Từ khi đổi mới đến nay, những vấn đề liên quan đến cơ chế thị trường của nền kinh tế được nghiên cứu nhiều hơn những vấn đề liên quan đến cơ chế kế hoạch. Vì vậy mà mình muốn chia sẻ đến các bạn chủ đề :” Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường Việt Nam” là bài mẫu tài liệu cho các bạn học ngành Kinh tế tham khảo. Luận văn chủ yếu tập trung vào thời kỳ Đổi mới từ 1986 đến nay. Tuy nhiên, Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế cũng đề cập đến giai đoạn trước đổi mới bởi nó là cơ sở để đánh giá đầy đủ hơn công tác kế hoạch hoá vĩ mô ở Việt Nam.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài.
Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô là công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng định hướng nền kinh tế, quy tụ hành động của các doanh nghiệp và người tiêu dùng cá thể thành”véc tơ” vận động của nền kinh tế đảm bảo sự phát triển bền vững. Hiện nay, vấn đề kế hoạch và thị trường là mỗi quan tâm hàng đầu của nhiều nhà nghiên cứu, không những ở nước ta mà ở hầu hết các nước trên thế giới vì muốn tìm tòi một mô hình quản lý kinh tế vĩ mô thích hợp và có hiệu quả hơn.
Trước đây, trong cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô ở nước ta được tiến hành theo nguyên tắc tập trung hoá cao độ từ cấp Trung ương đến cấp địa phương, cơ sở chủ yếu dựa vào quan hệ cấp phát, giao nộp sản phẩm theo mệnh lệnh hành chính, các biện pháp khác ít được coi trọng. Nhà nước can thiệp quá sâu vào các lĩnh vực kinh tế, đóng vai trò người chỉ huy các hoạt động kinh tế. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Công cuộc đổi mới đất nước được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng kể từ năm 1986, nước ta đã chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng có đề cập:” Nhà nước ta quản lý nền kinh tế theo nguyên tắc kết hợp thị trường với kế hoạch, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân”. Đây là một vấn đề mới mẻ và còn có rất nhiều ý kiến khác nhau.
Từ khi chuyển sang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Vai trò của kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô đã được đánh giá lại. Vấn đề của thực tiễn đặt ra là chúng ta phải tiến hành đổi mới kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô như thế nào để từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta phát huy mặt tích cực của cơ chế thị trường và cả sự quản lý của nhà nước. Vì lẽ đó mà tôi chọn đề tài luận văn là:” Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Từ khi đổi mới đến nay, những vấn đề liên quan đến cơ chế thị trường của nền kinh tế được nghiên cứu nhiều hơn những vấn đề liên quan đến cơ chế kế hoạch. Và càng ít các công trình nghiên cứu về kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, cũng đã có các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài được đăng tải trên một số tạp chí nghiên cứu chuyên ngành. Sau đây là một số tác phẩm và bài viết chính:
Lê Hồng Tiến: Kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trường, Tạp chí Cộng sản số 02/97.
Trần Ngọc Trang: Tiếp tục hoàn thiện kế hoạch hoá trong điều kiện tác động của cơ chế thị trường, tạp chí Kinh tế và dự báo số 9+10/1995.
Hồng Sơn: Kế hoạch hoá phát huy tác dụng trong nền KTTT như thế nào?, Thông tin kinh tế – kế hoạch số 3/1992.
Tuy vậy, tất cả mới chỉ là những bài báo nghiên cứu nhỏ lẻ, chưa có một bài viết nghiên cứu hệ thống, đầy đủ về công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường Việt Nam từ những năm đổi mới đến nay.
3. Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ sự cần thiết và tình hình nghiên cứu như trên, mục tiêu của luận văn chú trọng vào những điểm chính sau:
Hệ thống hoá cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường.
Đánh giá thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô của Việt Nam từ khi tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế đến nay.
Nghiên cứu và đề xuất một số quan điểm, phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong thời gian tới ở nước ta.
Có thể bạn quan tâm:
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Đối tượng chủ yếu mà luận văn đề cập là công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn không nghiên cứu toàn bộ vấn đề kế hoạch mà chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở chỗ làm rõ vai trò, vị trí của kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Về phạm vi thời gian, luận văn chủ yếu tập trung vào thời kỳ Đổi mới từ 1986 đến nay. Tuy nhiên, luận văn cũng đề cập đến giai đoạn trước đổi mới bởi nó là cơ sở để đánh giá đầy đủ hơn công tác kế hoạch hoá vĩ mô ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, diễn dịch, tổng hợp, thống kê, so sánh.
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn:
Hệ thống một số luận thuyết và kinh nghiệm quốc tế về kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường.
Đưa ra những đánh giá có căn cứ khoa học về thực trạng công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Đề xuất một số quan điểm, phương hướng, giải pháp và một số kiến
nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được sắp xếp thành 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô của Việt Nam.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KẾ HOẠCH HÓA KINH TẾ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. KINH TẾ THỊ TRƯỜNG .
1.1.1. Đặc tính chung .
Kinh tế hàng hóa là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế tồn tại và phát triển trong nhiều hình thái kinh tế – xã hội. KTHH là loại hình tiến bộ, là nấc thang cao hơn kinh tế tự nhiên – tự cấp, tự túc – trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Kinh tế thị trường ( KTTT ) là trình độ phát triển cao của KTHH, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và”đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường.
Trong xã hội, cứ có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì tất yếu có thị trường. Quy mô của lưu thông hàng hóa và sức mua của xã hội quyết định dung lượng thị trường. Đến lượt mình, sử dụng, mở rộng và lành mạnh hóa thị trường lại có tác dụng thúc đẩy lưu thông hàng hóa phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng
Thị trường là tập hợp các sự thỏa thuận thông qua đó, người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Do vậy, thị trường gắn với lĩnh vực lưu thông hàng hóa, thị trường hình thành ở đâu thì ở đó có cung- cầu hàng hóa, nói đến thị trường là nói đến hàng hóa, giá cả, tiền tệ, người bán, người mua… Thị trường là tổng hòa những mối quan hệ mua – bán trong xã hội, được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử kinh tế – xã hội nhất định. Cơ sở của thị trường là sự phân công lao động xã hội và sự độc lập tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất. Trình độ và quy mô thị trường gắn liền với trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, sản xuất và sức mua của xã hội. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Thị trường có các đặc trưng chủ yếu: Thứ nhất, trên thị trường: giá cả là phạm trù kinh tế trung tâm, là công cụ quan trọng thông qua cung – cầu để kích thích và điều tiết hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế tham gia thị trường. Sự biến động của cung – cầu kéo theo sự biến động của giá cả thị trường và ngược lại, giá cả thị trường cũng điều tiết cung – cầu.
Thứ hai, có sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể kinh tế tham gia thị trường nhằm giành giật những điều kiện sản xuất, kinh doanh thuận lợi. Trong cuộc cạnh tranh đó có người được và người thua, nên sự phá sản của một bộ phận Doanh nghiệp là không tránh khỏi. Cần phân biệt cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh lành mạnh là sự cạnh tranh được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và bằng việc áp dụng những biện pháp kinh tế, kỹ thuật, nhằm nâng cao năng suất lao động, số lượng – chất lượng, hàng hóa, dịch vụ, bằng việc tiết kiệm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông để nâng cao mức lãi. Cạnh tranh lành mạnh là động lực của sự phát triển KTTT. Cạnh tranh không lành mạnh là sự cạnh tranh được tiến hành bằng những hình thức và thủ đoạn phi kinh tế, lẩn tránh sự kiểm soát của Nhà nước, kinh doanh phi pháp để có lãi. Sự cạnh tranh này gây thiệt hại cho người tiêu dùng và những đối tác có liên quan, do vậy, cần được Nhà nước thông qua luật pháp để nghiêm trị.
Thứ ba, tính hiệu quả của KTTT đòi hỏi phải có một thị trường hoàn chỉnh. Thị trường phát triển hoàn chỉnh là thị trường xã hội thống nhất, không chia cắt, là một thị trường đồng bộ giữa các loại thị trường ( TLSX, TLTD, vốn, kỹ thuật, tiền tệ, SLĐ…) và có hệ thống luật pháp thống nhất chi phối.
Thứ tư, có 3 hình thái thị trường:
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người bán, nhiều người mua, sản phẩm đồng nhất, các yếu tố sản xuất có tính linh hoạt cao, việc gia nhập hoặc rời bỏ thị trường dễ dàng và Doanh nghiệp là người chấp nhận giá.
- Thị trường độc quyền là thị trường do một người bán hoặc một người mua, sản phẩm là độc nhất, việc gia nhập, rời bỏ thị trường là khó khăn, giá cả do tổ chức độc quyền quyết định.
- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo hay còn gọi là thị trường vừa có tính cạnh tranh vừa có tính độc quyền. Đây là thị trường độc quyền 2 người hay độc quyền nhóm, cạnh tranh có tính độc quyền.
Nền KTTT vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Cơ chế thị trường ( CCTT) là cơ chế kinh tế nảy sinh một cách tất yếu từ sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Cơ chế thị trường là hệ thống hữu cơ các nhân tố giá cả, cạnh tranh, cung cầu… trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau và phát huy tác dụng điều tiết thị trường. Nó là cơ chế bên trong của KTTT, có tính tất yếu khách quan trong mối liên hệ giữa các chủ thể thị trường với các nhân tố thị trường ( giá cả, cạnh tranh, cung – cầu) và hình thành cơ chế điều tiết thị trường. Do đó, cơ chế thị trường còn gọi là cơ chế điều tiết thị trường đối với mọi hoạt động kinh tế, là guồng máy vận hành của nền kinh tế, là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn lực ( vốn, tài nguyên, SLĐ, TLSX). Căn cứ vào thị trường các Doanh nghiệp sẽ quyết định: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai, KTTT đòi hỏi phát triển SXHH, mọi sản phẩm là hàng hóa, mở rộng thị trường về mọi phương tiện, tự do sản xuất, kinh doanh tự do thương mại, đa dạng hóa hình thức sở hữu hình thức phân phối. Trong đó nó có các đặc trưng: đặc trưng cơ bản nhất là cơ chế hình thành giá cả một cách tự do, người bán và người mua thông qua đó để xác định giá cả, đặc trưng cơ bản thứ hai là lựa chọn tối ưu hóa các hoạt động kinh tế để đạt được lợi nhuận tối đa. Sự quản lý can thiệp vĩ mô của Nhà nước phải thích hợp với yêu cầu của các qui luật đó. Nhà nước phải sử dụng chủ yếu các công cụ, biện pháp kinh tế, luật pháp, quy hoạch kế hoạch định hướng, chính sách kinh tế – xã hội và khả năng, sức mạnh kinh tế của Nhà nước để tác động tới thị trường điều tiết hoạt động của các Doanh nghiệp cho phù hợp. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
CCTT có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Về mặt tích cực: nó là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế nên rất linh hoạt, mềm dẻo, uyển chuyển, nó có tác dụng kích thích mạnh và nhanh sự quan tâm thường xuyên đến đổi mới kỹ thuật, công nghệ quản lý, đến nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng, nó có tác dụng lớn trong việc bình tuyển các Doanh nghiệp và cá nhân quản lý kinh doanh giỏi. Trên cơ sở đó, CCTT kích thích sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển… Bên cạnh đó nó cũng có mặt tiêu cực: Trên thị trường chứa đựng tính tự phát, chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn mất cân đối. Vì mục tiêu chạy theo lợi nhuận, các nhà sản xuất kinh doanh có thể gây nhiều hậu quả xấu như: môi trường bị tàn phá, thất nghiệp, phá sản, cạnh tranh không lành mạnh, phân hóa, phân tầng xã hội cao, lợi ích công cộng bị coi nhẹ, các vấn đề công bằng, tệ nạn xã hội gia tăng, xuất hiện nhiều người làm ăn bất hợp pháp… Do đó, để hạn chế những khuyết tật đó đòi hỏi Nhà nước phải quản lý nền KTTT. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, qui hoạch, kế hoạch định hướng, bằng các công cụ, chính sách, biện pháp kinh tế… CCTT chịu sự tác động rất mạnh của các qui luật kinh tế hàng hóa, do đó sự can thiệp vĩ mô của Nhà nước phải phù hợp với yêu cầu của các quy luật KTHH.
