Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng về huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng trong thời gian qua này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1. Tổng quan về ngân hàng TMCP Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng.

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển.

2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ngân hàng TMCP Nam Việt

Ngân hàng TMCP Nam Việt trước đây có tên gọi là Ngân hàng TMCP nông thôn Sông Kiên, là Ngân hàng TMCP được thành lập vào ngày 18 tháng 9 năm 1995 với mức vốn điều lệ: 1.000.000.000.000 đồng ( một ngàn tỷ VND).

Ngân hàng còn nắm quyền kiểm soát toàn bộ Công ty con là Công ty TNHH Quản lý nợ và Khai thác Tài sản Nam Việt Ngân hàng, được thành lập ngày 19/12/2020 với tỷ lệ góp vốn của Ngân hàng là 100%, với mức vốn điều lệ là 50.000.000.000 đồng.

Trụ sở chính của ngân hàng đặt tại: 343 Phạm Ngũ Lão, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tên viết tắt: Navibank, địa chỉ website: http://www.navibank.com.vn

Trải qua hơn 16 năm hoạt động, ngân hàng TMCP Nam Việt – Navibank đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam thể hiện qua sự tăng trưởng ổn định, an toàn và hiệu quả trong hoạt động.

2.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.

Ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng (Navibank Hải Phòng) Chi nhánh Hải Phòng được thành lập vào ngày 6/1/2021. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

Địa chỉ chi nhánh Navibank Hải Phòng : 326 – 328 Tô Hiệu, Phường Hồ Nam, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.

Sau 05 năm có mặt tại Hải Phòng, Navibank Hải Phòng đã đạt tổng tài sản gần 1.000 tỷ đồng, mạng lưới giao dịch rộng khắp, cùng một danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng, phong phú, hiện đại và sự tín nhiệm của gần 10.000 khách hàng cá nhân và tổ chức.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng

Trong cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Nam Việt- Chi nhánh Hải Phòng, Giám đốc là người điều hành trực tiếp mọi hoạt động của Chi nhánh với sự giúp đỡ của Phó giám đốc, dưới ban giám đốc chi nhánh có là các phòng ban chức năng. Hiện nay Navibank Hải Phòng có tổng số cán bộ công nhân viên là hơn 120 cán bộ. Trong đó, cán bộ công nhân viên có trình độ đại học và tương đương chiếm 82%, có trình độ trung cấp là 12% người, có trình độ sơ cấp là 6%.

Sau đây là mô hình cơ cấu tổ chức tại chi nhánh:

  • Hình 1: Mô hình tổ chức của Navibank Hải Phòng

Cơ cấu tổ chức là một nhân tố hết sức quan trọng, tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do đó, bên cạnh việc tập trung thực hiện có hiệu quả các chiến lược kinh doanh ngân hàng cũng hết sức quan tâm đến công tác tổ chức cán bộ tạo điều kiện thu gọn bộ máy cán bộ, giảm thiểu chi phí quản lý góp phần thực hiện kế hoạch của ngân hàng

Trong đó, chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận là:

Ban giám đốc

Giám đốc

  • Điều hành chung – chỉ đạo toàn diện hoạt động kinh doanh của chi nhánh, trực tiếp phụ trách Phòng quan hệ khách hàng, Phòng tổ chức hành chính – nhân sự. Phụ trách công tác phát triển mạng lưới, công tác vốn và tài sản của chi nhánh.

Phó giám đốc Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

  • Thay mặt giám đốc điều hành các công việc trong trường hợp giám đốc đi vắng từ 01 ngày trở lên. Giúp giám đốc chi nhánh trong công tác quản trị điều hành, kịp thời báo cáo phát sinh bất thường tại chi nhánh.
  • Trực tiếp phụ trách Phòng dịch vụ khách hàng, phòng kế toán. Phụ trách và điều hành công tác báo cáo định kỳ, đột xuất với ngân hàng nhà nước.
  • Thực hiện công tác đối nội trong nội bộ chi nhánh, các quan hệ liên quan đến chính quyền và các ban ngành tại địa phương.

Khối quan hệ khách hàng

Phòng Quan hệ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp có chức năng:

  • Đóng vai trò bộ phận tiếp thị bán hàng trực tiếp
  • Thiết lập quan hệ với khách hàng
  • Khai thác quan hệ với khách hàng
  • Phát triển quan hệ với khách hàng

Khối tổng hợp

Đóng vai trò bộ phận tham mưu, có chức năng lập kế hoạch kinh doanh, triển khai các chính sách tiếp thị; tham mưu ch ban lãnh đạo trong việc ra các quyêt định về tín dụng; quản lý về tài chính, quản lý về tài chính, quản lý rủi ro, và kiểm soát nội bộ các hoạt động của Sở giao dịch, chi nhánh, đơn vị sự nghiệp.

  • Khối tác nghiệp

Huy động vốn bằng nội, ngoại tệ theo các sản phẩm huy động hiện có của Navibank cho khách hàng dân cư, doanh nghiệp, tổ chức.

  • Cung cấp dịch vụ mở, quản lý tài khoản, thanh toán trong nước.
  • Cung cấp các dịch vụ ngoại hối.
  • Phát hành thẻ và đại lý chấp nhận thẻ tại địa bàn của chi nhánh.

Đầu mối tiếp thị trực tiếp của khách hàng trên địa bàn cho chi nhánh.

  • Khối hỗ trợ kỹ thuật

Thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại Chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước và quy định của Navibank Hải Phòng. Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh của Chi nhánh, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh an toàn của Chi nhánh.

2.1.3. Các hoạt động nghiệp vụ đang có tại ngân hàng TMCP Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

Chi nhánh Hải Phòng là một trong những chi nhánh hết sức quan trọng của ngân hàng TMCP Nam Việt vì Hải Phòng là một trong những thành phố trực thuộc trung ương, tập trung đông dân cư và có nền kinh tế phát triển. Sau 5 năm thành lập tại Hải Phòng, chi nhánh tập trung vào thực hiện các nghiệp vụ sau:

  • Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn dưới các hình thức có kỳ hạn, không kỳ hạn.
  • Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn các tổ chức kinh tế và cá nhân.
  • Tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển.
  • Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác.
  • Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng
  • Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế, huy động vốn từ nước ngoài.
  • Các dịch vụ Ngân hàng khác: dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ, dịch vụ bảo lành, dịch vụ kinh doanh ngoại hối…

2.1.4. Hoạt động tại Ngân hàng TMCP Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng.

Trong những gần đây, nền kinh tế nước ta phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thử thách. Đó là do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, sự suy giảm tốc độ tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Mỹ và đặc biệt là cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu thời gian qua. Cùng với đó, xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đồng thời với việc Việt Nam gia nhập WTO đã tạo ra những cơ hội và thách thức không nhỏ đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đặc biệt trong năm 2025 với việc lạm phát trong nước ngày càng có xu hướng gia tăng đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, với sự nỗ lực và quyết tâm cao độ của Hội đồng quản trị, ban điều hành và toàn thể nhân viên, chi nhánh ngân hàng đã đang từng bước khắc phục những khó khăn, gây dựng được lòng tin nơi khách hàng, nâng cao uy tín trên thị trường. Với một hướng đi đúng đắn, liên tục trong những năm gần đây NH TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng đã có những chuyển biến tích cực trong nhiều hoạt động như hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn…Sau đây là tình hình hoạt động cụ thể tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

  • Hình 2: Sự tăng trưởng vốn huy động Navibank qua các năm.

Qua hình 2 cho thấy tình hình huy động vốn từ tiền gửi của Navibank Hải Phòng trong 3 năm qua đã tăng đáng kể từ 640.585 triệu đồng năm 2023 đã tăng lên 1.004.629 triệu đồng vào năm 2025, tăng 364.044 triệu đồng tương đương 56,83% với các hình thức sản phẩm huy động vốn đa dạng, phong phú đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Chính vì vậy lượng vốn huy động trong ngày càng tăng giúp chi nhánh giảm huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng. Điều này cho thấy uy tín của chi nhánh ngày càng tăng lên. Đạt được kết quả này là sự cố gắng lớn của tập thể cán bộ ngân hàng. Tốc độ tăng 2025 thấp hơn so với năm 2024 có thể do tình hình kinh tế cả nước năm 2025 gặp khá nhiều khó khăn. Năm 2025 đối mặt với một loạt khó khăn và thách thức: lạm phát tăng trở lại, kinh tế vĩ mô có nhiều bất ổn, lãi suất tăng cao, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh do tín dụng thu hẹp, tỷ giá có những thời điểm biến động phức tạp gây khó khăn cho ngân hàng trong công tác huy động vốn.

