Khác với các doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán tồn kho. Cho nên tác giả đã lựa chọn đề tài Bàn về hạch toán chi phí sản xuất trong kế toán tài chính và kế toán quản trị doanh nghiệp, trong các doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ, các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hàng tồn kho không được ghi sổ liên tục. Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với tính chất và nội dung khác nhau, phương pháp hạch toán và tính nhập chi phí vào giá thành sản phẩm cũng khác nhau. Và Luận văn Thực trạng Giải pháp công tác hạch toán chi phí sản xuất dưới đây, nhằm khẳng định kế toán có vai trò đặc biệt quan trong đối với nước ta trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng tiến kịp với các nước khác trên thế giới.
I. Thực trạng công tác hạch toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp hiện nay
1. Nội dụng hạch toán chi phí sản xuất của các doanh nghiệp hiện nay.
Trong cơ chế thị trường hiện nay sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt. Việc phấn đấu hạ giá thành luôn là mục tiêu quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Giá thành sản phẩm càng rẻ hơn so với doanh nghiệp khác thì lợi nhuận càng cao và sự cạnh tranh càng lớn. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải hạ giá thành trước hết chúng ta phải tính chính xác chi phí.
Hiện nay, hệ thống tài khoản kế toán hạch toán chi phí sản xuất đã đáp ứng ở một nhu cầu nhất định và thông tin cho cơ quan quản lý. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghi chép, phản ánh của kế toán cũng như công tác kiểm tra. Hệ thống kế toán này thề hiện sự phù hợp và thích ứng với yêu cầu và đặc điểm của nền kinh tế thị trường, thể hiện sự vận dụng có chọn lọc các chuẩn mực các nguyên tắc và thông lệ kế toán quốc tế vào Việt Nam.
Bên cạnh những ưu điểm trên, hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục và hoàn thiện. Đó là những hướng dẫn về nội dung và phương pháp vận dụng chưa thật cụ thể , chưa thật gắn với đặc điểm của các đơn vị sản xuất có quy mô và đặc điểm khác nhau. Đồng thời thiếu sự thống nhất trong hướng dẫn, có nhiều thiếu xót dẫn đến vận dụng vào thực tế hết sức khó khăn và thiếu thống nhất giữa các doanh nghiệp.
Ngoài ra còn một số khó khăn khác như: ( Luận văn Thực trạng Giải pháp công tác hạch toán chi phí sản xuất )
- Phần tính toán còn phức tạp chưa đảm bảo được yêu cầu của kế toán quản trị các thông tin cung cấp chưa kịp thời và chính xác.
- Chưa thực hiện được việc trích tiền lương của công nhân nghỉ phép và trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định phát sinh thì sẽ không tính chính xác chi phí sản xuất dẫn đến việc tính giá thành không chính xác.
- Các doanh nghiệp nhận gia công ở một số đơn vị khác hoặc nhận nguyên liệu chính để gia công. Trên bảng tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp vẫn còn cột chi phí gia công mà chi phí sản xuất không được tính vaò giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
- Chưa có kinh nghiệm tự hạch toán độc lập và sản xuất theo cung, cầu trên thị trường.
- Do chính sách của nhà nước còn nhiều thủ tục rườm rà làm cho công tác kế toán của doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Do cán bộ kế toán cũng như cán bộ quản lý khác còn nhiều hạn chế.
Hầu hết các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay công nhân sản xuất theo phân xưởng nên dối tượng tập hợp chi phí sản xuất như vậy có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm được kịp thời và đứng đắn. Một số chi phí không thể tính riêng cho từng sản phẩm ngay được mà phải đến cuối kỳ mới phân bổ cho từng sản phẩm, có nhiều cách phân bổ khác nhau. Việc xác định chi phí cho từng phân xưởng sẽ tạo điều kiện cho việc tính toán chi phí sản xuất nhanh chóng và dễ dàng.
