Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN là một bài luận văn Thạc sĩ của tác giả giấu tên được giáo viên chấm điểm cao trong quá trình làm bài luận. Trong quá trình hội nhập, trên những khía cạnh và góc độ khác nhau, đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, thể hiện ở các nội dung như hệ thống hoá được các khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. Từ đó phân tích và đưa ra giải pháp trong Đề tài: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, và tất cả đều được tác giả triển khai với bố cục khoa học, rành mạch.
Mở đầu
1.Sự cấp thiết của đề tài.
Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, hơn lúc nào hết, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã thực sự trở thành vấn đề thời sự cho mỗi quốc gia, mỗi tổ chức, doanh nghiệp và có tác động không nhỏ tới từng cá nhân trong xã hội. Hoà mình vào tiến trình hội nhập này, nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành xây dựng nói riêng đã, đang và sẽ tiếp tục đối mặt với thách thức từ sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường. Vì vậy, việc không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh của doanh nghiệp là yếu tố sống còn, quyết định sự phát triển hay suy yếu không chỉ của riêng doanh nghiệp mà còn của cả nền kinh tế quốc dân.
Trong quá trình hội nhập, trên những khía cạnh và góc độ khác nhau, đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, thể hiện ở các nội dung sau:
- Đã hệ thống hoá được các khái niệm về cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường.
- Phân tích tình hình cạnh tranh của một số doanh nghiệp xây lắp.
- Nghiên cứu thành công một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp tư vấn đầu tư xây dựng, khác với các ngành khác, lợi thế cạnh tranh không thể dựa vào lao động rẻ, tài nguyên thiên nhiên, cạnh tranh của các doanh nghiệp tư vấn đầu tư xây dựng là cạnh tranh về trình độ, kinh nghiệm, kỹ thuật,… Về điều này, các doanh nghiệp tư vấn nước ngoài, có lợi thế hơn các doanh nghiệp trong nước rất nhiều. Mặt khác, các doanh nghiệp tư vấn đầu tư trong nước còn yếu do trình độ công nghệ lạc hậu, quy mô, tiềm lực còn nhỏ bé, kinh nghiệm kinh doanh trong cơ chế thị trường còn hạn chế, khả năng liên doanh, liên kết của doanh nghiệp còn kém. Vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn thiện các vấn đề cạnh tranh, khả năng cạnh tranh là yêu cầu bức thiết đối với với các doanh nghiệp kinh doanh bằng chất xám như các doanh nghiệp tư vấn đầu tư xây dựng.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn xây dựng nói chung và Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình.
Phạm vi nghiên cứu là khả năng cạnh tranh trong hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng của Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình, trong đó chú trọng nghiên cứu hoạt động tư vấn lập dự án và tư vấn thiết kế xây dựng công trình.
3. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường tư vấn xây dựng, cạnh tranh và cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng.
- Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình trong thời gian qua. Chỉ ra được mặt mạnh, mặt yếu, những thành quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình.
- Phân tích một số vấn đề còn bất cập về hoạt động tư vấn xây dựng Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế..
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình.
4. Phương pháp nghiên cứu ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Phương pháp đối chiếu, phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, mô hình hóa các số liệu điều tra thực tế, thống kê, phân tích so sánh, tiếp cận hệ thống, lựa chọn tối ưu, phương pháp chuyên gia.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương 2. Thực trạng khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình.
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Công Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Có thể bạn quan tâm:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1. Lý luận chung về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế là tối đa hoá lợi ích, đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với khách hàng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế có những đặc trưng cơ bản sau:
- Mang bản chất của mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau. Nói đến cạnh tranh là nói đến một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể. Nếu chỉ có một chủ thể (độc quyền) thì không có cạnh tranh, nhưng nếu có nhiều chủ thể mà không cùng một mục tiêu thì cạnh tranh, sức ép cạnh tranh cũng giảm xuống. Do vậy, các chủ thể phải có cùng mục tiêu thì mới xảy ra cạnh tranh. Các doanh nghiệp cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận tối đa, vì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp thông qua duy trì và gia tăng thị phần, phát triển thị trường. Còn khách hàng thì có mục tiêu chung là tối đa hoá mức độ thoả mãn hay sự tiện lợi khi tiêu dùng sản phẩm.
- Các chủ thể cạnh tranh đều phải tuân thủ những ràng buộc chung được quy định thành văn hoặc bất thành văn. Những ràng buộc này có thể là hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế; các thông lệ và tập quán kinh doanh trên các thị trường hoặc trên một thị trường cụ thể; đặc điểm nhu cầu và thị hiếu của khách hàng… Những ràng buộc này thường do Nhà nước quy định nhằm hướng tới sự cạnh tranh mang tính lành mạnh.
- Phương pháp cạnh tranh rất đa dạng, không chỉ dừng lại ở việc bán giá thấp hay nâng cao chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp có thể cạnh tranh bằng sự đa dạng về chủng loại sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng, cạnh tranh bằng các công cụ xúc tiến bán hàng, bằng các dịch vụ khách hàng hoàn hảo hơn…
- Cạnh tranh thường diễn ra trong khoảng thời gian và không gian cố định. Không nên quan niệm cứng nhắc rằng cạnh tranh chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp trên cùng một thị trường. Trong môi trường kinh doanh sôi động và biến đổi nhanh chóng, cạnh tranh không chỉ với mục đích gia tăng thị phần trên thị trường hiện tại mà quan trọng hơn là phát triển các thị trường mới. Thị trường ở đây dùng với nghĩa một phân đoạn thị trường hoặc một khu vực thị trường xét về mặt địa lý. Như vậy, việc tìm kiếm và phát triển thị trường mới cũng là một cách cạnh tranh, nó được áp dụng ngày càng phổ biến trong kinh doanh hiện đại dưới tác động của sự phát triển công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hoá kinh tế.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng thể các yếu tố gắn trực tiếp với hàng hoá cùng với các điều kiện, công cụ và biện pháp cấu thành khả năng của doanh nghiệp trong việc ganh đua nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành khách hàng và đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Nói đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ là nói đến chất lượng sản phẩm do doanh nghiệp đó sản xuất ra, mà còn nói đến các biện pháp tiếp thị, quảng cáo. dịch vụ sau bán hàng, …, nhằm ngày càng mở rộng thị trường cho doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm cả khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó lẫn khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó cung cấp trên thị trường.
Canh tranh của doanh nghiệp là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm tạo lợi thế cho mình và thu được nhiều lợi nhuận hơn, là sự tranh giành về lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường. Cạnh tranh là cuộc chạy đua khốc liệt mà doanh nghiệp muốn tồn tại thì không được lẩn tránh, phải trực tiếp đối đầu với thử thách, tìm ra những giải pháp để giành thắng lợi trong cuộc chiến đó. Nói cách khác là các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
1.1.2. Phân loại cạnh tranh ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Căn cứ vào các loại thị trường mà trong đó cạnh tranh diễn ra, có:
- Cạnh tranh trên các thị trường đầu vào nhằm giành được các nguồn lực sản xuất có chất lượng tốt và chi phí thấp nhất.
- Cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nhằm chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần, giành khách hàng.
Căn cứ theo phương thức cạnh tranh, có:
- Cạnh tranh bằng giá cả.
- Cạnh tranh phi giá (cạnh tranh bằng chất lượng hàng hoá, thời gian giao hàng, dịch vụ khách hàng, cạnh tranh bằng các thủ đoạn kinh tế và phi kinh tế,…).
Căn cứ vào các loại chủ thể tham gia cạnh tranh, có:
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán.
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau.
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau.
Theo phạm vi cạnh tranh, có:
- Cạnh tranh nội bộ ngành.
- Cạnh tranh giữa các ngành.
- Cạnh tranh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
- Cạnh tranh quốc tế.
Theo cấp độ cạnh tranh, có:
- Cạnh tranh giữa các quốc gia.
- Cạnh tranh giữa các ngành.
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
- Cạnh tranh sản phẩm.
Giữa các cấp độ cạnh tranh có mối quan hệ tương hỗ và suy cho cùng vẫn là cạnh tranh sản phẩm. Thông qua cung cấp sản phẩm mà các chủ thể doanh nghiệp, ngành, Nhà nước mong giành thắng lợi trong cạnh tranh, đạt được mục tiêu của mình.
1.1.3. Tác động của cạnh tranh đối với nền kinh tế. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
- Tác động tích cực:
Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá và là đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường. Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, nhạy bén, năng động, tổ chức quản lý hiệu quả,… để giành ưu thế so với đối thủ cạnh tranh và đạt được mục đích kinh doanh. Thực tế cho thấy, ở đâu và khi nào thiếu cạnh tranh hoặc biểu hiện độc quyền thì ở đó có sự trì trệ, bảo thủ, kém hiệu quả vì không có sự đào thải các lạc hậu, khuyến khích tiến bộ phát triển.
