụ những năm qua cho thấy chi nhánh đã chú trọng và đầu tư hơn vào các hoạt động dịch vụ, nhằm đa dạng hóa sản phẩm phục vụ khách hàng.
- Dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
Thị trường Thẻ Việt Nam trong những năm gần đây hoạt động rất sôi nổi và cạnh tranh vô cùng quyết liệt của các ngân hàng.Các ngân hàng không ngừng phát triển sản phẩm thẻ của mình các chương trình khuyến mại, ra đời các sản phẩm mới.Trong những năm qua chi nhánh NHNN&PTNT Kỳ Sơn đã không ngừng phát triển dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ.
- Bảng 6 : Tình hình phát hành thẻ của NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023 – 2025
Qua bảng số liệu trên ta thấy tính đến năm 2025 tổng số thẻ chi nhánh đã phát hành là 8.708 thẻ. Đồng thời quản lý và vận hành an toàn 1 máy ATM. Bộ phận chăm sóc và tư vấn cho khách hàng dã có nhiều cố gắng trong việc cập nhật kiến thức và hướng dẫn khách hàng, giúp cho khách hàng sử dụng, giao dịch, thanh toán qua thẻ được nhanh chóng và tiện lợi. Tuy nhiên công tác phát hành thẻ của chi nhánh còn gặp nhiều khó khăn do phải cạnh tranh với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn.
2.3. Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023 – 2025
2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh quy mô tín dụng
- Tỷ lệ tăng trưởng doanh số cho vay
Bảng 7: Doanh số cho vay của NHNN & PTNN chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023-2025
Qua bảng số liệu trên ta thấy doanh số cho vay của chi nhánh năm 2023 đạt 156.786 triệu đồng. Năm 2024 đạt 182.106 triệu đồng, tăng 25.320 triệu đồng (tăng 16,1%) so với năm 2023. Tuy nhiên đến năm 2025 doanh số cho vay của chi nhánh đạt 168.935 triệu đồng, giảm 13.171 triệu đồng ( giảm 7,2%) so với năm 2024. Kết qủa của sự suy giảm trên bởi vì năm 2025 hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn khó khăn, sức cầu của nền kinh tế tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế không cao nên doanh số cho vay của chi nhánh giảm sút.
Chi nhánh chủ yếu cho vay ngắn hạn, tỷ trọng cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số cho vay và có xu hướng tăng dần qua các năm. Năm 2024 cho vay ngắn hạn tăng 18.703 triệu đồng (tăng 14,3%) so với năm 2023. Năm 2025 tăng 674 triệu đồng (tăng 0,5%) so với năm 2024. Trong khi đó cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng khá thấp và có xu hướng giảm dần. Năm 2024 cho vay trung và dài hạn của chi nhánh tăng 6.635 triệu đồng (tăng 25,6%) so với năm 2023 tuy nhiên đến năm 2025 thì lại giảm 13.845 triệu đồng (giảm 42,5%) so với năm 2024. Cho vay trung và dài hạn của chi nhánh chiếm tỷ trọng thấp và có xu hướng giảm là do nguồn vốn huy động của chi nhánh chủ yếu là huy động ngắn hạn, huy động trung và dài hạn chiếm tỷ trọng không cao và cũng có xu hướng giảm dần. Hơn nữa ngân hàng cũng ưa thích những khoản vay ngắn hạn hơn do ngân hàng có thể quay vòng vốn nhanh hơn và rủi ro thấp hơn các khoản vay trung và dài hạn.
