Mở cửa hội nhập và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhận biết được tầm quan trọng tác giả đã lấy Đề tài Luận văn: Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay làm bài luận văn tốt nghiệp. Để tiếp tục sự nghiệp đổi mới, nước ta cần phải phát huy tối đa các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực… Trong đó, cùng với các yếu tố vốn và khoa học – công nghệ thì nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước. Dưới đây là Đề tài Thạc sĩ: Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức chính quyền cấp xã tại thành phố Huế mời các bạn đọc giả cảm nhận!
2.1. Đặc điểm của địa phương nghiên cứu
2.1.1. Lịch sử hình thành, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của thành phố Huế
Thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Thừa Thiên Huế, có bề dày về lịch sử, văn hóa và kinh tế, từng là kinh đô của vương triều nhà Nguyễn, vương triều cuối cùng trong lịch sử phong kiến nươc ta, là trung tâm cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của cả nước.
Thành phố Huế trước đây có nhiều tên gọi khác nhau. Năm 1306, sau cuộc hôn nhân của Huyền Trân công chúa, hai châu Châu Ô và Châu Rí sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, đến năm 1687, đổi tên thành Phú Xuân, trở thành trung tâm đô thị phát đạt của xứ Đàng Trong. Sau đó trở thành kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Tây Sơn (1788-1801) và nước Việt Nam gần 1,5 thế kỷ dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn (1802-1945). Sau cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, thành phố Huế là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Trị Thiên, nay là tỉnh Thừa Thiên Huế sau khi tách tỉnh năm 1989 gồm 18 phường và 05 xã, nay là 27 phường. Ngày 24/8/2005, với Quyết định số 209/2005/QĐ-TTg, thành phố Huế trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế
Thành phố Huế phía Bắc và phía Tây giáp với thị xã Hương Trà, phía Nam giáp với thị xã Hương Thủy, phía đông giáp với thị xã Hương Thủy và huyện Phú Vang. Cách cửa biển Thuận An 14km, cách sân bay quốc tế Phú Bài 14km, cách cảng nước sâu Chân Mây 50km.
Tính đến năm 2018, thành phố Huế có 455.238 dân với 72km2, mật độ dân số 6.235 người/km2
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Huế
Kể từ khi có Quyết định số 143/2007/QĐ-TTg ngày 30/8/2017 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án xây dựng thành phố Huế thành thành phố Festival mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế đặc trưng của Việt Nam. Huế trở thành thành phố Festival của Việt Nam. Với sự tập trung để phát triển các lĩnh vực mủi nhọn của thành phố, trong những năm qua, toàn thành phố đã có nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực.
Văn hóa – xã hội:
- Trong những năm qua tiếp tục được chú trọng, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Đến năm 2018 tỷ lệ hộ nghèo còn 1.71%, 27/27 phường đạt chuẩn mầm non, có 22/27 phường đạt tỷ lệ 80% thanh niên trong độ tuổi từ 18 đến 21 có băng tốt nghiệp THPT và tương đương, 61.2% trường đạt chuẩn quốc gia. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đủ về số lượng, 100% đạt chuẩn nghiệp nghiệp.
Du lịch – dịch vụ – thương mại: ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
- Nguồn thu chủ yếu của thành phố Huế chủ yếu từ hoạt động du lịch – dịch vụ và thương mại. Chỉ riêng trong năm 2018, nguồn thu từ hoạt động du lịch là 2.750 tỷ đồng và từ hoạt động thương mại là 30.073 tỷ đồng, tăng 18,5% so với cùng kỳ. Tổng thu ngân sách của toàn thành phố trong năm 2018 đạt 1.258.7 tỷ đồng, chi ngân sách ước đạt 1.229 tỷ đồng.
- Du lịch và dịch vụ tiếp tục tăng trưởng khá với nhiều sản phẩm mới thu hút khách du lịch; nhiều hoạt động du lịch, dịch vụ có điểm nhấn, Festival Huế trở tành thương hiệu, thu hút đông đảo du khách đến Huế; lượng du khách đến Huế tăng cao; Tổng lượt khách đến Huế năm 2018 ước đạt 2,6 triệu lượt khách tăng 10,6% so với năm
- Các doanh nghiệp phấn khởi, mạnh dạn đầu tư vào thành phố. Thường xuyên đón các đoàn Doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc đến tìm hiểu đầu tư.
- Tình hình hoạt động của ngành thương mại năm 2018 trên địa bàn thành phố Huế tăng trưởng khá, hạ tầng thương mại ngày càng văn minh, hiện đại hơn, hệ thống thương mại phong phú, giá cả của một số mặt hàng thiết yếu được bình ổn, sức mua của người dân ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hoá trên địa bàn năm 2018 ước đạt: 073 tỷ đồng, tăng 13% so với năm 2017.