- Tác động tiêu cực:
Cạnh tranh có thể dẫn đến tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”, làm gia tăng các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh như làm hàng giả, trốn lậu thuế, ăn cắp bản quyền, mua chuộc, hối lộ, lừa đảo, tung tin thất thiệt phá hoại uy tín đối thủ, vi phạm pháp luật, làm xấu đi các quan hệ xã hội,… Cạnh tranh chạy theo lợi nhuận và lợi ích riêng sẽ làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, gây bất ổn định về kinh tế, gia tăng sự phân hoá giàu nghèo và những bất công trong xã hội,…
Vấn đề đặt ra không phải là thủ tiêu cạnh tranh mà phải để cạnh tranh diễn ra trong điều kiện bình đẳng và minh bạch của các chủ thể cạnh tranh, phát huy những mặt tích cực và hạn chế đến mức tối thiểu những tác động tiêu cực của cạnh tranh. Đó là trách nhiệm của Nhà nước (thông qua luật pháp và các công cụ điều tiết vĩ mô) và của tất cả các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
1.1.4. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
- Khả năng và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cần cung cấp cho thị trường những sản phẩm chất lượng cao, giá cả hợp lý và đáp ứng nhu cầu khách hàng. Đó chính là những sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Các sản phẩm có khả năng cạnh tranh chỉ có thể được sản xuất và cung ứng bởi doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh. Do vậy, doanh nghiệp muốn duy trì sự tồn tại và phát triển thì cần có khả năng cạnh tranh mạnh và bền vững. Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt bao nhiêu, doanh nghiệp càng cần tạo dựng khả năng cạnh tranh mạnh và bền vững bấy nhiêu.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng (so với các đối thủ cạnh tranh) và đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Quan niệm này cho thấy nếu doanh nghiệp có khả năng duy trì và sáng tạo liên tục các lợi thế cạnh tranh của mình thì doanh nghiệp sẽ luôn đi trước các đối thủ và giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh để đạt mục đích duy trì và mở rộng thị trường, gia tăng lợi nhuận. Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh mạnh là doanh nghiệp có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển các lợi thế cạnh tranh bền vững. Nếu lợi thế của doanh nghiệp dựa trên những yếu tố dễ sao chép và không được đổi mới, sáng tạo thì lợi thế đó sẽ nhanh chóng bị biến mất trước các áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Khi mất lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ không thể thu được tỷ suất lợi nhuận trên mức trung bình, mức mà các nhà đầu tư kỳ vọng thu được từ những khoản mục đầu tư với mức rủi ro tương đương.
Quan niệm trên không mâu thuẫn với các cách tiếp cận khác và đồng thời làm rõ được nguyên nhân dẫn đến thành công của doanh nghiệp là do nó có khả năng duy trì và phát triển liên tục các lợi thế cạnh trạnh của mình. Để xác định các chỉ tiêu đo lường khả năng cạnh tranh của doạnh nghiệp cần làm rõ những vấn đề về lợi thế cạnh tranh, cơ sở của lợi thế cạnh tranh và các phương thức duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện một hoặc nhiều ưu thế của nó so với các đối thủ cạnh tranh nhằm đạt được thắng lợi trong cạnh tranh. Ưu thế này có thể dẫn tới chi phí thấp hơn hoặc sự khác biệt trong sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp so với sản phẩm, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh và được thể hiện thành tỷ suất lợi nhuận cao hơn mức trung bình. Sự khác biệt trong sản phẩm của doanh nghiệp được khách hàng đánh giá cao hơn so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh và do đó họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn.
Một thế mạnh của doanh nghiệp chưa chắc đã trở thành một lợi thế cạnh tranh. Điểm mạnh của doanh nghiệp có thể được tìm ra trên cơ sở phân tích, so sánh các yếu tố, chức năng nội tại của tổ chức. Lợi thế cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải có điểm mạnh không chỉ được so với các yếu tố nội tại khác của chính nó mà còn phải so với các yếu tố, chức năng tương ứng của đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp. Các điểm mạnh có thể giúp các chức năng của doanh nghiệp (sản xuất, marketing, tài chính,…) hoạt động với hiệu quả cao hơn, nhưng những điều đó không thể bảo đảm cho doanh nghiệp giành ưu thế trong cạnh tranh với các đối thủ và thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn trung bình. Chỉ có các lợi thế cạnh tranh, trên cơ sở so sánh giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh mới giúp doanh nghiệp vượt trội hơn đối thủ và đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn trung bình.
Mức trung bình của tỷ suất lợi nhuận chính là mức mà các nhà đầu tư kỳ vọng thu được từ những khoản đầu tư khác có cùng mức độ rủi ro với khoản đầu tư vào doanh nghiệp. Các nhà đầu tư bỏ vốn vào doanh nghiệp luôn mong đợi sẽ thu được lợi nhuận cao. Trong dài hạn, nếu doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn mức trung bình kỳ vọng của nhà đầu tư thì họ sẽ rút vốn để đầu tư sang doanh nghiệp khác có tỷ suất lợi nhuận ít nhất ngang bằng với mức trung bình và do đó doanh nghiệp sẽ thất bại trong cạnh tranh.
Phân tích lợi thế cạnh tranh mang tính so sánh, đặt doanh nghiệp trong sự tương quan với đối thủ cạnh tranh trong cùng phạm vi kinh doanh. Giá trị tuyệt đối của lượng lợi nhuận thu được sẽ không bảo đảm “tính so sánh được” vì doanh nghiệp có thể có quy mô khác nhau. Do vậy, người ta phải dùng một đại lượng tương đối là tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận có thể được tính toán theo nhiều chỉ tiêu nhưng thông thường nhất là qua hệ số sinh lợi doanh thu, hệ số sinh lợi của tài sản và hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu. Các chỉ tiêu ấy được tính toán theo công thức dưới đây: ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Vị thế cạnh tranh thể hiện vị trí tương đối của doanh nghiệp trên thị trường tại một thời điểm nhất định. Ngoài các chỉ tiêu quy mô vốn kinh doanh, lượng hàng tiêu thụ, doanh thu…, vị thế của doanh nghiệp thường được thể hiện rõ nhất thông qua chỉ tiêu thị phần tuyệt đối và tương đối tính theo công thức dưới đây:
Vị thế cạnh tranh giống như một bức ảnh chụp doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh ở một thời điểm cụ thể. Do đó vị thế cạnh tranh mang bản chất “tĩnh”.
Mối quan hệ giữa lợi thế cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và vị thế cạnh tranh thể hiện như sau: Lợi thế cạnh tranh là xuất phát điểm, là điều kiện cần, khả năng cạnh tranh là điều kiện đủ để doanh nghiệp có vị thế cạnh tranh mạnh trên thương trường. Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh thì nhất thiết phải có lợi thế cạnh tranh nhưng điều ngược lại thì chưa chắc đúng. Nếu doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh nhưng không có khả năng tận dụng tốt lợi thế đó để cung cấp các sản phẩm đem lại nhiều giá trị hơn cho khách hàng, không phát triển các lợi thế mới để duy trì ưu thế của mình so với đối thủ thì doanh nghiệp đó không thể được coi là có khả năng cạnh tranh mạnh và lợi thế sớm muộn cũng sẽ mất đi.
- Nguồn gốc lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Có hai cách tiếp cận giải thích nguồn gốc lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thứ nhất, Cách tiếp cận dựa trên nguồn lực về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Những người theo quan điểm này cho rằng, lợi thế cạnh tranh xuất phát từ việc doanh nghiệp sở hữu những nguồn lực (hữu hình hoặc vô hình) mang tính độc đáo, khó bị sao chép và có giá trị, đồng thời doanh nghiệp có khả năng để khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó. Doanh nghiệp chỉ có thể có nguồn lực thông thường nhưng lại có khả năng đặc biệt mà các đối thủ không có để kết hợp, sử dụng các nguồn lực này theo một cách thức độc đáo nào đó và thu được lợi nhuận cao. Mặt khác, doanh nghiệp có thể có những nguồn lực độc đáo nhưng nếu chỉ có khả năng thông thường thì lợi thế cạnh tranh cũng mờ nhạt và kém bền vững. Tất nhiên, lợi thế cạnh tranh sẽ mạnh nhất nếu doanh nghiệp vừa có các nguồn lực độc đáo, khó sao chép và có giá trị, vừa có khả năng đặc biệt để khai thác nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Các loại nguồn lực và khả năng của doanh nghiệp được tổng hợp theo bảng sau đây:
Cách tiếp cận này có thể giải thích rõ lý do lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhiều khi bị mai một và mất đi rất nhanh, nhưng trong một số trường hợp khác thì tồn tại tương đối lâu dài. Nếu lợi thế của doanh nghiệp xuất phát từ việc sở hữu các nguồn lực hữu hình, dễ sao chép (như có dây chuyền công nghệ hiện đại…), thì lợi thế đó có thể chỉ tồn tại nhất thời, vì các đối thủ sẽ dễ dàng tìm cách sở hữu nguồn lực giống như mình, làm doanh nghiệp mất lợi thế. Nếu doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa vào những nguồn lực vô hình (như uy tín, thương hiệu, nghệ thuật marketing,…) và dựa vào yếu tố độc đáo, lợi thế có xu hương lâu bền hơn do đối thủ khó sao chép hơn.
Thứ hai, Cách tiếp cận của Michael Porter về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp:
Michael Porter là giáo sư quản trị kinh doanh tại trường Kinh doanh thuộc Đại học Harvard (Hoa Kỳ). Năm 1985, Michael Porter xuất bản cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh – tạo dựng và duy trì hoạt động ưu thế của doanh nghiệp”. Trong cuốn sách này, ông đã đề xuất mô hình chuỗi giá trị (value chain) nổi tiếng dùng để phân tích và giải thích rõ nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:
Theo M. Porter, doanh nghiệp có thể được xem như một chuỗi các hoạt động chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành đầu ra. Các sản phẩm (đầu ra) của doanh nghiệp sẽ được khách hàng nhìn nhận, đánh giá giá trị theo quan điểm của họ. Nếu khách hàng đánh giá cao, họ sẽ sẵn sàng trả mức giá cao hơn cho sản phẩm của doanh nghiệp; ngược lại, nếu họ đánh giá thấp thì doanh nghiệp cần định các mức giá thấp hơn. Các hoạt động chuyển hoá đó làm tăng giá trị cho sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp. M.Porter gọi đó là các hoạt động tạo ra giá trị và khái quát thành chín nhóm hoạt động được phân thành hai loại: ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
- Các hoạt động chính là những hoạt động liên quan trực tiếp đến việc tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ. Các hoạt động này bao gồm hoạt động hậu cần đầu vào, chế tạo sản phẩm, hậu cần đầu ra, marketing và thực hiện các dịch vụ sau bán hàng.
- Các hoạt động hỗ trợ là những hoạt động tạo các cơ sở và điều kiện cần thiết để tiến hành các hoạt động chính. Các hoạt động này bao gồm những yếu tố, quá trình thuộc nền tảng chung của doanh nghiệp, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực và hoạt động thu mua đầu vào.
