Luận văn: Biện pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức Việt Nam

Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam là một chủ đề hot thuộc chuyên ngành Quản trị kinh doanh. Tình hình, nhiệm vụ mới đòi hỏi người cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước, không chỉ ở cấp Trung ương mà cả cấp địa phương cần phải có đủ năng lực, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ và tốt về phẩm chất chính trị mới có thể đưa đất nước ta vượt qua những thách thức và khó khăn, tiến lên con đường XHCN mà Đảng và Nhà nước đã lựa chọn. Dưới đây là đề tài luận văn Một số biện pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, mời các bạn đọc giả tham khảo và cảm nhận!

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trong giai đoạn Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Song song với quá trình đó là sự phát triển không ngừng về kinh tế – xã hội, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đời sống người dân ngày càng được nâng cao. Quá trình đó tạo cho đất nước những cơ hội lớn, bên cạnh đó cũng có những thách thức không nhỏ mà chúng ta cần phải cố gắng để vượt qua.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, vì họ là người đưa những chính sách của Đảng và Nhà nước giải thích cho người dân hiểu và thi hành; đồng thời thông tin về tình hình đời sống của nhân dân đến với Đảng, Nhà nước được nắm rõ hơn để đặt chính sách cho đúng, khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do cách tổ chức công việc, do nơi lựa chọn cán bộ, do nơi kiểm tra”, nếu ba điểm ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích. Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII của Đảng về chiến lược phát triển cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp tục khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”.

Cán bộ, công chức nước ta là lực lượng nòng cốt của Bộ máy hành chính nhà nước, giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng; cán bộ, công chức là công bộc của dân, là người thực thi những chính sách của nhà nước, là người đại diện cho quyền lợi của nhân dân.

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều mối quan hệ đã được thiết lập làm gia tăng khối lượng các vấn đề, các công việc cần nghiên cứu, giải quyết. Cán bộ, công chức là những người đóng góp sức mình vào công cuộc phát triển đất nước, đặc biệt là phát triển kinh tế – xã hội. Muốn được như vậy thì người cán bộ, công chức phải không ngừng học hỏi, trao đổi các kiến thức, phát huy nội lực của bản thân để tạo sức mạnh cho tập thể.

Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ chủ trương: Xây dựng cán bộ, công chức các cấp từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân, cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, đổi mới, trẻ hóa cán bộ, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Các chính sách của nhà nước được ban hành và tổ chức thực hiện như: Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2003; Luật Cán bộ, công chức năm 2008…Đến nay, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần xây dựng cán bộ, công chức cấp huyện ngày càng chuẩn hóa.

Với huyện Thủy Nguyên, trong thời gian qua phần lớn cán bộ, công chức đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng địa phương. Tuy nhiên, năng lực làm việc của một bộ phận cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu trong công cuộc đổi mới dẫn đến nhiều bất cập trong công tác quản lý cũng như trách nhiệm phục vụ nhân dân. Một số phòng, ban, đơn vị còn tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu” trong chuyên môn đào tạo, trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là ý thức, thái độ, trách nhiệm trong giao tiếp. Nhiều vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài của nhân dân qua kiểm tra, xử lý cho thấy, hầu hết có sự vi phạm của cán bộ, công chức.

Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng” để làm đề tài nghiên cứu.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích những lý luận và đánh giá thực trạng năng lực cán bộ, công chức, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cán bộ, công chức cơ quan UBND huyện Thủy Nguyên giai đoạn 2018 – 2025.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực của cán bộ, công chức tại cơ quan hành chính nhà nước.
  • Phân tích thực trạng năng lực cán bộ, công chức UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 –
  • Đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018 –

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

  • Đối tượng nghiên cứu: là cán bộ, công chức tại cơ quan UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Cán bộ: Bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND huyện; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND huyện; Trưởng, Phó các phòng chuyên môn.

Công chức: Bao gồm Chuyên viên các phòng: Tài chính – Kế hoạch, Nội vụ, Tư pháp, Thanh tra huyện, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn hóa và Thông tin, Giáo dục và Đào tạo, Phòng Y tế, Lao động Thương binh và xã hội, Kinh Tế và Hạ tầng, Văn phòng HĐND và UBND huyện (không bao gồm công chức lãnh đạo, quản lý làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập).

  • Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá năng lực của cán bộ, công chức tại UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nhằm đề ra một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

+ Về địa bàn nghiên cứu: Do thời gian và điều kiện cũng như năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi cơ quan UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng thông qua những điều tra được tiến hành với cả lãnh đạo cơ quan và toàn bộ cán bộ, công chức tại cơ quan UBND huyện Thủy Nguyên.

+ Thời gian nghiên cứu: Phân tích thực trạng và đánh giá năng lực cán bộ, công chức UBND huyện giai đoạn 2012 – 2016.

4. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

  • Phương pháp cụ thể ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

Để thu thập thông tin phục vụ cho mục đích nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp sau đây:

  • Phương pháp khảo cứu tài liệu

Tác giả nghiên cứu một số tài liệu như: Giáo trình, sách báo, đề tài khoa học, tạp chí, các bài viết trên internet viết về nâng cao năng lực CBCC để làm cơ sở lý luận cho đề tài. Bên cạnh đó, tác giả thu thập các báo cáo để có các số liệu minh chứng cho phần thực trạng.

  • Phương pháp quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp: Thông tin điều tra thu thập được từ báo cáo thực trạng nguồn nhân lực CBCC của Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ, tác giả tiến hành phân tích, đánh giá so sánh theo trình tự thời gian, phân tích từng mặt của sự việc, tìm ra nguyên nhân. Từ đó tổng hợp, liên kết sắp xếp các tài liệu, thông tin đã thu thập được để tạo ra một hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc về đề tài nghiên cứu.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Đề tài sử dụng thu thập thông tin bằng bảng hỏi, lập phiếu điều tra, phỏng vấn ngẫu nhiên.

+ Số địa điểm tiến hành điều tra UBND huyện Thủy Nguyên.