1.1.2. Tính đặc thù của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
Phát triển KTTT có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với nước ta. Bởi vì, nước ta muốn chuyển từ nền kinh tế còn kém phát triển lên sản xuất lớn XHCN thì không còn con đường nào khác là phải phát triển KTTT, KTTT khắc phục được hạn chế của kinh tế tự nhiên – tự cấp, tự túc, đẩy mạnh phân công lao động xã hội, mở rộng ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động, khuyến khích ứng dụng công nghệ – kỹ thuật mới nhằm tăng NSLĐ, tăng số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, thúc đẩy tích tụ tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế giữa các địa phương, các vùng lãnh thổ, thúc đẩy việc phát huy tính năng động sáng tạo của mỗi người lao động, mỗi đơn vị kinh tế, đồng thời tạo ra cơ chế phân bổ và sử dụng các nguồn lực của xã hội hợp lý, tiết kiệm… Vì vậy, phát triển KTTT được coi là chiếc đòn xe để xây dựng CNXH, là phương tiện khách quan để xã hội hóa XHCN nền sản xuất. Không thể có nền KTTT ở nước này lại là bản sao của KTTT ở nước khác. Trong các tiêu thức để phân biệt nền KTTT này với nền KTTT khác, phải kể đến định hướng chính trị, kinh tế – xã hội chi phối sự vận động phát triển của nền kinh tế. Ở Việt Nam những định hướng XHCN của nền kinh tế là:
- Phát triển nền KTTT với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, với sự đa dạng các hình thức sở hữu và các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
- Phát triển nền KTTT vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng XHCN đảm bảo thống nhất giữa sự phát triển, tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.
- Xây dựng một nền KTTT hòa nhập vào nền KTTT khu vực và thế giới với nhiều hình thức quan hệ và liên kết phong phú, đa phương, đa dạng.
Với định hướng trên, mục tiêu phát triển nền KTTT định hướng XHCN được xác định là: tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế. Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, tăng thêm các nguồn lực mới bằng cách nâng cao tỷ lệ tiết kiệm, tăng tích lũy và đầu tư hiện đại hóa, đổi mới cơ cấu kinh tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao… để đưa nước ta thoát khỏi một nước nghèo và kém phát triển.
Theo mục tiêu đó, có thể xác định những đặc trưng bản chất của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta: Một là, KTTT định hướng XHCN là một kiểu tổ chức nền kinh tế trong quá trình đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế còn kém phát triển. Kiểu tổ chức nền kinh tế này nhằm nhanh chóng đưa nước ta đạt đến mục tiêu” dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”. Hai là, nền KTTT định hướng XHCN là một nền kinh tế gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nước và kinh tế hợp tác phải trở thành nền tảng và kinh doanh Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các TPKT đều vận động theo định hướng chung và theo khung khổ pháp luật của Nhà nước XHCN. Ba là, nền KTTT định hướng XHCN thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của KTTT, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của CNXH. Bốn là, nền KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế”mở” cả với bên trong và với bên ngoài. Tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế – xã hội, hoạt động của CCTT không chỉ chịu sự tác động của các qui luật KTHH nói chung, mà còn chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế đặc thù của các PTSX chủ đạo. Do vậy, mô hình CCTT có sự quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế TBCN và trong nền kinh tế định hướng XHCN có những điểm khác nhau cơ bản: ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Về chế độ sở hữu: CCTT trong nền kinh tế TBCN luôn hoạt động trên nền tảng của chế độ tư hữu về TLSX, trong đó các công ty tư bản độc quyền giữ vai trò chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Cơ chế thị trường trong nền KTTT theo định hướng XHCN lại hoạt động trong môi trường có sự đa dạng các quan hệ sở hữu, trong đó chế độ công hữu giữ vai trò là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, với vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà nước. Tính định hướng XHCN đòi hỏi trong quá trình phát triển KTHH nhiều thành phần phải củng cố sự phát triển kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế có khả năng điều tiết, hướng dẫn sự phát triển của nền KTHH nhỏ và TBCN. Kinh tế Nhà nước phải được củng cố và phát triển ở các lĩnh vực dịch vụ xã hội cần thiết… mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư vì không sinh lời hoặc ít lãi .
Về tính giai cấp của Nhà nước và mục đích quản lý của Nhà nước trong cơ chế thị trường TBCN, sự can thiệp của Nhà nước luôn mang tính chất tư sản và trong khuôn khổ của chế độ tư sản với mục đích nhằm tạo môi trường kinh tế – xã hội thuận lợi cho sự thống trị của giai cấp tư sản, cho sự bền vững của chế độ bóc lột TBCN. Trong cơ chế thị trường có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN thì sự can thiệp của Nhà nước XHCN vào nền kinh tế lại nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của toàn thể nhân dân lao động, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Về cơ chế vận hành: cơ chế vận hành nền KTTT định hướng XHCN là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Cơ chế đó đảm bảo tính hướng dẫn, điều khiển nền kinh tế nhiều thành phần hướng tới đích XHCN theo phương châm: Nhà nước điều tiết vĩ mô, thị trường hướng dẫn Doanh nghiệp. Cơ chế đó thể hiện ở các mặt cơ bản: Một là, Nhà nước XHCN là nhân tố đóng vai trò”nhân vật trung gian” và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Hai là, CCTT là nhân tố trung tâm của nền kinh tế, đóng vai trò”trung gian” giữa Nhà nước và Doanh nghiệp.
Về mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với công bằng xã hội: Trong sự phát triển KTTT TBCN, vấn đề công bằng xã hội chỉ được đặt ra khi mặt trái của cơ chế thị trường đã làm gay gắt, nảy sinh các vấn đề xã hội, tạo ra nguy cơ bùng nổ xã hội, đe dọa sự tồn tại của CNTB. Song, vấn đề này không bao giờ và không thể nào giải quyết được triệt để trong chế độ tư bản. Mục đích giải quyết của các Chính phủ tư sản chỉ giới hạn trong khuôn khổ TBCN, chỉ là phương tiện dể duy trì chế độ TBCN. Ngược lại, trong nền KTTT định hướng XHCN, Nhà nước chủ động ngay từ đầu việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Vấn đề công bằng xã hội không chỉ là phương tiện để phát triển KTTT mà còn là mục tiêu của chế độ xã hội mới. Sự thành công của KTTT theo định hướng XHCN không chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng cao mà còn ở chỗ mức sống thực tế của mọi tầng lớp dân cư đều được nâng lên, y tế, giáo dục đều phát triển, khoảng cách giàu nghèo được thu hẹp, đạo đức, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ vững, môi trường sinh thái được bảo vệ.
Về phân phối thu nhập, sự thành công của nền KTTT định hướng XHCN không chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn vì mục đích cuối cùng là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đảm bảo tốt các vấn đề xã hội. Đặc trưng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN thể hiện ở việc xác định các chỉ tiêu hiệu quả cần đạt được như: tốc độ tăng GDP/người, các chỉ tiêu phát triển giáo dục, y tế, việc làm, xóa đói giảm nghèo, về Văn hóa – Xã hội, đảm bảo môi trường sinh thái…Và nâng cao chức năng xã hội của Nhà nước XHCN trong chế độ bảo hiểm xã hội, trong chính sách phân phối thu nhập, đồng thời có cuộc sống đảm bảo xã hội đối với những đối tượng đặc biệt ( gia đình có công với cách mạng, thương binh, người tàn tật….).
Để đạt được các yêu cầu đó đặt ra cho KTTT định hướng XHCN phải kết hợp hài hòa 3 vấn đề: Một là, kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội. Mục đích của sự kết hợp này là vừa đảm bảo cho các chủ thể của KTTT có được lợi nhuận cao, vừa tạo được điều kiện chính trị – xã hội bình thường cho sự phát triển kinh tế. Hai là, kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của CNXH và nguyên tắc của KTTT như: Phân phối theo lao động, theo vốn, tài năng, quỹ phúc lợi xã hội… Trong đó, nguyên tắc phân phối theo lao động là chính. Thứ ba, điều tiết phân phối thu nhập, một mặt đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách cho giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa tầng lớp người giàu và người nghèo. .. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Tuy vậy, nền KTTT ở nước ta hiện nay còn mang nặng những đặc điểm:
KTTT trong thời kỳ quá độ là nền KTTT quá độ. Tính quá độ thể hiện: trong nền kinh tế bao gồm nhiều loại hình sản xuất hàng hóa đan xen nhau sản xuất hàng hóa XHCN, sản xuất hàng hóa TBCN, sản xuất hàng hóa nhỏ…. ( Nhiều TPKT với nhiều hình thức sở hữu khác nhau tham gia sản xuất hàng hóa ). Trong nền KTTT quá độ, sản xuất hàng hóa XHCN giữa vai trò chủ đạo, định hướng đối với các kiểu sản xuất hàng hóa khác.
KTTT còn ở trình độ kém phát triển. Biểu hiện ở số lượng mặt hàng và chủng loại hàng hóa nghèo nàn, khối lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường và kim ngạch XNK còn nhỏ, chi phí sản xuất và giá thành hàng hóa cao, sức cạnh tranh của các Doanh nghiệp trên thị trường trong nước cũng như ngoài nước còn rất yếu, nhiều loại thị trường còn sơ khai, hoặc đang trong quá trình hình thành, thu nhập của người lao động còn thấp, sức mua hạn chế…. Trình độ phát triển thấp của sản xuất hàng hóa bắt nguồn từ trình độ phát triển thấp của LLSX, từ tính chất sản xuất nhỏ của nền kinh tế, trình độ phân công lao động xã hội kém phát triển, từ sự kém phát triển của kết cấu hạ tầng, lao động thủ công còn chiếm tỷ trọng lớn sự kìm hãm của nền kinh tế trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp trong một thời gian quá dài…
1.2 KẾ HOẠCH HÓA KINH TẾ VĨ MÔ.
1.2.1. Định nghĩa. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Về kế hoạch hóa Kinh tế vĩ mô hiện có nhiều định nghĩa khác nhau xuất phát từ những cách tiếp cận không giống nhau.
Theo Michael P. Todaro: “KHH Kinh tế vĩ mô là một loại hình hoạt động của chính phủ nhằm phối hợp việc ra những quyết định tương đối dài hạn về kinh tế và nhằm tác động trực tiếp ( thậm chí trong một số trường hợp còn kiểm soát) đối với mức tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng của những biến số kinh tế chủ yếu ( như thu nhập, tiêu dùng, việc làm, đầu tư, tiết kiệm, xuất khẩu, nhập khẩu…), để đạt được các mục tiêu phát triển đã xác định. KHH là cơ chế mà Nhà nước sử dụng để kiểm soát toàn bộ nền kinh tế”.
- Diana Coneyrs & Peter Hills thì cho rằng:” KHH là quá trình quyết định, lựa chọn liên tục các phương án khác nhau về sử dụng nguồn lực có hạn để đạt được các mục tiêu đề ra cho một thời kỳ nhất định trong tương lai” [29/123].
- Theo Cao Viết Sinh: KHH là sự thiết lập mối quan hệ giữa khả năng và mục đích nhằm đạt được mục tiêu bằng việc sử dụng có hiệu quả nhất tiềm năng hiện có. KHH phát triển có đặc thù thể hiện sự cố gắng lựa chọn và sắp xếp huy động những nguồn khả năng, đưa ra định hướng sử dụng thông qua cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước.[ 20/122]
- Du Lô Giang quan niệm: Công cụ quản lý kinh tế, xã hội của Nhà nước ở tầm vĩ mô được thực hiện bằng 2 đặc trưng cơ bản là định hướng có lượng hóa ở mức độ cho phép và giữ được trạng thái cân đối giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế trong từng thời kỳ. [16/122]
Như vậy, nên định nghĩa KHH kinh tế vĩ mô là một loại hình hoạt động của Chính phủ nhằm lựa chọn phương án sử dụng hợp lý các nguồn lực và quyết định các giải pháp tác động đến những biến số kinh tế vĩ mô chủ yếu theo hướng các mục tiêu đã được xác định.
KHH kinh tế vĩ mô là một thể thống nhất bao gồm nhiều khâu từ việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, công tác quy hoạch phát triển, kế hoạch hóa định hướng 5 năm, KHH hàng năm đến công tác điều hành thực hiện, theo dõi và điều chỉnh kế hoạch.
- KHH phải xuất phát từ những quan điểm và mục đích chính trị của Chính phủ, KHH xác định những mục tiêu chính sách liên quan đến sự phát triển trong tương lai của nền kinh tế.
- KHH phát triển không chỉ bao gồm những mục tiêu mà còn thể hiện những mục tiêu đó thành những chỉ tiêu cụ thể.
- KHH là quá trình xây dựng những quy tắc và chính sách nhất quán về mặt nội dung để thực hiện những mục tiêu đề ra cũng như hướng dẫn việc thực hiện những chỉ tiêu kế hoạch và những quyết định chính sách thường nhật.
- KHH là quá trình toàn diện tầm kinh tế quốc dân, đồng thời có thể kế hoạch hóa cho từng lĩnh vực.
- Để đảm bảo tính tối ưu và tính nhất quán KHH kinh tế quốc dân thường sử dụng một số mô hình kinh tế lượng ít nhiều đã được công nhận chính thức để dự báo những hướng phát triển của nền kinh tế trong tương lai.
- Kế hoạch phát triển kinh tế thường là kế hoạch trung hạn 5 năm, có thể kết hợp với một kế hoạch triển vọng dài hạn và được cụ thể hóa bằng những kế hoạch hàng năm . ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
1.2.2. Những nội dung cơ bản của kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô.
Nhiều nhà kinh tế đã thống nhất KHH bao hàm 3 nội dung cơ bản sau:
- Vấn đề chọn lựa mục tiêu và phương thức hoạt động.