2. Thực trạng về kế toán quản trị chi phí hiện nay
Ưu điểm của kế toán quản trị đã được khẳng định trong những nâm qua. Tuy nhiên sau khi khảo sát thực tế một số doanh nghiệp về kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng chúng tôi thấy một số tồn tại.
Thứ nhất, việc xác định gianh giới giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính chưa được rõ ràng. Công tác kế toán doanh nghiệp hiện nay chủ yếu là kế toán tài chính với những nội dung đã được quy định ở các văn bản pháp quy. Các doanh nghiệp chưa chủ động trong việc thực hiện nội dung của kế toán quản trị theo yêu cầu kiểm tra và kiểm soát chi phí.
Thứ hai, một số cách phân loại phục vụ cho quản trị doanh nghiệp chưa được coi trọng và thực hiện. Từ đó hạn chế khả năng phân tích phục vụ cho kiểm tra, kiểm soát và quản trị chi phí.
Thứ ba, việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí nhìn chung chưa chi tiết theo các đối tượng chịu chi phí (sản phẩm, chủng loại sản phẩm). Việc quản lý và kiểm tra chi phí theo các trung tâm chi phí còn nhiều hạn chế do doanh nghiệp chưa xây dựng được các định mức, kế hoạch chi phí cho từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm. ( Luận văn Thực trạng Giải pháp công tác hạch toán chi phí sản xuất )
Thứ tư, việc tập hợp và phân bổchi phí cho từng đối tượng việc xác định chi phí sản xuất cho khôi lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ chưa được thực hiện một cách khoa học, ảnh hưởng đến mức độ tin cậy của thông tin kế toán và quá trình ra quyết định.
Thứ năm, tổ chức hệ thông chứng từ hệ thống tài khoản kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp còn tồn tại và chưa đáp ứng được yêu cầu quản trị.
Thứ sáu, các báo cáo kế toán nội bộ chưa khoa học chưa đáp ứng yêu cầu quản lý.
Có thể bạn quan tâm:
3. Đặc điểm mô hình kế toán quản trị chi phí ở các nước phát triển trong giai đoạn hiện nay
3.1. Mô hình kế toán quản trị chi phí Mỹ.
Mỹ là một nước phương tây có nền kinh tế thị trường phát triển, tiềm lực kinh tế và phong cách quản lý theo thị trường mở. Các trung tâm tài chính, các sở giao dịch thị trường tài chính phát triển mạnh. Mô hình kế toán của mỹ thiên về tài chính nhằm đáp ứng thông tin của thị trường tài chinh. Đặc trưng cơ bản của hệ thống kế toán Mỹ đó là mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị. Kế toán quản trị chi phí không tổ chức thành một bộ phận riêng. Kế toán quản trị sử dụng kế toán chi tiết các bộ phận và các phương pháp khác để thu nhận và sử lý thông tin phục vụ cho quá trình ra quyết định trong sản xuất.
Nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi phí phục vụ cho lập các báo cáo cho việc điều hành ở các bộ phận sản xuất, báo cáo tiền thuê phân xưởng, tổng hợp giờ công lao động thực tế của từng bộ phận, bảng tổng hợp chi phí sản xuất, phân tích số liệu để lập kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. Theo hệ thống kế toán quản trị Mỹ chi phí cũng được phân loại theo nhiều tiêu thức để phục vụ cho việc quản lý và kiểm soát chi phí. Các yếu tố chi phí sản xuất bao gồm ba bộ phận : chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao đông trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Tuy nhiên theo hệ thống kế toán này đặc biệt quan tâm đến việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng- lợi nhuận, phân tích các báo cáo bộ phận, xây dựng định mức chi phí cũng như kế hoạch linh động, phân tích chi phí chung từ đó có thể tính được giá phí, tác động lên giá phí và cung cấp thông tin cho các quá trình ra quyết định trong quản lý.
Về hệ thống xác định chi phí có thể vận dụng một trong ba hệ thống đó là: Giá thành thực tê, giá thành định mức,và chi phí định mức.