- Tình trạng gian lận thương mại, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng còn diễn ra, phát hiện, xử lý 50 việc/48 đối tượng vi phạm (chủ yếu là kinh doanh hàng nhập lậu, không có hóa đơn chứng từ 34 việc/34 đối tượng). Đặc biệt, thời gian gần đây hoạt động “tín dụng đen”, cho vay nặng lãi núp bóng dưới hình thức doanh nghiệp gây phức tạp về trật tự, an toàn xã hội…
Công nghiệp – TTCN:
- Giá trị sản xuất và chất lượng sản phẩm tăng cao, các sản phẩm được giải tại hội thi sản phẩm truyền thống Huế 2017 do Thành phố đã được du khách đón nhận, mua làm quà lưu niệm. Tiếp tục Tổ chức Hội thi tuyển chọn thiết kế sản phẩm quà tặng từ logo Huế và thiết kế bao bì cho sản phẩm Mè xửng và quả thanh trà Huế. Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ mức tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất CN-TTCN trên địa bàn năm 2018 ước đạt 240 tỷ đồng, tăng 13% so cùng kỳ;
- Năm 2018 đã xúc tiến kêu gọi đầu tư vào Cụm được 10 dự án trong đó có 5 dự án di dời cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư. Tính đến nay diện tích đất đã cho thuê 24,58 ha/35,04 ha; Tỷ lệ lấp đầy 70,14%. Tổng số doanh nghiệp/dự án đã đăng ký là 38 doanh nghiệp/đăng ký 48 dự án; trong đó số doanh nghiệp/dự án đã đi vào hoạt động là 33/40. Tổng số lao động làm việc tại cụm là 4.430 người; lương bình quân là 900.000 đồng/người/tháng.
Nông nghiệp:
- Tình hình gây hại của sâu, bệnh ít xảy ra, công tác phòng trừ của bà con nông dân có hiệu quả đã làm tăng năng suất trong vụ. Tình hình chăn nuôi diễn ra thuận lợi, công tác tiêm phòng vacxin cho đàn gia súc, gia cầm thực hiện đầy đủ. Tổng diện tích gieo trồng lúa năm 2018 là: 1.704,14 ha, năng suất bình quân đạt: 61,20 tạ/ha, sản lượng là: 10.428,62 tấn
Thu chi ngân sách:
- Thành phố thực hiện quản lý – điều hành chi tiết kiệm, chống lãng phí, nhưng vẫn hiệu quả, đảm bảo các khoản chi cần thiết, giảm quy mô, tăng chất lượng, hiệu quả; giảm chi phí lễ hội, chế độ hội nghị – hội họp, chi phí công tác. Tổng thu ngân sách năm 2018 uớc đạt 1.258,7 tỷ đồng, đạt dự toán HĐND Thành phố giao; trong đó thu tiền sử dụng đất ước đạt 130 tỷ đồng, đạt 116% kế hoạch. Chi ngân sách ước đạt 1.229 tỷ đồng, đạt 112,52% dự toán.
Có thể bạn quan tâm:
2.2. Ảnh hưởng của yếu tố vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thành phố Huế
2.2.1. Thuận lợi ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
- Thành phố Huế có lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi, là trung tâm kinh tế, hành chính, văn hoá, khoa học, giáo dục và y tế của tỉnh Thừa Thiên Huế, được Nhà nước và tỉnh quan tâm. Đó là cơ sở tốt để tạo ra những điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực cho công tác bồi dưỡng công chức.
- Thành phố Huế là nơi có nhiều cơ sở ĐTBD công chức của địa phương và của cả Trung ương, là những cơ sở ĐTBD chuyên sâu trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là QLNN…. Đây là một trong những lợi thế lớn nhất trong công tác bồi dưỡng công chức các phường của thành phố Huế
- Địa bàn các phường có sự gắn kết, điều kiện giao thông thuận lợi, từ đó các hoạt động bồi dưỡng, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm theo đó cũng được thuận lợi hơn. Công tác kiểm tra, chỉ đạo của thành phố đối với các phường được thuận lợi. Các phát sinh, đề xuất, vướng mắc được nhanh chóng phát hiện, qua đó, tình hình thực thi công vụ của công chức các phường dễ dàng nắm bắt, các chế độ, chính sách đảm bảo thực hiện đúng, đủ và hiệu quả
- Đội ngũ công chức các phường của thành phố Huế không ngừng học tập, bồi dưỡng, nâng cao năng lực kỹ năng của bản thân, đây là điều kiện thuận lợi cho công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức của thành phố.
- Chất lượng đời sống kinh tế – xã xội, mặt bằng dân trí của thành phố Huế cao so với mặt bằng chung của cả nước, do đó chất lượng nguồn tuyển dụng công chức của thành phố Huế được đảm bảo. Đây là cơ sở quan trọng tạo nên hiệu quả trong công tác bồi dưỡng công chức.
