Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế XHCN

Trong bài viết này, mình sẽ chia sẻ cho các bạn đọc giả về Đề tài Vai trò Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, giúp các bạn hiểu thêm về tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị. Một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện những mục đích của giai cấp thống trị và bảo vệ những lợi ích của giai cấp thống trị đó trong xã hội. Nối tiếp sau đó là Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế XHCN, mời các bạn cùng tham khảo.

IV. Mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước ta trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa:

1. Mục tiêu:

Sự can thiệp của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta nhằm các mục tiêu.

* Bảo đảm phát triển kinh tế ổn định không còn những biến động xấu xảy trong nền kinh tế. 

Từ khi chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường thì nước ta đã có những thay đổi rất nhiều cả trong lĩnh vực kinh tế và xã hội. Mặc dù đạt được hiệu quả cao về kinh tế trong những năm gần đây nhưng bên cạnh nó kéo theo những vấn đề đáng lo ngại tác động xấu đến sự phát triển chung của xã hội. Vấn đề lạm phát, thất nghiệp, tình trạng ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, tình trạng khủng hoảng có tính chất chu kỳ,…

Vì vậy Nhà nước ta phải thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội, đồng thời giải quyết tốt những vấn đề tiêu cực, đẩy lùi lạm phát, giảm tỷ lệ thất nghiệp đến mức thấp nhất, kìm chế lạm phát ở mức 10%-15%.

Để làm được điều này Nhà nước phải tạo ra một môi trường tốt cho thị trường phát huy các mặt tích cực của nó. Xác định rõ quyền sở hữu tài sản và bảo đảm khuyến khích mọi nguồn lực tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm mới. Khuyến khích phát minh sáng kiến sử dụng nguồn lực chất xám. Nhà nước phải sử dụng các công cụ thích hợp trong các chính sách tài chính, tiền tệ, thu nhập, việc làm, kinh tế đối ngoại như công cụ thuế, lãi suất, dự trữ, tỉ giá hối đoái để điều tiết thị trường.

* Bảo đảm hiệu quả kinh tế, công bằng và tiến bộ xã hội:

Mục tiêu xã hội văn minh đó là xã hội đủ no, giàu có, tiện nghi, có trình độ tương đồng về trình độ công nghệ, về tổ chức dân cư so với thế giới, với các cơ quan hành chính có cung cách phục vụ khoa học, có văn hoá phục vụ tận tuỵ. Là một xã hội với các kết cấu hạ tầng hiện đại mà vẫn bảo tồn được truyền thống lịch sử của dân tộc.

Công bằng là một cơ chế bao gồm hai bộ phận đồng bộ: thứ nhất là quyền bình đẳng mà cư dân trong xã hội nhận được, thứ hai là khả năng thực tế trong việc thực hiện các quyền bình đẳng của mình. Tiếp nữa là giải quyết tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập, do đó Nhà nước cần sử dụng các công cụ luật pháp điều tiết thu nhập, bảo hộ và giáo dục nâng cao trình độ văn hoá dân tộc và cộng đồng trong quá trình phát triển kinh tế.

*  Giải quyết tốt những vấn đề nảy sinh trong phát triển kinh tế xã hội:

Trong kinh tế thị trường, mọi người sản xuất được tự do kinh doanh hàng hoá, tự do cạnh tranh trên thị trường – có tác dụng làm tăng động lực phát triển kinh tế xã hội. Nhưng cạnh tranh không hoàn hảo dẫn đến độc quyền làm giảm động lực phát triển kinh tế. Vì vậy, Nhà nước phải chống độc quyền để duy trì cạnh tranh hoàn hảo. Cũng do sự cạnh tranh dẫn đến sự phá sản của các doanh nghiệp gây ra những biến động xấu trong xã hội. Đòi hỏi Nhà nước phải luôn đổi mới luật pháp để giải quyết tốt những vấn đề trong phát triển kinh tế xã hội.