Tóm lại, qua nội dung quy trình hạch toán chi phí sản xuất của Mỹ có thể thấy rằng: Việc tổ chức hạch toán chi phí rất linh hoạt tuỳ theo điều kiện cụ thể kế toán có thể lựa chọn phương pháp hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ. Lựa chọn phương pháp xác định chi phí thực tế hay chi phí định mức.Trong việc sử dụng số liệu vào cuối kỳ được thực hiện một cách đơn giản, thiết thực trên cơ sở tôn trong nguyên tắc trong yếu, từ đó tránh được các bút toán rườm rà, không cần thiết trong truờng hợp có thể sử dụng chi phí định mức. Kế toán quản trị chi phí chú trọng việc chi tiết hoá các tài khoản và sử dụng cách phân loại chi phí thành biến phí và định phí để lập báo cáo đánh giá trách nhiệm quản lý. Kế toán thường tổ chức ra thành các trung tâm trách nhiệm, tập hợp và phân tích tình hình thực hiện chi phí, doanh thu, kết quả từng trung tâm.
3.2. Mô hình kế toán quản trị chi phí Pháp: ( Luận văn Thực trạng Giải pháp công tác hạch toán chi phí sản xuất )
Cộng hoà pháp là một nước tây âu có nền kinh tế phát triển từ lâu đời. Công tác quản lý kinh tế nói chung và kế toán nói riêng ở trình độ cao. Mô hình kế toán Pháp dung hoà các nhu câu thông tin về quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài làm dễ dàng nhu câu thu thuế.
Đặc trưng cơ bản của mô hình kế toán Pháp là mô hình kế toán tĩnh. Kế toán tài chính và kế toán quản trị được tổ chức rời nhau, độc lập tương đối. Kế toán phân tích được tổ chức thành bộ máy riêng, sử dụng tài khoản riêng, hệ thống báo cáo kế toán nội bộ tách rời so với kế toán tài chính.
Kế toán quản trị là công cụ để các nhà quản lý doanh nghiệp kiểm tra một cách có hiệu quả tính hình hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu:
- Xác định chi phí của các trung tâm phân tích để tập hợp chi phí
- Xác định các loại giá phí
- Thiết lập các khoản dự toán chi phí và kết quả từng trung tâm phân tích
- Điều phối và hoà giải giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị về chi phí, thu nhập và kết quả cuối cùng.
Chi phí được phân loại theo nhiều tiêu thức để phục vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
- Chi phí theo chức năng: việc phân loại này có tính chất tổng quát mà chưa cung cấp thông tin đầy đủ để tính các loại giá phí trong kế toán phân tích (kế toán quản trị). Vì vậy các chi phí tổng quát khi chuyển sang kế toán phân tích phải tái hiện chi phí theo chức năng. Tuỳ theo đặc tính và quy mô của từng doanh nghiệp có chức năng sau:
Chức năng quản trị hành chính, tài chính.
Chức năng quản lý máy móc thiết bị, nhà xưởng
Chức năng cung cấp vật tư tiêp liệu
Chức năng phân phối và chức năng sản xuất
- Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí phân bổ, chi phí không phân bổ và chi phi bổ xung ( Luận văn Thực trạng Giải pháp công tác hạch toán chi phí sản xuất )
Chi phí được phân bổ là chi phí mà thực tế doanh nghiệp đã chi trả theo đúng chế độ kế toán như: chi phí NVLTT, chi phí tiền lương phải trả cho CNSX, chi phí KHTSCĐ…
Chi phí không được phân bổ : như chi phí thành lập doanh nghiệp các khoản tiền phạt, khoản nợ quá hạn.
Chi phí bổ xung là chi phí không phát sinh trong kế toán tài chính nhưng khi tính giá phí, giá thành lại được tính vào.