Kế hoạch hóa là việc ra quyết định về lựa chọn một trong số nhiều phương thức hành động. Có hai loại lựa chọn chính liên quan đến kế hoạch hóa. Thứ nhất, là lựa chọn các mục tiêu ưu tiên; bởi vì nguồn lực có hạn nên không thể đáp ứng được cùng một lúc tất cả các nhu cầu phát triển. Thứ hai, kế hoạch hóa cũng liên quan đến sự lựa chọn trong số các phương thức hành động khác nhau, giữa các cách thức khác nhau để đạt được cùng một mục tiêu. Kế hoạch hóa kinh tế cũng giống như kế hoạch hóa cho một cuộc hành trình. Trong đa số trường hợp, sẽ có nhiều cách khác nhau mà người du hành có thể chọn để đến đích, và việc lập kế hoạch cho hành trình liên quan đến việc quyết định lựa chọn một cách thức cụ thể được coi là hợp lý nhất trong số đó.
Mặc dù hai loại lựa chọn này khác nhau, nhưng chúng đều liên quan đến quá trình ra quyết định giống nhau. Mối quan hệ giữa kế hoạch hóa và việc ra quyết định quan trọng đến mức nhiều công trình lý thuyết về kế hoạch hóa quan tâm đến các cách tiếp cận khác nhau đối với việc ra quyết định, cụ thể là đến các nhân tố được xem xét khi ra quyết định và trình tự quy trình ra quyết định. Hơn nữa, các nhà kế hoạch đã sử dụng nhiều kỹ thuật hiện đại để cải thiện cách thức ra quyết định và nâng cao chất lượng của các quyết định.
Sẽ là thiếu sót khi nói rằng kế hoạch hóa chỉ liên quan đến ra quyết định về sử dụng nguồn lực, bởi lẽ cách sử dụng tốt nhất bất kỳ một tập hợp cụ thể các nguồn lực nào phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu cần đạt tới. Nói cách khác, kế hoạch hóa liên quan đến việc ra quyết định về các cách thức khác nhau để đạt được những mục tiêu cụ thể. Trong ví dụ về lập kế hoạch cho một hành trình, mục tiêu của việc lập kế hoạch là quan niệm về kế hoạch hóa như cách để đạt được mục tiêu đặt ra những vấn đề về bản chất của các mục tiêu và quy trình xây dựng mục tiêu. Một trong những vấn đề mà nhà kế hoạch thường gặp phải là những mục tiêu của họ không được xác định rõ ràng, mà thường rất mập mờ. Ví dụ, mục tiêu”tăng sản lượng nông nghiệp” có thể chẳng đưa ra được định hướng rõ rệt cho các nhà kế hoạch nông nghiệp. Trong một số trường hợp khác, mục tiêu lại không thực tế trong điều kiện cung ứng nguồn lực có hạn. Trong nhiều trường hợp, các nhà kế hoạch cũng gặp phải những vấn đề như phải cố đạt được quá nhiều mục tiêu và đôi khi các mục tiêu đó lại mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn, sẽ là rất khó cho các nhà kế hoạch khi phải cùng một lúc thực hiện hai mục tiêu vừa tối đa hóa sản lượng trên một hecta vừa giảm sự bất bình đẳng giữa các hộ nông dân, bởi vì hai mục tiêu này thường mâu thuẫn với nhau. Có trường hợp tuy ít xảy ra nhưng nếu có thì rất nghiêm trọng, đó là trường hợp những mục tiêu hoàn toàn không có ý nghĩa hoặc hoàn toàn đi ngược lại với lợi ích của đại bộ phận dân chúng. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
- Phân bổ nguồn lực.
Một yếu tố quan trọng khác của kế hoạch hóa liên quan đến phân bổ nguồn lực. Nguồn lực ở đây không chỉ bao gồm các nguồn lực tự nhiên ( đất, nước, khoáng sản..) mà còn bao gồm cả nhân lực ( Hay nguồn lực con người nói chung), tài sản ( như đường, nhà và thiết bị) và tài chính. Việc phân biệt những gì không được coi là nguồn lực tùy thuộc vào mục tiêu cần đạt đến của người sử dụng cũng như nhận thức về giá trị sử dụng và khả năng sử dụng cụ thể trong từng trường hợp.
Kế hoạch hóa liên quan đến các quyết định làm thế nào để sử dụng tốt nhất các nguồn lực hiện có. Vì thế, số lượng và chất lượng của những nguồn lực này có ảnh hưởng rất quan trọng đến quá trình lựa chọn giữa các phương thức hành động khác nhau. Một mặt, sự giới hạn về số lượng và chất lượng các nguồn lực là lý do chính giải thích tại sao kế hoạch hóa lại liên quan đến việc ra quyết định lựa chọn trong số các phương thức hành động khác nhau. Mặt khác, khi phải lựa chọn giữa các phương thức hành động khác nhau, thì khả năng cung ứng các nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong việc xác định số lượng phương thức có thể lựa chọn và phương thức nào có khả năng được chấp nhận hơn cả.
Do kế hoạch hóa liên quan đến việc phân bổ các nguồn lực, nên một bộ phận quan trọng của quá trình lập kế hoạch là thu nhập và phân tích thông tin về khả năng cung ứng các nguồn lực hiện có. Điều này đặt ra những câu hỏi cả về khái niệm và về phương pháp liên quan đến hệ thống thông tin kế hoạch cần được giải đáp.
- Vấn đề dự báo.
Có một yếu tố quan trọng khác của kế hoạch hóa được thể hiện trong hầu hết các định nghĩa, đó là yếu tố thời gian. Các mục tiêu mà kế hoạch hóa muốn đạt tới rõ ràng là ở tương lai, và kế hoạch hóa tất nhiên sẽ gắn với tương lai. Sự quan tâm đến tương lai tự nó được thể hiện theo hai cách chính. Các thể hiện thứ nhất là một phần quan trọng của kế hoạch hóa liên quan đến dự báo, hoặc đưa ra các dự báo về điều gì có thể xảy ra trong tương lai, và cụ thể hơn là dự báo về kết quả của các phương thức hoạt động khác nhau để xác định cần lựa chọn phương thức nào. Tất nhiên, không thể biết chính xác được điều gì sẽ xảy ra trong tương lai và vì thế kế hoạch hóa không tránh khỏi việc chấp nhận ở mức độ nhất định sự bất ổn và rủi ro. Tuy nhiên, có nhiều kỹ thuật khác nhau mà người lập kế hoạch có thể sử dụng để nâng cao tính chính xác của các dự báo của họ và xử lý những vấn đề về rủi ro và bất ổn. Khoảng thời gian tương lai của kế hoạch hóa là bao lâu? Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung cụ thể kế hoạch hóa. ở một thái cực có một số hoạt động mà các cá nhân và tổ chức có thể phải lập kế hoạch trên cơ sở kế hoạch liên quan đến việc đưa ra những dự báo về bức tranh thế giới vài thập kỷ sau. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Phân tích mức độ thời gian dài ngắn khác nhau của việc chuẩn bị kế hoạch có thể gây cảm tưởng rằng kế hoạch hóa là hoạt động định kỳ. Người ta thường nghĩ rằng kế hoạch được lập cho khoảng thời gian ấn định ( ví dụ cho 5 năm tiếp theo), và khi kế hoạch đã được lập xong thì kế hoạch hóa coi như kết thúc, cho đến khi kết thúc 5 năm, tức là lúc bắt đầu lập kế hoạch cho thời kỳ 5 năm tiếp theo. Trong các thập kỷ 50 và 60 nhiều nhà kế hoạch đã có quan điểm như vậy về kế hoạch hóa, nhưng gần đây người ta đã nhận thức rằng kế hoạch hóa nên được coi là một hoạt động liên tục. Điều này có nghĩa là mặc dù có thể kế hoạch cần phải được lập cho khoảng thời gian xác định, nhưng nó nên được liên tục theo dõi và xem xét lại trong giai đoạn đó, và nếu cần thì có thể được kéo dài sang giai đoạn kế hoạch khác.
Tóm lại, mặc dù kế hoạch nhất định phải liên quan đến tương lai; nhưng điều đó không hạn chế các nhà lập kế hoạch dành nhiều sự chú ý của họ nghiên cứu tình hình quá khứ và hiện tại. Trong thực tế, các nghiên cứu hiện tại là rất quan trọng để đưa ra thông tin về nhu cầu và điều kiện hiện tại cũng như các nguồn lực hiện có cho phát triển, trong khi đó nghiên cứu lịch sử có thể tạo cơ sở tốt cho dự báo các xu hướng trong tương lai.
1.2.3. Mối quan hệ giữa kế hoạch hóa với hoạch định chính sách và chỉ đạo thực hiện.
Kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô chỉ là một loại hình hoạt động quản lý của Nhà nước; gắn với nó còn có nhiều loại hình hoạt động quản lý khác nữa, đặc biệt là công tác hoạch định chính sách và công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện.
Theo D. Conyers và P. Hills thì nói một cách đơn giản nhất, hoạch định chính sách liên quan đến việc đưa ra các quyết định về các phương hướng chung cho sự thay đổi hoặc phát triển; trong khi đó kế hoạch hóa là quá trình quyết định về phương thức hành động và lựa chọn phương thức hành động nào là tốt nhất để tạo ra những thay đổi hoặc phát triển đó; đồng thời kế hoạch hóa còn xác định xem nên tổ chức thực hiện ra sao, và triển khai việc thực thi trên thực tế những phương thức hoạt động này. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Để thấy rõ sự khác nhau này, có thể xem xét quy trình kế hoạch hóa trong ví dụ của lĩnh vực xây dựng nhà ở của một quốc gia. Trong trường hợp này, việc hoạch định chính sách có thể đưa ra quyết định (trong số nhiều quyết định khác) đáp ứng nhu cầu nhà ở chủ yếu bằng các chương trình cung cấp địa điểm và dịch vụ; tức là chính phủ cung cấp địa điểm đã có các dịch vụ cơ bản để người dân tự xây dựng nhà ở cho mình. Sau đó kế hoạch hóa có thể bao hàm nội dung ra quyết định xem có bao nhiêu chương trình như vậy cần được xây dựng, địa điểm ở đâu, những loại hình dịch vụ nào sẽ được cung ứng, các vị trí sẽ được phân cho từng cá nhân như thế nào, và những điều kiện nào (nếu có) sẽ được ra ra đối với những người xây dựng về cách thức sử dụng địa điểm được phân. Kế hoạch hóa cũng bao gồm các quyết định về chi phí của các chương trình, số tiền nhận được, và ai có trách nhiệm tổ chức thực hiện. Cuối cùng, giai đoạn thực hiện có thể bao gồm việc xây dựng trên thực tế các chương trình, kể cả chuẩn bị địa điểm, cung ứng dịch vụ và lựa chọn những người được nhận địa điểm.
Ví dụ này chỉ rõ hai khía cạnh của mối quan hệ giữa hoạch định chính sách, kế hoạch hóa tổ chức thực hiện. Thứ nhất, nó cho thấy ba hoạt động này tiếp nối nhau, bắt đầu từ hoạch định chính sách, tiếp theo là kế hoạch hóa, và sau đó là tổ chức thực hiện. Đồng thời, điều này chỉ rõ vai trò của kế hoạch như là bước trung gian giữa hoạch định chính sách tổ chức thực hiện, là phương cách chuyển các chính sách chung thành các chương trình hành động tạo ra các kết quả cụ thể. Thứ hai, nó chỉ ra sự phân công trách nhiệm giữa các cá nhân hoặc tổ chức có liên quan, trong đó việc hoạch định chính sách chủ yếu là trách nhiệm của các nhà chính trị hoặc những người ở vị trí ra các quyết định chính trị; trong khi kế hoạch hóa chủ yếu là trách nhiệm của nhà kế hoạch, và việc thực hiện chủ yếu do các nhà quản lý đảm nhiệm.
Tuy nhiên, người ta cũng thấy rõ là khó có thể đưa ra ranh giới rõ ràng giữa hoạch định chính sách, kế hoạch hóa và tổ chức thực hiện hoặc giữa vai trò của nhà chính trị, nhà kế hoạch và nhà quản lý. Trước hết, hoạch định chính sách và kế hoạch hóa không phải luôn luôn là những hoạt động tách biệt rõ ràng, tiếp nối nhau. Trở lại ví dụ về chương trình địa điểm và dịch vụ nhà ở, mặc dù quyết định chính sách cơ bản là quyết định đáp ứng nhu cầu nhà ở bằng cách đưa ra các chương trình địa điểm và dịch vụ, nhưng nhiều quyết định chính sách tiếp theo vẫn được đưa ra trong giai đoạn được gọi là kế hoạch hóa. Có thể không xây dựng được các chương trình trong tất cả các khu vực cùng một lúc, nên phải xác định thứ tự ưu tiên và đây là vấn đề khá nhạy cảm do nó ảnh hưởng đến việc phân bổ dịch vụ giữa các vùng địa lý khác nhau và chịu ảnh hưởng bởi sức ép từ các nhà chính trị hoặc các nhóm chính trị nhất định. Kết quả là vấn đề này được coi là vấn đề hoạch định chính sách và các nhà kế hoạch có thể cần phải dành cho các nhà chính trị hoặc những người khác có thẩm quyền ra các quyết định đó. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Một vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa hoạch định chính sách và kế hoạch hóa là vai trò của hoạch định chính sách trong việc xây dựng các mục tiêu kế hoạch. Xây dựng các mục tiêu nói chung liên quan nhiều đến các quyết định hoạch định chính sách, mặc dù đôi khi các mục tiêu đó chẳng hề có tầm quan trọng về mặt chính trị. Điều đó một lần nữa cho thấy rằng mặc dù kế hoạch hóa và hoạch định chính sách không thể tách rời một cách rõ ràng; nhưng các quyết định chính sách có xu hướng đi trước các quyết định kế hoạch hóa; tương tự như vậy các mục tiêu cần được xác định trước khi lập kế hoạch thực hiện chúng.