- Quy mô và tốc độ tăng trưởng dư nợ
- Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế
Bảng 8 : Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế NHNN&PTNN chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023-2025
Qua bảng số liệu trên ta thấy cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế của chi nhánh chủ yếu là dư nợ hộ sản xuất và cá nhân và có xu hướng tăng qua các năm. Dư nợ doanh nghiệp ngoài NN chiếm tỷ trọng ít hơn và có xu hướng giảm dần. Năm 2023 dư nợ hộ sản xuất và cá nhân đạt 72.750 triệu đồng chiếm tỷ trọng 64,5% trong tổng dư nợ còn dư nợ DN ngoài NN đạt 40.007 triệu đồng chiếm tỷ trọng 35,5%. Đến năm 2024 dư nợ hộ sản xuất cá nhân tăng lên 103.510 triệu đồng chiếm tỷ trọng 75,2% còn dư nợ DN ngoài nhà nước giảm còn 34.071 triệu đồng. Và năm 2025 dư nợ hộ sản xuất và cá nhân tiếp tục tăng chiếm tỷ trọng 78,4% trong tổng dư nợ và dư nợ DN ngoài NN lại tiếp tục giảm còn 28.801 triệu đồng, chiếm 21,6% tỷ trọng. Điều này là do khách hàng trên địa bàn ngân hàng chủ yếu là cá nhân và hộ sản xuất kinh doanh, hơn nữa là do những khó khăn chung trong nền kinh tế trong những năm gần đây nên các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, ngân hàng cũng siết chặt cho vay đối với DN hơn để tránh rủi ro. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
- Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế
Bảng 9 : Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế của NHNN&PTNT chi nhánh Ký Sơn giai đoạn 2023- 2025
Sự phát triển của danh mục tín dụng theo ngành kinh tế phản ánh tình hình phát triển chung của địa bàn. Dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế của chi nhánh thì thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất. Xu hướng này phù hợp với chiến lược tín dụng của chi nhánh trong giai đoạn tới đó là tập trung vào các ngành đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của huyện.
Dư nợ tín dụng đối với ngành thương mại và dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và có xu hướng tăng. Năm 2023 dư nợ tín dụng thương mại dịch vụ đạt 80.902 triệu đồng (chiếm tỷ trọng 71,7%), năm 2024 tăng thêm 18.249 triệu đồng (tăng 22,6%) so với năm 2023 và đến năm 2025 tăng thêm 1000 triệu đồng so với năm 2024. Việc dư nợ tín dụng ngàng thương mại dịch vụ là do những năm gần đây thương mại, dịch vụ phát triển mạnh và là một trong các ngành thế mạnh của huyện địa bàn nên việc tăng dư nợ cho vay đối với ngành này là hướng đi đúng đắn của chi nhánh.
Dư nợ ngành nông nghiệp của chi nhánh cũng có xu hướng tăng trong 3 năm Năm 2023 dư nợ tín dụng ngành nông nghiệp đạt 14.957 triệu đồng, năm 2024 đạt 19.245 triệu đồng, tăng 4.288 triệu đồng (tăng 28,7%) so với năm 2023. Đến năm 2025 dư nợ nông nghiệp tăng so với năm 2024 là 872 triệu đồng. Với đặc thù địa bàn kinh doanh là các xã khu vực Tây Bắc huyện Thủy Nguyên, địa hình đồi núi, kinh tế thuần nông nên ngay từ những ngày đầu hoạt động chi nhánh đã xác định rõ mục tiêu, đối tượng cung ứng vốn.Đó là tập trung nguồn vốn hỗ trợ người dân địa phương dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong đó ưu tiên phát triển kinh tế gia trại, trang trại
Dư nợ của một số ngành khác chiếm tỷ trọng không cao vì chiến lược của chi nhánh là hạn chế tín dụng đối với các ngành đã phát triển đến giai đoạn bão hòa và kém cạnh tranh trên địa bàn.