- Chi phí cố định và chi phí biến đổi (định phí hay biến phí)
- Các loại giá phí:
Thông thương một doanh nghiệp sản xuất có ba loại giá phí:
- Giá phí tiếp liệu: Gồm chi phí NVL ghi trên hoá đơn và các chi phí thu mua
- Giá phí sản xuất: Gồm giá phí vật liệu và chi phí nhân công
- Giá phí phân phối: Gồm chi phí về tiêu thụ
- Giá thành: Gồm chi phí sản xuất cộng giá phí phân phối
- Tài khoản sử dụng:
Trong kế toán quản trị Pháp sử dụng một loại tài khoản riêng (TK loại 9). Để tổ chức phản ánh ghi chép hạch toán chi phí sản xuất, chi phí của các trung tâm phân tích tính toán giá phí và để thu thập các thông tin cần thiết cho việc kiểm tra, kiểm soát chi phí phục vụ cho việc phân tích, dự đoán, dự báo và cho việc ra quyết định kinh doanh.
TK loại 9 – nhóm TK phản chiếu. Điều đó có nghĩa là các tài khoản loại 9 chỉ đối ứng với các tài khoản loại 9. Kế toán quản trị Pháp chia tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm và sử dụng hệ thống tài khoản phản chiếu để đánh giá như TK 920, TK925. Các chi phí trực tiếp được đưa thẳng vào các giá phí. Chi phí gián tiếp được đưa vào các trung tâm sau đó mới phân bổ vào các giá phí.
- Sử dụng TK93 để xác định các loại giá phí Tài khoản cấp hai: TK 931: Giá phí tiếp liệu
TK 934: Giá phí sản xuất
- Nhóm TK 95: phản ánh giá thành ( Luận văn Thực trạng Giải pháp công tác hạch toán chi phí sản xuất )
Tài khoản cấp hai: TK951à TK 959: Giá thành từng loại sản phẩm.
Quy trình hạch toán của Pháp còn cho phép các doanh nghiệp chủ động trong việc vận dụng các phương án hạch toán chi phí ở nước ta hiện nay. Về lâu dài nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng mô hình ABC (xác định giá phí trên cơ sở hoạt động). Vì theo mô hình ABC đối tượng hạch toán và phân bổ chi phí chung là các trung tâm hạch toán, một hình thức cụ thể hơn và chi tiết hơn so với các trung tâm chi phí của Pháp.
Tóm lại, việc phân tích nội dung, quy trình hạch toán chi phí theo mô hình kế toán quản trị của Pháp có thể thấy răng: Việc phân tích chi phí theo chức năng hình thành nên các trung tâm chi phí như trung tâm chính, trung tâm phụ để tập hợp chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp nhằm xác định giá phí một cách khoa học.
Như vậy, nghiên cứu kế toán quản trị Mỹ và kế toán quản trị Pháp nắm được bản chất, đối tượng nội dung và phương pháp giải quyết các yêu cầu của kế toán quản trị. Thông qua việc nghiên cứu này chúng ta thấy kế toán quản trị có tính thông lệ và phổ biến cho hoạt động nội bộ doanh nghiệp, hình thành và phát triển theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, Tuy nhiên, cách thức tiếp cận và giải quyết của mỗi mô hình có khác nhau và có một số điểm đặc thù riêng. Từ đó chúng ta có thể kế thừa và phát triển cơ sở phương pháp luận cho kế toán quản trị ở Việt Nam.
II. Những giải pháp nhằm hoàn thiện chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp hiện nay
1. Giải pháp hoàn thiện hệ thống tài khoản hạch toán chi phí sản xuất. ( Luận văn Thực trạng Giải pháp công tác hạch toán chi phí sản xuất )
Hoàn thiện hệ thống tài khoản hạch toán chi phí sản xuất gắn với việc xây dựng hệ thống thông tin cung cấp cho quản lý là một trong những công việc có tính cấp thiết và quan trọng trong nội dung hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất. Để phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta và thực hiện chính kinh tế mở cửa đưa kế toán hội nhập quốc tế. Tài khoản hạch toán chi phí sản xuất cần hoàn thiện theo hướng sau:
Hệ thống tài khoản kế toán chi phí sản xuất có tính thống nhất cao và bao quát toàn diện được các loại hình doanh nghiệp và các lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế..