+ Tổng số phiếu phát ra 320 phiếu, trong đó cán bộ 20 phiếu, công chức 100 phiếu, công dân và tổ chức tới làm việc tại các phường 200 phiếu (các mẫu phiếu điều tra được đính kèm tại phụ lục 1, 2, 3, 4, 5).

+ Tổng số phiếu thu về 320 phiếu.

+ Cách thức phát phiếu: Phát trực tiếp cho các đối tượng cần hỏi.

  • Phương pháp phỏng vấn: Trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung phỏng vấn trực tiếp phó giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng Phòng nội vụ huyện Thủy Nguyên, chuyên viên Phòng Nội vụ phụ trách CBCC, Cán bộ, công chức tại UBND huyện, CBCC phường đến giao dịch, giải quyết công việc và một số người dân để làm rõ thực trạng chất lượng CBCC huyện, tìm ra nguyên nhân của thực trạng, để từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CBCC huyện.

+ Phỏng vấn các tiêu chí về đánh giá chất lượng cán bộ, công chức như: Kết quả thực thi công việc, kỹ năng, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức trong quá trình giải quyết công việc (các mẫu phiếu phỏng vấn được đính kèm tại phụ lục 2, 3, 4, 5).

  • Phương pháp chuyên gia: Tác giả khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ về vấn đề quản trị nguồn nhân lực CBCC huyện để đánh giá kết quả, xem xét, nhận định việc thực hiện công vụ của CBCC huyện, để tìm ra giải pháp tối ưu cho công tác đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ đối với CBCC huyện.
  • Nguồn tài liệu sử dụng: Nguồn số liệu sơ cấp qua việc trực tiếp thu thập từ các phòng, ban, đơn vị cấp huyện. Một số nguồn thứ cấp các Nghị quyết của Đảng bộ huyện, HĐND huyện và báo cáo tổng kết của UBND huyện Thủy Nguyên.

5. Nội dung kết cấu của đề tài ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương sau đây:

Chương 1. Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cán bộ, công chức cơ quan hành chính nhà nước.

Chương 2. Thực trạng năng lực của cán bộ, công chức tại UBND huyện Thủy Nguyên giai đoạn 2012 – 2016.

Chương 3. Một số biện pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức UBND huyện Thủy Nguyên giai đoạn 2018 – 2025.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Một số khái niệm cơ bản

  • Khái niệm năng lực

Năng lực được định nghĩa là tập hợp của kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của mọi cá nhân được thể hiện thông qua những hành vi cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao trong công việc mà cá nhân đó đảm nhiệm, phụ trách. Năng lực được xem như một yêu cầu quan trọng và thiết yếu để một cá nhân đảm nhận công việc nhất định có thể thực hiện được công việc của họ. Hiểu một cách khác, năng lực chính là những đòi hỏi thấp nhất về mặt kiến thức, kỹ năng và phẩm chất mà một cá nhân cần có để thể hiện những hành vi cần thiết khi đảm nhận công việc nhằm thực hiện có hiệu quả cao các nhiệm vụ được giao. [18, trang 18]

Năng lực cán bộ công chức là sự liên kết mang tính tổng hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, có ảnh hưởng đến công việc; chúng tương quan lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức hành chính bao gồm nhiều yếu tố, như trình độ, năng lực được đào tạo, kỹ năng, kinh nghiệm trong công tác cũng như tinh thần, thái độ thực thi công vụ. Trong khu vực công, năng lực được nhìn nhận là các yếu tố giúp cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ với sự hài lòng của người dân và tổ chức.

  • Khái niệm cán bộ, công chức

Khái niệm “cán bộ, công chức” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các hình thức nhân sự thuộc khu vực nhà nước và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội. Khái niệm “công chức” ở Việt Nam ra đời năm 1950 và cũng được thay đổi qua các thời kỳ gắn với các mốc lịch sử khác nhau. Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, khái niệm “cán bộ, công chức” được gọi chung cho tất cả những người làm việc cho nhà nước, không có sự phân biệt rõ ràng. [3, trang 16] ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

Đến nay, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác quản lý đất nước thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế cũng như mục tiêu chương trình CCHC, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, ngày 13/11/2008, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua Luật Cán bộ, công chức – Luật số 22/2008/QH12, quy định

Cán bộ: “Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. [3, trang 1]

Công chức: Điểm 2, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. [3, trang 32]

  • Khái niệm công chức hành chính nhà nước

Có thể hiểu: Cán bộ, công chức HCNN là những người hoạt động trong các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương đảm nhiệm chức năng quản lý điều hành của nhà nước. Đây là một bộ phận của cán bộ, công chức nhà nước nói chung, lĩnh vực công tác của nhóm công chức này là quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục, tài nguyên, khoáng sản, môi trường, văn hóa, thông tin, lao động việc làm, cơ sở hạ tầng, giao thông. [3, trang 34]

Như vậy, cán bộ, công chức HCNN cấp huyện trước hết phải là cán bộ, công chức nhà nước, phải có đầy đủ những tiêu chí đã được quy định trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Ngoài ra cán bộ, công chức HCNN cấp huyện được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh và làm việc trong các cơ quan HCNN cấp huyện. [3, trang 36]

1.1.2. Vị trí, vai trò, đặc điểm, tiêu chuẩn của cán bộ, công chức tại cơ quan hành chính nhà nước ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

1.1.2.1. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức hành chính nhà nước

Tư tưởng khái quát nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của công chức là: ” Cán bộ, công chức phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước nói riêng và của toàn bộ hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của cán bộ, công chức. Vai trò của cán bộ, công chức thể hiện qua những mối quan hệ: Quan hệ với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Quan hệ với bộ máy tổ chức lãnh đạo quản lý; Quan hệ với công việc; Quan hệ với quần chúng nhân dân. [10, trang 15].