- Trong cuộc cách mạng 4.0, nhiều thành tựu khoa học, công nghệ, thông tin đã dược công chức cập nhật, áp dụng, trở thành một trong những công cụ quan trọng để bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hiện
- Thành phố Huế được xem là địa phương có tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội ổn định nhất cả nước, môi trường phát triển kinh tế thuận lợi. Từ đó, thành phố Huế có điều kiện đầu tư kinh phí, mua sắm thiết bị, phương tiện cho đội ngũ công chức các phường. Đồng thời, chế độ chính sách cho công chức các phường được thực hiện tốt, trong đó có công tác bồi dưỡng.
2.2.2. Khó khăn
- Thành phố Huế đứng trước cơ hội, cũng như thách thức trong xu thế hội nhập, đặt ra cho bản thân công chức phải không ngừng vận động, nâng cao chất lượng bản thân cho nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, nếu hiệu quả công tác bồi dưỡng, sự thích nghi và năng lực của công chức không được tốt, tạo ra sức ỳ cho sự phát trển chung của toàn bộ tổ chức. Việc được Đảng, Nhà nước và tỉnh xác định là trọng điểm trong việc phát trển kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học, giáo dục và y tế tạo áp lực lớn trong công tác bồi dưỡng nguồn nhân lực nói chung, đặc biệt là công chức các phường tên địa bàn thành phố, đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao trong quá trình hội nhập kinh tế như hiện
- Thành phố Huế được biết đến là thành phố Di tích, thành phố Festival, điều này khiến cho bản thân công chức không những phải có trình độ chuyên môn mà phải có sự am hiểu nhất định về lịch sử, văn hoá của địa phương, đồng thời, yêu cầu về công nghệ thông tin và ngoại ngữ cũng phải cao hơn so với những địa phương khác.
- Điều kiện kinh tế hộ gia đình của đội ngũ CBCC còn khó khăn, bên cạnh đó chế độ hỗ trợ của Thành phố cho CBCC tham gia các khóa ĐTBD còn quá thấp nên chưa khuyến khích được CBCC tham
2.3. Cơ sở pháp lý về bồi dưỡng cán bộ, công chức thành phố Huế
2.3.1. Các văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Nhà nước ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Xác định nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả của công chức. Nhiều chủ trương, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng được ban hành làm cơ sở pháp lý cho hoạt động bồi dưỡng công chức. Các văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức nói chung và bồi dưỡng công chức nói riêng bao gồm:
- Nghị quyết Trung ương 5 của ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về “Đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, Thị trấn”;
- Nghị quyết Trung ương 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về “Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp”;
- Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của chính phủ về chức danh, số lượng, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã;
- Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 nay được thay thế bằng Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
- Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 05/12/2010 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức;
- Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn;
- Quyết định 163/QĐ-TTG ngày 25/01/2016 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2025;
- Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 18/9/2018 của Thủ tướng chính phủ về việc đẩy mạnh bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với cán bộ, công chức, viên chức;
- Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã phường, thị trấn;
- Thông tư 01/201TT-BNV ngày 08/01/2018 của Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
2.3.2. Các văn bản quy định về bồi dưỡng công chức của tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Huế
- Nghị quyết số 100/2007/NQ-HĐND ngày 14/12/2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế về việc Quy định một số chính sách xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2007 – 2010 và đến năm
- Quyết định 1812/2008/QĐ-UBND ngày 11/8/2008 được thay thế bằng Quyết định 06/2013/QĐ-UBND ngày 29/01/2013 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc ban hành Quy định một số chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế
- Nghị quyết số 27/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế về sửa đổi, bổ sung một số Điều tại Nghị quyết số 100/2007/NQ-HĐND ngày 14/12/2007 của HĐND tỉnh Khóa X và một số chính sách xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến 2020 ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
- Quyết định số 37/2013/QĐ-UBND ngày 30/12/2013 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành Quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Quyết định số 36/2013/QĐ-UBND ngày 30/12/2013 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành Quy định về chế độ trợ cấp đi học và công tác quản lý đối với người được cử đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài.
- Quyết định số 155/2009/QĐ-UBND ngày 25/11/2015 của UBND Thành phố Huế về việc ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2016 – 2020.
- Kế hoạch số 2418/KH-UBND ngày 26/5/2015 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc triển khai Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 16/01/2014 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án tiếp tục củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên giai đoạn 2014-2020 về nội dung ĐTBD cán bộ, công chức phường.
- Quyết định số 493/QĐ-UBND ngày 31/3/2016 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016-2020.
- Quyết định số 494/QĐ-UBND ngày 31/3/2016 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc Phê duyệt điều chỉnh Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Thừa Thiên Huế năm
- Quyết định số 2022/QĐ-UBND ngày 05/9/2017 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2020
2.4.Thực trạng công chức phường trên địa bàn Thành phố Huế
- Thực trạng về số lượng, giới tính, cơ cấu độ tuổi.
Tính đến 31/12/2018, toàn thành phố Huế có 277 công chức các phường, trưởng thành đa phần đều là dân bản địa, cư trú và sinh sống tại địa phương, được rèn luyện và trưởng thành từ thực tiễn.