- Bảng 10: Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng theo thời gian NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023- 2025
- Biểu đồ2 : Tình hình dư nợ tín dụng theo thời gian của NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023- 2025
Qua bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy trong dư nợ tín dụng của chi nhánh thì dư nợ tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2023 dư nợ ngắn hạn đạt 77.340 triệu đồng. Năm 2024 đạt 94.223 triệu đồng tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước.Tuy nhiên đến năm 2025 tổng dư nợ tín dụng giảm 3,3% so với năm 2024 nên dư nợ ngắn hạn cũng có xu hướng giảm 2,5% so với năm 2024. Dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn là do khách hàng trên địa bàn chủ yếu là cá nhân, hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, mang tính thời vụ nên nhu cầu cho vay ngắn hạn nhiều hơn. Bên cạnh đó điều này còn giúp cho ngân hàng tránh được khá nhiều rùi ro như rủi ro về tính thanh khoản, rủi ro ngành và rủi ro lãi suất. Dư nợ trung và dài hạn của chi nhánh chiếm tỷ trọng nhỏ và có xu hướng giảm dần.Năm 2023 dư nợ tín dụng trung và dài hạn đạt 35.417 triệu đồng, năm 2024 tăng 22,4% so với năm 2023. Tuy nhiên đến năm 2025 thì dư nợ trung và dài hạn lại giảm 5,1% so với năm 2024. Kết quả trên là do nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, tính bất thường và không ổn định của thị trường tài chính khiến cho ngân hàng khá dè dặt trong việc trong việc phát triển tín dụng trung và dài hạn. Tuy vậy nhưng ngân hàng cũng nên kết hợp đẩy mạnh tín dụng trung và dài hạn một cách hợp lý mặc dù tín dụng trung và dài hạn tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng cũng mang lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng.
2.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
- Tỷ lệ doanh số cho vay / Vốn huy động
Đây là chỉ tiêu phản ánh tương quan giữa nguốn vốn huy động và số vốn cho vay trực tiếp khách hàng.Vốn huy động là nguồn vốn có chi phí thấp, tương đối ổn định về kì hạn nên năng lực cho vay của ngân hàng thương mại thường bị giới hạn bởi năng lực huy động vốn. Tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào ngân hàng cũng có thể tự cân đối được nguồn vốn huy động để cho vay. Tỷ lệ doanh số cho vay/ vốn huy động lý tưởng là xấp xỉ 100%
- Bảng 11 : Tỷ lệ doanh số cho vay / vốn huy động
Qua bảng số liệu trên ta thấy: Tỷ lệ doanh số cho vay/ vốn huy động năm 2023 đạt 104% đến năm 2024 đạt 91,2% (giảm 12,8%) so với năm 2024, năm 2025 đạt 73,1% (giảm 18,1%) so với năm 2024. Ta thấy năm 2023 tỷ lệ doanh số cho vay trên vốn huy động là 104% >1 chứng tỏ nguồn vốn huy động của ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu cho vay, vì vậy ngân hàng cần có những biện pháp huy động vốn kịp thời để có thể đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Năm 2024 tỷ lệ doanh số cho vay/ vốn huy động đạt 91,2% xấp xỉ 100%, đây là tỷ lệ tương đối lý tưởng chứng tỏ nguồn vốn huy động của ngân hàng đã đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn. Năm 2025 tỷ lệ này đạt 73,1% điều này cho thấy công tác huy động vốn của chi nhánh ngày càng tốt tuy nhiên lượng vốn huy động khá cao mà cho vay không triệt để, gây lãng phí. Nguyên nhân là do thị trường ảo và mất cân bằng của nền kinh tế, người đi vay e ngại đầu tư, nên tín dụng tăng chậm. Vì vậy ngân hàng cũng cần có những biện pháp thích hợp để khuyến khích cho vay cũng như giữ vững và phát huy công tác huy động để có thể đáp ứng nhu cầu tín dụng.