Tóm lại mục tiêu quản lý vĩ mô của Nhà nước là bước định hướng. Bước đầu tiên nó là cơ sở để cho việc thực hiện các công việc tiếp theo được tốt. Vì vậy Nhà nước muốn phát triển kinh tế được tốt thì điều đầu tiên phải xác định đúng mục tiêu cần làm.

2. Chức năng ( Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế )

Để đạt được những mục tiêu đã đề ra thì Nhà nước phải thực hiện sự quản lý vĩ mô nền kinh tế, việc thực hiện này được thông qua các chức năng của Nhà nước. Để phù hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội VII và VIII đã đề ra Nhà nước có các chức năng kinh tế sau:

* Định hướng sự phát triển, Nhà nước trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực dẫn dắt nỗ lực phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa:

– Định hướng sự phát triển là chức năng cơ bản nhất trong tất cả các chức năng.

Chất lượng của định hướng sẽ quyết định các chức năng quản lý còn lại.

Định hướng giúp đất nước đối phó với mọi sự không ổn định và thay đổi nội bộ đất nước cũng như các biến động bên ngoài.

Nội dung của việc định hướng phát triển kinh tế gồm: 

Xác định các nhiệm vụ, xác định các mục tiêu và các chiến lược phát triển dài hạn kinh tế đất nước.

Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định nhiệm vụ cho đất nước đến năm 2000 và 2020 là: “phát triển và chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, phát triển khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo”.

Nhà nước phải đầu tư vào một số lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Khu vực Nhà nước phải nắm “các đỉnh cao chỉ huy”, phải khai phá các ngành mới và tạo hiệu quả lan truyền cho kinh tế tư nhân. Hơn thế nữa trong một thời gian dài còn phải tích cực đầu tư vào các ngành tạo thu nhập cao. Để công nghiệp hoá – hiện đại hoá. ( Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế )

Hiện nay Nhà nước ta đang nắm độc quyền một số ngành kinh tế quan trọng như bưu chính viễn thông, điện, ngân hàng – tài chính,… Đó là các ngành chủ chốt của đất nước. Đồng thời hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay đang ngày được đổi mới cho phù hợp với cơ chế mới hoạt động hiệu quả hơn.

Nhà nước giữ một số ngành độc quyền cũng như phát triển kinh tế nhà nước là để định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế cũng như để giữ vững vai trò kinh tế của mình.

  • Nhà nước kiến tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đảm bảo ổn định chính trị xã hội thiết lập khuôn khổ luật pháp thống nhất, có hệ thống chính sách nhất quán tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt, có hiệu quả. Nhà nước đề ra hệ thống luật pháp, trên cơ sở đó đặt ra những điều luật cơ bản về quyền sở hữu tài sản và hoạt động của thị trường. Chính phủ cũng như chính quyền các cấp còn lập nên một hệ thống quy định chi tiết, các quy chế điều tiết,… nhằm tạo nên một môi trường thuận lợi và hành lang an toàn cho sự phát triển có hiệu quả của các hoạt động kinh tế xã hội.
  • Nhà nước khắc phục những hạn chế và tiêu cực của cơ chế thị trường, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân. Do cơ chế thị trường có nhiều tiêu cực nên Nhà nước cần có chính sách thích hợp nhằm hạn chế những tiêu cực đó. Như Nhà nước thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập để đảm bảo công bằng, giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo, có chiến lược phát triển nhằm bảo vệ môi trường sống, tài nguyên thiên nhiên, giảm bớt nạn thất nghiệp, tránh khủng hoảng.

Để Nhà nước thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân sao cho thoả mãn yêu cầu công bằng và hiệu quả. Để giải quyết tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập cần phải điều chỉnh lại hệ thống thuế để điều tiết một phần thu nhập của lớp người giàu. Giúp đỡ người nghèo có công ăn việc làm, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, cho vay vốn với chế độ ưu đãi,…

  • Nhà nước quản lý tài sản công và kiểm kê kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội.