Hiện nay công tác quản lý tiền gửi cũng được Navibank Hải Phòng thực hiện thường xuyên, nghiêm túc tại các phòng giao dịch thông qua công tác kiểm tra của các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ. Qua đó đã khắc phục những sai sót, đảm bảo an toàn tuyệt đối nguồn tiền gửi của dân cư và các chứng từ quan trọng giúp nâng cao uy tín của ngân hàng với khách hàng.

2.1.4.2. Hoạt động sử dụng vốn.

Hoạt động sử dụng vốn là hoạt động hết sức quan trọng đối với mỗi ngân hàng thương mại, nó là hoạt động sinh lợi chủ yếu của các ngân hàng do đó, nếu biết cách sử dụng vốn một cách hợp lý thì sẽ giúp các NHTM nâng cao được hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình. Nhận biết được tầm quan trọng của hoạt động sử dụng vốn, trong những năm vừa qua Navibank Hải Phòng đã rất quan tâm, chú trọng đến hoạt động này.

  • Hoạt động cho vay tại ngân hàng.

Cho vay trong hoạt động của các ngân hàng thương mại là một quá trình tạo lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Với chức năng đi vay để cho vay nên các ngân hàng nói chung cũng Navibank Hải Phòng nói riêng phải tìm mọi cách để thu hút khách hàng như: đầu tư, phát triển các yếu tố nhằm nâng cao chất lượng của công tác tín dụng, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và an toàn vốn. Trong những năm vừa qua, do diễn biến phức tạp của nền kinh tế trong nước, hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng cũng có nhiều biến động: Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

  • Bảng 2.1: Dư nợ cho vay của Navibank Hải Phòng
  • Hình 3: Tổng dư nợ cho vay của ngân hàng qua các năm.

Trước bối cảnh nền kinh tế Việt Nam còn đang gặp khó khăn do ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế Mỹ và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu. Xu hướng toàn cầu hóa ngày càng mở rộng, vấn đề cạnh tranh càng căng thẳng hơn sau khi Việt Nam gia nhập vào WTO đã tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Qua biểu đồ trên thấy hoạt động cho vay của ngân hàng trong các năm vừa qua có sự biến động liên tục, từ năm 2023 đến năm 2024 dư nợ cho vay của ngân hàng từ 643.846 triệu đồng tăng lên 934.306 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 45,11%. Sở dĩ dư nợ cho vay tăng như vậy là do Chính phủ đưa ra các gói kích cầu nhằm khuyến khích nền kinh tế, tận dụng được cơ hội đó, ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng đã có những quyết định đúng đắn trong chiến lược kinh doanh của mình như giảm lãi suất cho vay, cung cấp các sản phẩm tín dụng đa dạng nhiều ưu đãi…để thu hút ngày càng nhiều khách hàng. Từ năm 2024 đến năm 2025 dư nợ cho vay của ngân hàng bị giảm xuống từ 934.306 triệu đồng trong năm 2024 xuống còn 871.151 triệu đồng trong năm 2025. Mặc dù đến năm 2025,doanh số cho vay của ngân hàng có giảm xuống tuy nhiên lượng giảm này không đáng kể khi lạm phát tăng cao, diễn biến phức tạp về mặt bằng lãi suất cùng với sự tăng trưởng nóng của một số kênh đầu tư nhưng rủi ro cao như vàng, ngoại tệ, bất động sản…

Để hiểu rõ hơn hoạt động cho vay tại ngân hàng, xem xét bảng kết cấu dư nợ cho vay theo loại tiền tại ngân hàng:

  • Bảng 2. 2: Kết cấu dư nợ cho vay theo loại tiền tại Navibank Hải Phòng.

Xem xét bảng kết cấu trên ta thấy, tỷ trọng dư nợ cho vay tại ngân hàng chủ yếu là các khoản cho vay nội tệ, năm 2023 dư nợ cho vay nội tệ tại ngân hàng chiếm 91.52%, năm 2024 là 87,95% và năm 2025 là 85,21%. Ngân hàng tập trung chủ yếu cho vay nội tệ là do khi cho vay ngoại tệ, ngân hàng không những phải đối phó với những rủi ro thông thường mà còn phải đối phó với rủi ro tỷ giá hối đoái, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng tài chính và nợ công hiện nay.

Hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng chủ yếu xuất phát từ 2 hoạt động cho vay chính, đó là: cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước và cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư.

  • Bảng 2.3: Cơ cấu dư nợ theo hình thức cho vay tại Navibank Hải Phòng.

Qua bảng cơ cấu dư nợ cho vay tại Navibank Hải Phòng, hoạt động cho vay của ngân hàng chủ yếu là từ cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước, các khoản cho vay này chiếm một tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu dư nợ cho vay của ngân hàng. Chi nhánh mới được thành lập nên việc ngân hàng quan tâm trước tiên đó là cho khách hàng trong nước biết đến thương hiệu của ngân hàng do đó trong những năm vừa qua chi nhánh rất chú trọng đến việc cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước. Hơn nữa, với diễn biến phức tạp của nền kinh tế hiện nay cùng với sự xuất hiện của các ngân hàng nước ngoài làm cho sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trở nên gay gắt thì Navibank Hải Phòng nên tập trung vào các hoạt động truyền thống như cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước. Để giảm thiểu rủi ro, ngân hàng nên mở rộng ra các hoạt động khác để đa dạng hóa danh mục cho vay của ngân hàng, thu hút nhiều khách hàng hơn không chỉ khách hàng trong nước mà cả khách hàng nước ngoài. Trong cơ cấu dư nợ cho vay của ngân hàng còn có hoạt động cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư, hoạt động này chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu cho vay của ngân hàng do hoạt động cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư là hoạt động mới tại ngân hàng, hoạt động cho vay chủ yếu tại ngân hàng vẫn là cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước.

Tình hình hoạt động tín dụng tại Navibank Hải Phòng thường xuyên biến động qua các năm 2023, 2024 và 2025. Năm 2024 có thể nói là năm thành công của ngân hàng trong việc mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, đến năm 2025 tuy dư nợ cho vay có bị giảm nhưng lượng giảm không phải là quá lớn. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

  • Hoạt động ngân quỹ tại ngân hàng.

Để có thể tạo niềm tin cho khách hàng đến gửi tiền, nâng cao uy tín ngân hàng thì một trong những nhân tố rất quan trọng mà mỗi ngân hàng thương mại đều phải quan tâm đó là đảm bảo khả năng thanh toán. Vì vậy, nguồn vốn mà các ngân hàng thương mại huy động được bên cạnh việc cho vay và đầu tư để thu lại được lợi nhuận thì ngân hàng phải giữ lại một phần để dự trữ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng và thực hiện các quy định dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương đề ra.

Với mục đích đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên, các NHTM nói chung và Navibank Hải Phòng nói riêng luôn dự trữ một khoản tiền dưới dạng: tiền mặt tại quỹ của ngân hàng, tiền gửi tại ngân hàng nhà nước và tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác.

  • Hình 4: Hoạt động ngân quỹ tại Navibank Hải Phòng qua các năm

Qua hình 4 trên ta thấy, ngân hàng đang ngày càng tăng các khoản tiền dự trữ, nếu như năm 2023 tổng lượng tiền dự trữ chỉ có 7.852 triệu đồng thì đến năm 2024 đã tăng lên là 10.655 triệu đồng và đến năm 2025 đã là 15.852 triệu đồng, năm 2024 so với năm 2023 đã tăng lên 35,70% còn năm 2025 so với năm 2024 thì đã tăng lên là 48,78 %. Nhận thấy ngân hàng ngày càng quan tâm hơn đến việc đảm bảo khả năng thanh toán nhằm nâng cao hơn nữa uy tín cho ngân hàng, hơn nữa trong 3 năm vừa qua lượng vốn mà ngân hàng huy động được cũng ngày càng tăng lên do đó ngân hàng cũng phải tăng lương tiền dự trữ tương ứng.