Mối quan hệ giữa kế hoạch hóa và hoạch định chính sách cũng còn được thể hiện ở chỗ các bản kế hoạch thường bao gồm tổng hợp các chính sách và các kế hoạch cụ thể, và hai nội dung này không dễ tách bạch với nhau. Hơn nữa, hầu hết các bản kế hoạch cũng như các tài liệu kế hoạch phải được các tổ chức chính trị thông qua và chấp thuận, và vì thế cũng đồng thời là tài liệu chính sách.
Tương tự, sự phân biệt giữa kế hoạch hóa và tổ chức thực hiện cũng không thật rõ ràng. Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới nguy cơ các bản kế hoạch không thực hiện được là khoảng cách quá xa giữa kế hoạch hóa và tổ chức thực hiện. Để khắc phục tình trạng này, người ta thường phải tiến hành các biện pháp để làm cho kế hoạch có tính khả thi. Mặt khác, các nhà kế hoạch cũng có vai trò quan trọng trong và sau giai đoạn tổ chức thực hiện, như theo dõi tiến độ thực hiện và đưa ra những điều chỉnh kế hoạch, và thậm chí cả đối với các chính sách, nếu xét thấy cần thiết.
Như vậy, sự phân công trách nhiệm giữa các nhà chính trị, nhà kế hoạch và nhà quản lý là sự đơn giản hóa thực tế. Các nhà kế hoạch đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách qua việc cung cấp nhiều thông tin được sử dụng để ra các quyết định chính sách và đưa ra những khuyến nghị dựa trên đánh giá của chính họ về tình hình. Tương tự, cả các nhà chính trị ( hoặc các nhà hoạch định chính sách khác) và các nhà quản lý cũng có thể liên quan đến kế hoạch hóa. Các nhà chính trị thường cung cấp thông tin, hướng dẫn, chỉ thị cụ thể về các phương thức hành động thay thế dựa trên quan điểm của những người đại diện hoặc theo thiên hướng của cá nhân họ; trong khi đó các nhà quản lý cung cấp kiến nghị cụ thể về khả năng thực hiện các đề nghị khác nhau. Sự tham gia của các nhà quản lý là rất quan trọng, vì họ là những người sẽ phải thực hiện kế hoạch, và họ có thể không nhiệt tình với việc thực hiện, nếu họ nghĩ rằng các kế hoạch là không khả thi hoặc không khả dụng.
1.3 KẾ HOẠCH HÓA KINH TẾ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ ĐANG PHÁT TRIỂN.
1.3.1. Sự cần thiết của kế hoạch hóa ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Vì sao kế hoạch hóa được chấp nhận và áp dụng tương đối rộng rãi không chỉ ở các nước theo mô hình quản lý tập trung mà cả ở những nước kinh tế thị trường phát triển và đặc biệt là ở các nước đang phát triển thuộc thế giới thứ ba? Người ta thường đưa ra 4 lý do sau đây để lý giải cho sự cần thiết của kế hoạch hóa trong quản lý kinh tế vĩ mô ở các nước.
Những thất bại của thị trường.
Thị trường ở các nước đang phát triển thường là thị trường chưa phát triển một cách đầy đủ những thành tố chủ yếu của nó; giá cả trên những thị trường như vậy thường bị xuyên tạc vì người sản xuất và người tiêu dùng thiếu những thông tin cần thiết; sự điều tiết của thị trường trong điều kiện như vậy có nhiều khả năng dẫn đến những quyết định sản xuất và lưu thông sai lầm, không có hiệu quả. Đặc biệt là thị trường vốn hoặc là còn thiếu hoặc là còn rất sơ khai, chưa đảm đương được vai trò trung gian cần thiết cho quá trình phát triển. Trong điều kiện đó, nếu không có sự can thiệp của chính phủ thông qua kế hoạch hóa thì những nguồn lực khan hiếm của nền kinh tế dễ bị phân bổ một cách sai lạc, không đạt hiệu quả kinh tế – xã hội mong muốn, nhất là cho những lợi ích tương đối dài hạn. Trong báo cáo năm 1965 tại Hội nghị của Liên hợp quốc về kế hoạch hóa cũng đã khẳng định:” Một nhiệm vụ không thể thiếu của kế hoạch hóa là phải sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực khan hiếm cho sự phát triển kinh tế… Nhu cầu sử dụng những tiêu chuẩn thích hợp cho những dự án chọn lọc nảy sinh từ sự thất bại của cơ chế thị trường vì không đưa ra được những chỉ dẫn thích hợp. Trong những nền kinh tế kém phát triển, giá cả thị trường của những yếu tố đầu vào như lao động, tiền vốn và ngoại hối đã xa rời những chi phí cơ hội xã hội, do đó không phải là thước đo đúng đắn về độ khăn hiếm hay dồi dào tương đối của yếu tố sản xuất đó”
Năm 1970 tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc ( UNIDO) cũng đã đưa ra lập luận sau đây về thất bại của thị trường như là một lý do cho sự cần thiết của kế hoạch hóa ở các nước đang phát triển:” Chính phủ không thể và không nền chỉ đóng một vai trò thụ động trong quá trình mở rộng công nghiệp. Kế hoạch hóa đã trở thành một bộ phận chủ yếu và cần thiết của các chương trình phát triển công nghiệp; vì bản thân các tác nhân thị trường không thể khắc phục được sự cứng nhắc về cơ cấu đã ăn sâu trong những nền kinh tế của các nước đang phát triển… Ngày nay nhu cầu về kế hoạch hóa ở một mức độ nào đó đã được thừa nhận rộng rãi. Tại các nước đang phát triển, kế hoạch hóa có tính khả thi và được sử dụng nhiều hơn ở các nước công nghiệp phát triển. Kế hoạch hóa ở các nước đang phát triển là cần thiết, vì cơ chế thị trường ở đó không đảm bảo rằng các quyết định cá nhân sẽ tối ưu hóa các hoạt động kinh tế theo những mục đích ưu tiên của xã hội. Khiếm khuyết của cơ chế thị trường như một phương tiện phân bổ nguồn lực cho phát triển công nghiệp đôi lúc bắt nguồn từ bản thân chính sách của chính phủ hoặc từ những giả định không phù hợp, đặc biệt là về tính cơ động của những yếu tố sản xuất. Quan trọng hơn là cơ chế thị trường không tính đến những ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài một cách hợp lý” ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Lí do về khả năng phân bổ nguồn lực.
Các nền kinh tế của thế giới thứ ba cần tập trung những nguồn lực hạn chế của mình, đặc biệt là lao động lành nghề và vốn đầu tư vào những lĩnh vực sản xuất vật chất. Do đó những dự án đầu tư phải được lựa chọn không những trên cơ sở phân tích năng suất đạt được căn cứ vào suất đầu tư và thời gian hoàn vốn, mà còn phải tính đến những yếu tố của chương trình phát triển tổng thể, những tác động trước mắt cũng như lâu dài trên bình diện kinh tế – xã hội. Nguồn nhân lực lành nghề hiếm hoi cũng phải được sử dụng vào lĩnh vực nào có đóng góp rõ rệt nhất cho xã hội. Kế hoạch hóa kinh tế còn phải góp phần giảm nhẹ những ảnh hưởng kìm hãm sự phát triển nguồn lực bằng cách phối hợp những dự án đầu tư để có thể tập trung những yếu tố khan hiếm vào những lĩnh vực sản xuất có hiệu quả nhất. Mặt khác, người ta còn thấy rằng thị trường cạnh tranh tự do có xu hướng hạn chế đầu tư, và chuyển đầu tư nhiều hơn sang những lĩnh vực mà xã hội ít mong muốn (ví dụ hàng tiêu dùng cao cấp cho người giàu), đồng thời không tính đến những lợi nhuận phụ thêm có được từ những chương trình đầu tư được phối hợp tương đối dài hạn.
Lí do về tâm lý và cách ứng xử.
Thực tế cho thấy khi những mục tiêu kinh tế và xã hội của một quốc gia được công bố một cách công khai trong kế hoạch phát triển đất nước sẽ ảnh hưởng tích cực và quan trọng đến cách ứng xử và tâm lý của nhân dân, nhất là ở những nước tính cộng đồng không cao hoặc dân cư bị chia rẽ. Trong những trường hợp này, kế hoạch hóa có thể thành công trong việc tập hợp nhân dân đằng sau chính phủ để tiến hành những chương trình quốc gia lớn, chẳng hạn như xóa đói giảm nghèo, xóa nạn mù chữ, phòng chống bệnh tật. Một khi chính phủ có được những bản kế hoạch khả thi và hợp lý thì điều đó có thể giúp tạo những động lực cần thiết vượt qua những trở lực gây chia rẽ trong nội bộ quần chúng, động viên tốt hơn sự quan tâm và tham gia của các bộ phận khác nhau trong xây dựng vào việc thực hiện những mục tiêu chung của toàn nền kinh tế.
Thu hút viện trợ nước ngoài.
Muốn huy động được vốn viện trợ nước ngoài, kể cả song phương và đa phương một cách có kết quả, Chính phủ các nước thường phải có những kế hoạch phát triển rõ ràng với những mục tiêu cụ thể và những dự án đầu tư được xây dựng theo những tiêu thức quy định. Cũng có một số người hoài nghi thường lập luận rằng lý do thực sự mà các nước kém phát triển đưa ra những kế hoạch phát triển kinh tế của mình là cốt sao để có được viện trợ nước ngoài. Với những kế hoạch của mình, các nước nhận viện trợ có cơ sở tốt hơn để thuyết phục những nhà tài trợ rằng số tiền vốn họ vay là một bộ phận thiết yếu không thể thiếu và sẽ được sử dụng một cách có mục đích trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
1.3.2. Những yếu tố hạn chế hiệu quả của kế hoạch hóa.
Sau nhiều thập kỷ kiểm nghiệm kế hoạch hóa kinh tế quốc dân ở những nước đang phát triển; kết quả được đánh giá chung là không mấy thành công. Trong một công trình nghiên cứu toàn diện về kế hoạch hóa phát triển tại 55 nước, Albert Waterson đã đi đến kết luận:” Một kiểm nghiệm lịch sử về kế hoạch hóa sau chiến tranh cho thấy đã có nhiều thất bại hơn là thành công trong việc thực hiện những kế hoạch phát triển. Cho đến nay phần lớn các nước đã không thực hiện được các chỉ tiêu về thu nhập và sản lượng dù là khiêm tốn nhất trong các kế hoạch của mình, ngoại trừ những giai đoạn ngắn ngủi. Đáng lo ngại là tình hình có vẻ ngày càng tồi tệ hơn ở các nước tiếp tục tiến hành kế hoạch hóa”. Tương tự như vậy, Derek Healey trong khi nhìn lại quá trình phát triển kinh tế của những thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã nhận xét rằng:” Những kết quả của kế hoạch hóa phát triển là sự vỡ mộng cách đau buồn cho những ai tin rằng kế hoạch hóa là cách quản lý duy nhất đúng”
Vậy lý do là ở đâu? Người ta đã đưa ra 2 nhóm nguyên nhân chính để lý giải cho câu hỏi nêu trên. Thứ nhất, là khoảng cách giữa lợi ích kinh tế trên lý thuyết và kết quả đạt được trong thực tế kế hoạch hóa phát triển: thứ hai, là những nhược điểm cơ bản trong quá trình kế hoạch hóa, đặc biệt là những khuyết điểm liên quan đến năng lực quản trị, chất lượng bộ máy và thực thi kế hoạch.
Có thể nêu ra những điểm sau đây về nguyên nhân yếu kém của bản thân công tác kế hoạch hóa:
1.3.3 Sự tách rời giữa kế hoạch hóa và thực hiện kế hoạch.
Các bản kế hoạch thường quá tham vọng, ôm đồm quá nhiều mục tiêu cùng một lúc mà không xét đến những mục đích ưu tiên mâu thuẫn và cạnh tranh nhau. Nhiều bản kế hoạch được thiết kế rất đồ sộ, nhưng không rõ về chính sách cụ thể cần thiết để đạt được những mục tiêu đề ra. Chính vì vậy, khoảng cách giữa kế hoạch và thực hiện kế hoạch thường rất lớn; nhiều kế hoạch vì thế không thực hiện được.