  • Cán bộ, công chức HCNN thực hiện nhiệm vụ QLNN đối với mọi mặt của đời sống xã hội, thực chất là thực hiện quyền hành pháp, thi hành và chấp hành pháp luật. Thể hiện cụ thể ở việc giúp nhà nước thực hiện việc quản lý và điều hòa các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội theo đúng hiến pháp và pháp luật.
  • Công chức HCNN có trách nhiệm và bổn phận trong việc phục vụ nhân dân; đáp ứng yêu cầu đó, hiện nay chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, ngày càng mở rộng quan hệ đối ngoại đa phương, đa dạng, do đó vai trò của cán bộ, công chức HCNN lại càng thể hiện rõ sự quan trọng trong việc đưa nước ta từng bước thích ứng với luật pháp, tập quán và trình độ quốc tế mà vẫn giữ vững độc lập tự chủ, bảo vệ lợi ích quốc
  • Cán bộ, công chức HCNN không có quyền lập pháp và tư pháp, nhưng chính họ lại là những người góp phần quan trọng vào quy trình lập pháp và tư pháp bởi họ là những người thực thi quyền hành pháp.

1.1.2.2. Đặc điểm, tiêu chuẩn của cán bộ, công chức HCNN

  • Cán bộ, công chức Việt Nam nói chung và cán bộ, công chức HCNN nói riêng, được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình cách mạng của nước ta, trải qua các thời kỳ khác
  • Cán bộ, công chức HCNN là một bộ phận của nguồn nhân lực quan trọng trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Theo quy định hiện hành, những người làm việc thuộc các cơ quan Nhà nước (làm công tác quản lý nhà nước) là công chức
  • Lao động của cán bộ, công chức HCNN là lao động trí tuệ phức tạp trong hệ thống QLNN. Do đặc thù của lĩnh vực QLNN đa ngành, đa lĩnh vực nên cán bộ, công chức HCNN ở mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có đặc thù quản lý khác Điều đó được thể hiện qua một số đặc điểm của lao động công chức HCNN như sau:

+ Do tính chất lao động trí tuệ phức tạp theo từng loại của hệ thống gồm:

Công chức lãnh đạo, quản lý là những người thực hiện chức năng quản lý, điều hành công việc của những công chức dưới quyền. [3, trang 45]

Công chức chuyên môn, nghiệp vụ là những người thực hiện một công việc đòi hỏi có sự hiểu biết trong lĩnh vực chuyên môn mà người công chức đó được phân công. [3, trang 48]

Công chức phục vụ (công chức thừa hành) là những người làm công tác chuẩn bị, thu thập thông tin và tài liệu phục vụ cho lãnh đạo ra quyết định quản lý (Thư ký, nhân viên đánh máy, văn thư…). 

+ Do tính chất ngạch công chức bao gồm: ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

Chuyên viên cao cấp là công chức hành chính có yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ cao nhất về một hoặc một số lĩnh vực trong các cơ quan, tổ chức hành chính từ cấp tỉnh trở lên, có trách nhiệm chủ trì tham mưu, tổng hợp và hoạch định chính sách, chiến lược có tính vĩ mô theo ngành, lĩnh vực hoặc địa phương; tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách.

Chuyên viên chính là công chức hành chính có yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ cao về một hoặc một số lĩnh vực trong các cơ quan, tổ chức hành chính từ cấp huyện trở lên, có trách nhiệm thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ phức tạp trong cơ quan, đơn vị; tham mưu, tổng hợp xây dựng hoặc tổ chức thực hiện chế độ, chính sách theo ngành, lĩnh vực hoặc địa phương.

Chuyên viên là công chức hành chính có yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ cơ bản về một hoặc một số lĩnh vực trong các cơ quan, tổ chức hành chính từ cấp huyện trở lên, có trách nhiệm tham mưu, tổng hợp và triển khai thực hiện chế độ, chính sách theo ngành, lĩnh vực hoặc địa phương. [3, trang 60]

  • Cán bộ, công chức HCNN cấp huyện có những đặc điểm như sau:

+ Cán bộ, công chức HCNN cấp huyện là những người làm việc trong bộ máy QLNN cấp huyện; là công chức thuộc các cơ quan trực tiếp QLNN về lĩnh vực kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, lao động việc làm, cơ sở hạ tầng, giao thông…; thực thi nhiệm vụ đại diện chủ sở hữu tài nguyên, tài sản, ngân sách nhà nước cấp… để xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của huyện.

+ Cán bộ, công chức HCNN cấp huyện đảm nhiệm chức năng, nhiệm vụ mang tính tổng hợp, trước những thay đổi hàng ngày của thực tiễn, công việc QLNN về kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục, tài nguyên, khoáng sản, môi trường, văn hóa, thông tin, lao động việc làm, cơ sở hạ tầng, giao thông… Đặc biệt, trong điều kiện xã hội phát triển với tốc độ nhanh sẽ tạo cho công chức HCNN nhiều áp lực trong công tác, đòi hỏi về trình độ chuyên môn và những kiến thức tổng họp, hiểu biết rộng về các lĩnh vực liên quan.

Theo quy định tại Điều 34 của Luật Cán bộ công chức năm 2008, cán bộ, công chức nói chung được phân loại như sau:

  • Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại:

+ Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch Chuyên viên cao cấp hoặc tương đương;

+ Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch Chuyên viên chính hoặc tương đương;

+ Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch Chuyên viên hoặc tương đương;

+ Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch Cán sự hoặc tương đương và ngạch Nhân viên.

  • Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại: ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

+ Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;

+ Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

  • Phân loại công chức theo trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, chuyên môn đào tạo: Căn cứ vào trình độ chuyên môn được đào tạo của công chức có thể chia thành các loại: Công chức có trình độ trên đại học (tiến sĩ, thạc sĩ); công chức có trình độ đại học, cao đẳng;…
  • Phân loại theo vị trí:

+ Công chức HCNN làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý như: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND huyện; Chánh, Phó Chánh Văn phòng UBND và HĐND huyện; Trưởng, Phó các cơ quan chuyên môn có chức năng QLNN về kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục, tài nguyên, khoáng sản, môi trường, văn hóa, thông tin, lao động việc làm, cơ sở hạ tầng, giao thông… thuộc UBND huyện.

+ Công chức chuyên môn, nghiệp vụ: Là những chuyên viên thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn theo lĩnh vực công tác cụ thể được giao.