  • Bảng 2.4: Cơ cấu hoạt động ngân quỹ tại Navibank Hải Phòng.

Bảng số liệu trên đã cho thấy rõ cơ cấu các khoản tiền dự trữ của ngân hàng, trong các khoản tiền dự trữ đó thì tiền mặt, chứng từ có giá trị là khoản dự trữ chiếm tỷ trọng lớn nhất, với các khoản tiền gửi tại ngân hàng nhà nước thì 2 năm 2023 và 2024 đều chiếm tỷ trọng đứng thứ 2 nhưng đến năm 2025 thì khoản này lại chiếm tỷ trọng thấp nhất nguyên nhân có thể là do năm 2025 Ngân hàng Trung Ương giảm lượng tiền dự trữ bắt buộc đối với các NHTM nên các ngân hàng có xu hướng giảm tiền gửi ở ngân hàng nhà nước để đầu tư vào các hoạt động khác mang lại lợi nhuận cao hơn.

2.1.5. Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2023 – 2025 Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

Năm 2025 là năm có nhiều biến động kinh tế thế giới cũng như trong nước mà đặc biệt là tỷ lệ lạm phát ngày càng cao. Tuy nhiên được coi là một huyết mạch trong lưu thông tiền tệ thì các NHTM nói chung và NHTMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng nói riêng phải gánh vác nhiệm vụ hết sức khó khăn. Chi nhánh phải vừa cố gắng đáp ứng nhu cầu khách hàng trong tình hình mới vừa phải khắc phục nhứng tồn đọng cũ.Trước những khó khăn thử thách đó, ý thức được những mặt yếu, Navibank Hải Phòng luôn đề ra những phương hướng kinh doanh tích cực vừa bám sát những nhiệm vụ đề ra, vừa nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Dưới đây là bảng kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng giai đoạn 2023 – 2025:

  • Bảng 2.5 : Kết quả hoạt động kinh doanh

Qua bảng 2.5 cho thấy, lợi nhuận thuần từ HĐKD trước chi phí DPRR của Navibank Hải Phòng năm 2025 là thấp nhất. Nếu như năm 2023 chi nhánh thu được 7.459 triệu đồng thì đến năm 2024 thu được 9.448 triệu đồng, đã tăng 1.989 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 26,67%. Nhưng sang đến năm 2025 lợi nhuận thuần từ HĐKD trước chi phí DPRR chỉ đạt 4.910 triệu đồng, giảm 4.583 triệu đồng tương đương với tỷ lệ giảm là 48,03%.

Lợi nhuận đạt được chủ yếu từ hoạt động tín dụng đem lại và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận, cụ thể: Năm 2023 thu lãi vay chiếm 98,69% tổng thu nhập, năm 2024 thu lãi cho vay chiếm 98,32% tổng thu nhập, năm 2025 thu nhập từ hoạt động tín dụng tăng chiếm tỷ trọng 99,23% tổng thu nhập, còn lại là thu từ hoạt động dịch vụ. Điều này cho thấy ngoài đầu tư cho hoạt động tín dụng, ngân hàng còn mở rộng phát triển các hoạt động dịch vụ khác, giúp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng đa dạng và phong phú.

Tổng chi phí năm 2025 có cao hơn so với năm 2024 tuy nhiên bù lại chi phí DPRR tín dụng mà chi nhánh phải bỏ ra cho năm 2025 lại ít hơn rất nhiều so với năm 2024. Nếu như năm 2024 chi nhánh phải bỏ ra 8.258 triệu đồng cho khoản chi phí này thì đến năm 2025 chi nhánh chỉ phải bỏ ra 3.820 triệu đồng đã giảm đi 4.438 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 53,74%. Điều này rất có ý nghĩa đối với chi nhánh, nó chứng tỏ rằng hoạt động tín dụng của chi nhánh đang thực hiên rất có hiệu quả, đã giảm đi rất nhiều các khoản nợ có vấn đề mà Ngân hàng phải sử dụng DPRR tín dụng để bù đắp.

Năm 2024 Ngân hàng thu được lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cao hơn năm 2025 nhưng chi phí phải bỏ ra cho các khoản DPRR tín dụng là rất lớn nên kết quả tổng lợi nhuận trước thuế năm 2024 ngân hàng thu được cũng không lớn, chỉ đạt được 1.190 triệu đồng, lớn hơn năm 2025 là 100 triệu đồng. Ngược lại, tuy năm 2025 lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh mà chi nhánh thu được thấp hơn nhưng các khoản chi phí DPRR mà Ngân hàng phải bỏ ra là rất ít nên năm 2025chi nhánh đã thu được một khoản lợi nhuận trước thuế là 1.090 triệu đồng. Điều này cho ta thấy ngân hàng đã đưa ra các chính sách hợp lý và thích hợp để hoạt động có hiệu quả hơn.

2.2. Thực trạng công tác huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

2.2.1. Về quy mô, sự tăng trưởng vốn huy động

Navibank Hải Phòng đã có những thành tựu đáng kể trong công tác huy động vốn của mình, quy mô huy động vốn luôn ở mức cao thể hiện qua bảng sau:

  • Bảng 2.6 :Tổng hợp công tác huy động vốn của Navibank Hải Phòng
  • Hình 5: Sự tăng trưởng vốn huy động Navibank Hải Phòng qua các năm.

Qua bảng và biểu đồ trên cho ta thấy trong 3 năm qua nguồn vốn huy động không ngừng biến động tăng. Năm 2024, tổng nguồn vốn huy động đạt 960.084 triệu đồng, tăng 319.449 triệu đồng so với năm 2023 tương đương với tỷ lệ tăng là 49,88%. Năm 2025, tổng NVHĐ đạt 1.004.629 triệu đồng, tăng 44.545 triệu đồng so với năm 2024, với tỷ lệ tăng là 4,64%. Tỷ lệ tăng vốn huy động năm 2025 thấp hơn nhiều so với năm 2024 là do nền kinh tế nước ta năm 2025 gặp rất nhiều khó khăn: lạm phát tăng cao, nhiều doanh nghiệp và cá nhân phá sản, thị trường bất động sản đóng băng…dẫn đến huy động vốn của toàn ngành ngân hàng nói chung và Navibank nói riêng gặp không ít kho khăn. Kết quả này có được là do chi nhánh đã làm tốt công tác HĐV, chính sách khách hàng mềm dẻo, phong cách phục vụ khách hàng tốt nên đã thu hút được khối lượng khách hàng gửi tiền. Mặt khác, Navibank Hải Phòng đã tiến hành hiện đại hoá ngân hàng, đưa công nghệ thông tin hiện đại vào hoạt động. Đối với những khách hàng có nguồn vốn lớn, Ngân hàng đã sử dụng khéo léo các hình thức ưu đãi trong vận động khách hàng để đảm bảo hài hoà lợi ích cả hai bên trong quan hệ gửi và nhận vốn. Sử dụng những cán bộ có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, khéo léo trong giao tiếp để làm công tác huy động vốn.

2.2.2. Cơ cấu nguồn vốn huy động tại Navibank Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

2.2.2.1. Huy động vốn theo thời gian

Nếu như phân tích huy động vốn theo loại tiền cho chúng ta biết được sự tăng trưởng huy động vốn của đồng nội tệ, ngoại tệ và cơ cấu loại tiền huy động từ đó đưa ra giải pháp huy động vốn tốt thì khi phân tích huy động vốn theo kỳ hạn sẽ giúp đưa ra các giải pháp sử dụng vốn hiệu quả nhất.