2. Số liệu và thông tin không đầy đủ, kém tin cậy.
Chất lượng của một bản kế hoạch phát triển phụ thuộc rất nhiều vào số lượng và độ tin cậy của số liệu thống kê cũng như thông tin kế hoạch. Tình trạng chung ở các nước đang phát triển là cơ sở dữ liệu vừa thiếu, vừa yếu, cộng thêm với đội ngũ cán bộ kế hoạch, thống kê không đủ năng lực và trình độ, dẫn đến hệ quả là những ý đồ, tham vọng trong kế hoạch hóa không được thể hiện một cách khách quan và cuối cùng không trở thành hiện thực. Trong những trường hợp như vậy, việc mở rộng phạm vi và quy mô kế hoạch hóa có thể còn gây lãng phí vô ích.
3. Những biến động kinh tế bất thường.
Đối với những nước có nền kinh tế mở cửa thì những thay đổi về giá cả và thị trường quốc tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường trong nước, làm cho việc dự báo xu hướng phát triển hết sức khó khăn, thậm chí cả cho những thời hạn tương đối ngắn. Việc tăng giá dầu lửa trong những năm 70 đã phá hoại nhiều kế hoạch phát triển của các nước thế giới thứ ba. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1977-1998 làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước đang từ mức 7-8% trở thành số âm. Đối với những nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động bên ngoài như vậy, chính phủ các nước cần phải đảm bảo tính mềm dẻo và linh hoạt trong chính sách kinh tế của mình, sẵn sàng điều chỉnh khi cần thiết, chứ không tự ràng buộc vào những kế hoạch cứng nhắc xác định từ trước.
1.3.4. Những yếu kém về thể chế. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Những yếu kém về thể chế là một vấn đề nổi bật ở các nước đang phát triển. Trong những yếu kém đó, người ta thường kể đến việc tách cơ quan kế hoạch hóa ra khỏi bộ máy điều hành thường nhật của chính phủ, việc các nhà hoạch định kế hoạch, hoạch định chính sách không thường xuyên đối thoại và thông tin nội bộ với nhau về các mục tiêu chiến lược, và việc áp dụng những cách thức kế hoạch hóa và tổ chức quá trình kế hoạch hóa rập khuôn, không phù hợp với điều kiện của từng nước hoặc từng địa phương. Một loại yếu kém khác cũng đã được đề cập một cách rất rõ nét là những thủ tục hành chính rườm rà, sự vô trách nhiệm của cán bộ thừa hành, sự phản ứng đối với đổi mới, sự mâu thuẫn, thiếu hợp tác giữa các bộ phận trong cơ quan, tình trạng tham nhũng và quan liêu đều là những lý do ảnh hưởng đến chất lượng công tác kế hoạch hóa.
1.4 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ với sự tác động mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, công cuộc đổi mới kinh tế, chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN của Việt Nam đang được đẩy mạnh. Nền kinh tế đã có những bước khởi sắc rõ rệt. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng còn gặp không ít những trở ngại, khó khăn nhiều vấn đề đang được đặt ra cần phải tìm hiểu nhận thức thêm và vận dụng cho thích hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Từ những lý do như vậy, việc tìm hiểu kinh nghiệm của một số nước tư bản phát triển về giải quyết mối quan hệ giữa cơ chế thị trường và kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô để phát triển nền kinh tế thị trường là cần thiết cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Như chúng ta biết, lịch sử phát triển của nền kinh tế thị trường các nước ta bản chủ nghĩa đã để lại cho nhân loại nhiều kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là vai trò của Nhà nước trong quản lý, điều tiết nền kinh tế ngày càng tăng lên cùng với sự tăng lên của trình độ xã hội hóa sản xuất. Và ngày nay, trong nền kinh tế thị trường hiện đại với sự phát triển chóng mặt của thành tựu khoa học công nghệ, mà tiêu biểu là cách mạng thông tin với nhiều vấn đề kinh tế lớn có tầm cỡ quốc gia, quốc tế…nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì không thể giải quyết được. Vì thế, mô hình kết hợp hài hòa cả yếu tố Nhà nước và yếu tố thị trường, giữa sự vận hành của cơ chế thị trường với sự điều tiết có ý thức, có kế hoạch của con người (thông qua Nhà nước) là cần thiết và đã mang lại nhiều thành công trên con đường phát triển. Trong mối quan hệ đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng, tạo” hành lang” pháp lý và môi trường đầu tư để các chủ thể có thể phát huy tính năng động, sáng tạo của mình. Chính thông qua mối quan hệ đó mà nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển hoạt động có hiệu quả. Mục tiêu cơ bản trong điều tiết kinh tế vĩ mô của các nước tư bản phát triển là đảm bảo sự ổn định về kinh tế – xã hội và muốn vậy phải đảm bảo cân bằng tổng cầu với tổng cung. Mục tiêu đó đã được cụ thể hóa bởi hệ thống các chính sách như: chính sách chống thất nghiệp, giá cả, tăng trưởng kinh tế bền vững, cân bằng thu chi. Hệ thống chính sách đó đã được thực hiện một cách khác nhau và mang lại hiệu quả càng không giống nhau. Sau đây là một số cách thức điều tiết điển hình.
1. Mô hình ở Pháp. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Trong sự hoạt động của nền kinh tế thì cơ chế thị trường đóng vai trò quan trọng. Nó là yếu tố động lực kích thích cạnh tranh, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các chủ thể kinh tế. Tuy nhiên bản thân chúng mang yếu tố tự phát với những hạn chế như: dễ làm mất cân bằng tổng cung tổng cầu của nền kinh tế, không dự báo được nhu cầu phát triển trong mọi hoàn cảnh. Do vậy Nhà nước phải có kế hoạch thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô.
Vai trò của Nhà nước được thể hiện rất rõ nét trong phương thức điều tiết và thông qua chính kinh tế của họ ở giai đoạn từ 1945 đến nay, ở giai đoạn này mục tiêu cơ bản xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế là tăng trưởng ổn định và phát triển cân bằng. Để thực hiện mục tiêu đó Nhà nước Pháp đã can thiệp và điều tiết nền kinh tế; cụ thể là Nhà nước định hướng sự hoạt động của thị trường, tiến hành xây dựng chính sách tổng thể ( cả đối nội và đối ngoại); xây dựng chính sách ngành (trong đó chính sách công nghiệp là hạt nhân, chính sách nông nghiệp làm cơ sở cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân).
Phương thức kết hợp giữa kế hoạch và thị trường ở Pháp được thể hiện trong quá trình xã hội kế hoạch. Các kế hoạch đều xuất phát từ nhu cầu của xây dựng để tính toán và đưa ra phương án thực thi. Đồng thời căn vào kết quả điều tra, thu thập thông tin để đưa ra những kế hoạch sát thực, hiệu quả. vai trò của Nhà nước đã có tác động tích cực đến nền kinh tế thông qua hệ thống các công cụ như: kế hoạch hoá và các biện pháp quản lý, điều tiết kinh tế.
- Kế hoạch hóa
Kế hoạch hóa Pháp áp dụng đầu tiên vào năm 1947. Để thực hiện kế hoạch lớn Nhà nước có nhiệm vụ xác định mục tiêu và chiến lược phù hợp phát triển kinh tế dài hạn ở mỗi thời kỳ. Cụ thể thời kỳ từ 1947 đến 1975, Pháp đã đề ra 6 kế hoạch lớn đó là:”Kế hoạch hiện đại hóa và thiết bị” lần I từ 1947-1953, Lần II từ 1954-1957, Lần III từ 1957-1961 và” Kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội” từ 1962-1965. Kế hoạch lần thứ V (1966-1972) thực hiện định mức về giá cả và tiền lương. Kế hoạch VI (1971-1975) đề cập đến tính cạnh tranh và các ngành mũi nhọn. Pháp đưa ra mục tiêu của kế hoạch hóa là phải thực hiện chống quan liêu, hòa hợp và thuyết phục. Do vậy quy trình soạn thảo kế hoạch gồm: đàm phán và thỏa thuận, tập hợp nhiều nhóm tác nhân, nhóm áp lực và các chuyên gia, trong đó vai trò của Tổng cục Kế hoạch Pháp (CGP) là trung lập. Nguyên tắc của Tổng cục kế hoạch Pháp là bằng lòng với vai trò trung gian, trung lập, thúc đẩy và phối hợp. Đến cuối những thập kỷ 70 nền kinh tế Pháp đứng trước những khó khăn cả về kinh tế và chính trị. Do vậy công tác kế hoạch hóa có sự chuyển biến tập trung vào một số nhiệm vụ cơ bản với chương trình cụ thể. Kế hoạch VII (1976-1980) đã tập trung và chiến lược chống thất nghiệp và tái lập các cân đối cơ bản, nên họ đã duy trì chính sách tăng trưởng và mở cửa hơn trong hoạt động đối ngoại. Kế hoạch VIII (1981-1983) tập trung ưu tiên việc làm, tăng khu vực công, phân quyền hóa… và kế hoạch IX ( 1984-1985) tập trung vào 12″Chương trình ưu tiên” thực hiện. Từ năm 1986, phương pháp kế hoạch hóa tiếp tục được đổi mới. Giá trị các cam kết của kế hoạch hầu như chỉ còn ý nghĩa trong các kế hoạch Nhà nước, vùng. kế hoạch hóa chiến lược đã coi trọng các chỉ tiêu định tính hơn là định lượng. Các hình thức hợp tác giữa các tập thể địa phương được khuyến khích. Các kế hoạch phát triển ngành cũng có những quyết định phù hợp với sự thay đổi của thị trường như: nâng đỡ ngành công nghệ mới, khuyến khích nghiên cứu và triển khai công nghệ. Về phương thức hỗ trợ, tổ chức thực hiện của Nhà nước đều xuất phát từ tình hình cụ thể, năng lực thực tế để phân cấp quản lý cho thích hợp. Từ đó xác định những biện pháp đồng bộ để thực hiện mục tiêu kế hoạch đề ra. tuy nhiên, công tác kế hoạch hóa ở Pháp cũng gặp phải khó khăn do quy mô ngày càng rộng lớn và mục tiêu ngày càng nhiều. Do vậy việc xây dựng và thực hiện rất phức tạp; sự tham gia của các loại hình sở hữu cũng kém hiệu quả. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
- Các phương thức quản lý, điều tiết của Nhà nước.
Đặc biệt từ đầu thập kỷ 80 đến nay, Nhà nước Pháp thực hiện chuyển từ mô hình kinh tế “trọng cầu” của học thuyết Keynes sang mô hình kinh tế”trọng cung” của trường phái bảo thủ mới. Mục tiêu trọng điểm trong chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước là chống lạm phát, ngăn chặn vật giá tiêu dùng leo thang. Bởi vì họ nhận thức được tác động tiêu cực của lạm phát đối với sự ổn định kinh tế – xã hội là sẽ gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự vận động của nền kinh tế quốc dân. Do vậy, Nhà nước đã thực hiện chống lạm phát bằng một hệ thống chính sách tài chính tiền tệ. Đối với chính sách tài chính thì họ quan tâm đến điều tiết tổng cầu của xã hội. Cụ thể, thời kỳ 1991- 1993 kinh tế ở Pháp suy thoái, Chính phủ đã quyết định ngành tài chính Trung ương bù giá cho mỗi chiếc ôtô con 5000 Frăng, đồng thời yêu cầu mỗi chiếc xe cũng phải hạ giá tương ứng, việc làm đó đã kích thích khách hàng mua xe. Kết quả lượng xe hơi tiêu thụ trong toàn quốc từ 200.000 chiếc/năm đã tăng 450.000chiếc/năm 1994. Thu nhập tăng 2,8 tỷ Frăng,về cơ bản khắc phục được bù giá, kích thích được tổng cầu của xã hội, đạt mục đích đẩy tổng cung xã hội. Còn chính sách tiền tệ thì chú trọng điều tiết tổng cung. Sự phối hợp hài hòa hai chính sách trên đã giúp nền kinh tế phục hồi nhanh chóng, đem lại những kết quả khả quan. Đặc biệt việc sử dụng chính sách thắt chặt tài chính và tiền tệ, với hàng loạt các biện pháp kinh tế khác như: giảm chỉ tiêu của Nhà nước và các khoản phúc lợi xã hội, quy định mức thâm hụt ngân sách tối đa, ngăn chặn giá cả leo thang…. Cùng với những biện pháp đó Chính phủ đưa ra” kế hoạch khắc khổ”, như tăng thu thuế, nâng giá than, điện, giao thông, nhiên liệu, rượu, thuốc lá, hàng xa xỉ phẩm… từng bước loại bỏ và chấm dứt việt bù lỗ của Nhà nước cho các xí nghiệp quốc doanh. Với những biện pháp trên đã kiềm chế được nạn lạm phát phi mã.
Để khắc phục thất nghiệp, Chính phủ của tổng thống Giắc Xirắc cho rằng phải kích thích cầu và tăng cung. Từ 1/7/1995 Chính phủ nâng mức lương tối thiểu lên 4%, mỗi giờ lương tối thiểu nâng từ 35,56 Frăng lên 36,98 Frăng; mỗi tháng nâng lương tối thiểu từ 6009,49 Frăng lên 6249,62 Frăng.