- Bảng 12: Cân đối giữa nguồn vốn huy động và nguồn vốn cho vay theo thời hạn
Trong hoạt động ngân hàng muốn đạt hiệu quả cao trong kinh doanh thì phải bám sát vào nhu cầu thực tế để có thể điều chỉnh kịp thời, trong đó huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ lẫn nhau, chi phối lẫn nhau. Để nâng cao hiệu quả kinh doanh thì vấn đề là phải làm sao cân đối được hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn để ngân hàng không bị động trong kinh doanh, sẵn sàng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và đảm bảo chi phí thấp nhất.
Qua bảng số liệu trên ta thấy nguồn vốn huy động ngắn hạn của chi nhánh đã đáp ứng được nhu cầu vay ngắn hạn và có xu hướng dư thừa. Năm 2023 nguồn vốn huy động ngắn hạn của chi nhánh đạt 132.446 triệu đồng, cho vay ngắn hạn là 130.813 triệu đồng, sau khi cân đối dư thừa 1.633 triệu đồng. Năm 2024 huy động ngắn hạn là 185.922 triệu đồng, cho vay ngắn hạn 149.516 triệu đồng, dư thừa 36.406 triệu đồng. Và đến năm 2025 sau khi cân đối giữa huy động ngắn hạn và cho vay ngắn hạn cũng dư thừa 63.785 triệu đồng. Việc dư thừa vốn quá nhiều sẽ gây lãng phí và đem lại hiệu quả không cao do chi nhánh vẫn phải trả lãi cho lượng vốn huy động dư thừa mà không thu được lãi thông qua cho vay. Vì vậy chi nhánh cần có những biện pháp tích cực để tăng doanh số cho vay ngắn hạn. Việc tăng cho vay ngắn hạn giúp cho chi nhánh giảm thiểu được rủi ro như rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất… tuy nhiên lại có hạn chế là tăng chi phí thẩm định.
Bên cạnh việc dư thừa vốn trong huy động vốn ngắn hạn và cho vay ngắn hạn thì tình hình huy động vốn trung và dài hạn của chi nhánh lại không đáp ứng được cho vay trung và dài hạn, luôn trong tình trạng thiếu hụt. Năm 2023 thiếu 7.643 triệu đồng, năm 2024 thiếu 18.916 triệu đồng, năm 2025 thiếu 1.703 triệu đồng. Việc thiếu hụt này khiến cho chi nhánh dùng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Sự mất cân đối trong việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn là điều hết sức nguy hiểm và tiềm ẩn nhiều rủi ro về thanh khoản mà ngân hàng không thể chủ động được. Việc dùng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn chỉ là giải pháp tạm thời vì thế ngân hàng cần có những biện pháp hữu hiệu hơn để khai thác nguồn vốn huy động có kỳ hạn dài để cân đối nguồn vốn Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
- Tỷ lệ dư nợ / Vốn huy động ( Hiệu suất sử dụng vốn)
Chỉ tiêu này phản ánh NH cho vay được bao nhiêu so với nguồn vốn huy động, nó còn nói lên hiệu quả sử dụng vốn huy động của ngân hàng, thể hiện ngân hàng đã chủ động trong việc tích cực tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy động hay chưa.Đồng thời thể hiện tính thanh khoản và khả năng sinh lời từ vốn huy động của ngân hàng.
- Bảng 13: Tỷ lệ dư nợ / Vốn huy động
Qua bảng trên ta thấy tỷ lệ dư nợ / vốn huy động của ngân hàng trong 3 năm 2023- 2025 luôn < 100% và có xu hướng giảm dần. Năm 2023 tỷ lệ dư nợ/ vốn huy động đạt 74,8%. Năm 2024 tỷ lệ này đạt 68,9% (giảm 5,9%) so với năm 2023. Năm 2025 tỷ lệ này đạt 57,6% (giảm 11,3%) so với năm 2024. Kết qủa trên cho thấy tại ngân hàng dư nợ cho vay luôn nhỏ hơn tổng nguồn vốn huy động được. Nghĩa là hoạt động cho vay của chi nhánh chưa phát huy được hiệu qủa mặc dù ngân hàng đã tích cực tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy động. Đồng thời cho thấy ngân hàng chưa sử dụng hiệu qủa nguồn vốn huy động, gây lãng phí.Để giải quyết vấn đề này ngân hàng cần phải điều chuyển nguồn vốn huy động,cho các ngân hàng hay TCTD khác vay lại nhưng do cho vay lại nguồn vốn huy động với lãi suất thấp sẽ giảm hiệu qủa hoạt động của ngân hàng. Chính vì vậy giải pháp tốt nhất là ngân hàng cần phải chủ động tìm đầu ra (cho vay, đầu tư) để sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động.Tuy nhiên thì kết quả này cũng cho thấy tính thanh khoản của ngân hàng giai đoạn này khá cao, đáp ứng được nhu cầu rút vốn của khách hàng gửi tiết kiệm tương đối tốt.