Nhà nước là người thay mặt cho nhân dân quản lý các đặc quyền đặc lợi về kinh tế trong cương vị quốc gia. Về đối ngoại Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ các nguồn lực, ngăn chặn các âm mưu xâm chiếm các vùng đặc lợi, đặc quyền trong lòng đất, vùng trời và vùng biển. Về đối nội Nhà nước là người chủ sở hữu các nguồn lực này, phân bố sử dụng sao cho hợp lý. Nhà nước có nhiệm vụ kiểm soát và điều khiển các hoạt động kinh tế của xã hội, của tập thể, cá nhân sao cho đúng với guồng máy chung và đúng với pháp chế đề ra.

3. Các công cụ quản lý ( Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế )

Để đạt được các mục tiêu và thực hiện các chức năng đã nêu trên, Nhà nước phải sử dụng các công cụ sau:

a. Luật pháp:

Pháp luật kinh tế vừa là công cụ cưỡng chế các hành vi của các doanh nghiệp nếu như hoạt động sản xuất kinh doanh của họ làm tổn hại đến lợi ích của toàn xã hội. Đồng thời, pháp luật còn là công cụ tạo ra môi trường tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh làm cho các doanh nghiệp. Bởi vì nhờ có pháp luật mà các doanh nghiệp biết được cái họ không được làm. Pháp luật kinh tế ở nước ta gồm: luật đầu tư, luật công ty, luật thành lập toà án kinh tế, luật ngân sách.

b. Kế hoạch hoá: 

Là công cụ thể hiện các mục tiêu lý tưởng của một nền kinh tế mà nhờ có nó Chính phủ có thể phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp, các bộ, các ngành và các địa phương. Kế hoạch hoá là công cụ duy nhất để Nhà nước chuyển tải nội dung đường lối chính sách kinh tế. Đối với nước ta hiện nay kế hoạch phải mang tính định hướng, kế hoạch hoá không phải chỉ giao chỉ tiêu thực hiện mà còn là điều phối thực hiện theo dự án.

c. Hệ thống chính sách:

Hệ thống chính sách sẽ giúp Nhà nước có thể điều khiển hoạt động của các doanh nghiệp, mỗi chính sách là một hành lang hướng dẫn đầu tư, mở rộng sản xuất. Các chính sách bao gồm: Chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách kinh tế đối ngoại. Trong đó chính sách tài chính thể hiện ở thu và chi tiêu của Chính phủ, từ đó tác động đến tổng cung và tổng cầu, sản lượng giá cả. Còn chính sách tiền tệ là nhân tố quan trọng tác động đến sản lượng, thất nghiệp, lạm phát trong nền kinh tế quốc dân.

V. Các giải pháp cơ bản để đổi mới tăng cường vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế nước ta:

Khó khăn đặt ra ở đây là chúng ta xây dựng một nền kinh tế thị trường trong bối cảnh nền kinh tế kém phát triển, năng suất lao động thấp, sức ỳ, sức cản của nền sản xuất nhỏ của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung còn đang tồn tại dai dẳng trong mỗi chủ thể kinh tế, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt, nguy cơ tụt hậu luôn đe doạ. Về mặt chủ quan chuyển từ thói quen quản lý nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang quản lý nền kinh tế thị trường là một công việc không dễ dàng. Cùng một lúc, Nhà nước phải “bứt” ra khỏi những ràng buộc của thói quen quản lý nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lại vừa phải tìm phương thức, phương thức quản lý trong bối cảnh kinh tế mới, vừa tìm ra những phương thức phương pháp mới là một việc làm hoàn toàn mới mẻ và khó khăn, nó chưa được đặt ra và chưa được chuẩn bị trong quá khứ. Thêm nữa, qua một số năm chuyển sang nền kinh tế thị trường tuy rằng chúng ta đã thu được những thành tựu đáng kể để khích lệ nhưng đồng thời cũng xuất hiện những mặt trái như tham nhũng, buôn lậu, phân cực giàu nghèo, chạy theo lợi nhuận đơn thuần,… Trong điều kiện nước ta, khi nền kinh tế – xã hội còn chưa thoát ra khỏi trạng thái khủng hoảng, luật pháp còn thiếu và chúng ta lại chưa có kinh nghiệm tiến hành kinh tế thị trường thì các mặt trái đó càng có điều kiện bộc lộ rõ.

Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng tuy Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường nước ta, nhưng bản thân Nhà nước đang đứng trước những thử thách khắc nghiệt của điều kiện khách quan và chủ quan.

Để vượt qua thử thách và hoàn thành nhiệm vụ “định hướng xã hội chủ nghĩa” nền kinh tế thị trường thì bản thân nhà nước phải mạnh lên về mọi mặt. Vì vậy vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đang đặt ra một cách bức thiết. Có thể nêu ra một số biện pháp để tăng cường vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường của nước ta.

Có thể bạn quan tâm:

DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ – BẢNG GIÁ

1. Xác định mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội nước ta và bối cảnh quốc tế hiện nay: ( Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế )

Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội nước ta, tạo ra những cơ hội và những thách thức mới. Do đó các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế phải phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội nước ta và bối cảnh quốc tế hiện nay.

Để có cơ sở đề ra các chính sách đối ngoại và chỉ đạo có hiệu quả, cần tiếp tục cụ thể hoá mô hình phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục đích tăng trưởng cao và bền vững trên một số lĩnh vực sau đây:

Một là, quan hệ giữa các định hướng phát triển dựa vào việc xuất khẩu tài nguyên thô hoặc sơ chế, dựa vào các nguồn lực bên trong, tự lực cánh sinh và thay thế nhập khẩu,… với các yếu tố bên ngoài.

Hai là, quan hệ giữa tập trung vào các ngành và vùng trọng điểm đồng thời phát triển các vùng trong cả nước, trong giai đoạn trước mắt, cần ưu tiên ngành và vùng trọng điểm nhằm đạt hiệu quả đầu tư cao và thu hồi vốn nhanh.

Ba là, mối quan hệ giữa xây dựng các công trình có quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ trong điều kiện tổng số vốn có hạn.

Bốn là, mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp tiên tiến và công nghệ trung gian, xử lý thoả đáng những vấn đề sở hữu trí tuệ, vai trò của thông tin, của quản lý và chất xám trong nền kinh tế hiện đại.

Năm là, trong chiến lược phát triển ngành cần tập trung chú ý đến nông nghiệp trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đất nước.

Sáu là, đi đôi với việc xác định chiến lược lâu dài Nhà nước phải xây dựng các chương trình, kế hoạch cho từng thời kỳ. Nội dung kế hoạch và phương thức kế hoạch hoá của Nhà nước trong mô hình kinh tế mới được tổ chức theo hướng:

  • Kế hoạch hoá mang tính định hướng.
  • Kế hoạch hoá không phải giao chỉ tiêu để thực hiện mà còn điều phối sự thực hiện theo dự án.

Trên cơ sở một định hướng đúng đắn, Nhà nước điều tiết, thay đổi cơ cấu kinh tế cho phù hợp với thị trường thế giới.

2. Tăng trưởng kinh tế và điều kiện đảm bảo tăng trưởng cao, bền vững ( Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế )

Trong những năm trước mắt, vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu để chống tụt hậu xa là đảm bảo tốc độ tăng trưởng cao và ổn định.

Hiện nay, ở nước ta GDP bình quân trên đầu người so với các nước trong khu vực và trên thế giới rất thấp ở vào khoảng 230 USD. Theo số liệu của liên hiệp quốc thì Việt Nam là một trong số các nước nghèo nhất thế giới.

Vấn đề có ý nghĩa quyết định để có thể tăng trưởng kinh tế cao và ổn định là phải đảm bảo các điều kiện về giải quyết các mối liên hệ trong quá trình tăng trưởng. Những điều kiện và các mối quan hệ này là:

a. Về vốn:

Muốn có tốc độ tăng trưởng cao trong điều kiện nước ta đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn. Để có nguồn vốn thì phải dựa vào hai nguồn vốn: vốn trong nước và vốn nước ngoài.