Nội dung và kết cấu của tài khoản phải thích ứng với cơ chế thị trường.
Hình thành các mô hình kế toán mẫu với các doanh nghiệp và cách thức vận dụng tài khoản hạch toán chi phí sản xuất tương ứng.
Trên cơ sở đó có một số giải pháp cơ bản sau nhằm hoàn thiện hệ thống tài khoản hạch toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.
Thư nhất, thống nhất hệ thống tài khoản hạch toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp. Giải pháp này xuất phát từ thực trạng tài khoản hạch toán chi phí sản xuất áp dụng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay. Trong các doanh nghiệp này, toàn bộ các chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất từ chi phí NVLTT, chi phí NCTT đến chi phí SXC được tập hợp vào đây. Điều này gây nhiều khó khăn cho kế toán trong việc phân biệt chi phí và thu thập thông tin chi phí từng loại.
Cần khẳng định rằng, giải pháp này không phủ nhận tính đặc thù về hoạt động, quy mô, về trình độ cán bộ quản lý và trình độ của cán bộ kế toán trong từng doanh nghiệp. Bởi vì, trên cơ sở hệ thống tài khoản này, các doanh nghiệp sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể của mình để xác định tài khoản xử dụng cho phù hợp.
Thứ hai, thay đổi nội dung phản ánh hoặc mở thêm chi tiết của tài khoản 621. Theo chế độ hiện hành, tài khoản 621”chi phí NVLTT” dùng để phản ánh toàn bộ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ( bao gồm nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ) được sử dụng trực tiếp để sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ trong kỳ sản xuất kinh doanh. Với nội dung này cuối kỳ kế toán sẽ rất khó khăn trong việc xác định giá trị sản phẩm dở dang. Bởi vì, nguyên vật liệu chính là đối tượng chế biến còn vật liệu khác lại là chi phí chế biến. Do đó khi tính giá trị sản phẩm dở dang bắt buộc kế toán phải tách rời giá trị vật liệu chính ra khỏi chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp.
Để tạo điều kiện thụân lợi cho việc xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ, tiết kiệm công sức của kế toán, có hai phương án để hoàn thiện tài khoản 621 sau đây:
Mở thêm tài khoản cấp hai của TK 621: Theo phương pháp này tài khoản 621 “ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” sẽ được chi tiết thành hai tài khoản cấp hai là:
TK 6211: chi phí về nguyên vật liệu chính TK 6212: Chi phí về vật liệu khác
Phương án này không tôn trọng chế độ tài khoản kế toán hiện hành. Khi áp dụng phương pháp này kế toán sẽ không mất thời gian vào việc tách đối tượng chế biến (nguyên vật liệu chính) và chi phí chế biến (vật liệu khác) ra khỏi chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nữa. Từ đó việc xác định giá trị dở dang cuối kỳ sẽ nhanh chóng và chính xác tạo điều kiện cho việc xác định giá thành kịp thời. ( Luận văn Thực trạng Giải pháp công tác hạch toán chi phí sản xuất )
Thay đổi nội dung phản ánh của tài khoản 621: Theo phương án này tài khoản 621(chi phí nguyên vật liệu trực tiếp) chỉ phản ánh giá trị nguyên vật liệu chính trực tiếp tiêu hao liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm, hay thực hiện các lao vụ dịch vụ mà không bao gồm giá trị vật liệu khác. Giá trị các loại vật liệu khác tiêu hao liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ được tập hợp vào chi phí sản xuất chung. Cuối kỳ phân bổ cho các đối tượng tính giá liên quan.