Tổng số công chức 6 chức danh của các phường trên địa bàn thành phố Huế đến tháng 12/2018 có 297 công chức trong tổng số 568 cán bộ, công chức các phường trên địa bàn thành phố Huế. Trong đó có 211 Đảng viên, 100% công chức là người kinh. ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Xét về cơ cấu độ tuổi, công chức ở độ tuổi dưới 35 chiếm 51.8%. Cơ cấu này ảnh hưởng lớn đến trình độ năng lực và khả năng hoàn thành công việc. Công chức trẻ có lợi thế về sức khỏe, năng động, dễ dàng thích ứng với sự biến động của xu thế hiện tại, khả năng tiếp thu cao, dễ dàng nắm bắt được sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, nhu cầu bồi dưỡng để nâng cao năng lực bản thân lớn. Tuy nhiên công chức trẻ lại thiếu bề dày kinh nghiệm, kỹ năng sống, mối quan hệ với quần chúng hẹp hơn so với công chức lớn tuổi.
Sở dĩ đội ngũ công chức phường có tỷ lệ trẻ cao là vì theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định các chức danh công chức phường phải có những tiêu chuẩn về bằng cấp, trình độ chuyên môn. Bên cạnh đó, Thành phố Huế có chính sách thu hút nguồn nhân lực công tác tại phường nên số lượng công chức phường hầu hết mới được tuyển dụng thu hút trong những năm gần đây để phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
Ngoài chức danh chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự phường là không có nữ, tỷ lệ nam nữ của công chức các phường không có sự chênh lệch lớn về giới tính.
- Trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ công chức phường
Tham chiếu với tiêu chuẩn công chức theo quyết định số 04/2004/QĐ- BNV ngày 16/04/2004 của Bộ trưởng Bộ nội vụ về việc ban hành tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức phường, thị trấn thì trình độ học vấn của đội ngũ công chức phường tại thành phố Huế đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định và ở mức cao so với mặt bằng chung của các phường, xã của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây chính là cơ sở quyết định tới khả năng tiếp thu và thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
Từ bảng trên ta có thể thấy số công chức có bằng cao đẳng, đại học và sau đại học chiếm tỷ lệ khá cao, tăng trưởng theo từng năm, chiếm tỷ lệ 89%, đây là tỷ lệ khá cao trong mặt bằng chung công chức cấp xã của cả nước.
- Nội dung đào tạo, bồi dưỡng và việc vận dụng kiến thức được đào tạo, bồi dưỡng của công chức phường
Bảng 2.4 cho thấy, số công chức có chuyên môn nghiệp vụ trên lĩnh vực tài chính, kinh tế chiếm tỉ lệ cao nhất và có xu thế tăng dần qua các năm. Số công chức ở các lĩnh vực chuyên môn khác qua các năm không có nhiều biến động. Qua tìm hiểu thì xu hướng chung công chức thường chọn lĩnh vực nâng chuẩn theo chuyên môn mình được ĐTBD trước đây để rút ngắn thời gian học. Đây cũng là xu hướng tốt vì như vậy sẽ rút ngắn được thời gian bồi dưỡng; công chức có thời gian để làm việc nhiều hơn. Qua đó chúng ta cũng có thể thấy nếu không có sự định hướng trong công tác ĐTBD thì dễ dẫn đến tình trạng một số chức danh sẽ bị thừa và số chức danh sẽ bị thiếu công chức.
Qua bảng 2.4, chúng ta nhận thấy hàng năm vẫn còn tồn tại một lượng công chức không sử dụng đúng chuyên môn được đào tạo, mặc dù tỉ lệ này giảm dần qua các năm, song vẫn còn khá cao. Điều này gây lãng phí kinh phí đào tạo đồng thời không phát huy được khả năng chuyên môn của công chức.
2.5. Thực trạng công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho công chức phường của Thành phố Huế
2.5.1. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp đối với công tác bồi dưỡng, công chức phường ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC là công tác bồi dưỡng, đặc biệt là bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN. Vì vậy, sự quan tâm sâu sát của cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp đối với bồi dưỡng công chức có ý nghĩa quan trọng, tác động trực tiếp đến kết quả, chất lượng bồi dưỡng. Sự quan tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng được thể hiện bằng các chương trình, kế hoạch hành động, Nghị quyết chuyên đề về công tác bồi dưỡng; tổ chức triển khai thực hiện, trong đó có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng; thường xuyên theo dõi, giám sát, kiểm tra, đồng thời có những sự điều chỉnh khi cần thiết.
Sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đối với bồi dưỡng cán bộ, công chức còn phải thể hiện ở việc phân bổ kinh phí thỏa đáng cho công tác ĐTBD; đầu tư cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập; điều kiện sinh hoạt của học viên.