Theo M.Porter, thực hiện mỗi hoạt động trong chuỗi giá trị đều làm phát sinh chi phí. Diện tích ABCDE thể hiện tổng chi phí thực hiện các hoạt động tạo ra giá trị. Còn diện tích ABFGH thể hiện giá trị do các hoạt động đó tạo ra. Giá trị ở đây được hiểu là mức giá tối đa mà khách hàng sẵn sàng trả cho sản phẩm của doanh nghiệp. Theo quan điểm kinh tế học, mức giá này được xác định trên đường cầu về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp.
Muốn có lợi thế cạnh tranh và thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn trung bình, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động tạo ra giá trị với chi phí thấp hơn so với đối thủ hoặc tạo ra sự khác biệt để có thể đặt giá bán cao hơn cho hàng hoá, dịch vụ của mình. Từ đây có thể thấy rõ hai phương cách cơ bản tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và thu lợi nhuận cao:
- Thứ nhất, giảm chi phí: (đẩy đường CDE sang trái, làm giảm diện tích ABCDE).
- Thứ hai, tạo sự khác biệt trong sản phẩm để tăng giá trị cho khách hàng và do đó họ sẵn sàng trả giá cao hơn (kéo đường viền FGH sang phải, làm tăng diện tích ABFGH).
Chênh lệch giữa giá trị mà doanh nghiệp tạo ra cho khách hàng với chi phí để tạo ra giá trị đó (diện tích CFGHED) được gọi là biên lợi nhuận. Biên lợi nhuận càng lớn, doanh nghiệp càng có khả năng cạnh tranh cao vì nếu doanh nghiệp doanh nghiệp đặt giá sản phẩm ngang với giá của đối thủ cạnh tranh, họ sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Ngay cả khi doanh nghiệp đặt giá thấp hơn thì vẫn có thể thu được tỷ suất lợi nhuận ngang bằng và khi đó sản phẩm của doanh nghiệp còn có lợi thế về giá thấp nên thu hút được nhiều khách hàng gia tăng thị phần.
M.Porter cho rằng nếu doanh nghiệp chỉ tập trung cải thiện hiệu quả hoạt động nội bộ, tức là thực hiện các hoạt động tạo ra giá trị với chi phí thấp hơn thì chưa đủ để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong dài hạn. Các đối thủ có thể bắt chước cách thức hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp và khi đó doanh nghiệp sẽ mất lợi thế về chi phí thấp. Vấn đề quan trọng hơn là phải có những hành động mang tính chiến lược mà ông gọi là “định vị chiến lược”. Định vị chiến lược có nghĩa là thực hiện các hoạt động trong chuỗi giá trị theo một cách khác hoặc thực hiện những hành động khác so với các đối thủ cạnh tranh. Chính sự khác biệt đó sẽ tạo cho khách hàng nhiều giá trị hơn, họ sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm của doanh nghiệp; nói cách khác, doanh nghiệp có thể đặt giá bán cao hơn cho hàng hoá, dịch vụ của mình và thu tỷ suất lợi nhuận cao hơn trung bình. Ông cũng cho rằng, lợi thế cạnh tranh không xuất phát từ một vài hoạt động đơn lẻ mà là kết quả của sự tương tác, phối hợp các hoạt động trong chuỗi giá trị.
Như vậy, M.Porter coi lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp có nguồn gốc từ chính các hoạt động và các quá trình trong nội bộ doanh nghiệp. Lợi thế đó có thể xuất phát từ việc doanh nghiệp thực hiện các hoạt động và quá trình một cách hiệu quả hơn, hoặc thực hiện khác biệt so với đối thủ và thu được mức giá bán sản phẩm cao hơn. Cả hai điều này đều dẫn đến một kết quả chung là làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Hai cách tiếp cận giải thích nguồn gốc lợi thế cạnh tranh trên không mâu thuẫn nhau mà có thể bổ sung, hỗ trợ nhau trong quá trình, phân tích, tìm hiểu nguồn gốc và cơ chế phát sinh lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Muốn đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, cần phải biết nguồn gốc, các yếu tố, cách thức duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghĩa là, cần phải sử dụng kết hợp cả hai cách tiếp cận nói trên.
1.1.5. Một số tiêu thức đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là phạm trù tổng hợp thể hiện sức mạnh và ưu thế tương đối của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp có thể có lợi thế về mặt này nhưng lại có bất lợi ở mặt khác. Do đó, phân tích khả năng cạnh tranh đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện, đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau.
- Khả năng duy trì và mở rộng thị phần: Nếu chỉ xem xét thị phần (được tính toán theo các công thức thị phần tuyệt đối 1.4, thị phần tương đối 1.5 ở mục 1.1.4.1) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định thì chưa thấy hết khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong một thời kỳ cụ thể, thị phần chủ yếu thể hiện vị thế của doanh nghiệp hơn là thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó. Cần nghiên cứu sự biến đổi (tăng, giảm) của thị phần trong các thời kỳ khác nhau để hiểu rõ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Tính hiệu quả trong hoạt động: Khi phân tích hiệu qủa trong hoạt động của doanh nghiệp, cần so sánh với các chỉ tiêu tương ứng của đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả, năng suất càng cao thì cần càng ít đầu vào để sản xuất một mức đầu ra cho trước, do đó chi phí càng thấp. Nói cách khác, khi đó doanh nghiệp có lợi thế về chi phí thấp, sử dụng đồng vốn hiệu quả so với đối thủ cạnh tranh.
- Chất lượng của sản phẩm và các quá trình sản xuất: Nâng cao chất lượng sản phẩm một mặt làm tăng uy tín, danh tiếng của sản phẩm đó, tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng và do đó, doanh nghiệp có thể định giá bán cao hơn (lợi thế về sự khác biệt). Mặt khác, chất lượng của các quá trình trong nội bộ doanh nghiệp (thu mua đầu vào, sản xuất, marketing,…) được nâng cao sẽ làm tăng hiệu quả, hạ thấp chi phí đơn vị sản phẩm. Nâng cao chất lượng quá trình sản xuất sẽ làm giảm tỷ lệ sản phẩm sai hỏng, giảm thời gian và chi phí cho việc sửa chữa, phục hồi các sản phẩm hỏng, giảm lãng phí sản xuất ra những sản phẩm sai hỏng không thể phục hồi,… từ đó, năng suất lao động và năng suất của các yếu tố khác đều tăng dẫn đến chi phí giảm. Các thước đo phản ánh độ tin cậy kỹ thuật của sản phẩm, tỷ lệ sản phẩm sai hỏng, chi phí tài chính và thời gian sửa chữa sản phẩm hỏng; việc triển khai áp dụng các hệ thống quản trị chất lượng như ISO, TQM,… có thể được phân tích để làm rõ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Khả năng đổi mới của doanh nghiệp: Đổi mới được hiểu là bất kỳ cái gì mới trong cách thức mà doanh gnhiệp hoạt động cũng như trong sản phẩm, dịch vụ mà nó sản xuất và cung ứng. Đổi mới bao gồm sự cải tiến hoặc sáng tạo mới các sản phẩm, quá trình sản xuất, cơ cấu tổ chức quản lý và sản xuất – kinh doanh, các chiến lược mà doanh nghiệp xây dựng và thực hiện. Do vậy, đổi mới thể hiện tính linh hoạt và năng động của doanh nghiệp thích ứng với các điều kiện môi trường kinh doanh.Đổi mới có thể được coi là yếu tố quan trọng nhất tạo nên lợi thế cạnh tranh và do đó tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu đổi mới thành công, doanh nghiệp sẽ tạo ra những điểm độc đáo mà các đối thủ không có. Chính tính độc đáo đó tạo sự khác biệt cho sản phẩm của doanh nghiệp và doanh nghiệp có thể đặt giá bán cao hơn, hoặc doanh nghiệp có thể hạ chi phí đơn vị sản phẩm xuống thấp hơn đối thủ cạnh tranh để tăng khả năng cạnh tranh về giá cả. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Các chỉ tiêu như tốc độ đổi mới sản phẩm (số sản phẩm mới đưa ra thị trường trong một khoảng thời gian nhất định); thời gian nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới; danh tiếng về tính ưu việt của sản phẩm thu được nhờ quá trình đổi mới liên tục; khả năng lựa chọn và áp dụng các công nghệ mới, phù hợp; số lượng các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, cải tiến quy trình, thủ tục và khả năng áp dụng chúng trong điều kiện thực tế của doanh nghiệp,… có thể được phân tích nhằm làm rõ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Muốn có khả năng cạnh tranh cao hơn doanh nghiệp cần phải xác định và thoả mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng so với đối thủ cạnh tranh. Khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp được thể hiện trên nhiều khía cạnh:
- Khả năng cung cấp cho khách hàng đúng hàng hoá, dịch vụ mà họ cần, vào đúng thời điểm mà họ muốn. Cung cấp cho khách hàng những sản phẩm chất lượng cao hơn, tính năng ưu việt hơn so với các sản phẩm hiện có trên thị trường với mức giá chấp nhận được có thể được coi là phục vụ tốt hơn nhu cầu khách hàng. Do đó, có thể nói nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tọc độ đổi mới là yếu tố không thể thiếu để phục vụ khách hàng tốt hơn.
- Phạm vi danh mục sản phẩm của doanh nghiệp: tức là doanh nghiệp cung ứng được nhiều loại và chủng loại sản phẩm sẽ có khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng và do đó có khả năng cạnh tranh cao hơn. Tuy nhiên, nếu danh mục sản phẩm của doanh nghiệp quá rộng và trong mỗi loại lại có quá nhiều chủng loại khác nhau thì các nguồn lực và khả năng của doanh nghiệp sẽ bị dàn trải và sử dụng kém hiệu quả, không tận dụng được hiệu quả giảm chi phí nhờ tính kinh tế của quy mô. Có những doanh nghiệp chỉ cung ứng một vài loại sản phẩm phục vụ nhu cầu đặc thù của khách hàng cũng vẫn có thể được coi là có khả năng cạnh tranh rất Vấn đề mấu chốt cần xem xét là doanh nghiệp kinh doanh nhằm phục vụ đối tượng khách hàng nào, nhu cầu của họ là gì và doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu đó bằng cách (công nghệ) nào. Những vấn đề đó cấu thành phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thời gian đáp ứng nhu cầu khách hàng: Điều này tuỳ thuộc hoạt động đặc thù của doanh nghiệp, thời gian đáp ứng nhu cầu được tính toán khác nhau. Đối với hoạt động sản xuất, thời gian đáp ứng nhu cầu được tính từ khi doanh nghiệp nhận được đơn đặt hàng đến khi hoàn thành sản xuất sản phẩm và giao hàng cho khách hàng. Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ thì đó là thơi fgian thực hiện dịch vụ cho khách hàng… Thời gian đáp ứng nhu cầu khách hàng càng được rút ngắn, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng
- Sự hoàn hảo của các dịch vụ trước, trong và sau bán hàng đang ngày càng trở thành nhân tố quan trọng thu hút sự trở lại của khách hàng, tăng uy tín cho doanh nghiệp, nuôi dưỡng sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp và doanh nghiệp.