Có thể bạn quan tâm:

DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ – BẢNG GIÁ

1.2. Chất lượng và các tiêu chí đánh giá năng lực CBCC tại cơ quan hành chính nhà nước

1.2.1. Chất lượng đánh giá năng lực CBCC tại cơ quan HCNN

  • Chất lượng đánh giá năng lực cán bộ, công chức là vấn đề cốt lõi của mỗi hệ thống cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước. Đó vừa là mục tiêu, vừa là căn cứ để hệ thống cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước tồn tại và phát triển. Nếu chất lượng đánh giá cán bộ, công chức yếu kém có thể dẫn tới suy thoái, bộ máy hành chính nhà nước trì trệ, kéo theo sự đổ vỡ của cả hệ thống.
  • Để đánh giá chất lượng năng lực của cán bộ, công chức cơ quan hành chính nhà nước phải thực hiện ngay các quá trình:

Công tác quy hoạch CBCC

+ Xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ, công chức huyện: ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

Quy hoạch cán bộ, công chức là một trong những nội dung của công tác cán bộ, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài; làm căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và năng lực, nhất là năng lực trí tuệ và thực tiễn tốt.

Trong chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ: “Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý là công tác phát hiện sớm nguồn cán bộ trẻ có đức, có tài, có triển vọng về khả năng lãnh đạo, quản lý, đưa vào quy hoạch để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý, đáp ứng nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và của đất nước”. [4, trang 11] Quy hoạch là nền tảng của quá trình xây dựng cán bộ, công chức, “Là kế hoạch tổng thể, dài hạn về cán bộ, cán bộ có triển vọng đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng số cán bộ đó theo quy hoạch”. [4, trang 14]

Quy hoạch cán bộ, công chức là dự báo hướng phát triển cán bộ, công chức trong tương lai. Quy hoạch là cơ sở để đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đề bạt, bổ nhiệm công chức. Do vậy, quy hoạch cán bộ, công chức là một nội dung trọng yếu trong hoàn thiện công tác quản lý cán bộ, công chức huyện. Làm tốt công tác quy hoạch, sẽ tạo nguồn công chức lãnh đạo, quản lý từ Trung ương tới cơ sở, đặc biệt là cán bộ, công chức đứng đầu có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ. [5, trang 22]

Mục đích của quy hoạch cán bộ là chuẩn bị từ xa và tạo nguồn cán bộ dồi dào làm căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng cán bộ, cán bộ đảm nhận các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và năng lực, nhất là năng lực trí tuệ và thực tiễn tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. [5, trang 25]

Quy hoạch cán bộ, công chức cấp huyện là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp để tạo nguồn và xây dựng cán bộ, công chức trên cơ sở dự báo nhu cầu công chức nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương. Xuất phát từ mục tiêu, kế hoạch, chức năng quản lý và cơ cấu tổ chức bộ máy để xây dựng quy hoạch từ đó xác định số lượng công chức từ nguồn bên trong và nguồn bên ngoài hệ thống. [5, trang 27]

  • Công tác Tuyển dụng công chức HCNN

Từ khi nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời (năm 1945), cán bộ, công chức được chú ý tuyển dụng thông qua thi tuyển, bổ nhiệm, bầu và phê chuẩn. Ngày nay, việc tuyển dụng công chức bằng thi tuyển là hình thức phổ biến ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều áp dụng. Đó là hình thức tuyển dụng vừa đảm bảo các tiêu chuẩn của nền công vụ, vừa mang tính khách quan, bảo đảm sự công bằng trong tuyển chọn công chức và để tuyển chọn người tài, người có năng lực phụ trách công tác quản lý nhà nước.

Tuyển dụng công chức cấp huyện là hình thức tuyển chọn người vào làm việc trong các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện, hay nói cách khác là một hình thức bổ sung lực lượng cho cán bộ, công chức. Tuyển dụng là khâu quan trọng quyết định tới chất lượng công chức cấp huyện; nếu công tác tuyển dụng được thực hiện tốt sẽ tuyển được những người thật sự có năng lực, phẩm chất tốt để bổ sung cho lực lượng công chức huyện. ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

  • Công tác bố trí, sử dụng cán bộ, công chức HCNN

Quá trình bố trí, sử dụng cán bộ, công chức là cả một trong chuỗi mắt xích các công việc quan trọng liên quan đến công tác quản lý cán bộ, công chức. Mục tiêu của việc bố trí, sắp xếp, phân công công tác cho cán bộ, công chức là phát huy tối đa khả năng của từng cá nhân nhằm tạo ra sức mạnh tập thể và đạt được hiệu quả cao. Sử dụng cán bộ, công chức đúng người, đúng việc, sẽ tạo cơ hội cho từng cá nhân tự rèn luyện, nâng cao trình độ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời là cơ sở để phát huy sức mạnh tập thể.

Bố trí, sử dụng cán bộ, công chức phải xuất phát từ nhiều yếu tố trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, điều kiện nhân lực cụ thể của mỗi tổ chức, đơn vị. Bố trí, sử dụng đúng cán bộ, công chức là cả một vấn đề khoa học về quản lý, phát huy tiềm lực con người. Muốn sử dụng tốt cán bộ, công chức phải xuất phát từ yêu cầu công tác và năng lực của cán bộ, công chức đó; trước hết cần xác định đúng tính chất, yêu cầu của công việc; công việc đó đòi hỏi cán bộ, công chức phụ trách phải có những phẩm chất gì, tìm người có đủ tiêu chuẩn để phân công. Đồng thời, phải bố trí công việc đúng với năng lực, sở trường, nghề nghiệp chuyên môn của cán bộ, công chức, tránh tùy tiện, thiên vị cá nhân.