Trong phạm vi cơ quan, đơn vị, vai trò của cấp ủy, thủ trưởng đơn vị thể hiện từ công tác quy hoạch cán bộ, xem xét nhu cầu, cử công chức tham gia các khóa bồi dưỡng thích hợp, đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho công chức dành thời gian cần thiết cho quá trình học tập. Sự liên hệ chặt chẽ giữa cơ sở ĐTBD với lãnh đạo cơ quan, đơn vị cử người đi học cũng là yếu tố tác động tích cực đến tinh thần, thái độ học tập của học viên. Mối liên hệ đó còn có tác dụng giúp các cơ sở ĐTBD, các nhà quản lý và đội ngũ giảng viên rút kinh nghiệm, điều chỉnh về chương trình, phương pháp cho phù hợp với đối tượng, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác ĐTBD.
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở và các chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các nghị định, quyết định của Chính phủ về ĐTBD cán bộ, công chức phường; Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, đề án, các cơ chế chính sách và các giải pháp thực hiện cụ thể. Tỉnh ủy đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương rà soát, đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC ở xã, phường, thị trấn để tham mưu UBND tỉnh trình HĐND thông qua kế hoạch, chỉ tiêu, kinh phí ĐTBD cán bộ, công chức các cấp.
Trên cơ sở các chủ trương, chính sách của tỉnh, các sở, ngành, các thành uỷ, HĐND, UBND thành phố đã có các giải pháp cụ thể để triển khai thực hiện đến các phường.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các chương trình, đề án về bồi dưỡng công chức phường ở thành phố Huế vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần tập trung khắc phục, đó là: ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Mặc dù Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, nhưng Thành uỷ, HĐND, UBND Thành phố chưa thật sự vào cuộc, chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và bố trí nguồn lực thực hiện; chưa xây dựng được các kế hoạch, đề án về bồi dưỡng công chức tại địa phương; thậm chí còn có tư tưởng xem đây là công việc của tỉnh, của cấp trên.
Các văn bản chỉ đạo về công tác cán bộ được ban hành tương đối nhiều, nhưng hệ thống văn bản chỉ đạo về bồi dưỡng công chức phường còn thiếu. Đến nay tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn chưa có Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh uỷ, HĐND về công tác bồi dưỡng công chức phường; UBND tỉnh chưa xây dựng được Đề án, kế hoạch bồi dưỡng công chức phường cho cả giai đoạn.
Hoạt động bồi dưỡng chủ yếu vẫn xuất phát từ sở Nội vụ, Phòng Nội vụ thành phố vẫn chưa chủ động trong việc đề xuất cử công chức tham gia các khoá bồi dưỡng, vẫn còn phụ thuộc vào Sở Nội vụ tỉnh.
2.5.2. Thực trạng công tác bồi dưỡng công chức của các cơ sở Đào tạo và Bồi dưỡng
Thành phố Huế là nơi có nhiều cơ sở ĐTBD CBCC của địa phương và cả Trung ương như: Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia tại thành phố Huế chuyên đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hành chính của cả khu vực miền Trung; Trung tâm bồi dưỡng cán bộ tài chính miền Trung chuyên bồi dưỡng cán bộ tài chính của cả khu vực miền Trung, Trường bồi dưỡng nghiệp vụ Thuế của Tổng cục Thuế, Trường chính trị Nguyễn Chí Thanh, trung tâm bồi dưỡng chính trị thành phố Huế cùng hệ thống các trường đại học của Đại học Huế…. Đây là một trong những lợi thế lớn nhất trong công tác bồi dưỡng công chức các phường của thành phố Huế
Đội ngũ giảng viên, báo cáo viên tại các cơ sở ĐTBD trên địa bàn tỉnh đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành về giảng viên và báo cáo viên, đa phần đã cập nhật được công nghệ thông tin ứng dụng vào việc giảng dạy. Để gắn lý thuyết với thực tế, nâng cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng, các cơ sở bồi dưỡng chủ trương kết hợp giảng viên cơ hữu, giảng viên kiêm chức và giảng viên thỉnh giảng tham gia giảng dạy ở các lớp bồi dưỡng.