1.1.5.1. Khả năng tiếp cận và khai thác có hiệu quả các nguồn lực phục vụ quá trình kinh doanh ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Khả năng tiếp cận và xử lý các nguồn thông tin hữu ích phục vụ quá trình ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Các thông tin này bao gồm: thông tin về khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ cùng loại (về chất lượng, giá cả, tốc độ cung ứng,…); thông tin về cung cầu và giá cả thị trường; thông tin về các công nghệ mới, thích hợp; thông tin về hoạt động và cả thủ đoạn của đối thủ cạnh tranh; thông tin về hệ thống luật lệ, chính sách trong lĩnh vực kinh tế của Việt Nam và của các nước mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh..
Trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay, các doanh nghiệp còn cần phải có khả năng ứng dụng tốt các công nghệ thông tin hiện đại như hệ thống cơ sở dữ liệu, mạng internet, phát triển các ứng dụng thương mại điện tử phục vụ cho hoạt động sản xuất – kinh doanh có hiệu quả cao hơn và tiếp cận với nhiều thị trường rộng lớn.
- Khả năng thu hút và phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao, chuyên sâu vào từng hoạt động được giao. Phân tích lợi thế vị trí gần các trường đại học, trung tâm nghiên cứu – đào tạo lớn; tình hình tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ lao động có trình độ và tay nghề cao; nhất là phân tích năng suất lao động có thể giúp đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Khả năng tiếp cận và sử dụng với hiệu suất cao các nguồn lực vật chất cũng là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Ưu thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thu mua các yếu tố đầu vào có chất lượng với mức giá cả hợp lý. Hiệu suất sử dụng các yếu tố này trong quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp so sánh một cách tương đối với đối thủ cạnh tranh (ví dụ, mức tiêu hao nguyên liệu để sản xuất một sản phẩm). Doanh nghiệp càng có khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào có chất lượng và sử dụng chúng càng hiệu quả, thì không những làm giảm giá thành sản phẩm mà còn tăng chất lượng, khả năng cạnh tranh sẽ mạnh hơn.
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện thông qua quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, khả năng huy động các nguồn tài chính bên trong và bên ngoài doanh nghiệp phục vụ các mục tiêu kinh doanh, khả năng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính trong quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.
Các phân tích tỷ lệ tài chính phản ánh cơ cấu tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp; các chỉ tiêu tính toán hiệu quả sử dụng vốn; lợi nhuận giữ lại và chính sách cổ tức,… của doanh nghiệp đều có thể được sử dụng để nghiên cứu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.5.2. Khả năng liên kết và hợp tác với các doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế quốc tế. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Mỗi doanh nghiệp tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đối tượng hữu quan trong môi trường kinh doanh. Trong kinh doanh thường xuất hiện nhu cầu liên kết và hợp tác giữa nhiều đối tác với nhau làm tăng khả năng cạnh tranh. Không phải ngẫu nhiên mà có “làn sóng” sáp nhập và hợp tác giữa các doanh nghiệp (thông qua các liên minh chiến lược) diễn ra rầm rộ vào nửa cuối những năm 1990 ở các nước phát triển và đến nay làn sóng đó vẫn đang tiếp diễn. Khả năng liên kết và hợp tác của các doanh nghiệp thể hiện ở việc nhận biết các cơ hội kinh doanh mới, lựa chọn đúng đối tác liên minh và khả năng vận hành liên minh đó một cách có kết quả và hiệu quả cao, đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Khả năng liên kết và hợp tác cũng thể hiện sự linh hoạt của doanh nghiệp trong việc chủ động nắm bắt các cơ hội kinh doanh trên thương trường.
Nếu doanh nghiệp không thể hoặc ít có khả năng liên minh và hợp tác với các đối tác khác, họ sẽ bỏ qua nhiều cơ hội kinh doanh, và nếu như cơ hội đó được các đối thủ cạnh tranh nắm lấy thì sẽ trở thành một nguy cơ lớn đối với doanh nghiệp, đe doạ sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tất nhiên, khi xem xét tiêu chí này cần chú ý phân tích chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp và quan điểm của chủ doanh nghiệp về các vấn đề liên kết kinh tế. Nếu doanh nghiệp xác định cách thức tăng trưởng và tìm kiếm lợi nhuận không dựa vào sự liên minh với các đối tác khác thì cũng không vì thế mà bị đánh giá là có khả năng cạnh tranh thấp. Vấn đề là chiến lược đó có phù hợp không, trong điều kiện môi trường kinh doanh đang xem xét và các xu hướng tương lai đang hình thành. Nếu chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp không phù hợp với điều kiện thực tế của môi trường, doanh nghiệp không tận dụng được cơ hội có thể có từ việc liên minh và hợp tác, chắc chắn là doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh kém.
1.1.5.3. Uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp và của sản phẩm.
Uy tín của doanh nghiệp với các đối tác kinh doanh (người cung ứng, khách hàng, đối tác liên minh,…) cũng là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế và góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chữ “tín” trong kinh doanh ngày nay càng có ý nghĩa quan trọng vì nó giúp giảm thiểu các chi phí giao dịch, nuôi dưỡng các mối quan hệ bền vững giữa doanh nghiệp với các đối tác. Nhờ có sự tín nhiệm với doanh nghiệp và với các sản phẩm do doanh nghiệp cung cấp, khách hàng sẽ quay trở lại mua hàng. Khi sự trung thành của khách hàng được quan tâm bồi đắp, sẽ càng khó khăn hơn cho đối thủ cạnh tranh có thể lôi cuốn khách hàng của doanh nghiệp về phía họ.
Một vấn đề rất quan trọng liên quan đến nâng cao uy tín của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp phát triển thành công các thương hiệu mạnh. Nếu sản phẩm của doanh nghiệp có thương hiệu mạnh sẽ kích thích người mua nhanh chóng đi đến quyết định mua, nhờ đó mà thị phần của doanh nghiệp gia tăng. Nhưng đánh giá thương hiệu của doanh nghiệp không chỉ ở số lượng các thương hiệu mạnh hiện doanh nghiệp đang có mà quan trọng phải đánh giá được khả năng phát triển thương hiệu của doanh nghiệp. Khả năng đó cho thấy sự thành công tiềm tàng của doanh nghiệp trong tương lai. Nếu doanh nghiệp có khả năng phát triển thương hiệu thành công thì các sản phẩm mới trong tương lai sẽ có khả năng thành công lớn hơn trên thương trường. Các chỉ tiêu như chi phí cho hoạt động phát triển thương hiệu, số lượng thương hiệu mạnh hiện có, mức độ nổi tiếng và được ưu chuộng của thương hiệu,… so sánh với các chỉ tiêu tương ứng của đối thủ cạnh tranh có thể được sử dụng để phân tích khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
1.2. Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.2. Môi trường kinh tế vĩ mô
Các nhân tố kinh tế có vai trò quan trọng nhất, quyết định đối với việc hình thành và hoàn thiện môi trường kinh doanh. Đồng thời các yếu tố này cũng có vai trò ảnh hưởng to lớn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Các nhân tố kinh tế ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm có:
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Nếu nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định sẽ làm cho thu nhập của các tầng lớp dân cư tăng, khi thu nhập tăng người dân sẽ nghĩ đến việc chi tiêu nhiều hơn và nhu cầu của khách hàng về chất lượng và mẫu mã sản phẩm cũng đòi hỏi cao hơn, cầu về sản phẩm hàng hoá trên thị trường ngày càng tăng, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội nhiều hơn khi tham gia vào thị trường. Nếu nền kinh tế ở trong tình trạng suy thoái, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp làm cho đời sống của người dân khó khăn khi đó mức tiêu dùng trong dân sẽ giảm và công việc kinh doanh sẽ khó khăn hơn, các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau mãnh liệt hơn.
- Tỷ giá hối đoái và giá trị đồng tiền trong nước có ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhất là đối với những doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế hay những doanh nghiệp phải nhập nguyên vật liệu từ nước ngoài. Nếu tỷ giá thay đổi sẽ làm thay đổi chi phí trong sản xuất ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Lãi suất cho vay của các ngân hàng: là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu lãi suất cao, vốn vay của doanh nghiệp giảm, chi phí trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng làm cho năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp giảm.
- Các chính sách kinh tế của Nhà nước ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi Nhà nước có một chính sách kinh tế hợp lý sẽ tạo điều kiện lớn cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên thị trường, ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của các ngành kinh
1.2.2. Môi trường chính trị, luật pháp ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Yếu tố chính trị – pháp luật là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ, các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào. Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó.
- Sự bình ổn: Chúng ta sẽ xem xét sự bình ổn trong các yếu tố xung đột chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp. Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó.
- Chính sách thuế: Chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ, thuế thu nhập… sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp,luật lao động, luật chống độc quyền, chống bán phá giá …
- Chính sách: Các chính sách của nhà nước sẽ có ảnh hưởng tới doanh nghiệp, nó có thể tạo ra lợi nhuận hoặc thách thức với doanh nghiệp. Như các chính sách thương mại, chính sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chính sách điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng.