Cơ cấu vốn huy động phân loại theo thời gian huy động vốn tại chi nhánh chia thành vốn huy động có kỳ hạn, vốn huy động không kỳ hạn, trong đó vốn huy động có kỳ hạn lại được chia thành loại có kỳ hạn dưới 12 tháng và loại có kỳ hạn trên 12 tháng. Cơ cấu này được thể hiện qua bảng sau:

  • Bảng 2.7: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo thời gian
  • Hình 6: Sơ đồ huy động vốn theo thời gian của Navibank Hải Phòng

Qua bảng cơ cấu nguồn vốn huy động theo thời gian cho thấy vốn không kỳ hạn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng nguồn vốn huy động được của Navibank Hải Phòng. Huy động vốn không kỳ hạn năm 2023 của chi nhánh là 184.937 triệu đồng, chiếm 28,87% tổng nguồn vốn. Đặc biệt sang năm 2024 vốn không kỳ hạn của chi nhánh tăng đáng kể đạt 307.995 triệu đồng tương đương tăng 66,54% so với năm 2023. Đánh giá bước tiến bộ của chi nhánh trong huy động vốn đặc biệt là huy động vốn không kỳ hạn. Năm 2025 huy động vốn không kỳ hạn của chi nhánh chỉ đạt 300.384 triệu đồng, giảm 2,47% so với năm 2024. Huy động vốn không kỳ hạn của chi nhánh luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động. Vốn không kỳ hạn là nguồn vốn tuy có biến động lớn nhưng lại mất chi phí rất thấp nên nếu huy động được nguồn vốn này lớn sẽ tạo điều kiện cho chi nhánh phát triển.

Huy động vốn kỳ hạn dưới 12 tháng (ngắn hạn): nguồn vốn này thường chiểm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh. Năm 2023 huy động vốn ngắn hạn của chi nhánh đạt 286.213 triệu đồng. Năm 2025 huy động vốn ngắn hạn của chi nhánh đạt 461.426 triệu đồng, tăng 12,32% so với năm 2024. Nhìn chung huy động vốn ngắn hạn của chi nhánh có xu hướng tăng dần qua các năm. Điều này có được là do chi nhánh bước đầu thực hiện đa dạng hóa kỳ hạn gửi và các hình thức trả lãi phong phú nên đã thu hút được lượng tiền gửi rất lớn của khách hàng.

Huy động vốn kỳ hạn trên 12 tháng (trung và dài hạn): qua bảng trên cho thấy huy động vốn trung và dài hạn cũng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng nguồn vốn của chi nhánh. Năm 2023 huy động vốn trung và dài hạn của chi nhánh là 169.435 triệu đồng. Năm 2025 huy động vốn trung và dài hạn của chi nhánh đạt 242.819 triệu đồng, tăng 0,64% so với năm 2024 trong khi đó năm 2024 là 241.269 triệu đồng. Nhìn chung huy động vốn trung và dài hạn thường có chi phí lớn nhưng lại ổn định giúp chi nhánh có được kế hoạch sử dụng vốn lâu dài. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

2.2.2.2. Huy động vốn theo loại tiền

Như đã trình bày ở chương 1 có nhiều cách phân loại các hình thức huy động vốn khác nhau tùy thuộc theo các tiêu chí và mục đích khác nhau. Huy động vốn theo loại tiền là một tiêu thức chính để các NHTM nói chung và Navibank Hải Phòng nói riêng dễ phân chia và đánh giá được tình hình huy động vốn tiền đồng và ngoại tệ của mình từ đó đưa ra chính sách huy động vốn phù hợp với từng loại tiền.

Tại Navibank Hải Phòng thì huy động vốn bằng nội tệ chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động được. Và thực tế trong những năm gần đây tỉ trọng huy động vốn bằng nội tệ luôn chiếm trên 80% tổng nguồn vốn huy động .

  • Bảng 2.8: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền của Navibank Hải Phòng

Qua bảng 2.8 trên cho thấy huy động vốn bằng đồng VND của Navibank Hải Phòng năm 2023 chỉ đạt 528.290 triệu đồng thì sang năm 2024 đã tăng 324.745 triệu đồng đạt 853.035 triệu đồng. Sang năm 2025 tổng huy động vốn bằng nội tệ của Navibank Hải Phòng đạt 845.596 triệu đồng giảm 7.439 triệu đồng so với năm 2024. Nguồn vốn huy động vốn bằng ngoại tệ cũng rất quan trọng đối với Navibank Hải Phòng. Trong giai đoạn 2023 – 2025 cho thấy huy động vốn bằng ngoại tệ của Navibank Hải Phòng có sự tăng lên về khối lượng. Tuy nhiên tỷ trọng của của nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ trong tổng nguồn vốn chưa cao. Do đó, ngân hàng cần quan tâm và có những biện pháp thực tế để tăng nguồn huy động này như điều chỉnh khung lãi suất ngoại tệ hợp lý, hoàn thiện và nâng cao các dịch vụ thu hút đồng ngoại tệ: dịch vụ kiều hối, tài trợ các hoạt động xuất nhập khẩu, kinh doanh mua bán ngoại tệ … thì sẽ đưa lại nguồn lợi nhuận cho ngân hàng.

Năm 2023 huy động vốn ngoại tệ quy đổi của chi nhánh đạt 112.295 triệu đồng chiếm 17,53% trong tổng nguồn vốn huy động. Tuy nhiên đến năm 2024 huy động vốn ngoại tệ quy đổi của chi nhánh chỉ chiếm 11,15% tổng huy động vốn, đạt 107.049 triệu đồng giảm 5.246 triệu đồng so với năm 2023. Nguyên nhân là do năm 2024 xảy ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu do đó lãi suất huy động bằng ngoại tệ (USD) giảm cùng với tâm lý hoang mang nên người dân đã chuyển một phần tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ sang tiền gửi VND hoặc mua vàng để cất trữ, đó cũng là một nguyên nhân khiến cho huy động vốn bằng ngoại tệ của chi nhánh giảm nhưng huy động vốn nội tệ lại tăng lên đáng kể. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

Mặc dù vậy thì sang năm 2025 huy động vốn bằng ngoại tệ của chi nhánh đã có bước thay đổi đáng kể. Huy động vốn bằng ngoại tệ quy đổi của chi nhánh đạt 159.033 triệu đồng tăng so với năm 2024 là 51.984 triệu đồng tương đương tăng 48,56%. Có được kết quả trên là do sang năm 2025 nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế trong nước nói riêng đã và đang dần phục hồi. Cùng với đó chi nhánh cũng quan tâm hơn đến khách hàng gửi tiền qua việc thực hiện nhiều chương trình khuyến mại thu hút khách hàng.

Nhìn chung qua bảng 2.8 cho ta thấy huy động vốn Navibank Hải Phòng tăng qua các năm. Tỷ lệ huy động vốn bằng đồng mội tệ thường chiếm trên 80% tổng nguồn vốn huy động được là một cơ cấu vốn tương đối phù hợp, giúp chi nhánh chủ động trong việc cho vay đối với từng loại tiền đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Điều đó có thể thấy rõ qua hình 8 dưới đây:

  • Hình 7: Sơ đồ huy động vốn theo loại tiền của Navibank Hải Phòng

2.2.2.3. Huy động theo đối tượng

Đối với nghiệp vụ huy động vốn, việc xác định một cách chính xác, đầy đủ và trọng tâm các nguồn hình thành nên nguồn vốn là vô cùng quan trọng. Việc phân loại nguồn vốn huy động theo đối tượng giúp cho các NHTM có những kế hoạch thúc đẩy khách hàng doanh nghiệp hay cá nhân, để phục vụ tốt cho công tác huy động vốn. Xác định được rõ điều này sẽ giúp cho các ngân hàng điều tiết được lượng vốn, hoạch định các chính sách huy động vốn, cho vay, đầu tư thu lại lợi nhuận cho ngân hàng. Nguồn vốn huy động theo đối tượng của Navibank Hải Phòng được thể hiện qua bảng dưới đây:

  • Bảng 2.9: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng

Nguồn vốn huy động từ dân cư bao gồm tiền gửi tiết kiệm và phát hành giấy tờ có giá. Trong đó, chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Nguồn vốn huy động này được coi là công cụ huy động vốn truyền thống của các NHTM, thường chiếm tỷ trọng lớn và khá ổn định trong tổng nguồn vốn. Là một ngân hàng có uy tín và truyền thống trong hoạt động huy động vốn, Navibank Hải Phòng luôn đảm bảo phục vụ khách hàng với mức lãi suất hấp dẫn nhất.