Hiện nay đội ngũ giảng viên, báo cáo viên tại các cơ sở bồi dưỡng có nhiều bất cập. Một số lượng lớn giảng viên, báo cáo viên là người lớn tuổi, cập nhật khoa học kỹ thuật và ngoại ngữ khó khăn, mặc dù họ là những người có bề dày kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học nhưng khả năng cập nhật và áp dụng tiến bộ công nghệ cũng như phương pháp giảng dạy hiện đại là điểm hạn chế trong hoạt động bồi dưỡng. Đa phần những giảng viên này đã sử dụng bài giảng điện tử, nhưng chỉ là dạng trình chiếu, chưa thực sự ứng dụng sâu khoa học kỹ thuật vào bài giảng. Một số giảng viên, báo cáo viên vẫn sử sụng phương pháp dạy học một chiều, bảo thủ, ngại đổi mới, ít cập nhật nội dung, phương pháp mới vào bài giảng dẫn đến sự thu hút, hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng không cao, dễ gây nhàm chán đối với người học. Đây là điểm hạn chế tại một số đơn vị tổ chức bồi dưỡng. ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Mặt khác, một số cơ sở ĐTBD, đội ngũ giảng viên đa phần là người trẻ tuổi. Đây là đội ngũ giảng viên năng động, khả năng tiếp thu và điều chỉnh cao, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và ngoại ngữ tốt. Trong thời đại cách mạng 4.0, đây là lợi thế của những cơ sở ĐTBD. Tuy nhiên hạn chế của đội ngũ giảng viên trẻ này là kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Nguồn giảng viên đa số được tuyển dụng từ các trường đại học, ít kinh qua thực tiễn hành chính công hoặc quản lý khu vực công. Do vậy nội dung bài giảng đôi khi vẫn mang tính lý thuyết, lý luận chung, chưa cụ thể vào từng đối tượng được bồi dưỡng. Việc luân chuyển giảng viên tham gia công tác bồi dưỡng ít được thực hiện, do đó thế mạnh của giảng viên đối với một số chuyên đề chưa được phát huy tối đa trong hoạt động bồi dưỡng. Việc phân bổ giảng viên trong các khoa, ban, bộ môn chưa đồng đều, một số chuyên đề chưa có giảng viên chủ chốt, thậm chí là chưa có giảng viên đúng chuyên ngành. Hàng năm, Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia tại thành phố Huế tổ chức một đến hai khóa bồi dưỡng năng lực, kỹ năng và phương pháp sư phạm cho giảng viên QLNN, nguồn kinh phí từ ngân sách Bộ Nội vụ cấp cho Học viện Hành chính, tuy nhiên, số lượng giảng viên đăng ký hạn chế, đa phần là giảng viên trẻ, ít có giảng viên lớn tuổi tham gia khóa học.
Việc thông qua bài giảng của giảng viên tại một số cơ sở bồi dưỡng vẫn còn thiếu chặt chẽ, mang tính hình thức, đối phó. Điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động bồi dưỡng
2.5.3. Nguồn lực kinh phí tổ chức bồi dưỡng công chức phường
Kinh phí bồi dưỡng công chức phường của thành phố Huế hiện nay chủ yếu lấy từ nguồn ngân sách của tỉnh Thừa Thiên Huế, ngân sách của thành phố Huế, ngồn đóng góp từ các phường, ngân sách Trung ương cấp theo chương trình, mục tiêu quốc gia, các dự án tài trợ nước ngoài và từ người học. Trên cơ sở nguồn kinh phí được phân bổ hàng năm, các phòng, ban của tỉnh và thành phố rà soát, phân bổ các nguồn lực cho công tác bồi dưỡng như tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật, thiết bị… Các đơn vị chuyên môn rà soát đội ngũ công chức để tham mưu xây dựng kế hoạch bồi dưỡng trong giai đoạn tới, đồng thời đảm bảo kế hoạch năm được thực hiện, không để tồn đọng.
Qua số liệu tổng hợp nguồn kinh phí thực hiện bồi dưỡng công chức phường giai đoạn 2015 – 2018 cho thấy, nguồn kinh phí được bố trí đã tăng qua các năm (năm 2015 là: 2.480 triệu đồng, năm 2018 là: 4.177 triệu đồng). Đặc biệt, Thành phố đã huy động được nguồn kinh phí từ các chương trình, dự án để thực hiện việc bồi dưỡng công chức phường.
Tổng kinh phí thực hiện chương trình bồi dưỡng công chức phường giai đoạn 2015 – 2018 là 12.009 triệu đồng, trong đó: Ngân sách tỉnh: 7.450 triệu đồng (chiếm 62,04%), ngân sách Thành phố: 3.805 triệu đồng (chiếm 31,68%), các chương trình, dự án hỗ trợ: 754 triệu đồng (chiếm 6,28%). Nguồn kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng công chức phường là: 7.531 triệu đồng (chiếm 62,71%).
2.5.4. Công tác xác định nhu cầu bồi dưỡng ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Xác định nhu cầu bồi dưỡng là cơ sở để lập kế hoạch bồi dưỡng phù hợp. Căn cứ định hướng phát triển của thành phố trong thời gian tới đòi hỏi đội ngũ công chức phải đẩy mạnh hơn nữa về chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác và tư tưởng chính trị để có thể thực hiện tốt những nhiệm vụ, yêu cầu ngày càng cao của vị trí được giao.
- Nhu cầu bồi dưỡng về chuyên môn. Như đã phân tích ở trên, mặc dù trình độ chuyên môn của công chức các phường so với mặt bằng chung là khá cao tuy nhiên trong bối cảnh hội nhập và phát triển cùng với nhu cầu hiện tại của xã hội đòi hỏi công chức phải tự nâng cao năng lực, kỹ năng trong thực thi công vụ của bản thân. Trong khi đó, các công chức này được đào tạo về hành chính khá hạn chế, 9% công chức có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học chuyên ngành hành chính công, đa phần còn lại là tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học thuộc các khối chuyên ngành khác. Đây là một sự thiếu hụt lớn trong nền hành chính công vụ của các phường.