  • Công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức HCNN

Chế độ đối với CBCC huyện là những quy định của nhà nước đối với CBCC cần tuân theo nhằm đạt được mục tiêu quản lý của nhà nước. Chính sách đối với CBCC là những sách lược, kế hoạch cụ thể của nhà nước áp dụng đối với CBCC trên cơ sở thực hiện các quyền lợi, lợi ích dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế của đất nước. Công tác xây dựng kế hoạch, thực hiện chế độ, chính sách đối với CBCC cấp huyện thể hiện sự khuyến khích, quan tâm của nhà nước đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho CBCC; đồng thời, tạo động lực cho họ hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Chế độ, chính sách đối với CBCC huyện bao gồm: chính sách tuyển dụng, bổ nhiệm và miễn nhiệm công chức; chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức; chính sách tiền lương; chính sách khen thưởng, kỷ luật công chức; chính sách bảo vệ công chức và các chính sách đãi ngộ khác đối với công chức…

  • Công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ, công chức HCNN

Kiểm tra, đánh giá CBCC là một chức năng cơ bản của công tác quản lý cán bộ nói chung và công tác quản lý cán bộ, công chức huyện nói riêng. Kiểm tra, đánh giá CBCC nhằm làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu làm căn cứ để bảo đảm thực hiện tốt các quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo các chế độ chính sách đối với CBCC được thực hiện đúng, tránh sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức của CBCC.

Đánh giá CBCC là khâu quan trọng đầu tiên của công tác quản lý cán bộ, đó là việc làm khó, rất nhạy cảm vì có ảnh hưởng đến tất cả các khâu khác của công tác quản lý CBCC, có ý nghĩa quyết định trong việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đề bạt, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ, chính sách đối với CBCC cũng như giúp CBCC phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, tiến bộ không ngừng trong việc nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và hiệu quả của CBCC. Đánh giá CBCC đúng sẽ tạo điều kiện cho CBCC phát huy được sở trường hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đánh giá CBCC không tốt thì không những bố trí sử dụng CBCC không đúng mà quan trọng hơn là mai một dần động lực phát triển, có khi thui chột những tài năng, làm cho chân lý bị lu mờ, vàng thau lẫn lộn, xói mòn niềm tin của đảng viên, đoàn viên, quần chúng đối với cơ quan lãnh đạo, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của cơ quan, đơn vị.

Đánh giá thực hiện công việc đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý CBCC, giúp cho xác định được kết quả lao động cụ thể của từng CBCC trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Thông thường việc đánh giá được thực hiện 06 tháng/lần hoặc ít nhất 01 năm/lần. Phân tích công việc và đánh giá thực hiện công việc cho phép xác định được nhu cầu đào tạo và phát triển CBCC.

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực CBCC tại cơ quan HCNN ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

Tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức.

  • Phẩm chất chính trị là tiêu chuẩn, điều kiện quan trọng đối với mỗi CBCC, nhất là trong bối cảnh hiện nay, sự suy thoái và xuống cấp về tư tưởng đạo đức, lối sống ở một bộ phận CBCC, đảng viên của Đảng đang ở mức báo động, đặc biệt là trong đội ngũ CBCC, những người thường xuyên trực tiếp làm việc với nhân dân.
  • Phẩm chất chính trị thể hiện nhận thức, tư tưởng chính trị, chấp hành đuờng lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và sự kiên định với đường lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành với Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Phẩm chất chính trị còn được thể hiện ở tinh thần đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; chống lại chủ nghĩa cơ hội bè phái, các biểu hiện tiêu cực, các tư tưởng thù địch, chống phá Đảng và Nhà nước. Đồng thời tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cách mạng giữ vững bản lĩnh chính trị trong mọi tình huống.
  • Về phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức, chúng ta cần nhắc đến đạo đức cá nhân và đạo đức nghề nghiệp. Phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức được thể hiện thông qua lối sống, tác phong, lề lối làm việc. Đó là việc giữ gìn đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, giản dị, tiết kiệm, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và những biểu hiện tiêu cực khác; tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân được xem là chìa khóa thành công của cán bộ, công chức.
  • Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức được thể hiện thông qua ý thức tổ chức kỷ luật tại cơ quan, đơn vị và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ như: Chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan đơn vị, giữ gìn nếp sống văn hóa công sở, thời gian làm việc, chấp hành sự phân công của tổ chức, có ý thức giữ gìn đoàn kết nội bộ; tinh thần phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ và thể hiện sự sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những việc mình làm,…
  • Như vậy việc đề cao phẩm chất chính trị, đạo đức của người cán bộ, công chức cấp huyện là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực đội ngũ cán bộ, công chức. Chủ tích Hồ Chí Minh của chúng ta đã đúc kết đạo đức cách mạng của người cán bộ trong 8 chữ vàng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô, tư” vẫn còn nguyên giá trị quý báu để mỗi cán bộ, công chức học tập đến ngày hôm nay. Người cán bộ, công chức luôn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối kiên định với đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.

Tiêu chí về năng lực chuyên môn.

  • Về trình độ.

CBCC huyện phải có trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, quản lý nhà nhà nước, có kỹ năng nghề nghiệp, có trình độ ngoại ngữ để trao đổi thông tin, học tập kinh nghiệm quản lý, tiếp thu những thành tựu về khoa học – công nghệ, sử dụng được máy móc, phương tiện trang thiết bị hiện đại; có kiến thức tin học để có khả năng vận hành chính quyền điện tử một cách thông suốt và hiệu quả, có hiểu biết luật pháp và các thông lệ quốc tế phục vụ cho công tác chuyên môn.

Tự chủ, bình tĩnh, năng động, sáng tạo, phản ứng nhanh nhạy, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn biết lường trước mọi tình huống có thể xảy ra, biết khắc phục các khâu yếu, phát huy lợi thế tiềm năng, biết tận dụng thời cơ có lợi cho hệ thống; Có tính chuyên nghiệp cao trong hoạt động công vụ để có thể đáp ứng yêu cầu của thực tiễn của xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Có kế hoạch làm việc rõ ràng và tiến hành công việc nhất quán theo kế hoạch, có tác phong đúng mực, tham mưu tốt cho cấp trên, lắng nghe và hiểu cấp dưới, có thái độ chân thành, đồng thời biết xây dựng tập thể đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau. Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn và tham gia xây dựng đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

  • Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ.

Là tiêu chí cơ bản để đánh giá đúng đắn nhất những gì mà mỗi cán bộ, công chức đã làm được trong thời gian nhất định. Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được phản ánh thông qua mức độ thực hiện nhiệm vụ được giao trong năm, thể hiện ở khối lượng công việc được giao, chất lượng công việc được hoàn thành, tiến độ triển khai thực hiện và hiệu quả của công việc đó trong từng vị trí, từng giai đoạn bao gồm cả những nhiệm vụ thường xuyên và những nhiệm vụ đột xuất.