- Tỷ lệ thu lãi
Chỉ tiêu này đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính của ngân hàng, đánh giá khả năng đôn đốc, thu hồi lãi và tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu của ngân hàng tư việc cho vay
- Biểu đồ 3: Tỷ lệ thu lãi của ngân hàng NN&PTNN chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023-2025
Qua biểu đồ trên ta thấy tỷ lệ thu lãi của ngân hàng giai đoạn 2023- 2025 tương đối ổn định và có xu hướng tăng dần qua các năm. Năm 2023 tỷ lệ thu lãi đạt 95,3%, đến năm 2024 đạt 95,9% (tăng 0,6%) so với năm 2023 và năm 2025 tỷ lệ thu lãi đạt 97,5%. Thông thường tỷ lệ thu lãi đạt trên 95% được đánh giá là tốt. Như vậy chứng tỏ việc đôn đốc, thu hồi lãi và thực hiện kế hoạch doanh thu của ngân hàng từ việc cho vay được thực hiện tốt.
- Hệ số thu nợ Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
Bảng 14: Hệ số thu nợ của NHNN&PTNN chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023-2025
Qua bảng số liệu trên ta thấy hệ số thu nợ của chi nhánh đang có xu hướng tăng dần qua các năm. Năm 2023 hệ số thu nợ là 84,7%, năm 2024 tăng lên đạt 86,4% và đến năm 2025 tăng mạnh đạt 102,7%. Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của ngân hàng. Hệ số thu nợ phản ánh trong một thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định ngân hàng thu về dược bao nhiêu đồng vốn. Tuy nhiên nó không đánh giá được chính xác tình hình thu nợ của ngân hàng là tốt hay không do doanh số thu nợ còn phụ thuộc vào thời điểm cho vay, thời hạn của khoản vay.
- Tỷ lệ thu nợ đến hạn
Bảng 15: Tỷ lệ thu nợ khi đến hạn
Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ thu nợ khi đến hạn của chi nhánh giai đoạn 2023– 2025 có xu hướng tăng. Năm 2023 tỷ lệ thu nợ khi đến hạn đạt 92,8%,năm 2024 tăng lên và đạt 93,6%. Đến năm 2025 tỷ lệ thu nợ khi đến hạn của chi nhánh đạt 94,9%. Nhìn chung tỷ lệ thu hồi vốn khi đến hạn của chi nhánh cũng tương đối ổn định và cao. Điều này cho thấy rằng mặc dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, hoạt động kinh doanh của khách hàng bị ảnh hưởng nhưng chi nhánh vẫn làm tương đối tốt công tác thu hồi nợ khi đến hạn.
Để công tác thu hồi nợ khi đến hạn đạt hiệu quả hơn nữa thì chi nhánh cần thường xuyên theo dõi chặt chẽ, giám sát, kiểm tra tình hình sử dụng vốn, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Tích cực nhắc nhở, đôn đốc khách hàng trả nợ khi đến hạn để việc thu hồi nợ khi đến hạn đạt hiệu quả cao hơn.