* Đối với vốn đầu tư trong nước:

Trước hết việc huy động vốn đầu tư phải gắn liền với chính sách thực hiện tiết kiệm và sử dụng tiền tiết kiệm của dân cư và doanh nghiệp vào đầu tư.

Để có vốn đầu tư trong nước cần phải

  • Có chính sách tiết kiệm trong cả nước, coi tiết kiệm là quốc sách. Thực hiện tiết kiệm cả trong sản xuất và tiêu dùng, khuyến khích tiêu dùng phù hợp với khả năng của nền kinh tế. Phải sử dụng cả các biện pháp kinh tế lẫn biện pháp giáo dục chính trị tạo ra tâm lý tiết kiệm trong toàn dân, chính sách tiết kiệm cần đảm bảo:

Thứ nhất, phát huy được lượng tiền tiết kiệm của dân cư đưa vào ngân hàng và đầu tư phát triển. Muốn vậy, phải phát triển thị trường vốn đa dạng. Hiện nay thị trường vốn nước ta còn rất yếu và thiếu, chưa đủ sức huy động nguồn vốn trong nền kinh tế, chưa sử dụng đầy đủ nguồn vốn huy động được vào đầu tư.

Để có thể huy động và sử dụng các nguồn vốn vào đầu tư cần phải:

+ Đảm bảo lãi suất tiền gửi phải cao hơn tỷ lệ lạm phát

+ Phát hành công trái để huy động vốn

+ Phát triển công ty cổ phần và thị trường chứng khoán.

Thứ hai, tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi để có thể thu hút vốn đầu tư trong nước. ở đây có nhiều vấn đề phải giải quyết, trong đó đặc biệt quan trọng là phải tạo ra tâm lý tin tưởng đầu tư của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Theo tính toán của nhiều chuyên gia kinh tế nước ta, số vốn đầu tư của tư nhân trong nước vào nền kinh tế còn quá thấp so với thực lực của họ. Hơn nữa số vốn đó lại chủ yếu đầu tư vào thương mại, còn vào lĩnh vực sản xuất trực tiếp rất ít.

Thứ ba, tăng cường các biện pháp kinh tế vĩ mô, kìm chế lạm phát, đảm bảo thu hút được tiền gửi tiết kiệm dài hạn, trung hạn.

Thứ tư, thực hiện việc thương mại hoá mọi nguồn vốn đầu tư, xây dựng nhà ở cho cán bộ, công nhân viên chức đến vốn cấp phát và đầu tư xây dựng cơ bản, thống nhất lãi suất đối với các loại vốn cho vay. ( Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế )

* Đối với vốn vay nước ngoài để khuyến khích đầu tư vào Việt Nam cần:

Thứ nhất, kết hợp chặt chẽ các hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp khi xây dựng các dự án để thu hút vốn nước ngoài.

Thứ hai: đối với vốn đầu tư trực tiếp FDI cần hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách và cải tiến quản lý Nhà nước để thu hút vốn FDI cũng như có luật thương mại, kinh doanh bất động sản, khai khoáng và hoàn thiện luật đầu tư nước ngoài; có quy chế rõ ràng về thế chấp, cầm cố thanh lý doanh nghiệp, về khu công nghiệp cao, khu thương mại tự do, chính sách thuế, tiền thuê đất, tiền nhập khẩu, đền bù và giải phóng mặt bằng đầu tư vào miền núi, trung du, cho người nước ngoài được mua cổ phần các doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ ba: cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài cho phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời đảm bảo thủ tục gọn nhẹ.

Thứ tư: xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nhằm tăng sức hấp dẫn và môi trường đầu tư thuận lợi.

Thứ năm: cần phải có một cơ quan nhà nước về quản lý nợ nước ngoài để tư vấn cho việc huy động, quản lý, sử dụng và trả nợ nước ngoài để tránh tình trạng nợ nần chồng chất.

b. Về công nghệ:

Theo tính toán của nhiều nước trong khu vực thì công nghệ đóng góp một phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Có những nước tỉ lệ của phần khoa học công nghệ đóng góp trong tăng trưởng kinh tế tới 1,5%. ở nước ta việc lựa chọn ứng dụng được công nghệ thích hợp cũng là điều kiện để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao.