Đối với cơ cấu ngành: Chính phủ chú trọng sắp xếp, điều tiết lại nguồn vật tư trong quá trình tái sản xuất. Đối với những ngành nghề truyền thống Chính phủ tập trung sức người và sức của vào cải tổ cơ cấu, cải tiến kỹ thuật.. nhờ đó mà nền kinh tế quốc dân được ổn định và phát triển. Tuy nhiên, chính sách này của Pháp cũng có có hạn chế là tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Năm 1995, tỷ lệ lạm phát của Pháp thấp nhất Tây Âu (2,1%), nhưng đồng thời tỷ lệ thất nghiệp lại vào loại cao nhất (12%), mức tăng trưởng GDP giữ ở mức vừa phải 2,7% ( còn cao hơn mức lạm phát 2,1%). ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Ngoài ra, việc đổi mới phương pháp quản lý và tư nhân hóa các Doanh nghiệp Nhà nước ở Pháp cũng diễn ra rất sôi động. Với sự mở đầu của làn sóng tư nhân hóa thứ nhất là sự ra đời của luật 7/1986, với quyết định chuyển sang sở hữu tư nhân trong thời hạn 5 năm của 65 xí nghiệp thuộc 13 tập đoàn ngân hàng, 11 tập đoàn công nghiệp, 3 hãng bảo hiểm. Và đến 1993 là làn sóng tư nhân hóa thứ hai diễn ra theo luật 7/1993, Pháp thực hiện tư nhân hóa 21 tập đoàn lớn của Nhà nước. Tháng 5/1999, Chính phủ Pháp quyết định cho tư nhân tham gia vào hãng hàng không vũ trụ Matra. Đó là thời kỳ đổi mới của Nhà nước Pháp về quan điểm quản lý và cách thức xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước với Doanh nghiệp Nhà nước nhằm nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy làn sóng tư nhân hóa diễn ra mạnh mẽ, song các Doanh nghiệp Nhà nước vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Chẳng hạn, thời điểm cuối 1995 ở Pháp có 72 tập đoàn Nhà nước, tuyển dụng 1,4 triệu nhân viên, nhưng nó kiểm soát hơn 2.200 xí nghiệp, hơn 20% giá trị gia tăng và lao động của các tập đoàn, 45% bất động sản. Đặc biệt, vấn đề ký kết các hợp đồng có thời hạn từ 3 đến 5 năm giữa Nhà nước với Doanh nghiệp đang là mốt quản lý Doanh nghiệp Nhà nước rất thịnh hành ở Pháp.
Tìm hiểu mô hình kinh tế thị trường ở Pháp, chúng ta thấy rõ được tính đặc thù trong việc kết hợp sự điều tiết của thị trường với kế hoạch của Nhà nước, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo và đã phát huy tác dụng tích cực trong sự phát triển của đất nước.
Mời bạn tham khảo thêm:
2. Nhật bản: mô hình kinh tế thị trường hỗn hợp.
Mục tiêu của Chính phủ Nhật là tạo ra môi trường kinh tế thuận lợi, loại bỏ những sự không hoàn thiện của thị trường. Do vậy, họ đã thống nhất được trong nhận thức về mục tiêu quốc gia sau chiến tranh là phải tập trung mọi nỗ lực cho phát triển kinh tế. Từ đó, họ thiết lập chính sách ngoại giao mềm dẻo, làm sao để vừa không bị cô lập, vừa không bị xa rời mục tiêu đề ra. Các kế hoạch Chính phủ đề ra chỉ là những định hướng cho các quyết sách của các tổ chức tư nhân và nó sẽ ảnh hưởng đến các tổ chức kinh doanh bằng con đường gián tiếp. Kế hoạch góp phần đề ra hệ thống chính sách đưa vào tư duy của người lao động, giúp họ tự điều hành hoạt động của mình cho thích hợp. Những kế hoạch và chính sách lớn được đưa ra đều phù hợp với lợi ích của các bên liên quan.
Do Chính phủ Nhật bản rất coi trọng vấn đề chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy sau chiến tranh thế giới thứ 2 họ luôn hướng vào việc nâng cao chất lượng sức lao động, nguồn lực con người. Đưa ra những chính sách và kế hoạch phục vụ sự phát triển nguồn nhân lực. Để đạt được những mục tiêu đó, chính phủ Nhật bản đã thực hiện một loạt giải pháp: ưu tiên đầu tư tài chính cho phát triển hệ thống giáo dục. Thực hiện huy động mọi nguồn vốn từ ngân sách của Chính phủ, Trung ương và địa phương cũng như từ giới kinh doanh và các hộ gia đình vào đầu tư phát triển giáo dục (trong đó ngân sách Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn) nhằm tạo điều kiện, cơ hội tham gia học tập của tất cả mọi người trong xã hội. Cụ thể năm 1947, mặc dù đang bị lạm phát nặng nề, Chính phủ Nhật bản vẫn ra đạo luật giáo dục nâng trình độ phổ cập từ 7-8 năm lền phổ cập 9 năm và hoàn toàn miễn phí. Việc đầu tư cho giáo dục đào tạo được Nhà nước ưu tiên. Chỉ tiêu cho giáo dục công cộng tăng từ 5% GNP năm 1960 lên 6,6% năm 1965, trong đó nguồn ngân sách các cấp chiếm tỷ trọng lớn nhất so với chi tiêu gia đình và các công ty. Tiêu chuẩn hóa nội dung chương trình giảng dạy cho tất cả các trường học; thực hiện chính sách giáo dục bắt buộc, miễn phí (chính sách phổ cập giáo dục) và đa dạng hóa các hình thức giáo dục, đào tạo. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Sự hỗ trợ của Chính phủ Nhật bản trong việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực của các Doanh nghiệp là vấn đề được nhiều người quan tâm. ở đây Nhà nước đã tạo ra một hành lang pháp luật để cho các Doanh nghiệp tự do hoạt động trong khuôn khổ. Các luật lệ đưa ra đều có những quy định rõ ràng với những hình thức xử phạt nghiêm minh. Chẳng hạn, khi Doanh nghiệp sa thải công nhân trong những trường hợp không có lý do chính đáng thì đều bị Nhà nước xử lý. Ngoài ra, Nhà nước còn có những ưu đãi về thuế, tín dụng và cả trợ cấp trong những điều kiện cần thiết. Ví dụ như chế độ làm việc suốt đời đã được Nhà nước trợ cấp kinh phí để đào tạo lại cán bộ, người lao động; khi Doanh nghiệp gặp khó khăn Chính phủ thực hiện bù lỗ hoặc trợ cấp thất nghiệp. Đối với các Doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, sự hỗ trợ của Nhà nước được thực thi khá chu đáo, đó là áp dụng lãi suất thấp từ 4 đến 8%/năm và kéo dài 25 năm với các dự án cải tạo đất, thực hiện trợ cấp giá nông sản, cung cấp thông tin, xây dựng kết cấu hạ tầng.. nhờ đó mà các Doanh nghiệp có điều kiện duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và bảo đảm việc làm.
Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Nhật bản, vấn đề xã hội cũng là một thách thức không nhỏ, đặc biệt là về mức sống. chúng ta biết rằng, sức mua của người Tokyo chỉ bằng 1/2 của người Niu-oóc, kém người Luân đôn 5% và người Paris 35%. Nạn thất nghiệp vẫn còn ở mức cao, năm 1999: 4,9%; nhà ở thì chật chội; môi trường sinh thái ô nhiễm… Những vấn đề trên càng làm cho vai trò của Nhà nước thêm cấp bách. Theo kinh nghiệm của Nhật Bản để giải quyết sự phân hóa giàu nghèo (về thu nhập giữa 20% số người giàu và 20% số người nghèo là khoảng 4 lần, trong đó 20% số người nghèo nhất chỉ chiếm 8% tổng thu nhập). Về tài sản, sự chênh lệch tập trung vào một bộ phận dân cư (1% số hộ giàu đã nắm giữ 13-14% số tài sản của dân cư cả nước). Từ những lý do trên, Chính phủ đã tập trung tăng trưởng kinh tế, mở rộng thêm ngành nghề, thực hiện chế độ làm việc suốt đời, thực hiện chế độ đánh thuế thu nhập ( từ việc làm, từ tài sản) để điều tiết qua phân phố i lại. Thuế thu nhập được thực hiện theo chế độ lũy tiến, Nhà nước quy định cụ thể mức thu nhập tối thiểu phải đóng thuế là 150.00yên/năm. Đồng thời thực hiện chính sách phúc lợi xã hội chủ yếu thông qua ngân sách Nhà nước ( hiện nay phần chi tiêu này chiếm khoảng 17% tổng thu của ngân sách. năm 1990: 17,5%, 1991: 17,4%: 1992: 17,6%; 1993: 18%, 1994: 18,4%, 1998: 16,9%).
Ngoài ra còn thực hiện thông qua các kênh đóng góp khác ( đặc biệt là chế độ bảo hiểm). Tuy nhiên, chính sách xã hội của Nhật bản còn bộc lộ những hạn chế về ngân sách ( nợ tồn đọng của Nhà nước còn cao); bộ máy quản lý cồng kềnh, kém hiệu quả; một số chính sách cụ thể còn bất cập chưa đảm bảo được tính công bằng; chính sách phúc lợi xã hội chưa đến được hết các tầng lớp dân cư trong xã hội. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Về chính sách giá cả: ở Nhật bản phạm vi, hình thức và giải pháp can thiệp của chính phủ vào thị trường và giá cả luôn tùy thuộc vào tình hình kinh tế chính trị cụ thể của đất nước ở mỗi giai đoạn. Thời kỳ 1945-1950; Chính phủ khống chế và kiểm soát toàn bộ hệ thống giá cả ; thời kỳ 1950-1973 sự kiểm soát giá cả được nơi lỏng, chỉ có một số mặt hàng chịu sự kiểm soát của giá cả như: gạo, điện, sữa, cước tàu xe và bưu chính viễn thông và dựa trên cơ sở hệ thống luật tương đối hoàn chỉnh. Đặc biệt năm 1973, do cú sốc về giá dầu lửa, Chính phủ đã quyết định thành lập Tổng cục vật giá thuộc Tổng cục thống kê và kinh tế; thành lập Hội đồng bình ổn giá; Hội đồng tư vấn về giá thuộc Nghị viện… Nhìn chung các biện pháp tự nguyện, bán tự nguyện được chính phủ tăng cường khuyến khích. Chẳng hạn như vào những năm cuối của thập kỷ 80, Nhà nước Nhật có kế hoạch trợ giúp và hướng dẫn các Công ty thực hiện chiến lược giá mới ( trợ giá tự nguyện) nhờ đó mà sức cạnh tranh của các Công ty được nâng cao.
Đồng thời, khi nền kinh tế xảy ra tình trạng lạm phát cao thì để hạn chế lạm phát, Chính phủ Nhật thực hiện hạn chế việc cho vay tiền của các ngân hàng và hỗ trợ cho các ngành công nghiệp quan trọng trong việc thu hút nguồn tài chính cần thiết.
3. Mô hình ở CHLB Đức.
Đó là mô hình kinh tế thị trường xã hội. Mục tiêu của mô hình này là tự do và bình đẳng xã hội, làm cho tự do trên thị trường gắn liền và thống nhất với nguyên tắc công bằng xã hội. Trong nền kinh tế thị trường xã hội các cơ sở tư nhân và tập thể phải có sáng kiến và trách nhiệm cao trước khi có sự trợ giúp của Chính phủ. Do vậy, ở đây vai trò can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế hẹp hơn. Nhà nước đóng vai trò là người thiết kế”luật lệ” và dùng nó điều khiển nền kinh tế nhằm tránh được khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát. …
Ở nền kinh tế này, việc điều tiết thị trường lao động liên quan đến hàng loạt chính sách như: cạnh tranh, xã hội, lao động, cơ cấu… Nhưng đặc biệt là chính sách xã hội. Đây cũng là mối quan tâm thường xuyên của tất cả các quốc gia trên thế giới; trong đó chính sách việc làm là một chính sách quốc kế dân sinh cơ bản nhất. Việc làm và giải quyết việc làm là tiêu chí có tính quyết định, đánh giá sức mạnh của nền kinh tế. có thực hiện tốt chính sách việc làm, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội, khắc phục tình trạng thất nghiệp.. thì nền kinh tế mới phát triển vững bền. Và chính việc điều tiết thị trường lao động thông qua chính sách việc làm ở CHLB Đức đã làm cho mọi người lao động an toàn trước những biến cố xảy ra do biến đổi của thị trường.