Dựa trên kết quả đánh giá về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức có thể đánh giá được chất lượng hoạt động của đội ngũ đó trong thực tiễn công tác. Một cán bộ, công chức đạt chất lượng tốt thì phải thường xuyên được đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Có những cán bộ, công chức đạt trình độ chuyên môn nhưng chỉ được đánh giá là hoàn thành nhiệm vụ hoặc chưa hoàn thành nhiệm vụ, người quản lý cần xem xét những khía cạnh khác của cán bộ, công chức đó. Kết quả đánh giá này cũng là cơ sở để thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng và sắp xếp nhân sự tại cơ quan, đơn vị.

  • Về kỹ năng

Trong giao tiếp ở công sở, CBCC phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc; cán bộ, công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng, vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ; Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp. [3, trang 26] Cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; không được hách dịch, cửa quyền, không gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ.

  • Ngoài yêu cầu chung của công chức nhà nước, công chức HCNN còn phải đáp ứng được yêu cầu sau:

Phải có quan điểm toàn cục, xuất phát từ tình hình địa phương, tình hình trong nước và tình hình quốc tế để xem xét mọi vấn đề; có kế hoạch công tác cụ thể, phải nắm vững quan hệ nội tại giữa cải cách, phát triển và ổn định, tổ chức điều hòa, thúc đẩy lẫn nhau giữa các mặt đó. Công chức HCNN cấp huyện phải có tinh thần cầu tiến, đoàn kết với đồng nghiệp, không ngừng học tập, thường xuyên cập nhật về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học quản lý và khoa học lãnh đạo. ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

Biết sử dụng, đánh giá đúng người, đúng việc; biết xử lý tốt các mối quan hệ trong và ngoài hệ thống, với người dưới quyền và với cấp trên; Trong quá trình đưa ra quyết định quản lý, người công chức HCNN cấp huyện phải xem xét đầy đủ các nhân tố tác động và điều kiện cụ thể để tìm ra quyết sách khả thi. Công chức lãnh đạo, quản lý phải có năng lực đổi mới và sáng tạo, đây chính là chìa khóa của năng lực lãnh đạo. Người lãnh đạo phải biết thích ứng với tình hình mới, không ngừng đổi mới tư duy và hành động.

  • Tiêu chí về thể lực

Thể lực là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người.

Các tiêu chí cụ thể của thể lực là: có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng quá trình sản xuất liên tục, kéo dài; có các thông số nhân chủng học đáp ứng được các hệ thống thiết bị công nghệ được sản xuất phổ biến và trao đổi trên thị trường khu vực và thế giới; luôn tỉnh táo và sảng khoái tinh thần.

Công chức phải có sức khỏe tốt để đảm nhiệm công việc được giao, độ tuổi đảm bảo đúng quy định, đồng thời cần phải tích lũy nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ.

Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể. Một cơ thể khỏe mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng nó sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó. Thể lực có ý nghĩa quyết định năng lực hoạt động của con người. Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội. Thể lực của người lao động được phản ánh qua các tiêu chí:

+ Chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, chỉ tiêu về tình trạng bệnh tật (các giác quan nội khoa, ngoại khoa, thần kinh, tai, mũi, họng…) của người lao động.

+ Các chỉ tiêu về cơ sở vật chất, các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, các chỉ tiêu về tỷ lệ sinh tử, suy dinh dưỡng, tỷ lệ biến động tự nhiên, cơ cấu giới tính của quốc gia, khu vực.

Nhóm tiêu chí đánh giá sự hài lòng của người dân ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

  • CBCC là “công bộc” của dân, có nghĩa là CBCC phải tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân, đặc biệt đối với CBCC làm việc tại bộ phận “Một cửa”, bộ phận Tiếp công dân là người gần dân, trực tiếp giải quyết các quyền và lợi ích hợp pháp của dân thông qua việc cung ứng các dịch vụ hành chính công, đây chính là sản phẩm do CBCC làm ra. Vì vậy để đánh giá chất lượng CBCC chúng ta không thể không xem xét sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công do CBCC cung cấp.
  • Các tiêu chí đánh giá:

+ Chất lượng công việc được giải quyết;

+ Thời gian công việc được giải quyết;

+ Trình độ xử lý công việc của CBCC;

+ Kỹ năng của CBCC;

+ Thái độ của CBCC khi tiếp xúc giải quyết công việc cho người dân;

+ Tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức tiếp xúc, giải quyết công việc cho người dân.

Dịch vụ hành chính công đạt được sự hài lòng của người dân là đạt được hiệu quả lợi ích của xã hội và nhân dân.

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cán bộ, công chức tại cơ quan hành chính nhà nước ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

  • Yếu tố khách quan

Có nhiều nhân tố khách quan ảnh hưởng đến năng lực cán bộ, công chức như:

  • Môi trường xã hội tạo nên bao gồm Hội nhập quốc tế của đất nước; trình độ dân trí của nhân dân được nâng lên; đòi hỏi của hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; xuất phát điểm hạn chế của cán bộ, công chức là hệ thống giáo dục đào tạo nước ta; các quy định pháp luật về cán bộ, công chức chức nước ta vẫn chưa đồng bộ, đáp ứng kịp với sự phát triển của xã hội. Thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng nước ta đã hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, môi trường, thị trường kinh tế được mở rộng, mối quan hệ kinh tế thế giới với kinh tế trong nước ngày càng chặt chẽ, khăng khít, quản lý nền kinh tế từ khép kín sang quản lý nền kinh tế mở có yếu tố nước ngoài tạo ra những áp lực đổi mới của đất nước từ thể chế, đến cơ chế quản lý, tác phong lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức. Vì vậy, để đáp ứng được với sự hội nhập quốc tế của đất nước, đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức UBND huyện Thủy Nguyên nói riêng phải không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn để đáp ứng yêu cầu công việc đặt ra trong thời kỳ mới.
  • Trình độ dân trí là mức độ hiểu biết, là sự thông minh của người dân trong một nước, nói cách khác là trình độ khoa học kỹ thuật của một dân tộc đang sống trong một quốc gia nào đó. Ở nước ta, trình độ dân trí đã ngày càng được nâng lên một cách rõ rệt, thể hiện qua các chỉ số IQ, EQ của người dân nước ta ở mức cao so với thế giới; tỷ lệ học sinh đạt phổ cập Tiểu học, Trung học cơ sở ngày càng cao; sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước; các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân ngày càng nhiều và thường xuyên… Điều này, đòi hỏi chất lượng phục vụ nhân dân của các cơ quan quản lý nhà nước và của cán bộ, công chức ngày càng nâng cao nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng nền hành chính chính quy, hiện đại, hiệu quả. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức là một yêu cầu thường trực, cấp thiết khi trình độ dân trí ngày càng được nâng cao.
  • Cơ chế tuyển dụng: Tuyển dụng công chức là hình thức tuyển chọn người vào làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, tuyển những người có phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng được tiêu chuẩn chuyên môn – nghiệp vụ.