Nhà nước có thể chế chính trị, hệ thống luật pháp rõ ràng, đúng đắn và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, cạnh tranh lành mạnh và có hiệu quả. Trong hệ thống pháp luật thì luật kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất đến tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.3. Môi trường công nghệ
Thời đại ngày nay là thời đại của khoa học công nghệ. Nắm bắt được khoa học công nghệ là một đảm bảo cho thành công. Khoa học công nghệ là nhân tố tạo nên sự khác biệt giữa các sản phẩm về chất lượng và chi phí (giá thành) của sản phẩm qua đó tạo nên năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá nói riêng và năng lực của doanh nghiệp nói chung. Đối với các nước đang phát triển, giá cả và chất lượng có ý nghĩa ngang nhau trong cạnh tranh. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay, công cụ cạnh tranh đã chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng khoa học và công nghệ cao.
Khoa học công nghệ cũng tham gia vào quá trình thu thập, xử lý, truyền đạt thông tin trong nền kinh tế. Thiếu khoa học công nghệ thì hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ trở nên chậm chạp và khó có thể kiểm soát được.
Khoa học công nghệ sẽ tạo ra các công nghệ kỹ thuật mới vừa nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh và vừa bảo vệ được môi trường sinh thái từng bước thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững.
1.2.4. Môi trường văn hoá xã hội. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Nhân tố về văn hoá xã hội ở đây là phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, tín ngưỡng tôn giáo, đó là cơ sở hình thành những đặc điểm của thị trường mà theo đó doanh nghiệp phải thoả mãn. Những khu vực khác nhau mà ở đó thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng khác nhau đòi hỏi doanh nghiệp phải có chính sách sản phẩm và chính sách tiêu thụ khác nhau. Khi doanh nghiệp có chính sách hợp lý phù hợp với điều kiện văn hoá xã hội của thị trường thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ tăng.
1.2.5. Môi trường tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên bao gồm tài nguyên thiên nhiên của đất nước, vị trí địa lý về việc phân bố vị trí địa lý của các tổ chức kinh doanh. Vị trí địa lý thuận lợi sẽ tạo điều kiện khuyếch trương sản phẩm, mở rộng thị trường, giảm các chi phí thương mại phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động trong công tác cung ứng các yếu tố đầu vào, sản xuất hàng hoá vật chất đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường, giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngược lại, khi nhân tố tự nhiên không thuận lợi sẽ tạo ra khó khăn cho doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ yếu hơn.
1.3. Các nhân tố vi mô ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.3.1. Môi trường vi mô
1.3.1.1. Khách hàng.
Khách hàng là vấn đề sống còn trong môi trường cạnh tranh. Sự tín nhiệm của khách hàng đôi khi là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp. Sự tín nhiệm đó đạt được do biết thoả mãn một cách tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh.
Một vấn đề khác liên quan đến khách hàng là khả năng trả giá của họ. Người mua có ưu thế có thể làm cho lợi nhuận cuả doanh nghiệp giảm do họ ép giá hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn, nhiều dịch vụ đi kèm hơn, ưu thế đó là do các điều kiện sau tạo nên:
- Lượng hàng người mua chiếm tỷ trọng lớn trong khối lượng hàng hoá bán ra.
- Việc chuyển sang mua hàng của người khác không gây nhiều tốn kém.
- Sản phẩm của người bán ít ảnh hưởng đến sản phẩm của người mua. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Doanh nghiệp cần lập bảng phân loại khách hàng hịên tại cũng như khách hàng tương lai. Các thông tin thu được từ bảng này là cơ sở định hướng cho việc hoạch định kế hoạch. Những thông số cơ bản cần có trong bảng phân loại là:
- Về địa lý: Vùng, khí hậu, dân số…
- Về nhân khẩu học: Tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập, trình độ văn hoá…
- Tâm lý: Tầng lớp xã hội, lối sống, cá tính…
- Thái độ: Mức độ tín nhiệm, mức độ thiện ý…
1.3.1.2. Số lượng các doanh nghiệp trong ngành và cường độ cạnh tranh của ngành
Khi doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một ngành nào đó thì số lượng các doanh nghiệp trong ngành tác động rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong những ngành chỉ có một vài doanh nghiệp thống lĩnh thì cường độ cạnh tranh yếu bởi các doanh nghiệp thống lĩnh đóng vai trò là người chỉ đạo giá. Trong trường hợp này, nếu doanh nghiệp không phải là người thống lĩnh giá thì năng lực cạnh tranh sẽ kém hơn. Nhưng nếu ngành mà chỉ bao gồm một số doanh nghiệp có quy mô mà thế lực tương đương nhau thì cường độ cạnh tranh sẽ cao vì các doanh nghiệp đều muốn giành vị trí thống lĩnh. Khi đó năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ cao hơn nếu doanh nghiệp có lợi về giá cả, chất lượng, sản phẩm… Cạnh tranh cũng sẽ trở nên căng thẳng trong các ngành có một số lượng lớn doanh nghiệp, vì rất khó có thể nắm bắt hết được các đối thủ cạnh tranh của mình.
Ngoài ra, tình hình cạnh tranh của ngành cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi ngành đó ổn định, tốc độ tăng trưởng của ngành cao sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong ngành phát triển, mức độ cạnh tranh sẽ bớt căng thẳng hơn.
1.3.1.3. Sự thâm nhập thị trường của doanh nghiệp tiềm ẩn ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Khi xuất hSện thêm các doanh nghiệp mới tham gia vào kinh doanh trong ngành. Số lượng các doanh nghiệp trong ngành sẽ tăng lên, nếu quy mô thị trường không thay đổi khi đó các doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh với nhau gay gắt hơn. Khi đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ yếu đi nếu nhiều doanh nghiệp không áp dụng vào các biện pháp, các chính sách nhằm sử dụng một cách hữu hiệu nhất các công cụ cạnh tranh.
1.3.1.4. Tác động của các nhà cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp
Các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp có ảnh hưởng to lớn đến chi phí sản xuất từ đó ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Nếu việc cung ứng nguyên vật liệu trong sản xuất gặp khó khăn, giá nguyên vật liệu cao sẽ đẩy giá thành trong sản xuất lên cao và làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. ảnh hưởng của nhà cung ứng đối với năng lực kinh doanh của doanh nghiệp có được trong những điều kiện sau :
- Nguồn đầu vào cho quá trình sản xuất là những nguyên vật liệu quý hiếm, chỉ có một vài doanh nghiệp độc quyền cung cấp.
- Doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung ứng, có nghĩa là nếu nhà cung ứng đó không bán được hàng hoá của họ cho doanh nghiệp thì tổn thất của họ là không đáng kể.
- Loại vật tư mà nhà cung ứng bán cho doanh nghiệp là đầu vào quan trọng nhất của doanh nghiệp, đặc biệt là khi loại vật tư đó có tính quyết định đến quá trình sản xuất hoặc quyết định đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Khi đó nhà cung cấp có thế lực đáng kể đối với doanh nghiệp.
1.3.1.5. Cạnh tranh của sản phẩm thay thế
Sự ra đời của sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đỏp ứng sự biến
động của nhu cầu thị trường theo hướng ngày càng đa dạng phong phỳ và cao cấp hơn. Sản phẩm thay thế làm giảm đi tớnh cần thiết, mức độ quan trọng của cỏc sản phẩm bị thay thế.
Sản phẩm thay thế hầu hết được sản xuất trờn những dõy chuyền mỏy múc tiờn tiến hơn, do đú nú cú sức cạnh tranh cao hơn. Mặc dự cỏc sản phẩm thay thế chịu sự chống trả của cỏc sản phẩm bị thay thế nhưng cỏc sản phẩm này cú nhiều ưu thế hơn và chỳng sẽ dần dần thu hẹp thị trường của cỏc sản phẩm bị thay thế, đặc biệt là đối với những loại sản phẩm và dịch vụ mà cỏc nhu cầu thị trường xó hội bị chặn. Sản phẩm thay thế sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cú sản phẩm bị thay thế
1.3.2. Môi trường nội bộ ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của doanh nghiệp ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
1.3.2.1. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công hay thất bị của doah nghiệp. Con người cung cấp dữ liệu đầu vào để hoạch định mục tiêu, phân tích môi trường, lựa chọn, thực hiện và kiểm tra chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Cho dù các quan điểm của hệ thống chiến lược tổng quát có đúng đắn đến mức độ nào đi chăng nữa thì cũng không thể mang lại hiệu quả nếu không có những con người làm việc có hiệu quả.
Đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của bộ máy quản lý từ Giám đốc doanh nghiệp đến cán bộ kỹ thuật, trình độ tay nghề và ý thức trách nhiệm của công dân.
- Cán bộ lãnh đạo
- Phải là người có trình độ, có khả năng nhận thức, nắm bắt được các quy luật khách quan và vận dụng các quy luật đó vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phải có khả năngdẫn dắt tập thể lao động trong doanh nghiệp theo đúng pháp luật, tạo đủ công ăn việc làm và cuộc sống ổn định cho tập thể người lao động.
- Có thể chọn và tạo một êkíp chỉ đạo, vận hàng doanh nghiệp theo đúng dự kiến của mình.
Khi đánh giá bộ máy lãnh đạo của một doanh nghiệp xây dựng, chủ đầu tư thường quan tâm đến các tiêu thức: Kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ quản lý, các hoạt động của doanh nghiệp và các mối quan hệ. Sâu xa hơn nữa là tinh thần đoàn kết, đồng lòng của cán bộ công nhân viên cũng như êkíp lãnh đạo. Điều này sẽ làm tăng sức mạnh của chính doanh nghiệp và tạo ra uy tín đối với chủ đầu tư.
- Cán bộ điều hành và quản lý kỹ thuật:
Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả đòi hỏi cán bộ điều hành và cán bộ quản lý kỹ thuật phải có những phẩm chất sau:
- Hiểu rõ ý đồ của cấp trên để tự giác thực hiện nghiêm túc nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra.
- Năng động, sáng tạo trong điều hành thiết kế tổ chức thi công đã vạch
- Có kinh nghiệm quản lý, điều hành thi công, nắm vững kỹ thuật.