Mục tiêu của Chính phủ là phải đảm bảo sự”cân bằng xã hội”. Do vậy, họ thực hiện nhiều chính sách, giải pháp như: bảo hiểm xã hội, điều chỉnh phân phối thu nhập, chống biến đổi chu kỳ… Về bảo hiểm xã hội Chính phủ thực hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau là: bảo hiểm thất nghiệp; bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội, bảo hiểm tai nạn, chăm sóc tuổi già.. Chẳng hạn, với bảo hiểm thất nghiệp thì căn cứ vào luật quy định trách nhiệm đóng bảo hiểm. Khi thất nghiệp người lao động được nhận tiền thất nghiệp với mức cao, thấp tùy thuộc vào thời gian làm việc. Ví dụ, nếu trước khi thất nghiệp anh ta đã làm việc 24 tháng thì khi thất nghiệp sẽ được nhận 63% tiền lương thuần túy (lương ròng) trong thời gian 1 năm. Sau đó thay bằng việc hưởng trợ cấp thất nghiệp. Chính những chính sách này đều nhằm một mục đích chung là chia sẻ rủi ro. Còn về điều chỉnh phân phối thu nhập, mục đích cũng là để đảm bảo” cân bằng xã hội”. Nhìn chung Chính phủ sử dụng nhiều công cụ để điều chỉnh; song chủ yếu là thuế. Nguồn thu từ thuế chủ yếu là từ các khoản thu nhập, lợi tức và thuế doanh thu, trong đó thuế thu nhập được đánh theo mức lũy tiến với mục đích phân phối lại thu nhập của những người có thu nhập cao để đảm bảo cân bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Cụ thể, mức đóng thuế là theo tỷ lệ nhất định. Người lao động độc thân phải đóng mức cao nhất. ở Tây Đức chiếm tới 46% tổng thu nhập; còn Đông Đức khoảng 42% tổng thu nhập. Với Doanh nghiệp thì vấn đề quản lý và điều tiết lợi nhuận của các Doanh nghiệp được Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện cho các cá nhân tự do kinh doanh; thực hiện điều tiết lợi nhuận của họ bằng chính sách thuế phù hợp, quản lý thu nhập của các chủ kinh doanh. Đồng thời các chủ kinh doanh có nhiệm vụ, trách nhiệm thực hiện những điều luật Nhà nước quy định. Tựu trung lại, việc thực hiện chính sách xã hội đã góp phần giảm bớt bất công và đảm bảo công bằng xã hội trong một giới hạn nhất định. Tuy nhiên, chính sách xã hội tự bản thân nó cũng tạo ra những bất công xã hội mà chính nó phải có nhiệm vụ xóa bỏ. Trong thập kỷ 90, để thực hiện nhiệm vụ quan trọng là tái thống nhất đất nước. Nhà nước Đức đã thực hiện chính sách hỗ trợ một cách thỏa đáng cho cả 2 miền( có ưu tiên hơn cho miền Đông Đức) thông qua sự ưu đãi về các loại thuế đối với mỗi miền. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Hiện nay ở CHLB Đức nạn thất nghiệp rất trầm trọng. Chẳng hạn trong cả thập kỷ 90 vào khoảng 10% số người lao động, với tổng số 4 triệu người, năm 1997 thất nghiệp trở thành vấn đề trung tâm của xã hội. Đứng trước tình hình đó, Chính phủ thực hiện chính sách thị trường lao động, theo nguyên tắc: Công ăn việc làm thay thế cho thất nghiệp. Mục tiêu hàng đầu của Chính phủ là khôi phục, tạo điều kiện cho người kinh doanh tìm lại được công việc ở mức cho phép. Vì thế họ đã sử dụng chính sách thị trường chủ động, bao gồm: Chính sách trật tự thị trường lao động, chính sách tạo công ăn việc làm và chính sách cân bằng thị trường lao động. Những chính sách này đã mang lại hiệu quả tốt cho nền kinh tế.
4. Mô hình ở Anh.
Sự thành công của Chính phủ trong việc quản lý, điều tiết hệ thống các chính sách như: thị trường lao động, chống thất nghiệp, bảo hiểm xã hội… là những kinh nghiệm cần được quan tâm nghiên cứu.
Vào thập kỷ 90, nền kinh tế của Anh nằm trong tình trạng suy giảm mạnh, cùng với nó là tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Để có tỷ lệ thất nghiệp dưới mức trung bình mà EU quy định ( 11%) thì đòi hỏi người lao động và Chính phủ phải nỗ lực rất nhiều. Và để đạt được mục tiêu, Chính phủ Anh đã xác định nhiệm vụ hàng đầu là xúc tiến, hỗ trợ tạo hành trang cho tất cả mọi người có cơ hội cùng tham gia giải quyết, tạo một xu hướng kinh tế; mở rộng quan hệ kinh tế với các nước về thương mại và đầu tư một cách có hiệu quả, đồng bộ; khuyến khích mở rộng các chương trình như môi giới và tư vấn công ăn việc làm, đào tạo bồi dưỡng kiến thức, nghề nghiệp, khuyến khích học nghề bằng việc hỗ trợ vay vốn; tổ chức chương trình đào tạo đặc biệt dành cho những người khuyết tật.. đã góp phần làm giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp.
Ngoài ra việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội ở Anh cũng mang lại cho Chính phủ một khoảng ngân sách được tiết kiệm. Thời gian qua, Chính phủ đã chi ngân sách nhiều cho bảo hiểm xã hội, chiếm tới 30% tổng chi phí công cộng. Theo các chuyên gia kinh tế ước tính, mức chi này sẽ tăng từ 94,1 tỷ Bảng năm 1997-1998 lên tới 98,3 tỷ Bảng vào năm 1998-1999 . Song với những chi phí cao như vậy mà tình trạng nghèo đói, thất nghiệp vẫn không được ngăn chặn. Do vậy, để giảm bớt các khoản chi này Chính phủ Anh đã đưa ra một văn kiện” xanh” về cải cách chương trình phúc lợi xã hội, được công bố tháng 3/1998 với 8 nguyên tắc cơ bản nhằm giải quyết một số vấn đề bức xúc đang tồn tại trong xã hội. Với chính sách bảo hiểm này đã củng cố thêm cho người dân ở Anh kiếm sống hoặc được hưởng một khoảng trợ cấp nào đó, góp phần đảm bảo cuộc sống của mình.
5. Mô hình ở Mỹ. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Thực hiện mô hình kinh tế thị trường tự do. Đặc trưng nổi bật của mô hình này là thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh . Tuy nhiên, sau chiến tranh thế giới thứ 2, vai trò Chính phủ Mỹ đối với nền kinh tế cũng được nâng cao và đóng vai trò quan trọng được thể hiện ở một số công việc như: Xây dựng các lĩnh vực thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội; tạo môi trường tự do cạnh tranh; sử dụng các công cụ tài chính, tiền tệ… để điều tiết quản lý nền kinh tế với sự ra đời của các đạo luật. Đạo luật về việc làm năm 1946 của Nhà nước Mỹ ban hành ở đó lợi ích và trách nhiệm của người lao động được pháp luật bảo hộ: Luật công cộng 480 hay còn gọi là” luật lương thực vì hòa bình” ban hành năm 1954 về việc phân phối những hàng hóa nông nghiệp dư thừa sang thị trường Châu Âu và Nhật bản đã góp phần làm giảm giá cả trong nước; Đạo luật cải cách thuế năm 1986 của chính quyền Reagan thực hiện giảm thuế cho mọi tầng lớp dân cư đã được nhiều người ủng hộ, đặc biệt là những người có thu nhập thấp… Chính những đạo luật đó đã giúp Nhà nước tác động tới thị trường tài chính và tiền tệ. Với một hệ thống các giải pháp của Reagan, tạo ra sự đồng bộ trong chính sách điều tiết góp phần kích thích tăng trưởng, ổn định xã hội, tạo lực cho nền kinh tế. Cụ thể là chính quyền Reagan đã đề ra kế hoạch cắt giảm thâm hụt ngân sách liên bang thông qua giảm chi; giảm thuế và giảm dần sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, như tiến hành cắt giảm tài trợ cho các chương trình kinh tế phục vụ công cộng, xóa bỏ hàng loạt các luật lệ hạn chế đến tính chủ động và năng động của giới kinh doanh. Cùng với các giải pháp điều tiết thị trường tài chính, còn có cả các giải pháp cho thị trường tiền tệ tín dụng. Reagan chủ trương duy trì lãi suất cao đi đôi với kiểm soát chặt chẽ khối lượng cung ứng tiền tệ nên đã hạ thấp được tỷ giá hối đoái và từng bước ổn định được giá trị của đồng đô la . Để bảo vệ sản xuất trong nước, Mỹ đã thi hành thuế chống bán phá giá. Thuế này quy định mọi mặt hàng nhập vào Mỹ mà bị coi là bán phá giá thì đều bị đánh thuế chống bán phá giá. Để kiềm chế lạm phát Nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, tạo ra sự ổn định về tiền tệ và môi trường kinh doanh trên cơ sở giảm thuế hàng loạt, đặc biệt là giảm thuế thu nhập để kích thích sản xuất phát triển và từ đó tác động vào thị trường tiêu dùng. Đây cũng là kinh nghiệm đáng để chúng ta học hỏi, nghiên cứu.
6. Trung Quốc. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Trung quốc là một nước nằm trong hệ thống XHCN thực hiện khá triệt để cơ chế kế hoạch hóa tập trung trong một thời gian dài. Sau những thành tựu ban đầu, cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã để lại những hậu quả nghiêm trọng: nền kinh tế trì trệ khủng hoảng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục những hậu quả đó, Trung quốc tiến hành công cuộc cải cách mở cửa mà nội dung cốt lõi là giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ chế thị trường và kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô trong đó đặc biệt chú trọng khâu đổi mới kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô. Với tinh thần quyết tâm cao, với truyền thống sáng tạo vốn có nhân dân Trung quốc dưới sự chỉ đạo của lý luận Đặng Tiểu Bình đã có nhiều kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ này ngày càng tốt đưa đến nhiều thành tựu mà chúng ta phải học tập. Sự nghiệp cải cách mở cửa được thực hiện từ năm 1978, trải qua 4 giai đoạn từ dễ đến khó, cụ thể là:
Giai đoạn thứ nhất: (Từ 12/1978-9/1984) Trọng tâm của giai đoạn này là cải cách trước hết ở lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, những cải cách trong nông nghiệp được lần lượt thực hiện trên các mặt.
Một là, giao quyền sử dụng ruộng đất cho hộ gia đình nông dân, sở dĩ, có việc làm đó là vì sau nhiều năm nếm trải thất bại của công xã nhân dân với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thấy rõ muốn có cơm ăn, áo mặc, phải có cơ chế đảm bảo tính tự chủ của người lao động. Mà dể tăng tính tự chủ cho nông dân thì việc dễ nhất, trong tầm tay của họ là giao ruộng cho họ theo hình thức khoán. Đảng, Nhà nước Trung quốc nhận thấy điều đó nên đã hình thành nhanh chóng chính sách khoán ruộng đất đến hộ. Giao ruộng đất cho hộ nông dân theo hình thức khoán thực chất là giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân, khuyến khích tính tự chủ của nông dân. Đây là biện pháp đầu tiên rất cơ bản, hợp lòng dân đồng thời cũng là giải pháp dễ thực hiện nhất ( bởi vì 28/9/1979 cho phép khoán đến tổ sản xuất thì đến 2/1982 đã cho phép khoán đến hộ gia đình nông dân)
Hai là, trên cơ sở khắc phục những hạn chế nảy sinh khi thực hiện khoán hộ đã khuyến khích phát triển các hộ chuyên sản xuất một loại sản phẩm thực chất là phát triển kinh tế hàng hóa ở nông thôn. Để tạo điều kiện phát triển các hộ chuyên canh, Nhà nước Trung quốc phải thực hiện một loạt các biện pháp, mà về thực chất là đẩy mạnh kinh tế hàng hóa ở nông thôn như cho chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng ; chuyển nhượng tiền vốn, kỹ thuật sức lao động giữa các hộ chuyên; ưu tiên giúp các hộ này về giống, vốn, lương thực, máy móc, nguyên vật liệu; phát triển các dịch vụ phục vụ sản xuất và xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn; cho phép thực hiện các hình thức phân phối khác nhau theo lao động hoặc theo vốn…
Ba là, bắt đầu thăm dò thử nghiệm cải cách các xí nghiệp Nhà nước ở thành thị. Cải cách các Doanh nghiệp Nhà nước ở thành thị, trong đó chủ yếu là các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh là lĩnh vực khó hơn, bởi vì toàn bộ tài sản, máy móc thiết bị.. đều của Nhà nước, nằm trong tổng giá trị Nhà nước vốn vẫn quản lý. Giải quyết cách nào để không thất thoát tài sản của Nhà nước, lại làm cho nó sinh sôi nhanh chóng, hiệu quả đồng thời còn hạn chế được những vấn đề xã hội nảy sinh là vấn đề rất khó, do đó phải làm sao, từng bước một (chúng ta biết đầu những năm 80, Trung quốc có khoảng 1 triệu Doanh nghiệp với hơn 80 triệu công nhân và đều là Doanh nghiệp dựa trên cơ sở công hữu. Nói chung làm ăn kém hiệu quả. Thực tế chỉ đã ra là khi thực hiện những giải pháp nhằm tăng hiệu quả của DNNN thì cả vấn đề kinh tế và vấn đề xã hội đều phức tạp!) ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Bốn là, bắt đầu xây dựng đặc khu kinh tế, mở cửa 14 thành phố vùng duyên hải.