Năm 2023 nguồn vốn huy động từ dân cư đạt 631.425 triệu đồng, năm 2024 nguồn vốn huy động từ dân cư đạt 945.875 triệu đồng, chiếm 98,52 % tổng nguồn vốn, tăng 314.450 triệu đồng (tương ứng với tỷ lệ tăng 49,8%) so với năm 2023. Sang năm 2025 huy động vốn tăng thêm 44.488 triệu đồng so với năm 2024 đạt 990.363 triệu đồng.

Nguồn vốn huy động từ tổ chức luôn chiếm phần ít hơn nguồn vốn huy động từ dân cư, cao nhất là năm 2024: tỷ lệ huy động vốn từ tổ chức chiếm 1,48% tổng nguồn vốn huy động, tỷ lệ trên thấp nhất vào năm 2025: là 1,42% . Bên cạnh đó, sự tăng trưởng tiền huy động từ tổ chức mỗi năm không đều, năm 2024 tăng 55,12% so với 2023 nhưng năm 2025 lượng tiền huy động được điều chỉnh chỉ tăng thêm 0,4% so với năm 2024. Nguyên nhân của tình trạng này có thể do chính sách huy động những năm trước của Navibank chưa chú ý tới việc huy động vốn từ tổ chức và tình hình tích luỹ tiết kiệm của các tổ chức trên địa bàn chưa cao .Mặt khác đối tượng huy động vốn thuộc tổ chức kinh tế của chi nhánh chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong khi đó nguồn vốn huy động từ dân cư lại tăng mạnh và đều đặn, tỷ trọng luôn trên 90% tổng nguồn vốn huy động. Điều này thể hiện thế mạnh của việc tập trung huy động vốn từ dân cư của chi nhánh.

Vì vậy, ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng cần phải chú trọng nâng cao các loại tiền gửi từ các TCKT, vì các tổ chức kinh tế chủ yếu gửi các khoản tiền vào ngân hàng để hưởng các dịch vụ thanh toán, chuyển khoản, thu và chi khi mua bán hàng hóa, dịch vụ với các tổ chức kinh tế khác. Khoản tiền này bao gồm cả tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. Tuy nhiên tiền gửi không kỳ hạn vẫn chiếm ưu thế, đây là loại tiền gửi có chi phí đầu vào tương đối rẻ và ổn định vì các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng với mục đích để thuận tiện hơn trong giao dịch chứ không phải với mục đích hưởng lãi như tiền gửi dân cư.

Qua phân tích ta có thể thấy cơ cấu nguồn vốn phân theo đối tượng của Navibank Hải Phòng còn nhiều hạn chế. Vì vậy ngân hàng cần chú trọng tới việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn để thu hút các đối tượng khách hàng khi mà ngày nay có rất nhiều các hình thức đầu tư được mở như chứng khoán, vàng, đất đai…khiến việc huy động vốn của ngân hàng gặp nhiều khó khăn.

2.2.3. Mối quan hệ giữa huy động vốn và cho vay Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

2.2.3.1. Chi phí và lãi suất huy động vốn

Chi phí và lãi suất huy động vốn là chỉ tiêu quan trọng để xác định kết quả kinh doanh. Một nguồn vốn được coi là hiệu quả khi nó đáp ứng đủ hai điều kiện:

  • Thứ nhất: quy mô và cơ cấu vốn đáp ứng được các nhu cầu kinh doanh của ngân hàng.
  • Thứ hai: chi phí nguồn vốn phải ở mức chấp nhận được

Trong hai điều kiện trên thì điều kiện thứ hai được các NHTM quan tâm hơn cả khi tiến hành huy động vốn, bởi vì nó quyết định trực tiếp tới phương thức sử dụng vốn và đặc biệt là lợi nhuận kinh doanh của NHTM. Chi phí huy động vốn là toàn bộ số tiền mà NHTM bỏ ra để có được quyền sử dụng vốn huy động, thông thường nó bao gồm các khoản như: chi phí trả lãi tiền gửi; chi phí về cơ sở vật chất kỹ thuật; chi phí giao dịch … nhưng trong đó chủ yếu vẫn là chi phí trả lãi.

  • Bảng 2.10: Chi phí huy động vốn của Navibank Hải Phòng

Tỷ lệ giữa chi phí trả lãi và tổng nguồn vốn huy động giai đoạn 2023-2025 có sự tăng lên đáng kể, cụ thể: năm 2023 là 8,8%, năm 2024 là 9,71%, năm 2025 là 14,50%. Điều này là do sự biến động lên xuống của lãi suất thị trường sự, biến động của tổng nguồn vốn huy động và biến động không đều của các thành phần vốn trong tổng nguồn vốn huy động được của Chi nhánh. Vì vậy, việc xác định chi phí trả lãi là một điều cần thiết, giúp ngân hàng có các chiến lược và kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn, giúp ngân huy động được nhiều vốn hơn với chi phí huy động vốn thấp nhất.

Lãi suất là một trong những công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước và là yếu tố giữ vị trí quan trọng trong hoạt động của NHTM. Khi phân tích chi phí huy động vốn người ta thường nhắc đến yếu tố lãi suất, đặc biệt là huy động bằng tiền gửi hay phát hành giấy tờ có giá. Nó trực tiếp ảnh hưởng đến sự biến động của khối lượng vốn huy động cũng như tốc độ nhu cầu vay vốn và từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM. Chính vì vậy trong thời gian qua ngân hàng TMCP Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng đã liên tục đưa ra một mức lãi suất thích hợp trong từng thời kỳ. Tuy nhiên lãi suất như nào được gọi là thích hợp thì còn phải tính toán đến nhiều yếu tố như: lãi suất cho vay, lãi suất cơ bản NHNN quy định, và căn cứ vào chiến lược kinh doanh của Hội sở Navibank. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

  • Bảng 2.11: Chênh lệch lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra của Navibank Hải Phòng

Hiện nay Navibank Hải Phòng vẫn sử dụng chủ yếu phương pháp chi phí bình quân. Quan sát bảng số liệu ta thấy chi nhánh vẫn duy trì được mức chênh lệch lãi suất dương cả lãi suất đồng nội tệ và lãi suất đông ngoại tệ, cụ thể :

  • Năm 2023: Mức chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay bằng VND là 4,3%, mức chênh lệch này bằng USD là 1,5%.
  • Năm 2024: Mức chênh lệch này bằng VND là 4,6%, tăng 0,3% so với năm 2023. Còn mức chênh lệch này bằng USD là 3,5%, tăng 2% so với 2023
  • Năm 2025: Mức chênh lệch này bằng VND là 6,9% tăng 2,3% so với năm 2024. Còn mức chênh lệch này bằng USD là 3% giảm đi 0,5% so với 2024

Nhận thấy mức chênh lệch giữa lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra bằng đồng nội tê vẫn dương và tăng đều qua các năm.

Trong một vài năm gần đây để tăng cường lượng vốn huy động, thu hút khách hàng, đẩy mạnh công cuộc đầu tư cho vay vào nền kinh tế cũng như tăng cường sức cạnh tranh thì các ngân hàng đã liên tục điểu chỉnh mức lãi suất huy động của mình khá nhanh nhậy và linh hoạt. Điều này đã phản ánh kịp thời những biến động lên xuống thất thường trên thị trường tiền tệ và từ đó giúp Navibank Hải Phòng có được những điều chỉnh kịp thời về cơ cấu nguồn vốn huy động, tạo sự phù hợp giữa cơ cấu vốn huy động và cơ cấu vốn đầu tư cho vay. Thế nhưng với cơ cấu lãi suất linh hoạt này lại gây không ít khó khăn cho khách hàng đến gửi tiền vì tiền gửi sau một thời gian ngắn lãi suất đã thay đổi.