- Trong bối cảnh đất nước đứng trước những thách thức, xã hội có nhiều biến động, nhu cầu người dân nhiều thay đổi, yêu cầu chất lượng dịch vụ công ngày càng cao, đòi hỏi người công chức phải có kiến thức, kỹ năng cả về chuyên môn lẫn giao tiếp hành chính để nâng cao chất lượng phục vụ người dân, thể hiện tính chuyên nghiệp, hiệu quả trong thực thi công vụ
- Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc cải cách hành chính nhà nước là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực công. Tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và thành phố Huế nói riêng chủ trương xây dựng đội ngũ công chức tinh gọn và hiệu quả, kiên quyết thay thế những công chức thiếu bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức kém, không đủ năng lực công tác, đổi mới phương thức tuyển chọn công chức quản lý theo phương thức cạnh Thông qua hoạt động bồi dưỡng, tổ chức có thể đánh giá công chức, làm cơ sở xây dựng đội ngũ công chức vừa hồng vừa chuyên để phục vụ nhân dân.
- Theo thống kê, đến năm 2018, toàn thành phố chỉ có 59/297 công chức các phường đã qua bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chưa có công chức tham gia khoá bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính. Như vậy, nhu cầu bồi dưỡng kiến thức QLNN của công chức các phường thành phố Huế là rất lớn.
- Thực hiện chr trương, chính sách của Tỉnh uỷ, Thành uỷ, HĐND, UBND tỉnh và thành phố, Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế, Phòng Nội vụ thàn phố Huế xác định nhu cầu bồi dưỡng công chức các phường giai đoạn 2016- 2020 dựa trên hồ sơ công chức và tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm của công chức. Tuy nhiên, việc đưa ra nhu cầu bồi dưỡng công chức các phường còn chung chung, chưa dựa vào nhu cầu cụ thể của từng công chức, không dựa trên đánh giá thực hiện nhiệm vụ của công chức, các nguồn lực cho hoạt động bồi dưỡng, độ tuổi, khả năng học tập…
Trên cơ sở mục tiêu bồi dưỡng đã đặt ra, các cơ quan, ban, ngành của tỉnh và thành phố có sự phối hợp chặt chẽ trong việc hướng dẫn, rà soát người học và lựa chọn đối tượng bồi dưỡng phù hợp. ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
- Tổ chức thực hiện bồi dưỡng
Xây dựng chương trình bồi dưỡng
- Bám sát Kế hoạch bồi dưỡng công chức theo từng năm, từng giai đoạn, Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế, UBND thành phố và phòng Nội vụ thành phố phối hợp với các đơn vị tổ chức bồi dưỡng, xây dựng chương trình bồi dưỡng cho từng đối tượng phù hợp với đặc điểm và tình hình thực tế tại thành phố Huế nói riêng và tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung. Các khóa học được phân bố thành từng cụm phường, có vị trí địa lý và đặc điểm tương đồng nên khi trải nghiệm, nghiên cứu thực tế thuận tiện hơn.
- Một số chương trình bồi dưỡng công chức còn nặng về lý thuyết, lý luận chung, chưa bám sát yêu cầu thực tiễn, chưa đi sâu vào kỹ năng thực thi công vụ tại cơ sở. Trong khi đa phần là công chức phường tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm chuyên môn chưa sâu, kiến thức được đào tạo chủ yếu ngoài công việc, yêu cầu bồi dưỡng cho đối tượng này là cụ thể, thực tế, ứng dụng cao.
- Chương trình một số khóa bồi dưỡng còn trùng lặp, thời gian nghe giảng nhiều, trao đổi, thảo luận ít, do đó các kỹ năng ít có cơ hội thao diễn, rèn luyện, các kiến thức kỹ năng không được ghi nhớ sâu.
Phương pháp bồi dưỡng
- Để công tác bồi dưỡng có chất lượng, hiệu quả, phương pháp bồi dưỡng có vai trò quan trọng. Phần lớn người được bồi dưỡng là công chức có trình độ nhất định, đã qua thực tiễn, có kinh nghiệm công tác, có khả năng tự học, tự nghiên cứu, đánh giá và phân tích vấn đề, vì vậy phương pháp bồi dưỡng đối với những công chức này không giống với đối tượng là sinh viên, tập sự. Phương pháp bồi dưỡng đối với đối tượng này chủ yếu là nhóm phương pháp dạy học hai chiều và nhóm phương pháp thực nghiệm. Trên cơ sở nêu vấn đề, gợi mở, hướng dẫn, đóng vai và xử lý tình huống, hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng được nâng cao.