- Tỷ lệ nợ quá hạn
Bảng 16: Tỷ lệ nợ quá hạn
Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ nợ quá hạn của chi nhánh giai đoạn 2023-2025 tương đối cao tuy nhiên có xu hướng giảm dần. Năm 2023 tỷ lệ nợ quá hạn của chi nhánh là 8,43%, năm 2024 giảm xuống còn 6,99% và đến năm 2025 giảm còn 6,12%. Tỷ lệ nợ quá hạn giảm xuống chứng tỏ khả năng lý tín dụng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của chi nhánh đang dần được làm tốt.
- Tình hình nợ xấu Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5. Tỷ lệ nợ xấu cho biết trong 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu chính vì vậy tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà còn có khả năng mất vốn.
- Bảng 17: Chất lượng tín dụng của NHNN&PTNN chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023- 2025
Qua bảng số liệu trên ta thấy tỉ lệ nợ xấu của chi nhánh dao động từ 2,35% đến 2,53%. Năm 2023 tỷ lệ nợ xấu là 2,44%, năm 2024 là 2,53% và đến năm 2025 là 2,35%, tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh không vượt quá 3% theo quy định của nhà nước tuy nhiên cũng tương đối cao so với một số chi nhánh ngân hàng trên cùng địa bàn. Điều này cho thấy việc quản trị rủi ro, siết chặt quy trình thẩm định, tăng cường kiểm tra, kiểm soát các khoản vay cũng như đôn đốc thu nợ của ngân hàng chưa được làm tốt. Nguyên nhân dẫn đến những khoản nợ xấu của ngân hàng là do nguyên nhân từ phía ngân hàng và nguyên nhân từ phía khách hàng.
- Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Do năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng còn thiếu sót.
Do khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu thẩm định, cho vay, đôn đốc thu hồi nợ đối với các khoản vay còn chưa tốt, chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát các khoản vay…
- Rủi ro về đạo đức : Nhân viên tín dụng chạy theo doanh số, trình độ còn yếu kém, chưa có kinh nghiệm…
Chính vì vậy ngân hàng cần phải có những giải pháp để hạn chế nợ xấu và nợ quá hạn như: giám sát chặt chẽ quy trình cho vay, thẩm định khách hàng, tăng cường công tác đào tạo cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định có trình độ chuyên môn cao, đạo đức nghề nghiệp tốt, tăng cương công tác quản lý và giải quyết nợ xấu…
- Nguyên nhân từ phía khách hàng
Tỷ lệ nợ xấu chủ yếu tập chung ở ngành nông nghiệp và một phần ngành thương mại dịch vụ. Do môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh tình hình kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp suy giảm dẫn tới kinh doanh không hiệu quả gây nên nợ xấu không mong muốn cho cả khách hàng và ngân hàng.
Do khách hàng sử dụng vốn chưa hiệu quả, không đúng mục đích như vay để sản xuất kinh doanh nhưng lại dùng vốn vay để mua sắm, xây nhà do đó không thu được nhuận để trả nợ cho ngân hàng.
- Vòng quay vốn tín dụng Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
Bảng 18: Vòng quay vốn tín dụng NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023- 2025
Qua bảng số liệu trên ta thấy vòng quay vốn tín dụng của chi nhánh giai đoạn 2023- 2025 cũng tương đối cao. Vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng cao bởi do ngân hàng chủ yếu cho vay ngắn hạn. Năm 2023 vòng quay tín dụng là 1,21 vòng/năm. Năm 2024 giảm nhẹ xuống còn 1,26 vòng/năm. Đến năm 2025 vòng quay tín dụng cuả ngân hàng tiêp tục tăng lên đạt 1,28 vòng/năm.Điều này cho thấy cơ cấu tín dụng của ngân hàng đang dịch chuyển sang cho vay ngắn hạn là chủ yếu. Vòng quay vốn tín dụng càng nhanh thì chứng tỏ ngân hàng hoạt động ngày càng hiệu qủa và đầu tư ngày càng an toàn. Vì thế ngân hàng cũng cần có những biện pháp để tăng tốc độ quay vòng vốn như quản lý chặt chẽ các khoản vay để nguôn vốn đó được đầu tư đúng mục đích mang lại lợi nhuận cao, công tác kiểm tra, giám sát đôn đốc thu hồi nợ cũng cần được chú ý.
- Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
Bảng 19: Kết quả kinh doanh tín dụng NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023- 2025
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tỷ suất sinh lời của hoạt động tín dụng NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn trong 3 năm 2023 – 2025 có xu hướng giảm xuống. Mỗi một đồng tín dụng bỏ ra thu về khoảng 0,045 đồng lợi nhuận vào năm 2022, đến năm 2023 giảm xuống và thu được 0,041 đồng. Tuy nhiên đến năm 2025 giảm mạnh và thu được 0,026 đồng lợi nhuận.
Mức đóng góp của hoạt động tín dụng vào tổng lợi nhuận của chi nhánh chiếm tỷ trọng tương đối lớn, điều này cho thấy lợi nhuận chủ yếu của chi nhánh thu từ hoạt động tín dụng. Năm 2023 mức đóng góp của tín dụng vào tổng lợi nhuận ngân hàng chiếm 83,3%. Năm 2024 tăng lên và đạt 87,2%. Tuy nhiên đến năm 2025 chiếm 78,7% giảm 8,5% so với cùng kì năm trước. Mức đóng góp này giảm chứng tỏ chi nhánh đang dần nâng cao hiệu quả của các dịch vụ khác.
2.4. Đánh giá hiệu qủa hoạt động tín dụng tại NHNN&PTNN chi nhánh Kỳ Sơn giai đoạn 2023-2025 Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
2.4.1. Những kết quả đạt được
Trong những năm qua hoạt động của ngân hàng gặp nhiều khó khăn do tác động của môi trường kinh tế tuy nhiên do bám sát vào sự chỉ đạo của NHNN&PTNT thành phố cùng với sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu, năng động và sáng tạo của tập thể cán bộ công nhân viên của NHNN&PTNT chi nhánh Kỳ Sơn đã đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của chi nhánh ổn định, phát triển và hiệu qủa. Trong những năm qua chi nhánh đã đạt được những thành tích đáng kể sau:
- Trong công tác tiếp nhận, thẩm định hồ sơ, xét duyệt cho vay tại chi nhánh đã thực hiện đúng quy chế ban hành của cấp trên. Xét duyệt hồ sơ vay vốn nhanh chóng, kịp thời, giải ngân đúng tiến độ, đôn độc thu vốn gốc và lãi theo như cam kết.
- Khách hàng đến với ngân hàng được hướng dẫn làm thủ tục nhanh gọn, thẩm định nhanh chóng bở đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên môn cao, nhiệt tình
- Cơ sở vật chất, khoa học công nghệ ngân hàng luôn được nâng cấp và đổi mới giúp cho những công việc giấy tờ và quản lý trở nên nhanh chóng, gọn nhẹ, chính xác tạo cho cán bộ tín dụng có nhiều thời gian tiếp xúc với khách hàng và tạo tâm lý thoải mái, tin tưởng ở khách hàng
- Doanh số cho vay tăng trưởng qua các năm. Doanh số cho vay chủ yếu là vay ngắn hạn đáp ứng nhu cầu của khách hàng là cá nhân, hộ sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ
Dư nợ tín dụng cũng tăng trưởng đều qua các năm trong đó dư nợ tín dụng ngắn hạn cũng chiếm tỷ trọng lớn. Đây là kết quả rất tốt mà ngân hàng đã đạt được cho thấy uy tín và quan hệ tín dụng của ngân hàng ngày càng mở rộng.Điều này khiến ngân hàng tránh được nhiều rủi ro nhất là rủi ro về tính thanh khoản, rủi ro lãi suất…
Tỷ lệ thu lãi ổn định, tăng dần qua các năm. Năm 2023 tỷ lệ thu lãi là 95,1%, năm 2024 là 95,4% và đến năm 2025 tăng lên 96,5%. Như vậy chứng tỏ việc đôn đốc, thu hồi lãi và thực hiện kế hoạch doanh thu của ngân hàng từ việc cho vay được thực hiện tốt.