Muốn mang lại hiệu quả công tác của CBCC thì việc tuyển dụng phải đảm bảo tính dân chủ, công khai, chú ý đến việc sắp xếp sao cho “đúng lúc, đúng người, đúng việc, đúng ngành nghề, đúng sở trường” thì mới phát huy năng lực công tác của từng cán bộ, góp phần nâng cao năng lực đội ngũ CBCC. Thực hiện công tác bổ nhiệm, tuyển dụng không đảm bảo tính dân chủ, công khai sẽ gây bất mãn cho những cá nhân trong cơ quan, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác. Mặt khác, những cá nhân năng lực yếu mà đảm đương nhiệm vụ yêu cầu cao, vượt sức mình thì không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

  • Chính sách tiền lương, tiền thưởng và các đãi ngộ khác: Để nâng cao năng lực đội ngũ CBCC phải thường xuyên chăm lo tới quyền lợi chính đáng của họ. Ngoài tiền lương cần quan tâm đến các chế độ đãi ngộ phù hợp, sử dụng đồng bộ các biện pháp khuyến khích, tạo động lực để CBCC tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nhiệt tình tự giác trong công việc. Trong cơ chế thị trường hiện nay, chế độ chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Thực tế cho thấy, khi thu nhập của con người không tương xứng với công sức của họ bỏ ra hoặc không có chế độ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng ngoài tiền lương đối với những CBCC hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao thì họ dễ sinh ra chán nản, thiếu trách nhiệm với công việc, thậm chí có thể dẫn đến việc tham nhũng, hối lộ, tiêu cực…Vì vậy, nếu chế độ tiền lương là hình thức đầu tư trực tiếp cho con người, đầu tư cho phát triển kinh tế – xã hội thì chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực đội ngũ CBCC.
  • Công tác đánh giá, xếp loại: Căn cứ hệ thống các chỉ tiêu đánh giá CBCC do Nhà nước quy định, công tác đánh giá, xếp loại đưa ra kết luận xác đáng về đức và tài, về trình độ năng lực, khả năng phát triển của CBCC. Do đó, nếu khen đúng người, kỷ luật đúng tội, đánh giá đúng về CBCC sẽ là động lực thúc đẩy tinh thần và trách nhiệm đối với công việc của họ. Ngược lại, nếu đánh giá chưa đầy đủ, chưa chính xác về CBCC sẽ nảy sinh những bất mãn, ý nghĩ tiêu cực trong CBCC, ảnh hưởng đến kết quả làm việc. Công tác đánh giá, xếp loại đội ngũ CBCC còn là căn cứ để tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, xác định nhu cầu và nội dung đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ: nâng lương trước thời hạn, xem xét ưu tiên, động viên CBCC tham dự các kỳ thi nâng ngạch, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo và hưởng thêm các chế độ khác. ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

Hiện nay, công tác này còn bị coi nhẹ, chỉ mang tính hình thức, đánh giá thiên về tình cảm, làm cho qua loa xong chuyện. Công tác đánh giá, xếp loại CBCC không chỉ giúp cơ quan quản lý cán bộ nắm và hiểu được cán bộ của mình mà đồng thời còn giúp cho bản thân người CBCC hiểu đúng hơn về mình, nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm (nếu có), góp phần xây dựng đội ngũ CBCC có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của đất nước.

  • Trang thiết bị và điều kiện làm việc: Trang thiết bị, cơ sơ vật chất kỹ thuật bao gồm: Bàn ghế, tủ tài liệu, máy tính, hệ thống mạng Internet, máy scan, máy in… là những điều kiện làm việc thiết yếu cho đội ngũ CBCC nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác quản lý chỉ đạo, tìm hiểu thông tin. Cơ sở vật chất đầy đủ giúp cho đội ngũ CBCC đổi mới phương pháp làm việc; thúc đẩy và nâng cao năng lực làm việc, đảm bảo giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác, hiệu quả, giúp lưu trữ văn bản, báo cáo, thuận tiện cho những lần sử dụng tiếp theo. Việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, trang bị máy móc hiện đại sẽ đáp ứng tốt hơn các hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ Bởi vậy, trang thiết bị và điều kiện cơ sở vật chất kỹthuật là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác và năng lực đội ngũ cán bộ, công chức.