Để tạo điều kiện huy động vốn của mình hoạt động có hiệu quả cũng như giảm thiểu rủi ro và khó khăn của khách hàng, trong 3 năm qua Hội sở Navibank đã nhiều lần tổ chức tăng (giảm) lãi suất huy động một cách hợp lý trên quy mô rộng trên dựa cơ sở sự cân bằng cung cầu trên thị trường tiền tệ. Đây là điều mà không phải ngân hàng nào cũng làm ngay được. Vì là một chi nhánh trực thuộc nên lãi suất huy động của Navibank Hải Phòng chịu nhiều ảnh hưởng của chính sách huy động vốn của Hội sở Navibank. Tuy nhiên để linh hoạt trong hoạt động huy động vốn của mình Navibank Hải Phòng cũng đưa ra một số biện pháp riêng để tăng cường huy động vốn phù hợp với môi trường cạnh tranh tại địa phương như trích một phần kinh phí tặng quà cho khách hàng VIP, khách hàng thân thiết gửi tiền tại chi nhánh của mình nhân dịp sinh nhật. Chính từ điều tưởng chừng rất nhỏ ấy nhưng lại nhânh được phản ứng rất tốt từ phía khách hàng.vì với ngân hàng Nam Việt thì khách hàng cũng như những thành viên trong một gia đình. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

2.2.3.2. Sự phù hợp giữa vốn huy động và vốn sử dụng theo kỳ hạn

Một ngân hàng hay một chi nhánh ngân hàng được coi là sử dụng vốn có hiệu quả khi nguồn vốn huy động phải phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn hay nói cách khác là phù hợp với thời gian sử dụng vốn. Tính cân đối giữa kỳ hạn huy động và kỳ hạn cho vay ra có đảm bảo không cũng là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn. Nếu dùng nhiều vốn huy động ngắn hạn mà cho vay dài hạn thì sẽ có nhiều rủi ro như mất khả năng thanh toán, và về mặt kinh tế chưa chắc đã hiệu quả vì huy động vốn ngắn hạn phải có dự trữ bắt buộc mà khoản này không sinh lời trong khi huy động vốn dài hạn thì không phải dự trữ bắt buộc mà có thể sử dụng 100% vốn huy động được.

Trong thực tế, sự tăng trưởng liên tục về quy mô cũng như về cơ cấu nguồn vốn nói chung và nguồn vốn huy động nói riêng vẫn chưa hoàn toàn có thể đánh giá công tác huy động vốn tại NHTM là có hiệu quả. Thật vậy, nếu như NHTM huy động vốn nhiều mà sử dụng ít thì ắt sẽ dẫn tới tình trạng ứ đọng vốn.

Ngược lại, nếu HĐV được ít mà nhu cầu sử dụng vốn lại nhiều thì xảy ra rủi ro với NHTM càng lớn hơn, khi đó NHTM sẽ dần dần bị mất khách hàng và để hạn chế ngân hàng buộc phải tìm đến những khoản vay với lãi suất cao như: vay các tổ chức tín dụng hoăc vay các NHTM khác… Như vậy, ngay cả khi ngân hàng huy động được nhiều vốn thì hiệu quả kinh doanh vẫn chưa chắc sẽ cao, và để đạt được hiệu quả cao thì biện pháp duy nhất mà các NHTM phải làm đó là kết hợp một cách hài hòa giữa nguồn vốn huy động và khả năng cho vay.

Đối với việc đáp ứng nhu cầu đầu tư cho vay ngắn hạn, trong những năm gần đây cho thấy chi nhánh luôn đáp ứng được nhu cầu cho vay đối với các khoản vay này do phần lớn vốn huy động của chi nhánh là nguồn vốn ngắn hạn.

  • Bảng 2.12: Vốn huy động và cho vay ngắn hạn
  • Hình 8: Tình hình huy động và cho vay ngắn hạn

Qua bảng 2.12 cho thấy nhìn chung huy động vốn ngắn hạn của chi nhánh luôn đáp ứng nhu cầu cho vay ngắn hạn và luôn ở mức an toàn. Với sự dồi dào nguồn vốn ngắn hạn cho phép NHTM CP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng tránh được rủi ro trong thanh khoản khi khách hàng có nhu cầu rút tiền đột xuất, đảm bảo thực hiện các dịch vụ của ngân hàng, nó cũng cho phép ngân hàng dễ dàng chuyển đổi một phần nguồn vốn này để cho vay trung, dài hạn, tạo điều kiện cho ngân hàng thay đổi kết cấu dư nợ: từ chỗ chỉ tập trung cho các đơn vị quốc doanh đến việc phục vụ cho tất cả các thành phần kinh tế.

  • Bảng 2.13 : Vốn huy động và cho vay trung dài hạn
  • Hình 9: Tình hình huy động và cho vay vốn trung và dài hạn

Qua bảng 2.13 cho thấy nguồn huy động dài hạn của chi nhánh không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay dài hạn. Chính vì vậy Navibank Hải Phòng phải sử dụng một phần vốn huy động được từ ngắn hạn để cho vay dài hạn. Tuy nhiên việc này cũng có mặt tích cực và hạn chế. Mặt tích cực là dùng vốn huy động ngắn hạn để cho vay dài hạn sẽ tiết kiệm được một phần chi phí do huy động vốn ngắn hạn thường có lãi suất thấp nhưng cho vay trung dài hạn thường có lãi suất cao hơn cho vay ngắn hạn, tuy nhiên lại mang lại rủi ro cho chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

Tóm lại, việc huy động và sử dụng vốn của NHTMCP Nam Việt chưa thực sự hợp lý: huy động vốn tăng nhưng chủ yếu là huy động vốn ngắn hạn, huy động vốn trung dài hạn có tăng về cơ cấu, qui mô nhưng còn chiếm tỷ lệ nhỏ. Về sử dụng vốn: qui mô, tỷ trọng cho vay ngắn hạn ít và trung dài hạn nhiều. Điều này buộc ngân hàng phải chuyển hoán một phần lớn nguồn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn. Nếu việc quản trị danh mục tài sản, nguồn vốn không tốt thì ngân hàng phải đối đầu với nhiều loại rủi ro. Như vậy, hiệu quả công tác huy động vốn chưa cao.

2.3. Đánh giá hiệu quả huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.

2.3.1. Những kết quả đạt được

Căn cứ vào các chỉ tiêu đã phân tích ở trên ta thấy hiệu quả hoạt động huy động vốn của Navibank Hải Phòng trong thời gian qua tương đối cao. Điều này thể hiện qua các kết quả đạt được cụ thể như sau:

2.3.1.1. Vốn huy động tăng trưởng ổn định và hiệu quả

Huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội từ các tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân cư là một trong những hoạt động chủ yếu của NHTM. Huy động vốn tạo nên nguồn lực để ngân hàng cho vay và đầu tư ra. Một ngân hàng mạnh, phát triển bền và vững là một ngân hàng có nguồn vốn lớn, phát triển ổn định và hiệu quả. Do vậy, hoạt động kinh doanh của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của công tác huy động vốn. Nhận thức được điều này nên Ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng đã rất quan tâm tập trung nguồn lực vào công tác huy động vốn. Khối lượng huy động vốn của chi nhánh tăng lên qua các năm

Qua số liệu thống kê của Navibank Hải Phòng ba năm trở lại đây, ta thấy chi nhánh đã biết phát huy năng lực của mình cũng như các ưu thế hiện có được để huy động vốn có hiệu quả, thể hiện ở chỗ nguồn vốn huy động năm sau luôn cao hơn năm trứơc và tăng trưởng ổn định. Sự tăng trưởng về nguồn vốn được thể hiện ở cả hình thức lẫn kỳ hạn nguồn vốn hết sức phong phú và đa dạng. Nguồn vốn huy động qua các năm tạo điều kiện thuận lợi cho chi nhánh thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư. Với tỷ trọng nguồn tiền gửi lớn hơn nguồn tiền cho vay nên đã giúp Navibank Hải Phòng chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, nguồn tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng lớn tạo điều kiện giúp chi nhánh chủ động được nguồn vốn, giảm chi phí đầu vào, mặt khác giúp chi nhánh mở rộng các dịch vụ liên quan đến ngân hàng như tập trung phát triển thẻ, triển khai trả lương qua tài khoản cho các doanh nghiệp là bạn hàng của ngân hàng trên địa bàn.