Cơ cấu về các chuyên ngành đào tạo phân theo trình độ sẽ cho biết khả năng chuyên môn hoá cũng như đa dạng hoá của doanh nghiệp. Thông thường cơ cấu cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề có chuyên môn về lĩnh vực chính mà doanh nghiệp đang kinh doanh phải chiếm ít nhất 60%, bởi điều này liên quan đến kỹ thuật và chất lượng công trình.
- Cán bộ quản lý trung gian, đốc công và công nhân ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Đây là đội ngũ lao động trực tiếp tạo nên sức cạnh tranh tổng hợp của doanh nghiệp trên các khía cạnh: chất lượng công trình và tiến độ thi công công trình. Người phụ trách đơn vị phải có trình độ quản lý (tổ chức điều phối lao động và thiết bị hợp lý, tránh lãng phí nhằm hạ thấp giá thành, tăng lợi nhuận nhưng phải đảm bảo chất lượng), am hiểu sâu rộng về công việc mà đơn vị đang thực hiện, biết chăm lo đến quyền lợi cho người lao động… Có như vậy mới tạo ra được sự ủng hộ, lòng nhiệt thành từ phía người lao động.
Tuy nhiên, lãnh đạo đơn vị giỏi cũng chưa đủ, còn cần đội ngũ lao động với trình độ tay nghề chuyên sâu, có khả năng sáng tạo, trung thực trong công việc. Bởi đây chính là những người trực tiếp thực hiện những ý tưởng , chiến lược và chiến thuật kinh doanh của đội ngũ lãnh đạo cấp trên, những người tạo nên chất lượng công trình và sức cạn tranh của doanh nghiệp.
1.3.2.2. Năng lực máy móc thiết bị, công nghệ thi công
Máy móc thiết bị là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản cố định ủa doanh nghiệp xây dựng, nó đại diện cho trình độ kỹ thuật và năng lực sản xuất hiện có của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Mức độ cơ giới hoá trong xây dựng được doanh nghiệp đánh giá cao bởi nó liên quan rất nhiều đến chất lượng và tiến độ thi công. Khả năng cạnh tranh về máy móc thiết bị và công nghệ thể hiện thông qua các đặc tính sau:
- Tính hiện đại của thiết bị, công nghệ: Biểu hiện ở các thông số như: Hãng sản xuất, năm sản xuất, công suất, giá trị còn lại… của máy móc, thiết bị.
- Tính đồng bộ: Thiết bị hoạt động tốt phải đảm bảo dự phù hợp giữa thiết bị công nghệ với các điều kiện địa lý, khí hậu, thuỷ văn, phương pháp sản xuất và sự phù hợp giữa chất lượng, độ phức tạp của sản phẩm với giá cả của sản phẩm do công nghệ đó sản xuất
- Tính hiệu quả: Thể hiện về trình độ sử dụng máy móc, thiết bị của doanh nghiệp, từ đó tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng huy động tối đa nguồn lực vật chất sẵn có, phục vụ cho mục đích cạnh
- Tính đổi mới: Là một trong những yếu tố tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực máy móc, thiết bị ảnh hưởng rất nhiều đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Yếu tố kỹ thuật này quyết định việc lựa chọn, tính toán các giải pháp hợp lý trong tổ chức thi công, bố trí con người và thiết bị một cách hài hoà nhằm đạt được tiêu chuẩn về chất lượng rút ngắn tiến độ thi công, tiết kiệm chi phí xây dựng, hạ giá thành công trình và tăng lợi thế cạnh tranh.
Năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở trình độ trang bị công nghệ mà còn thể hiện ở trình độ chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo của người lao động trong doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có trình độ trang bị công nghệ cao nhưng không có đội ngũ lao động sử dụng có hiệu quả công nghệ ấy thì cũng không thể có khả năng cạnh tranh mạnh được. Công nghệ thích hợp, hiện đại là điều kiện cần thiết để sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, có nhiều tính năng ưu việt hơn các sản phẩm cùng loại trên thị trường, và do đó giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh.
1.3.2.3. Năng lực tài chính ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Năng lực tài chính của doanh nghiệp không chỉ thể hiện ở quy mô vốn kinh doanh. Có những doanh nghiệp quy mô vốn lớn nhưng không mạnh, đó là do cơ cấu tài sản, nguồn vốn không hợp lý, doanh nghiệp chưa biết cách khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của mình. Ngược lại, có những doanh nghiệp quy mô nhỏ nhưng vẫn được coi là mạnh vì doanh nghiệp đã duy trì tình trạng tài chính tốt, biết cách huy động những nguồn tài chính thích hợp để sản xuất – kinh doanh những sản phẩm có sức cạnh tranh phục vụ tốt thị trường mục tiêu.
Một lần nữa, chúng ta thấy vai trò của lựa chọn đúng phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp. Vấn đề không nằm ở chỗ quy mô vốn của doanh nghiệp là bao nhiêu mà là doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả thế nào để phục vụ tốt đến đâu nhu cầu của đối tượng khách hàng mục tiêu trong phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có số vốn càng nhỏ thì càng chú trọng đáp ứng nhu cầu đặc thù của đối tượng khách hàng mục tiêu. Doanh nghiệp có năng lực tài chính mạnh sẽ là điều kiện cần thiết rất quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh.
Thực tế cho thấy trong đấu thầu quốc tế, nếu xem xét trên phương diện tài chính thì các doanh nghiệp trong nước thường mất ưu thế so với các doanh nghiệp nước ngoài. Nguyên nhân là do bản thân các doanh nghiệp trong nước có qiy mô không lớn, công tác tổ chức quản lý kinh tế không hiệu quả, tình trạng nợ chồng chéo phổ biến, tạo ra sự mất cân đối về vốn cho doanh nghiệp.
Với khả năng tài chính dồi dào, doanh nghiệp có thể tham gia đấu thầu nhiều công trình khác nhau, có nhiều cơ hội để đầu tư trang thiết bị thu công nhằm đáp ứng kịp thời quy trình công nghệ hiện đại. Đồng thời sẽ tạo được niềm tin đốivới các tổ chức tín dụng và các nhà cung cấp vật tư hàng hoá.
Năng lực về tài chính mạnh tác dụng tích cực đến quá trình đấu thầu:
- Trước hết, nó giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong điều kiện giới hạn về vốn.
- Thứ hai, nó tạo niềm tin nơi chủ đầu tư về khả năng quản lý hiệu quả đồng vốn được
- Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là yếu tố quyết định đến khả năng huy động các nguồn vốn từ bên ngàoi cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3.2.4. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Chiến lược kinh doanh ảnh hưởng đến việc tạo dựng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Một mặt, chiến lược được xây dựng dựa trên các lọi thế cạnh tranh, phát huy yếu tố sở trường của doanh nghiệp nhằm cạnh tranh với yếu tố sở đoản của các đối thủ mà qua đó giành thắng lợi cho cạnh tranh. Mặt khác, thông qua các chiến lược, doanh nghiệp có thể tạo dựng, duy trì và phát triển các lợi thế cạnh tranh mới, và do đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao. Vấn đề mấu chốt ở đây là doanh nghiệp phải xây dựng, lựa chọn, và thực hiện có hiệu quả các chiến lược thích hợp để có thể khai thác tốt nhất các điều kiện môi trường kinh doanh bên ngoài và nội bộ doanh nghiệp.
1.3.2.5. Văn hoá doanh nghiệp. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Văn hoá doanh nghiệp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vì yếu tố này tác động đến cách thức các cá nhân, nhóm, bộ phận tương tác với nhau và khả năng sáng tạo của họ. Nếu doanh nghiệp xây dựng được truyền thống văn hoá thích hợp sẽ là nhân tố thuận lợi khai thông mọi ý tưởng sáng tạo, tìm ra những cách thực hiện tốt hơn những nhiệm vụ thông thường, nhạy cảm hơn với những thay đổi của môi trường, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng,v..v…Ngược lại, nếu văn hóa doanh nghiệp đề cao cách làm việc mang tính rập khuôn, máy móc, thụ động, không khuyến khích những ý tưởng mới sẽ làm hạn chế khả năng đổi mới của doanh nghiệp.
1.4 Những vấn đề chung và kinh nghiệm cạnh tranh trong thị trường tư vấn về xây dựng tại Việt Nam và trên thế giới.
1.4.1. Khái niệm về tư vấn, thị trường tư vấn xây dựng.
- Tư vấn (Consulting) là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động “chất xám” cung ứng cho khách hàng những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó, kể cả tiến hành những nghiên cứu soạn thảo dự án và giám sát quá trình thực thi dự án đạt hiệu quả yêu cầu.
- Tư vấn xây dựng là một loại hình tư vấn đa dạng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, kiến trúc, quy hoạch xây dung,…
Tư vấn xây dựng giúp cho khách hàng – chủ đầu tư và các cơ quan có liên quan trong các công việc chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng (như lập các báo cáo đầu tư, dự án đầu tư xây dung, báo cáo kinh tế kỹ thuật), thực hiện dự án đầu tư xây dựng (như khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng và tổ chức đấu thầu để mua sắm thiết bị thi công xây dựng công trình, kiểm soát chi phí, quản lý hợp đồng xây dựng,…).
Thị trường theo nghĩa chung là nơi mua bán, trao đổi những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ.
Trong một hệ thống thị trường mở các yếu tố cấu thành chủ yếu là:
- Những người mua (Các chủ đầu tư xây dựng, các cá nhân và tổ chức có nhu cầu).
- Vật mua bán (Các sản phẩm dịch vụ tư vấn). ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
- Những người bán (Các doanh nghiệp tư vấn, các nhà tư vấn).
- Môi trường hoạt động (như kinh tế, pháp luật, dịch vụ xã hội, công nghệ,…).