Vòng quay vốn tín dụng của chi nhánh cũng tương đối cao. Năm 2023 là 1,21 vòng/ năm, năm 2024 là 1,20 vòng/ năm và năm 2025 là 1,35 vòng/ năm. Vòng quay vốn tín dụng càng nhanh chứng tỏ ngân hàng hoạt động càng hiệu quả và đầu tư ngày càng an toàn.
2.4.2. Những tồn tại Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
Chi nhánh vẫn chủ yếu tập trung cho vay hộ sản xuất và cá nhân, dư nợ cho vay doanh nghiệp ngoài NN còn khá thấp và ngày càng có xu hướng giảm. Do cho vay hộ sản xuất và cá nhân để phát triển nông nghiệp, kinh tế gia trại, trang trại, kinh doanh thức ăn gia súc, gia cầm…phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan như thiên tai, dịch bệnh. Vì vậy tỷ lệ rủi ro sẽ cao. Để hạn chế được rủi ro và nâng cao hiệu quả thì NH nên đa dạng hóa đối tượng cho vay.
Sự mất cân đối giữa nguồn vốn huy động và cho vay.Mặc dù nguồn vốn huy động cao nhưng dư nợ cho vay lại không cao. Tỷ lệ dư nợ / vốn huy động của ngân hàng trong 3 năm 2023- 2025 luôn < 100% và có xu hướng giảm dần. Kết quả trên cho thấy tại ngân hàng dư nợ cho vay luôn nhỏ hơn tổng nguồn vốn huy động được. Nghĩa là hoạt động cho vay của chi nhánh chưa phát huy được hiệu quả mặc dù ngân hàng đã tích cực tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy động. Đồng thời cho thấy ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động, gây lãng phí. Để hạn chế sự mất cân đối này thì ngân hàng nên đa dạng hóa đối tượng cho vay, thực hiện Marketing trong ngân hàng… để tìm kiếm các khách hàng mới.
Sự mất cân đối về kỳ hạn: Nguồn vốn ngắn hạn của chi nhánh đã đáp ứng được nhu cầu vay ngắn hạn và dư thừa. Việc dư thừa nguồn vốn gây lãng phí và đem lại hiệu quả cao cho chi nhánh dovẫn phải trả lãi cho lượng vốn dư thừa mà không thu được lãi thông qua cho vay. Bên cạnh đó thì huy động vốn trung và dài hạn của chi nhánh không đủ để đáp ứng nhu cầu vay trung và dài hạn, luôn trong tình trạng thiếu hụt khiến chi nhánh dùng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Điều này hết sức nguy hiểm và tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản mà ngân hàng không thể chủ động được.
Tỷ lệ nợ xấu tương đối cao dao động từ 2,35% đến 2,53%. Tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh không vượt quá 3% theo quy định của nhà nước tuy nhiên cũng tương đối cao so với một số chi nhánh ngân hàng trên cùng địa bàn. Điều này cho thấy việc quản trị rủi ro, siết chặt quy trình thẩm định, tăng cường kiểm tra, kiểm soát các khoản vay cũng như đôn đốc thu nợ của ngân hàng chưa được làm tốt. Ngân hàng cần thực hiện các biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ và giải quyết nợ xấu, tăng cường công tác đào tạo cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định có chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp tốt. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NH Agribank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hiệu quả họat động tín dụng tại NH Agribank


Pingback: Khóa luận: Hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Agribank