2.3.1.2. Ngân hàng đã hiện đại hoá giao dịch ngân hàng: Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

Hiện nay tất cả các phòng ban của Ngân hàng đều được trang bị máy vi tính, góp phần hiện đại hoá hoạt động ngân hàng. Riêng phòng kế toán và ngân quĩ đảm nhiệm chức năng quản lý nguồn vốn của Ngân hàng thì việc áp dụng công nghệ hiện đại đã giảm nhẹ rất nhiều công việc, mọi giao dịch đều thông qua máy và việc quản lý nguồn vốn huy động cũng chính xác hơn, đơn giản hơn, góp phần vào hiệu quả công tác huy động vốn.

Chi nhánh luôn làm tốt công tác thu chi tiền mặt và thanh toán nhanh nhạy, an toàn, chính xác theo đúng yêu cầu của các đơn vị kinh tế và nhân dân. Chi nhánh đã có nhiều biện pháp tích cực cải tiến quy trình nghiệp vụ, đổi mới tác phong giao dịch. Điều đó đã góp phần đưa tốc độ phát triển nguồn vốn huy động của Navibank Hải Phòng ngày một tăng cao.

Trong công tác huy động vốn Chi nhánh đã có nhiều biện pháp tổ chức thực hiện các mục tiêu chiến lược khách hàng như khuyến khích khách hàng bằng lợi ích vật chất, bằng cách tặng quà cho cho khách hàng đến gửi tiền (tiết kiệm dự thưởng).

2.3.1.3. Đội ngũ cán bộ nhân viên ngày một lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng

Trong thời gian qua số lượng cán bộ công nhân viên của Navibank Hải Phòng đã tăng lên đáng kể. Có được sự lớn mạnh đó là do uy tín và niềm tin của cán bộ nhân viên vào sự lãnh đạo của lãnh đạo chi nhánh. Với sự đoàn kết thống nhất của cán bộ công nhân viên, tuổi đời còn tương đối trẻ có trình độ nghiệp vụ vững chắc, nhiệt tình công tác, có khả năng nhanh chóng tiếp cận các ứng dụng hiện đại nhất trong lĩnh vực ngân hàng tiền tệ, cùng việc điều hành kinh doanh ngày càng khoa học và thống nhất đã tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung cũng như hoạt động huy động vốn của ngân hàng nói riêng.

2.3.2. Hạn chế Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện chính sách huy động vốn của Navibank Hải Phòng cũng gặp phải một số trở ngại, khó khăn có ảnh hưởng hạn chế đến kết quả hoạt động và vị trí, vai trò của Chi nhánh.

Thứ nhất, mặc dù quy mô huy động vốn tăng nhưng tăng chưa đều. Nền tảng nguồn vốn chưa thực sự vững chắc do vẫn phụ thuộc nhiều vào khách hàng gửi tiền với số lượng lớn, nguồn huy động từ dân cư còn tăng chậm. Vốn huy động của chi nhánh tăng lên qua các năm chủ yếu là do chi nhánh đã huy động được nguồn tiền gửi từ khách hàng tiềm năng với khối lượng lớn. Chính vì vậy tạo ra sự phụ thuộc vào nguồn tiền gửi của những khách hàng này, chỉ cần họ có thay đổi nhu cầu gửi tiền là sẽ ảnh hưởng đến nguồn vốn của chi nhánh.

Thứ hai, công tác huy động vốn chưa thực sự gắn với việc sử dụng vốn. Trong những năm qua, việc huy động vốn của NHTMCP Nam Việt bị mất cân đối về kỳ hạn. Trong khi dư thừa nguồn ngắn hạn thì nguồn vốn huy động trung và dài hạn vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh trung, dài hạn của ngân hàng. Việc chuyển hoán nguồn để đầu tư, cho vay trung, dài hạn còn hạn chế vì để làm điều này ngân hàng có thể phải đối mặt với rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản.

Thứ ba, một số sản phẩm của ngân hàng chưa thực sự phát huy tác dụng thu thu hút vốn khi không tạo được sự khác biệt nổi trội để tăng khả năng cạnh tranh của mình. Sản phẩm huy động chủ yếu của chi nhánh vẫn chỉ là huy động tiết kiệm thông qua nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư. Một số sản phẩm mới như tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm theo thời gian thực gửi chưa thực sự thu hút được chú ý của khách hàng.

Thứ tư, đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác huy động vốn còn hạn chế về trình độ và ngoại ngữ. Khách hàng nước ngoài có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng ngày càng tăng nhưng trình độ ngoại ngữ của cán bộ ngân hàng chưa cao, chưa đáp ứng hết nhu cầu của khách hàng. Tác phong phục vụ khách hàng chưa thật nhiệt tình nên chưa tạo được ấn tượng tốt với khách hàng, nhất là trong môi trường các ngân hàng cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì phong cách phục vụ tốt sẽ là một yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng.

Thứ năm, công nghệ ngân hàng liên tục đổi mới và hoàn thiện song vẫn còn hạn chế. Đôi lúc mạng của chi nhánh bị lỗi gây nên khó khăn cho khách hàng trong việc phải chờ. Trang thiết bị của chi nhánh chưa thực sự hiện đại và cần đổi mới.

Thứ sáu, công tác Marketing của chi nhánh tuy đã được chú trọng và là công tác trọng tâm của ngân hàng trong điều kiện gay gắt nhưng vẫn chưa được thực hiện theo một chính sách nhất quán. Từng bộ phận, từng cán bộ vẫn chưa ý thức được hết tầm quan trọng của công tác này, nhận thức còn đơn giản nên trong phối hợp thực hiện vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn. Tuy ngân hàng đã chủ động tìm đến khách hàng nhưng do môi trường cạnh tranh quyết liệt, do điều kiện và phương pháp tiếp cận chưa phù hợp nên hiệu quả chưa cao. Công tác thu thập thông tin về thị trường, về nhu cầu khách hàng, về đối thủ cạnh tranh còn hạn chế do vậy mà thiếu thông tin phản hồi để có những điều chỉnh kịp thời.

2.3.3. Nguyên nhân

  • Sở dĩ có các hạn chế trên là do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

2.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

Thứ nhất, các sản phẩm huy động vốn còn đơn điệu, chưa đa dạng và tiện ích cho khách hàng. Mặc dù chi nhánh đã có nhiều cố gắng trong công tác huy động vốn nhưng hình thức cũng như kỳ hạn huy động vốn chưa thực sự phong phú, còn đơn điệu và mang tính cổ truyền chưa đáp ứng được hết nhu cầu gửi tiền của khách hàng. Hình thức huy động của Navibank Hải Phòng đang áp dụng hiện nay vẫn chỉ là tiền gửi tiết kiệm thông thường và tiền gửi doanh nghiệp. Hình thức huy động chứng chỉ tiền gửi và tiết kiệm theo thời gian thực gửi tuy được xem là hình thức huy động vốn năng động đáp ứng nhanh nhậy cho nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của chi nhánh nhưng chỉ chiểm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn và không được sử dụng thường xuyên.

Thứ hai, chi nhánh bị mất cân đối về kỳ hạn huy động, cơ cấu vốn huy động chưa thực sự cân xứng và phù hợp với cơ cấu sử dụng vốn về kỳ hạn. Chính sách huy động vốn của chi nhánh chưa được xây dựng gắn kết với chính sách sử dụng vốn. Chi nhánh thường chỉ đưa ra các chỉ tiêu về tăng trưởng về sử dụng vốn mà ít đề cập đến việc huy động các nguồn vốn sao cho thích hợp với từng loại nhu cầu. Kết quả trong nhiều trường hợp vốn huy động không cho vay và đầu tư được dẫn đến khả năng sinh lời thấp của chi nhánh.