Thị trường tư vấn xây dựng là nơi gặp gỡ giữa nhu cầu cần tư vấn xây dựng của người mua và khả năng, kết quả tư vấn xây dựng của các doanh nghiệp tư vấn xây dựng (người bán) nhằm ký kết được hợp đồng tư vấn xây dựng. Hay nói cách khác thị trường tư vấn xây dựng là nơi diễn ra các hoạt động mua bán trao đổi sản phẩm dịch vụ liên quan đến xây dựng.
Một doanh nghiệp tư vấn xây dựng không thể khép kín, nó phải có môi trường tồn tại nhất định và thông qua đó nó trao đổi thường xuyên với các tổ chức, cá nhân có liên quan với sự tồn tại và phát triển của nó, đó là các nhà đầu tư, các nhà thầu và Nhà nước,…
Mối quan hệ giữa khách hàng và nhà tư vấn xây dựng diễn ra trên thị trường chủ yếu thông qua đấu thầu lựa chọn tư vấn, chỉ định thầu và đàm phán, ký kết hợp đồng, bàn giao, thanh toán khi sản phẩm, dịch vụ tư vấn hoàn thành.
1.4.2. Chức năng, đặc điểm của thị trường tư vấn xây dựng.
Cũng như các thị trường khác, thị trường tư vấn xây dựng có các chức năng sau:
- Chức năng thừa nhận: Đối với nhà tư vấn xây dựng (bên bán) thì việc sản xuất sản phẩm (dịch vụ tư vấn) của họ được chấp nhận hay không là tuỳ thuộc vào bên mua (chủ đầu tư xây dựng). Như vậy, việc mua bán sản phẩm tư vấn được diễn ra trên thị trường qua hình thức đấu thầu hoặc chỉ định thầu.
- Chức năng thực hiện: Việc trao đổi mua bán có được tiến hành hay không lại tuỳ thuộc vào giá cả, kinh nghiệm, uy tín của nhà thầu.
Nếu sản phẩm (dự kiến sản xuất ra) mà bán được có nghĩa là những yêu cầu đã được thừa nhận là thực hiện được và người bán có thể thu hồi chi phí sản xuất từ người mua và có lãi.
- Chức năng thông tin: ở thị trường tư vấn xây dựng cũng phản ánh thông tin về cung cầu sản phẩm, về các đối thủ cạnh tranh, về giá cả và giá trị sản phẩm và còn phản ánh bộ mặt kinh tế – xã hội của khu vực, của đất nước,…
- Chức năng điều tiết: Thông qua giá cả và nhu cầu của thị trường về sản phẩm tư vấn xây dựng mà cơ chế thị trường sẽ tác động để điều tiết qaun hệ cung cầu. Sự điều tiết này dẫn đến điểm cân bằng giữa cung và cầu cũng như hình thành giá cả bình quân của từng loại sản phẩm.
Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng có khác với quá trình sản xuất sản phẩm hàng hoá khác nên đặc điểm của thị trường tư vấn xây dựng cũng có một số khác biệt như:
- Việc mua bán sản phẩm dịch vụ tư vấn có thể diễn ra trên thị trường trước khi sản phẩm hàng hoá đó được tạo ra trên thực tế (tư vấn đầu tư, tư vấn khảo sát thiết kế, tư vấn dấu thầu) hoặc trong suốt quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng (tư vấn giám sát,…), tồn tại là các dự án trên các bản vẽ kỹ thuật, kèm theo dự toán công trình… Việc mua bán đó được thực hiện bằng đấu thầu hoặc chỉ định thầu với những ràng buộc chặt chẽ trong hợp đồng kinh tế giữa các bên có liên quan: người mua (chủ đầu tư), người bán (nhà tư vấn). ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
- Yêu cầu về kỹ thuật, mỹ thuật – công nghệ xây dựng từng dự án, công trình cũng khác nhau, việc tư vấn xây dựng công trình có thể do nhiều nhà tư vấn hoặc một nhà tư vấn tham gia, mỗi nhà tư vấn có thể thực hiện toàn bộ hoặc một số công việc tư vấn xây dựng.
Thông thường, một dự án đầu tư xây dựng bao gồm các công việc tư vấn sau:
- Tư vấn khảo sát xây dựng (1).
- Tư vấn lập báo cáo đầu tư (nếu có), lập dự án hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật (2).
- Tư vấn lập thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng công trình (3).
- Tư vấn lập định mức, đơn giá xây dựng công trình (4).
- Tư vấn tổ chức đấu thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu (5).
- Tư vấn kiểm tra chất lượng vật liệu, kiểm định chất lượng công trình (nếu cần) (6).
- Tư vấn giám sát thi công xây dựng, giám sát lắp đặt thiết bị (7).
- Tư vấn quản lý dự án (8).
- Tư vấn quản lý chi phí đầu tư xây dựng (9).
- Tư vấn kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình (10).
- Tư vấn kiểm toán, quy đổi vốn đầu tư xây dựng công trình đối với dự án có thời gian thực hiện trên 3 năm (11).
- Tư vấn thực hiện các công việc khác (12).
Theo các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng công trình, các công việc tư vấn xây dựng được tổng hợp theo sơ đồ sau:
1.4.3. Phân loại thị trường tư vấn xây dựng.
Theo tính chất của thị trường tư vấn
- Thị trường cung (thị trường bán): là thị trường mà ở đó doanh nghiệp tư vấn xây dựng đem tiêu thụ sản phẩm của mình.
- Thị trường cầu (thị trường mua): là thị trường mà ở đó doanh nghiệp tư vấn xây dựng mua các loại công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn,… để tiến hành sản xuất ra những sản phẩm tư vấn xây dựng.
Theo phạm vi vùng lãnh thổ hoạt động.
- Thị trường tư vấn xây dựng địa phương.
- Thị trường tư vấn xây dựng quốc
- Thị trường tư vấn xây dựng quốc tế.
Theo mức độ chiếm lĩnh thị trường. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
- Thị trường tư vấn xây dựng hiện tại.
- Thị trường tư vấn xây dựng tiềm năng.
Theo mức độ cạnh tranh.
- Thị trường tư vấn xây dựng cạnh tranh hoàn hảo.
- Thị trường tư vấn xây dựng cạnh tranh không hoàn hảo.
Theo nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình.
- Thị trường tư vấn xây dựng của các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nước (cả trung ương và địa phương).
- Thị trường tư vấn xây dựng của các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Thị trường tư vấn xây dựng của các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh.
- Thị trường tư vấn xây dựng của các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn phát triển của doanh nghiệp.
- Thị trường tư vấn xây dựng của các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng nguồn vốn khác (tư nhân, hỗn hợp).
Theo đặc điểm, tính chất của loại dự án.
- Thị trường tư vấn các dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng.
- Thị trường tư vấn các dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệp.
- Thị trường tư vấn các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông.
- Thị trường tư vấn các dự án đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi.
- Thị trường tư vấn các dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật.
1.4.4. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị tư vấn xây dựng là hoạt động của trí tuệ, không chỉ dựa vào Khoa học – Kỹ thuật – Công nghệ mà còn là hoạt động tổng hợp Chính trị – Kinh tế – Xã hội đa dạng mang tính cộng đồng và xã hội sâu sắc.
Tư vấn xây dựng là đơn vị giúp chủ đầu tư về mặt chuyên môn, sản phẩm của tư vấn là ý đồ của chủ đầu tư được diễn giải ra giấy, phần mềm; là “phiên dịch” ngôn ngữ chuyên môn giữa chủ đầu tư và đơn vị xây lắp.
Tư vấn xây dựng tham gia đầy đủ các khâu trong dự án từ lập dự án đến khảo sát, thiết kế các công trình cho đến khâu giám sát nhà thầu thực hiện dự án, mua sắm thiết bị, nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng.
Chất lượng sản phẩm dịch vụ tư vấn xây dựng luôn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình và hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Trong thiết kế quy hoạch và lập dự án nếu đơn vị tư vấn lựa chọn vị trí, đề xuất quy mô xây dựng và đưa ra mức vốn đầu tư không hợp lý sẽ dẫn đến lãng phí vốn đầu tư. Quá trình khảo sát xây dựng để thiết kế, nếu số liệu không chính xác, không phản ánh đúng hiện trạng mặt bằng, bỏ sót các vật kiến trúc trong phạm vi xây dựng thì khi thi công sẽ phải bổ sung thay đổi thiết kế, gây tốn kém về kinh phí và kéo dài thời gian thực hiện dự án… Vì vậy, hoạt động tư vấn xây dựng là hoạt động có điều kiện, đối với ổ chức tư vấn phải có điều kiện năng lực hoạt động, đối với cá nhân tư vấn phải có chứng chỉ hành nghề.
- Một số tiêu chí và phương pháp đánh giá khả năng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng
Việc đánh giá khả năng cạnh tranh nếu chỉ căn cứ vào các yếu tố định tính thì không tránh khỏi cảm tính, bởi vậy phải cố gắng lượng hoá. Tuy nhiên khó có được một chỉ tiêu tổng hợp đo lường khả năng cạnh tranh, do đó phải có một hệ thống chỉ tiêu.
Ngoài các chỉ tiêu đã được trình bày ở mục 1.1.4.1 và mục 1.1.4.3 như các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh nói chung, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tư vấn xây dựng có thể sử dụng thêm chỉ tiêu sau:
- Giá trị trúng thầu và số lượng công trình thắng thấu:
Chỉ tiêu này cho biết tình hình kết quả thực hiện công tác đấu thầu của doanh nghiệp. Qua đó có thể đánh giá được chất lượng, hiệu quả của công tác dự thầu trong năm và quy mô của các công trình đã trúng thầu.
- Xác suất trúng thầu:
Việc lựa chọn các chỉ tiêu để phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh còn tuỳ thuộc từng doanh nghiệp tư vấn xây dựng cụ thể, mục đích, yêu cầu về mức độ khi phân tích.
Vậy, việc làm rõ và hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập, thị trường tư vấn xây dựng, doanh nghiệp tư vấn xây dựng, các tiêu chí và phương pháp đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng, từ đó, tạo cơ sở khoa học luận để phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần Tư vấn xây dung Ninh Binh.
- Cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam:
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc giành được nhiều lợi ích và giảm thiểu tối đa những tác hại rủi ro được quyết định ở chỗ mỗi nước phải có một chiến lược xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và cơ cấu lại nền kinh tế để tranh thủ được các nguồn lực quốc tế, phát huy có hiệu quả nguồn nội lực và kiểm soát được nền kinh tế – xã hội của mình. Với nhận định như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp trong tình hình mới.
Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đặt ra từ Đại hội VI (1986) trên cơ sở đổi mới, “mở cửa” nền kinh tế và trên cơ sở chính sách, quan hệ đối ngoại của Việt Nam với phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 3 (khoá VI) chỉ rõ: Việt Nam sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước, các công ty nước ngoài trên cơ sở cùng có lợi và không có điều kiện chính trị ràng buộc, hạn chế đến mức thấp nhất cái giá phải trả.
Đại hội VII (1991) đã thông qua Cương lĩnh của Đảng và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm, đồng thời cũng nêu ra tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế là: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Cụ thể hoá đường lối Đại hội VII, Hội nghị
Ban chấp hành Trung ương 3 (khoá VII) đã ra chuyên đề Chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá mà Đại hội VII nêu ra, đánh dấu bước khởi đầu của tiến trình hội nhập của Việt Nam.
Đại hội VIII (1996) đã khẳng định chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, đó là xây dựng một nền kinh tế “mở” và đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 4 (khoá VIII) đã nêu nhiệm vụ cụ thể cho quá trình này là: tích cực chủ động xâm nhập và mở rộng vào thị trường quốc tế vững chắc, khẩn trương đàm phán với Mỹ, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á Thái Bình Dương (APEC) và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Có kế hoạch cụ thể để chủ động cam kết gia nhập Khu vực dịch vụ tự do ASEAN (AFTA). Như vậy, Đại hội VIII và các Nghị quyết Trung ương khoá này đã chỉ đạo tiến trình hội nhập khẩn trương hơn. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
Đại hội IX (năm 2001), tiếp tục khẳng định chủ trương Đại hội VIII nêu ra và đã đưa ra một khẩu hiệu: Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Đồng thời, Đại hội IX nhấn mạnh: Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc dân tộc và bảo vệ môi trường.
Đại hội Đảng X đề ra quan điểm về hội nhập: năng động và sáng tạo, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.
Như vậy, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từng bước được hình thành cùng với sự phát triển của đất nước.
Về các bước đi trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, chúng ta cần xem xét hai mặt:
Đối với bên ngoài, chúng ta đã thực hiện lần lượt các bước đi cụ thể. Đó là, Năm 1993 đã khai thông quan hệ với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB); tháng 1/1995 gửi đơn xin gia nhập WTO ; ngày 25/7/1995 đã chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN), đồng thời tham gia vào AFTA và chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT); tháng 3/1996 tham gia diễn đàn á – Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập; 15/6/1996 gửi đơn gia nhập APEC, tháng 11/1998 được công nhận là thành viên APEC; năm 2000, ký Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ; tháng 11/2006, ký kết toàn bộ các văn kiện thoả thuận tham gia WTO, ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức là thành viên WTO.
Đối với trong nước, chúng ta đã làm được ba việc cơ bản: Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật, văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý phù hợp cho hội nhập (như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài,…); thực hiện sự chuyển đổi thể chế kinh tế, đổi mới chính sách và hệ thống kinh tế vĩ mô và cố gắng cải cách kinh tế, xây dựng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế; để thống nhất việc chỉ đạo quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 10/2/1998 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 31/1998-TTg thành lập Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế. Uỷ ban này có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo và điều hành các bộ, ban, ngành trong việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.
1.4.5. Các nhân tố làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế quốc tế hiện
- Tiếp cận nhanh chóng công nghệ tiên tiến hiện đại:
Thông qua con đường chuyển giao công nghệ, rút ngắn những bước đi dò dẫm, giảm chi phí trong công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, con đường phát triển này được ví như cách của những anh chàng tí hon tận dụng đôi vai của các chàng khổng lồ để có thể ngắm nhìn thế giới, tạo bước nhảy lớn, đột phá trong phát triển kinh tế cùng với nỗ lực theo kịp các nước công nghiệp phát triển. Thông qua nhiều con đường như liên doanh, liên kết, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ, thầu phụ, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận nhanh chóng công nghệ, kỹ thuật hiện đại, nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng sản phẩm, bảo vệ thị trường nội địa và chủ động tham gia thị trường quốc tế. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
- Có cơ hội lớn hơn về thị trường để mở rộng sản xuất – kinh doanh, phát triển kinh tế. Cả trong lý thuyết lẫn thực tế, vai trò của thị trường đã được khẳng định rõ nét trong việc điều tiết mọi đầu mối sản xuất, kích thích tăng cường sức mua, làm đa dạng hoá và khác biệt hoá nhu cầu, tạo ra sức hút cao đối với khả năng cung ứng của các công ty. Toàn cầu hoá, mở rộng tự do thương mại có khả năng tạo ra cơ hội thị trường cho mọi loại hình doanh nghiệp, cả doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho mọi thành phần kinh tế.
- Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế, các quốc gia và doanh nghiệp có thêm nhiều điều kiện để tiếp nhận nguồn vốn quốc tế với nhiều hình thức đa dạng. Hiện nay nguồn tài chính vẫn còn là điểm nóng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nước đang phát triển. Vì vậy, tận dụng được các nguồn vốn vay ưu đãi chính thức, vay thương mại, các nguồn viện trợ nước ngoài hoặc qua con đường hợp tác liên doanh liên kết, đầu tư trực tiếp của nước ngoài,… là con đường lựa chọn thích hợp, nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tăng cường năng lực sản xuất – kinh doanh và tham gia vào quá trình thương mại hoá toàn cầu một cách thuận lợi. Tuy nhiên, để khai thác được lợi thế từ nguồn vốn nước ngoài cần có sự hỗ trợ từ phía chính phủ trong việc cải cách hành chính, tạo hành lang pháp lý cho đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo sự thông thoáng cho các thành phân kinh tế cùng tham gia khia thác thị trường.
- Có điều kiện tham gia nhanh vào phân công lao động quốc tế theo các dây chuyền sản xuất hoặc các công đoạn kinh doanh của các công ty lớn. Với việc mở rộng quan hệ thương mại quốc tế, sự vận động của các yếu tố nguồn lực cũng bắt đầu mang tính chuyên môn hoá trên cấp độ quốc tế, lao động cũng là một yếu tố quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực, học tập tác phong lao động công nghiệp, có kỷ luật, tự giác, chủ động, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
- Một trong những điều kiện tiền đề thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá là sự phát triển của công nghệ thông tin – viễn thông. Kết quả của hệ thống thông tin toàn cầu còn là điều kiện để nâng cao trình độ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc với một thế giới mở, nâng cao năng lực đổi mới và hiện đại hoá công tác quản lý, trao đổi những tri thức và kinh nghiệm đã được tìm tòi, đúc kết từ bao đời. Đồng thời, xu thế cạnh tranh của nền kinh tế dựa trên trí tuệ, cũng là cơ hội tiềm tàng có nhiều hứa hẹn đối với những nền kinh tế non trẻ.
- Một hệ quả tất yếu của quá trình toàn cầu hoá là mở rộng các mối quan hệ quốc tế, mở rộng thị trường. Các mối quan hệ song phương, đa phương được thực hiện đan xen cùng các quan hệ thương mại của các doanh nghiệp càng củng cố thêm sự bền vững và tính hiệu quả trên cơ sở tông trọng lợi ích chính đáng của các thành viên. Ngoài ra tăng cường mối quan hệ quốc tế cũng đặt ra những yêu cầu và ràng buộc ngày càng cao trong việc tuân thủ luật pháp quốc tế, tạo điều kiện duy trì thế ổn định chính trị toàn cầu, cũng như trong từng khu vực và từng quốc
Các nhân tố làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế quốc tế hiện nay.
Tham gia tiến trình hội nhập kinh tế các doanh nghiệp Việt Nam cùng lúc phải đối mặt với những thách thức trong và ngoài nước. Cụ thể:
- Các doanh nghiệp Việt Nam đa phần là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, có quy mô nhỏ bé, tiềm lực vật chất nghèo nàn. Với năng lực tài chính hạn chế doanh nghiệp Việt Nam khó có khả năng đầu tư quy trình công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao. Tiềm lực vật chất nghèo nàn cũng dễ dẫn đến tâm lý “ăn xổi, ở thì” hạn chế tầm nhìn cho các chương trình phát triển chiến lược.
- Trình độ công nghệ lạc hậu trong khi sức cạnh tranh còn quá thấp. Giải quyết vướng mắc này không phải là chuyện giản đơn. Tiềm lực mỏng, nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật hạn chế, đã gây khó khăn cho quá trình chuyển giao và tiếp nhận quy trình kỹ thuật đồng bộ hiện đại, lợi thế của người đi sau dường như chỉ là điều được nói trên lý thuyết. Thêm vào đó, cạnh tranh trong môi trường cùng lúc có nhiều đối thủ cũng trở nên khó khăn hơn.
- Điều kiện hạ tầng cơ sơ cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều bất cập, chi phí đầu vào cho sản xuất lớn (bao gồm cả giá đầu vào và chi phí trung gian).
- Các doanh nghiệp Việt Nam, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang tham gia tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện của nền kinh tế quá độ, có sự chênh lệch lớn về năng lực tổ chức, sự thiếu đồng bộ về hệ thống pháp luật. ( Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN )
- Nguy cơ bị lép vế trong việc tìm kiếm các cơ hội, hợp đồng hợp tác với các doanh nghiệp của các nước công nghiệp phát triển.
- Bề dày văn hoá kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế thị trường chưa hình thành một cách rõ nét, nguyên nhân của vấn đề có thể xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, văn hoá và thói quen trong thời gian dài của cơ chế kế hoạch hoá tập trung; điều này không đủ cơ sở để tạo lập sức mạnh hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Thực trạng khả năng cạnh tranh kinh tế doanh nghiệp

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