Như vậy là trong giai đoạn đầu tiên của sự nghiệp cải cách mở cửa Trung quốc đi vào cải cách ở khâu dễ là nông nghiệp, sau đó mới đi từng bước vào những khâu là DNNN và các đặc khu kinh tế.
Giai đoạn thứ hai (từ tháng 10/1984 đến tháng 12/1991), giai đoạn này được mở đầu bằng hội nghị Trung ương 3 khóa XII với” Quyết định của Trung ương Đảng cộng sản Trung quốc về việc cải cách thể chế kinh tế”, chuyển trọng tâm cải cách từ nông thôn sang thành thị mà trung tâm là thi hành các giải pháp nhằm tăng cường sức sống của các Doanh nghiệp. Đây là việc rất khó như trên đã nêu. Do đó là việc làm lâu dài. Thực chất các biện pháp xử lý hiệu quả của các DNNN là giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ chế thị trường với kế hoạch hóa vĩ mô của Nhà nước.
Trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước Trung quốc cũng đồng thời đẩy mạnh cải cách trên các địa bàn (nông thôn, thành thị) các lĩnh vực (khoa học kỹ thuật, giáo dục, thể chế chính trị) và mở rộng hơn nữa với bên ngoài.
Giai đoạn thứ ba (Từ tháng 1/1992 đến trước đại hội lần thứ XV 1997”: Đây là giai đoạn xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN. Đó là giai đoạn chuyển đổi từ chỗ chủ yếu phá bỏ cơ chế cũ sang xây dựng thể chế mới, từ việc điều chỉnh chính sách sang sáng tạo cái mới về chế độ, từ cải cách từng ngành chuyển sang cải cách đồng bộ, tổng hợp, từ mở cửa vùng ven biển đến mở cả các vùng biên, khu vực nội địa với hình thức đa phương và nhiều tầng nấc.
Việc thực hiện các nhiệm vụ trong giai đoạn ba càng cho thấy Trung quốc luôn thực hiện cải cách theo phương thức từ dễ đến khó, từ bộ phận đến toàn thể.
Giai đoạn thứ tư (Từ Đại hội Đảng Cộng Sản Trung quốc lần thứ XV – tháng 9/1997 – đến nay), giai đoạn” thúc đẩy” toàn diện sự nghiệp xây dựng CNXH mang mầu sắc Trung quốc tiến vào thế kỷ XXI”. Riêng trong lĩnh vực kinh tế, ở giai đoạn này, Trung quốc nhấn mạnh:
Thứ nhất, đẩy nhanh cải cách xí nghiệp quốc doanh, theo hướng chú trọng tăng tính tự chủ của Doanh nghiệp. Mặt khác, tìm tòi thể chế lãnh đạo xí nghiệp và chế độ quản lý tổ chức phù hợp với quy luật kinh tế thị trường theo yêu cầu; Quyền sở hữu tài sản rõ ràng, quyền hạn và trách nhiệm phân minh, tách chính quyền với xí nghiệp, quản lý khoa học”. Điều chỉnh cơ cấu kinh tế và sắp xếp lại để Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả đi đôi với các biện pháp của Nhà nước nhằm làm xí nghiệp hoạt động có hiệu quả và giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh do cải cách hoạt động của DNNN. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Thứ hai, hoàn thiện kết cấu và phương thức phân phối. Thực chất của các biện pháp này cũng là tăng cường quản lý vĩ mô, hạn chế những hậu quả xấu do đẩy mạnh hoạt động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường.
Thứ ba, phát huy đầy đủ tác dụng của cơ chế thị trường, kiện toàn hệ thống điều tiết vĩ mô. Đồng chí Giang Trạch Dân nêu rõ nhiệm vụ này là:”Kiện toàn quy tắc thị trường, tăng cường quản lý thị trường, xóa bỏ trở ngại của thị trường, phá vỡ việc phong tỏa khu vực và lũng đoạn ngành nghề, nhanh chóng xây dựng hệ thống thị trường cạnh tranh có trật tự, mở cửa thống nhất, phát huy hơn nữa tác dụng cơ sở của thị trường trong hân phối tài nguyên.
Hoàn thành được nhiệm vụ như đồng chí Giang Trạch Dân nêu ra có nghĩa là giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ chế thị trường và kế hoạch hóa vĩ mô. Đó là nhiệm vụ khó khăn đặt ra cho nhiệm kỳ đại hội Đảng lần thứ XV và các nhiệm kỳ Đại hội tiếp theo của Đảng Cộng sản Trung quốc.
Trên đây là những bài học kinh nghiệm tiến hành cải cách công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô mà tôi rút ra được những thành công và không thành công của sự nghiệp cải cách mở cửa của Trung Quốc. Những kinh nghiệm của Đảng và Nhà nước Trung Quốc sẽ giúp nhiều cho quá trình điều hành sự chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam.
Từ kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ giữa cơ chế thị trường và kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô của các nước tư bản phát triển và Trung Quốc có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
Các nước tư bản phát triển luôn coi trọng cơ chế thị trường với những mức độ khác nhau. Trong đó Mỹ là quốc gia thực hiện cơ chế thị trường tự do nên việc đề cao cơ chế thị trường cũng là điều dễ hiểu, song ngay cả nền kinh tế thị trường xã hội CHLB Đức thì cơ chế thị trường cũng được đề cao. Việc coi trọng cơ chế thị trường của họ xuất phát từ lý luận của trường phái cổ điển, tân cổ điển và đặc biệt là của trường phái tự do mới.
Trong khi coi trọng cơ chế thị trường thì vấn đề kế hoạch hóa cũng luôn được Nhà nước quan tâm. Quan niệm về kế hoạch có thể khác nhau hoặc được xây dựng theo những chương trình mục tiêu dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn, hoặc được quan niệm với nghĩa” mềm” là những chương trình, dự kiến để đạt tới mục tiêu nào đó, đồng thời mang tính định hướng nhiều hơn là tính pháp lý. Đồng thời sử dụng các công cụ đòn bẩy để uốn nắm sự vận động của nền kinh tế cho phù hợp mục tiêu. Quan niệm chung của kế hoạch thường đồng nghĩa với chương trình và được xây dựng trên cơ sở có sự hợp đồng, thỏa thuận giữa Nhà nước với các cơ sở kinh doanh ( Doanh nghiệp, nhất là những Doanh nghiệp lớn).
Quan niệm chung về sự kết hợp giữa cơ chế thị trường và kế hoạch cũng xuất phát từ quan điểm về vai trò nhân tố Nhà nước và thị trường, trong đó thị trường là nhân tố cơ bản, còn sự can thiệp của Nhà nước chỉ là để làm cho thị trường phát triển lành mạnh chứ không phải làm méo mó thị trường… Từ quan niệm chung như vậy nên kế hoạch của Nhà nước cũng phải xuất phát từ thị trường, trên cơ sở thị trường mà đưa ra những định hướng điều chỉnh và tác động thông qua việc sử dụng các công cụ như thuế, tài chính, lãi suất tín dụng.. nhằm làm cho cơ chế thị trường vận hành lành mạnh.
Trong việc sử dụng các công cụ đòn bẩy để tác động tới kế hoạch nhằm đảm bảo mối quan hệ” tương thích” với thị trường thì thông tin thị trường và thuế lãi suất tín dụng luôn được coi trọng. Có thể nói đó là những công cụ cơ bản nhất. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Với thông tin được cung cấp, các Doanh nghiệp có điều kiện nhận thức được xu hướng vận động của thị trường. Căn cứ vào những định hướng và dự báo của cơ quan kế hoạch các Doanh nghiệp này có thể tự định hướng lây sự phát triển riêng của mình. Nếu định hướng đó phù hợp ( nói cách khác là đúng quỹ đạo của Nhà nước ) thì đương nhiên sẽ nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước. Còn giả định không theo những định hướng đó thì cũng có nghĩa là từ chối sự hỗ trợ.
Công cụ thuế và lãi suất tín dụng luôn được sử dụng nhằm thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu và được hoạch định. Thực tế đó là cái giá mà Nhà nước trả cho việc khuyến khích thực hiện mục tiêu của mình.
Trong các chương trình kế hoạch của Nhà nước ở các nước tư bản phát triển thì kế hoạch an ninh xã hội ngày nay luôn được quan tâm. Đây có thể coi là một trong những giải pháp nhằm khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường. Để thực hiện kế hoạch về lĩnh vực này mỗi nước có những kế hoạch ngắn và trung hạn khác nhau, song đều có chung một mục tiêu là tạo ra sự phát triển bền vững với chính sách biện pháp được sử dụng là tăng cường sự tác động của Nhà nước vào khâu bảo hiểm và đảm bảo môi trường, giữ vững cân bằng sinh thái trong sự phát triển.
Trong điều kiện của CNTB với trình độ xã hội hóa đã phát triển, việc thực hiện kế hoạch hóa cũng là một đòi hỏi khách quan của quan hệ quản lý. Tuy nhiên việc kế hoạch hóa dưới sự tác động của cuộc cách mạng KHCN với những thành tựu mới nhất được sử dụng, đã tạo ra khả năng mới về mặt kinh tế kỹ thuật, mang tính hiện thực để kiểm kê, kiểm soát các yếu tố của quá trình sản xuất trên phạm vi toàn xã hội. Do vậy kế hoạch hóa nền kinh tế cũng có khả năng hiện thực. Tuy nhiên với một nền sản xuất dựa trên chế độ sở hữu tư nhân TBCN sẽ không tránh khỏi những giới hạn nhất định, đối với việc kết hợp kế hoạch với thị trường và việc giải quyết mối quan hệ đó trở nên khó khăn và đầy mâu thuẫn.
Từ việc phân tích kinh nghiệm của các nước ở trên có thể đưa ra một số gợi ý đối với Việt Nam như sau:
Một là, vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước có tầm quan trọng to lớn. Trong từng giai đoạn cụ thể Nhà nước cần sử dụng các giải pháp thích hợp để ứng phó với những biến động trên thị trường. vì vậy mỗi quốc gia cần căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước mình để xây dựng cho mình một mô hình phù hợp. Không thể có một mô hình nào chung và mô hình là lý tưởng tuyệt đối mà phải biết chọn lọc, sáng tạo, áp dụng linh hoạt. Nếu áp dụng dập khuôn máy móc thì sẽ gây ra những tác hại khôn lường. Việc nâng cao vai trò điều tiết kinh tế – xã hội của Nhà nước có vai trò quan trọng, song phải trên cơ sở tôn trọng các quy luật vận động của nền kinh tế thị trường. Sự điều tiết của Nhà nước thông qua hệ thống các thể chế, chính sách, công cụ điều tiết trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong đó kế hoạch là công cụ có vai trò quan trọng không thể thiếu. chú trọng xây dựng và hoàn thiện kế hoạch kết cấu hạ tầng của nền kinh tế thị trường. Bởi vì, đây là lĩnh vực đòi hỏi vốn lới, thu hồi vốn chậm, lợi nhuận ít.. nền thường tư nhân không làm hoặc là rất ít đảm nhận. Do vậy, Nhà nước phải chủ đạo xây dựng kế hoạch trong lĩnh vực này.
Hai là, cần quan tâm đến hệ thống các chính sách, đặc biệt là chính sách tài chính, nó là động lực mạnh mẽ, tạo lực cho nền kinh tế phát triển. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, một khi có sự bùng nổ xã hội thì lợi ích giai cấp thống trị cũng không được đảm bảo và ngay cả vị trí của bộ phận chóp bu cũng sẽ bị lung lay. Do vậy, giữ cho xã hội ổn định, cân bằng là chức năng hàng đầu của Nhà nước, dù bản chất Nhà nước đó như thế nào. Tuy nhiên, cần thực thi chính sách xã hội một cách linh hoạt, có mức độ và chừng mực hợp lý để hạn chế tối đa những thách thức mà nó đưa lại.
Ba là, các mục tiêu, chủ trương chính sách và đường lối phát triển kinh tế – xã hội phải được hoạch định một cách chính xác, phù hợp trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu, năng lực và điều kiện khách quan. Trong khi hành động phải luôn có những chính kiến, quyết đoán, song không cứng nhắc, phải linh hoạt. Bởi vì, có những chính sách đề ra nhưng vì một lý do đột xuất nào đó khi vận dụng triển khai thì thị trường có phản ứng, do không phù hợp, làm cho hoạt động không hiệu quả. Trong trường hợp đó phải nghiêm túc sửa chữa.
Bốn là, cần coi trọng kế hoạch giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực. Vì con người là yếu tố đóng vai trò cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành bại trong quá trình phát triển nhất là trong điều kiện quá độ sang kinh tế tri thức. Do vậy Nhà nước cần phải giữ vai trò chủ đạo trong việc đào tạo bồi dưỡng kiến thức, mở rộng các lớp đào tạo và đào tạo lại.. nhằm nâng cao trình độ học vấn cho nguồn nhân lực của đất nước. ( Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Xem tiếp phần sau tại:

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