Thứ ba, mở thêm tài khoản 624 “ chi phí khấu hao máy móc, thiết bị chuyên dùng”
Theo chế độ tài khoản kế toán hiện hành toàn bộ chi phí khấu hao TSCĐ dùng ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất được tập hợp vào TK627 – Chi phí sản xuất chung. Cuối kỳ mới phân bổ cho các đối tượng liên quan. Cách làm này mặc dầu giảm được việc ghi chép tính toán và đơn giản trong phản ánh nhưng lại giảm tính chính xác chỉ tiêu giá thành . Do vậy, cần phải thêm tài khoản 624 “ chi phí khấu hao máy móc thiếp bị chuyên dùng” để phản ánh tài khoản này.
Thứ tư, phân loại chi phí ngay trong quá trình hạch toán.
Theo cách phân loại hiện nay, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh (bao gồm định phí và biến phí) được tập hợp theo từng đối tượng liên quan mà không phân loại ngay từ khi phát sinh. Do vậy để có cơ sở đề ra các quyết định kinh doanh đúng đắn nhất là các quyết định liên quan đến sản lượng hoà vốn, quyết định giá trong môi trường kinh doanh.
Kế toán phải phân loại chi phí việc này vừa mất thời gian công sức vừa không chính xác. Vì vậy kế toán cần phải nên phân loại chi phí ra thành biến phí và định phí ngay từ khi phát sinh. Việc làm này hết sức dễ dàng đơn giản, tốn ít công sức vừa cung câp thông tin kịp thời lại vừa đảm bảo độ tin cậy của thông tin.
Thứ năm, mở thêm các tài khoản phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhu cầu cung cấp thông tin cho quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ dù hoạt động ở lĩnh vực sản xuất hay kinh doanh thương mại, dịch vụ… đều cần thiết. Bởi vậy, vấn đề đặt ra cho kế toán trong các doanh nghiệp là phải thu thập thông tin nhanh nhạy, đảm bảo độ tin cậy, tiết kiệm chi phí. Muốn vậy bên cạnh việc tổ chức chứng từ báo cáo kế toán còn phải xây dựng được hệ thống tài khoản hợp lý.
Có ý kiến cho rằng càng mở nhiều TK tổng hợp thì việc ghi chép càng phức tạp. Tuy nhiên cần phải thấy rằng việc mở hay không mở thêm tài khoản là do khối lượng công việc đòi hỏi. Cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần có đủ các tài khoản để hạch toán chi phí sản xuất theo nội dung và bản chất của chi phí.
Tóm lại, hoàn thiện hạch toán kế toán nói chung và hoàn thiện hệ thống tài khoản hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh nói riêng trong các doanh nghiệp là một trong những nội dung quan trọng và cần thiết trong quá trình hoàn thiện hệ thống quản lý doanh nghiệp. Mặt khác, việc hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán chi phí sản xuất cũng góp phần thúc đẩy quá trình hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp.
Mời bạn tham khảo thêm:
2. Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất trong kế toán quản trị. ( Luận văn Thực trạng Giải pháp công tác hạch toán chi phí sản xuất )
Qua một số tồn tại đã xem xét ở trên về hạch toán chi phí sản xuất dưới góc độ của kế toán quản trị. Em xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp hiện nay như sau:
Thứ nhât, xác định các trung tâm chi phí từ đó hoàn thiện việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Để quản lý doanh nghiệp, người ta tổ chức các bộ phận quản lý khác nhau nhưng bộ phận này có chức năng, nhiệm vụ riêng biệt, thông thường có các bộ phận: Các văn phòng, kho hàng, phân xưởng… chi phí được tập hợp theo các bộ phận trên được gọi là trung tâm chi phí. Có hai loại trung tâm chi phí
Trung tâm chính: trung tâm tiếp liệu, trung tâm sản xuất , trung tâm thương mại.
Trung tâm phụ: trung tâm hành chính quản trị, trung tâm quản lý nhân sự, trung tâm tài chính.
Ngoài việc tập hợp chi phí theo trung tâm còn phải tập hợp theo sản phẩm, chi tiết sản phẩm, đơn đặt hàng nhằm kiểm tra kiểm soát chi phí và lập báo cáo chi phí sản xuất theo bộ phận.