Thứ ba, các hoạt động marketing chưa được triển khai đồng loạt và mạnh mẽ. Mặc dù Navibank Hải Phòng đã tiến hành các Chiến dịch quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm mới đến cho khách hàng dưới hình thức như: Tặng quà cho khách hàng nhân dịp khuyến mại chung của Navibank, tổ chức Hội nghị khách hàng, gọi điện hỏi thăm khách hàng Nhưng những hoạt động này chỉ mang tính chất lẻ tẻ chưa có chính sách hay kế hoạch lâu dài nên kết quả thu được không cao như mong muốn. Ngoài các hoạt động marketing chung của hệ thống thì Navibank Hải Phòng cũng ít triển khai các hoạt động quảng bá sản phẩm và hình ảnh của mình trên đài phát thanh và truyền hình địa phương.

Thứ tư, các biện pháp bổ trợ cho công tác huy động vốn còn nhiều hạn chế. Điều kiện làm việc của cán bộ công nhân viên còn chưa thuận lợi, địa điểm làm việc còn chật hẹp, trang thiết bị kỹ thuật chưa thực sự hiện đại và cần phải đổi mới thêm. Navibank Hải Phòng chưa đưa ra được biện pháp khuyến khích nhân viên trong toàn chi nhánh tham gia huy động vốn mà chỉ giao chung chung cho các phòng ban gây ra hiện tượng mọi người đều thấy có trách nhiệm huy động vốn nhưng không biết phải huy động bao nhiêu đạt chỉ tiêu và cũng không có chế độ khuyến khích khiến nhiều nhân viên có tâm lý huy động vốn được càng tốt mà không huy động được cũng không sao.Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

Thứ năm, về trình độ đội ngũ cán bộ, tuy công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ để nâng cao trình độ chuyên môn cũng như kỹ năng nghiệp vụ luôn được Chi nhánh chú trọng quan tâm nhưng đến nay vẫn chưa đồng bộ. Do đó, hiệu quả của công tác xác định nhu cầu sử dụng vốn và xây dựng chính sách, kế hoạch huy động vốn chưa cao. Chi nhánh không thường xuyên tổ chức các lớp học trao dồi nghiệp vụ, cập nhật chính sách cũng như các sản phẩm mới tiện ích cho khách hàng tạo sức ỳ lớn cho cán bộ nhân viên. Bên cạnh đó, cán bộ nhân viên trẻ, năng động, đào tạo bài bản nhưng do tuổi đời còn trẻ nên đội ngũ nhân sự này không tránh khỏi việc thiếu kinh nghiệm chuyên môn lẫn thực tế.

2.3.3.2. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, môi trường kinh tế – xã hội có nhiều biến động: Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng có nhiều diễn biến phức tạp không có lợi cho hoạt động ngân hàng. Bước sang năm 2023, tình hình kinh tế không mấy sáng sủa. Tốc độ tăng trưởng kinh tế có biểu hiện chậm lại, lạm phát tiếp tục tăng cao vượt xa dự báo của cơ quan chức năng. Cùng với đó là thị trường tài chính, tiền tệ có nhiều biến động. NHNN thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt (tăng dự trữ bắt buộc, khống chế dư nợ của các ngân hàng, lãi suất cơ bản biến động liên tục từ năm 2022 đến năm 2023 từ 8.75% đến 12% đến 14% rồi giảm xuống 7% lại tăng lên 8%). Đồng đô la Mỹ tăng giá liên tục làm thị trường ngoại hối khan hiếm đô la Mỹ nghiêm trọng dẫn đến tình trạng ngừng trệ các hoạt động thanh toán nước ngoài. Các doanh nghiệp thì mất thêm khoản Chi phí khá lớn để mua đô la Mỹ thanh toán đúng thời hạn nếu không sẽ bị phạt hợp đồng. Sang năm 2024 tình hình kinh tế cũng được cải thiện nhưng không đáng kể: lạm phát tăng cao, giá vàng và giá USD biến động thất thườngđã ảnh hưởng đến tâm lý người dân trong việc cân nhắc sử dụng khoản tiền nhàn rỗi của mình đồng thời cũng ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của hệ thống tài chính, tín dụng cả nước nói chung và hoạt động tín dụng của Chi nhánh nói riêng, đặc biệt là các khoản vay bằng USD.

Thứ hai, Xu thế hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế của khu vực và trên thế giới, đã tạo nhiều cơ hội cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Song bên cạnh đó các ngân hàng cũng phải đối phó sự ra đời và nhập cuộc của các ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, quá trình mở rộng của các ngân hàng trong nước, một phần tạo sự phát triển của hệ thống tài chính ở Việt Nam, nhưng mặt khác tạo ra sự cạnh tranh sâu sắc giữa các ngân hàng, nguồn vốn trong xã hội bị chia sẻ, dòng vốn sẽ chảy mạnh vào những ngân hàng có uy tín, có sản phẩm dịch vụ đa dạng, phong phú,có công nghệ hiện đại… và tất yếu sẽ xảy ra tình trạng có ngân hàng phát triển đi lên, và tất nhiên cũng có những ngân hàng bị buộc phải phá sản. Các ngân hàng TMCP liên tục khai trương các chi nhánh, phòng giao dịch và tổ chức nhiều đợt khuyến mại, quảng cáo, liên tục tung ra các chiến dịch nhằm thu hút vốn. Trong quá trình cạnh tranh để giữ và mở rộng thị phần, thu hút được vốn, các tổ chức này đua nhau tăng lãi suất huy động không dựa trên cơ sở cung cầu về vốn làm cho mặt bằng lãi suất trên thị trường tăng lên, gây khó khăn cho công tác tìm kiếm nguồn vốn huy động rẻ. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

Thứ ba, sự phát triển vượt bậc của thị trường tài chính như con dao hai lưỡi. Một mặt nó thúc đẩy hoạt động huy động vốn của NHTM qua việc tăng khả năng thanh khoản cho các loại giấy tờ có giá, một mặt nó thu hút huy động vốn đầu tư trung dài hạn trong xã hội vào đó làm cho lượng vốn huy động này của ngân hàng giảm sút gây khó khăn cho việc mở rộng tín dụng trung, dài hạn của NHTM.

Thứ tư, diễn biến lãi suất huy động và lãi suất cho vay trên thị trường biến động liên tục và không thuận lợi cho Ngân hàng. Do có nhiều ngân hàng vẫn không tuân thủ theo điều hành lãi suất cơ bản của NHNN, không ngừng nâng lãi suất huy động để thu hút khách hàng đó tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Điều đó đã làm Navibank Hải Phòng mất một lượng lớn các khách hàng gửi tiền truyền thống.

Thứ năm, hệ thống pháp luật còn chưa đầy đủ, thiếu tính đồng bộ và nhất quán, chưa theo kip với thực tế đầy sinh động trong hoạt động kinh tế, còn nhiều bất cập so với yêu cầu hội nhập kinh tế ngân hàng. Văn bản NHNN ban hành trong thời gian ngắn vẫn phải sửa đổi, bổ sung. Tính thiếu minh bạch của thông tin, đặc biệt là các quy định về tài chính, kế toán, hợp đồng lao động, hợp đồng tín dụng và các chế tài kinh tế khác gây nhiều khó khăn cho các ngân hàng, nhất là khi khả năng thực thi của pháp luật còn chưa cao.

Thứ sáu, tâm lý người dân vẫn ưa chuộng sử dụng tiền mặt. Nhất là trong giai đoạn mà lạm phát cao, họ giữ tiền mặt để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu. Những tiện ích về dịch vụ ngân hàng bán lẻ nhất là dịch vụ thanh toán bằng thẻ hầu như còn xa lạ với các tầng lớp dân cư.

Tóm lại, hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân hàng TMCP Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng tuy đã đạt được một số những kết quả đáng kể song vẫn còn tồn tại , hạn chế nhất định góp phần làm giảm hiệu quả kinh doanh của chi nhánh nói chung và hiệu quả huy động vốn nói riêng. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cấp thiết với Navibank Hải Phòng trong thời gian tới là phải đưa ra các giải pháp đồng bộ và có tính khả thi cao để khắc phuc những tồn tại trên nhằm nâng cao hơn nữa hoạt động huy động vốn. Có như vậy, Navibank Hải Phòng mới đáp ứng được yêu cầu ngày một tăng lên của nền kinh tế thị trường và vững vàng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp huy động vốn tiền gửi tại NH Navibank

One thought on “Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tiền gửi của NH Navibank

  1. Pingback: Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tiền gửi tại NH Navibank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537