Để có chính sách đúng đắn trong chuyển giao công nghệ, chúng ta cần phải quán triệt nguyên tắc sau:

  • Phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ của đất nước, rút ngắn khoảng cách lạc hậu giữa nước ta với các nước. Phải gắn chặt quá trình chuyển giao công nghệ, quá trình phát triển khoa học kỹ thuật với sản xuất kinh
  • Thực hiện chuyển giao công nghệ đối với mọi thành phần kinh tế, đảm bảo có những công nghệ vừa tiên tiến vừa phù hợp với yêu cầu trình độ phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
  • Chuyển giao công nghệ phải gắn với bảo vệ môi trường tránh nhập những công nghệ lạc hậu, vừa gây ô nhiễm môi trường sinh thái, vừa tổn thất cho ngân sá nhà nước.
  • Quá trình chuyển giao công nghệ phải được Nhà nước quản lý chặt chẽ.

Đối với nước ta, một nước có nguồn lao động dồi dào lại thiếu việc làm, thì bên cạnh việc chuyển giao những công nghệ cao như điện tử, tin học, phải chú ý tới công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến; tiến hành tổ chức các hình thức kinh doanh đảm bảo cho chuyển giao công nghệ có hiệu quả, tăng cường vai trò tư vấn kể cả tư vấn nước ngoài; đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ có trình độ làm việc trong lĩnh vực này, hoàn thiện các chính sách kinh tế vĩ mô, các luật liên quan đến chuyển giao công nghệ. ( Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế )

c. Về lao động:

Trong mọi kiểu tăng trưởng, lao động luôn là nhân tố quyết định. Lê nin nói: lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn xã hội là công nhân, là người lao động. Có công nghệ có vốn nhưng không có lao động thì vốn công nghệ chỉ là những vật chất. Vì vậy cần phải quan tâm phát triển nguồn lực do đó chúng ta phải làm

  • Đảm bảo cho người lao động có việc làm. Hiện nay lực lượng lao động không có việc làm ở nước ta còn chiếm tỷ trọng lớn, việc đảm bảo việc làm đang là một sức ép cho nền kinh tế. Để giải quyết vấn đề này không chỉ phụ thuộc vào đầu tư của ngân sách Nhà nước vốn rất eo hẹp, mà tiềm lực lớn nhất là sự đầu tư rộng rãi của dân cư trong mọi thành phần kinh tế. Điều đó đòi hỏi phải đẩy mạnh phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo môi trường để mọi thành phần yên tâm đầu tư, tạo ra chỗ làm việc thu hút lao động nhàn dỗi trong xã hội để tăng trưởng.
  • Tăng cường đầu tư cho giáo dục đào tạo, cần tăng tỷ trọng đầu tư cho giáo dục đào tạo, đặc biệt là đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật công nhân lành nghề, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
  • Cần phải nâng cao kỷ luật lao động trong công nhân; truyền thống và tinh thần quyết tâm lao động sản xuất để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn phải được thấm sâu vào từng người dân, từng người lao động.

d. Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát:

Giữa tăng trưởng và lạm phát, thất nghiệp có mối quan hệ nhất định. Nếu xử lý mối quan hệ này thiếu khoa học sẽ dẫn đến dối loạn kinh tế xã hội.

Đối với nước ta nếu muốn đạt tốc độ tăng trưởng 10%.năm thì tốc độ lạm phát là bao nhiêu là vấn đề đang được tranh luận. Những ý kiến đáng chú ý hiện nay cho rằng, để có thể cất cánh được, nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới có thể cho phép duy trì tốc độ lạm phát cao hơn tăng trưởng khoảng 1,2-1,5 lần, sau đó khi nền kinh tế dần dần đi vào ổn định vận hành theo quy luật thì giảm tốc độ lạm phát xuống tương ứng với mức độ tăng trưởng kinh tế.