Thứ hai, hoàn thiện việc phân loại chi phí sản xuất phục vụ cho kế toán quản trị doanh nghiệp. Việc phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp có thể thực hiện theo tiêu chuẩn khác nhau.
Để phục vụ cho việc ra quyết định trong sản xuất kinh doanh cần phân loại chi phí theo cách ứng xử, theo mức hoạt động thành các biến phí , định phí và chi phí hỗn hợp.
Thứ ba, hoàn thiện việc phân loại giá thành theo mục đích của kế toán quản trị.
Nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra quyết định trong việc định giá bán sản phẩm. Kế toán quản trị cần phân loại giá thành bốn loại sau:
- -Giá thành sản xuất toàn bộ (định phí toàn bộ)
- -Giá thành sản xuất theo biến phí
- -Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý chi phí cố định
- -Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ Thứ tư, hoàn thiên hệ thống chứng từ kế toán
Sử dụng những chứng từ đã quy định của nhà nước trong kế toán tài chính. Đồng thời thiết kế thêm một số chứng từ kế toán cần thiết để phản ánh các nội dung thông tin theo yêu cầu và mục đích của quản trị nội bộ.
Thứ năm, về hệ thống tài khoản kế toán phục vụ cho công tác kế toán chi phí.
Trên hệ thống tài khoản của kế toán tài chính cần xây dựng một hệ thống tài khoản chi phí chi tiết và tổng hợp, xử lý và cung cấp thông tin cho quản trị nội bộ
- VD: TK 621 chi tiết thành:
- TK 6211 chi phí NVLTT phân xưởng I
- TK 6211 – 01 chi phí NVLTT cho sản phẩm A
- TK 6211 – 02 chi phí NVLTT cho sản phẩm B Các tài khoản 622, 627 mở tương tự.
Thứ sáu, cải tiến và hoàn thiện phương pháp xác định và phân bổ chi phí
Lựa chọn và hoàn thiện các tiêu chuẩn phân bổ chi phí cho phù hợp với nội dung của từng yếu tố chi phí cần phân bổ.
Phải tổ chức xây dựng hoàn chỉnh hệ thống các định mức chi phí mang tính tiên tiến để phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm tra, đánh giá quá trình hoạt động của doanh nghiệp.Khi có định mức chi phí cần phải lập dự toán như dự toán NVLTT, dự toán chi phí NCTT, dự toán chi phí SXC.
Thứ bảy, hoàn thiện việc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ đánh giá hàng tồn kho phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý tạo điều kiện cho công tính giá thành sản phẩm được chính xác. Từ đó đưa công tác định giá bán sản phẩm trong khâu bán hàng và các quyết định về quản lý.
Kết luận ( Luận văn Thực trạng Giải pháp công tác hạch toán chi phí sản xuất )
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường kế toán là một công cụ quản lý vĩ mô cảu nhà nước và là hệ thống thông tin tạo cơ sở cho việc ra quyết định kinh tế đứng đắn của doanh nghiệp. Vì vật kế toán có vai trò đặc biệt quan trong đối với nước ta trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng tiến kịp với các nước khác trên thế giới.
Như chúng ta đã biết, Chi phí sản xuất là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh chất lượng của sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp. Dưới mỗi góc độ khác nhau chi phí được tập hợp, hạch toán và có tầm quan trọng khác nhau. Đặc biệt là trong kế toán tài chính nhằm cung cấp thông tin cho đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Còn dưới góc độ của kế toán quản trị nó cung cấp thông tin cho quản lý, cho nội bộ doanh nghiệp nhằm đưa ra các quyết định sản xuất – kinh doanh đúng đắn. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “ Bàn về hạch toán chi phí sản xuất trong kế toán tài chính và kế toán quản trị doanh nghiệp” là rất cần thiết hiện nay.
Xem tiếp phần sau tại:

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