Yếu tố chủ quan

  • Công tác đào tạo, bồi dưỡng ảnh hưởng tới năng lực đội ngũ cán bộ, công chức: Đào tạo, bồi dưỡng là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực đội ngũ, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi cải cách hành chính diễn ra mạnh mẽ, đội ngũ cán bộ, công chức phải được trang bị những thiết bị làm việc hiện đại hơn như: Máy tính, máy in, máy photo, scan… hay đơn giản là việc xử lý văn bản đến, đi được gửi, nhận bằng hộp thư điện tử hoặc hệ thống phần mềm quản lý văn bản… Chính vì vậy, độ ngũ CBCC cần được đào tạo bồi dưỡng thường xuyên và liên tục.
  • Tuy nhiên, trong công tác đào tạo bồi dưỡng cần phải lựa chọn nội dung và phương pháp phù hợp với chuyên ngành, với chức danh công việc cụ thể của mỗi cán bộ, công chức. Đào tạo, bồi dưỡng CBCC đảm bảo tiêu chuẩn về số lượng, chất lượng tránh tình trạng đào tạo, bồi dưỡng tràn lan, hình thức, đào tạo không phải để trang bị những kỹ năng cần thiết mà chỉ lấy chứng chỉ, bằng cấp bổ sung vào lý lịch Trong khi đó, người có nhu cầu thật sự không được cử đi đào tạo và ngược lại, gây lãng phí nguồn kinh phí đào tạo của Nhà nước. Nội dung đào tạo xuất phát từ sự cần thiết thực tế, yếu khâu nào đào tạo, bồi dưỡng khâu đó. Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC có ý nghĩa quyết định đến năng lực đội ngũ CBCC. Địa phương nào chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC thì địa phương đó sẽ xây dựng được nền tảng đội ngũ CBCC vững chắc, hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ được giao.

1.2.4. Kinh nghiệm của một số địa phương ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

  • Kinh nghiệm của huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và sử dụng nhân tài là một chủ trương lớn trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Thông qua việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và sử dụng nhân tài nhằm động viên, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để những người có tài năng phát huy tốt nhất năng lực, trí tuệ của mình, yên tâm gắn bó với nhiệm vụ được giao, đóng góp có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của huyện.

  • Kinh nghiệm của quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Quận đã chủ động nghiên cứu giải pháp để hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính. Xác định CCHC phải gắn kỷ luật, kỷ cương hành chính, năng lực quản lý, điều hành và chất lượng phục vụ. Hồng Bàng là đơn vị làm điểm xây dựng “Chính quyền điện tử”; đưa mô hình “Tiếp nhận và trả kết quả hiện đại” tại bộ phận một cửa áp dụng đối với 8 lĩnh vực, gồm: Tài chính – Kế hoạch, Đô thị, Xây dựng, Tài nguyên và môi trường, Lao động Thương binh và Xã hội, Tư pháp, Thuế, Giáo dục và Đào tạo. Quận đang cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 cho phép người dân thực hiện các TTHC công thông qua môi trường mạng internet bằng máy tính cá nhân hoặc smartphone; tập trung cao cho việc xây dựng cung cách làm việc theo hướng cung cấp dịch vụ, phục vụ công dân, doanh nghiệp.

UBND quận giao bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả hiện đại” chịu trách nhiệm trực tiếp theo dõi tiến độ, đôn đốc các phòng, đơn vị chuyên môn thực hiện giải quyết TTHC cho công dân theo đúng tiến độ và trả lời công dân. Để động viên, khích lệ CBCC làm công tác tiếp dân nâng cao tinh thần, trách nhiệm phục vụ nhân dân, quận Hồng Bàng áp dụng cơ chế 100% số cán bộ tại bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả hiện đại” là cán bộ chuyên trách; tăng mức phụ cấp cho cán bộ lên 1 triệu đồng/tháng/người..

  • Bài học kinh nghiệm đối với huyện Thủy Nguyên

Huyện Thủy Nguyên cần đổi mới chính sách đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và sử dụng nhân tài, cách thức tuyển chọn công chức; bố trí, sử dụng hợp lý công chức sau khi tuyển dụng; cần coi trọng công tác quy hoạch cán bộ, vận dụng sáng tạo, phù hợp theo đặc điểm, tình hình địa phương; chú trọng xây dựng quy hoạch cán bộ trẻ dài hạn; xây dựng quy hoạch công chức chuyên môn, nghiệp vụ.

Nghiên cứu xây dựng mô hình “Chính quyền điện tử” nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp trong dịch vụ hành chính công, giảm bớt TTHC hướng tới sự hài lòng của nhân dân, doanh nghiệp. ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, quản lý, đánh giá công chức một cách nghiêm túc; lấy kết quả làm căn cứ đề bạt, nâng lương, đưa vào quy hoạch; kiên quyết xử lý, thay thế những công chức thiếu tinh thần trách nhiệm, suy thoái đạo đức, giảm sút uy tín.

Tập trung xây dựng và đưa ra những quy định, quy trình chặt chẽ trong việc thực hiện đánh giá chất lượng công việc của đội CBCC cấp huyện nhằm tạo áp lực cần thiết để mỗi CBCC có trách nhiệm thực hiện công việc của mình.

Xây dựng cơ chế chính sách đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ, công chức UBND huyện, thể hiện sự phân cấp năng lực, phân cấp trách nhiệm tại mỗi vị trí việc làm, giúp cho đội ngũ CBCC có được sự yên tâm phát huy năng lực và cống hiến hết mình trong công tác. Làm tốt công tác luân chuyển cán bộ trong nội bộ cơ quan phù hợp với đặc điểm và điều kiện, vị trí việc làm.

Ngoài các công việc nêu trên, mỗi địa phương cần đưa ra những đặc điểm cụ thể của địa bàn, từ đó đánh giá và lựa chọn những giải pháp tốt nhất. Đây cũng là công việc mà tác giả sẽ thực hiện trong nội dung tiếp theo của đề tài. Từ đó, tác giả sẽ đề xuất những biện pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương để đóng góp cho công tác nâng cao năng lực cán bộ, công chức tại cơ quan UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã đưa ra các khái niệm liên quan đến đề tài, đặc biệt là xây dựng khái niệm “năng lực CBCC huyện”; đồng thời đưa ra hệ thống các tiêu chí để đánh giá năng lực CBCC và một số các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng CBCC huyện làm căn cứ khoa học để khảo sát thực trạng và phân tích nguyên nhân của thực trạng năng lực CBCC huyện ở chương 2.

Hiện nay nâng cao chất lượng CBCC huyện là một đòi hỏi khách quan. Vì vậy, phải đánh giá đúng năng lực của CBCC để từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CBCC, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội ở cấp huyện. ( Luận văn biện pháp nâng cao năng lực cán bộ công chức Việt Nam )

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn thực trạng năng lực cán bộ công chức Việt Nam hiện nay

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537