e. Giải quyết quan hệ tăng trưởng và dân số

Vấn đề giảm tốc độ tăng dân số là một nhân tố để tăng thu nhập bình quân đầu người là một vấn đề trọng tâm của toàn xã hội, cần phải có chính sách giải quyết kiên quyết. Liên quan tới chính sách này có cả giải pháp giáo dục và giải pháp kinh tế. Cần đặc biệt tăng cường vai trò Nhà nước trong việc sử dụng các chính sách thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ, trợ cấp và chính sách xã hội khác.

g. Giải quyết quan hệ tăng trưởng và vấn đề môi trường

Nếu không giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng và bảo vệ môi trường thì sẽ có nguy cơ đối với tăng trưởng kinh tế.

ở nước ta hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường, tình trạng tàn phá rừng đầu nguồn, ô nhiễm nguồn nước, xói mòn đất đai, vẩn đục bầu không khí đang là mối lo ngại đối với nền kinh tế. Theo nhiều chuyên gia nếu tình trạng suy thoái môi trường tiếp tục như hiện nay thì đến đầu thế kỷ 21 Việt Nam sẽ không còn rừng và tỷ lệ diện tích bạc mầu ngày càng cao hơn. Vì vậy quá trình tăng trưởng kinh tế cần phải có các biện pháp bảo vệ môi trường. Điều này đòi hỏi Nhà nước cần phải có một quy hoạch, kế hoạch tổng thể để quản lý tài nguyên môi trường; phải có chương trình giáo dục phổ cập về tài nguyên môi trường và phát triển.

h. Giải quyết quan hệ tăng trưởng và thị trường:

Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện vật chất để mở rộng thị trường. Ngược lại sự phát triển thị trường thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, thị trường Việt Nam đang được hình thành còn ở mức sơ khai. Sự phát triển yếu kém, thiếu đồng bộ của thị trường nước ta chưa tạo điều kiện cho nền kinh tế vận hành thông suốt do đó là cho tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa thể đạt mức cao và ổn định. Vấn đề đặt ra là phải phát triển đồng bộ và hoàn thiện hệ thống thị trường. Hệ thống thị trường phải được phát triển hoàn chỉnh bao gồm thị trường tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, thị trường sức lao động, đất đai, thị trường vốn, thị trường trong nước và thị trường nước ngoài, thị trường ở khu đô thị, khu công nghiệp và thị trường nông thôn vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc quyền với cạnh tranh và tự do cạnh tranh quốc tế và bảo hộ mậu dịch.

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

3. Đổi mới cơ chế quản lý và sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước ( Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế )

  • Việc tổ chức lại doanh nghiệp Nhà nước, trước hết cần dựa trên hai tiêu thức cơ bản: tính chiến lược và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó xác định cụ thể các ngành, các lĩnh vực, doanh nghiệp Nhà nước cần tập trung vốn đầu tư phát triển, tiến hành cơ cấu lại và cổ phần hoá với các mức độ và phương thức khác

Tiến hành giải thể các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ đi đôi với việc cổ phần hoá một số doanh nghiệp Nhà nước hoạt động có hiệu quả để giảm chi và tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Nhà nước cần tập trung nguồn lực phát triển những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thương mại dịch vụ có quan hệ đến quốc phòng an ninh, có quy mô nói chung thuộc loại vừa và lớn, công nghệ tiên tiến kinh doanh có hiệu quả.

  • Về cơ chế quản lý và chính sách trước hết cần xác định các quyền đại diện sở hữu hợp pháp và địa vị pháp lý của doanh nghiệp Nhà nước, làm rõ các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước, giữa doanh nghiệp với các đối tác hoạt động kinh

Nhà nước thực hiện giao quyền tự chủ rộng rãi cho các doanh nghiệp Nhà nước đồng thời hạn chế tối đa tình trạng độc quyền.

Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý vĩ mô đối với doanh nghiệp Nhà nước bằng cách:

+ Tạo môi trường và điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

+ Hướng dẫn và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thông qua kế hoạch và chính sách kinh tế.

+ Hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển kinh tế và xã hội.

+ Quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài nguyên quốc gia nhằm bảo tồn và phát triển những tài sản đó.

Đối với doanh nghiệp Nhà nước nói chung cần thực hiện hạch toán và phải thực hiện đầy đủ đối với nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Xóa bỏ sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế. Có các chính sách, cơ chế đối với doanh nghiệp nhằm đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu và nhiệm vụ. Tiến hành cho thuê, nhượng bán, chuyển đổi sở hữu những doanh nghiệp xét thấy không cần duy trì hình thức doanh nghiệp Nhà nước. Thực hiện từng bước cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước.

  • Tổ chức lại cơ cấu quản lý nội bộ doanh nghiệp Nhà nước, hình thành các hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, hội đồng giám sát, ban giám đốc điều hành.

4. Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ ( Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế )

Yêu cầu quan trọng đầu tiên của các văn bản pháp luật là phải thể chế hoá đúng đường lối quan điểm của Đảng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Các chế định pháp lý phải phù hợp với các yêu cầu thực tế của cuộc sống. Phải dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Việt Nam.

Hệ thống pháp luật cần được bổ sung và hoàn thiện trên các lĩnh vực sau:

  • Trong việc sử dụng chuyển nhượng cho thuê đất, thị trường bất động sản, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, mua bán các giấy tờ có giá, công ty tài chính, chế độ kế toán kiểm toán và báo cáo tài chính công khai bắt buộc.
  • Bổ sung điều chỉnh bộ luật thuế tránh chồng chèo, phân tán theo hướng mở rộng phạm vi thu nhưng giảm mức thu nhằm khuyến khích tích cực tự giác đóng góp của người sản xuất kinh
  • Khuyến khích đầu tư trong nước: sửa đổi bổ sung luật công ty và luật doanh nghiệp.
  • Xây dựng bộ luật thương mại, luật ngân sách, luật hành chính Nhà nước.
  • Nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật, hoàn thiện hệ thống các cơ quan thi hành pháp luật.
  • Xác định rõ trách nhiệm thẩm quyền của từng cá nhân.

5. Cải cách hành chính gắn liền với đổi mới kinh tế:

Cải cách hành chính nhằm tổ chức lại cơ bản nền hành chính Nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi phải được tiến hành đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy, xây dựng đào tạo đội ngũ công chức hành chính, cải cách thủ tục hành chính.

Cải cách hành chính phải kết hợp chặt chẽ với quá trình đổi mới hoạt động lập pháp, cải cách tư pháp và có quan hệ mật thiết với đổi mới hoạt động của hoạt động chính trị, hoàn thiện cơ chế: Đảng lãnh đạo – nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.

Kết luận ( Luận văn giải pháp đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế )

Trong thời đại hiện nay, Nhà nước nào cũng đều có vai trò nhất định trong sự phát triển của đất nước nói chung và phát triển kinh tế nói riêng: Vai trò kinh tế của Nhà nước được thể hiện ở việc Nhà nước sử dụng các công cụ kinh tế vĩ mô để điều tiết nền kinh tế.

Sau hơn mười năm thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội. Tuy nhiên nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, yếu kém đặc biệt là nước ta chưa thoát khỏi một nước nghèo. Để vượt quá bức tường đó trước mắt chúng ta không ít những thách thức lớn, trong đó nguy cơ tụt hậu to lớn và gay gắt. Đồng thời chúng ta cũng có cơ hôi mới để phát triển. Vấn đề đặt ra là phải chủ động nắm thời cơ kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ nhằm vươn lên phát triển nhanhvững chắc và đúng hướng. Điều đó đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm thực hiện tốt hơn nữa chức năng định hướng và chỉ đạo sự phát triển, dẫn dắt nội lực phát triển tạo khuôn khổ pháp luật thống nhất, môi trường ổn định, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường,… đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh ổn định vững chắc và công bằng xã hội…

Các bạn có thể tham khảo thêm:

→ Luận văn Vai trò Nhà nước trong nền kinh tế thị trường XHCN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537