- Sau mỗi khóa học, tổ chức cho học viên đi nghiên cứu thực tế, thực tập rút kinh nghiệm khiến hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng được nâng cao. Nội dung nghiên cứu thực tế sát với nội dung bài học và có giảng viên hướng dẫn. Tuy nhiên, đa phần các khóa bồi dưỡng hiện nay vẫn chú trọng bồi dưỡng, nghiên cứu tại chỗ, việc tổ chức bồi dưỡng ngoài giảng đường vẫn còn hạn chế
2.5.6 Giáo trình, tài liệu ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Hiện nay, theo quy định, các chương trình, giáo trình, tài liệu ĐTBD kiến thức hành chính và QLNN cho CBCC do Bộ Nội vụ tổ chức xây dựng, thẩm định và ban hành, do vậy cần phân biệt chương trình tổng thể với chương trình cụ thể khóa bồi dưỡng do cơ sở ĐTBD trực tiếp tổ chức thực hiện. Như vậy, các cơ sở ĐTBD của các bộ, ngành, địa phương tổ chức các khóa ĐTBD theo nội dung chương trình đã được phê duyệt có sự vận dụng đặc điểm về chức năng nhiệm vụ và thực tế công tác QLNN của từng bộ phận, ngành địa phương cũng như sử dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng, khả năng của cơ sở ĐTBD. Điều này sẽ có tác dụng thiết thực đến nâng cao chất lượng ĐTBD.
Chương trình bồi dưỡng công chức cần phải được thiết kế phù hợp với nhu cầu người học là công chức; nội dung phải sát thực tiễn đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực làm việc, nhất là chú trọng việc bồi dưỡng những kỹ năng cụ thể cho mỗi loại công chức; thời gian cho mỗi khóa bồi dưỡng phải hợp lý, không quá dài gây ảnh hưởng đến cho công việc của công chức.
Nhìn chung, nội dung chương trình bồi dưỡng công chức cấp xã, hiện nay chưa bám sát yêu cầu thực tiễn, chưa phù hợp với yêu cầu công việc của công chức phường, còn nặng về lý luận chung, chưa đi sâu vào kỹ năng thực hành nghiệp vụ QLNN ở cơ sở, các kỹ năng mềm chưa thực sự được chú trọng. Trong khi xuất phát điểm về trình độ học vấn của công chức phường không đồng nhất, yêu cầu công việc của công chức phường là cụ thể cần phải giải quyết nhanh chóng. Nội dung chương trình giống nhau cho nhiều đối tượng công chức, chưa có chương trình riêng cho từng chức danh. Thời gian nghe giảng nhiều, thời gian thảo luận ít nên không có cơ hội để rèn luyện các kỹ năng, các kiến thức học không được ghi nhớ một cách sâu sắc.
2.5.7. Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá, cấp bằng, chứng chỉ
Căn cứ theo quy định hiện hành về công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức, việc kiểm tra, đánh giá công chức các phường sau bồi dưỡng luôn được quan tâm, chú trọng bởi đây là cơ sở cho việc tổ chức, sử dụng và nâng cao năng lực, hiệu quả của đội ngũ công chức các phường trong thời gian tới.
Theo quy định hiện hành, đối với các khóa bồi dưỡng theo ngạch, quy trình kiểm tra, đánh giá, cấp chứng chỉ đã được quy chuẩn bằng văn bản của Bộ Nội vụ. Tuy nhiên, việc đánh giá đối với các lớp Bồi dưỡng ngắn ngày chưa thực sự hiệu quả, chưa đánh giá đúng thực chất việc tiếp thu, vận dụng của người học.
Việc đánh giá chất lượng sau bồi dưỡng vẫn chưa được thực hiện thường xuyên và còn có tình trạng nể nang, né tránh.
2.5.8. Chính sách hỗ trợ, khuyến khích công chức phường tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng
Cùng với các chính sách của Trung ương, tỉnh, Thành phố Huế đã ban hành các chính sách về hỗ trợ, khuyến khích CBCC phường tham gia các chương trình ĐTBD để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Hỗ trợ về thời gian
Các chương trình ĐTBD hiện nay được thiết kế khá đa dạng về thời gian và hình thức tổ chức. Có chương trình học tập trung trong khoảng thời gian 2- 5 ngày cũng có khóa diễn ra trong trong 2 – 3 tháng như chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyên viên chính. Vì vậy, bố trí, sắp xếp công việc để công chức có đủ thời gian để theo học các khóa bồi dưỡng là một yêu cầu quan trọng. Điều này phụ thuộc rất lớn vào lãnh đạo cơ quan, thủ trưởng đơn vị trong việc phân công công việc, bố trí sắp xếp cán bộ làm thay công việc của những người đi học. ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Hiện nay, UBND thành phố Huế có nhiều cơ chế để công chức tham gia các khóa bồi dưỡng nhưng vẫn không ảnh hưởng dến công tác chuyên môn như ưu tiên bố trí các lớp ngoài giờ, cuối tuần… để công chức có thể tham gia các khóa bồi dưỡng nhưng vẫn có thể thực hiện việc chuyên môn
- Hỗ trợ về tài chính
Kinh phí cho công tác ĐTBD cán bộ, công chức do Nhà nước cấp, được phân bổ từ ngân sách nhà nước cho các cấp chính quyền, các bộ, ngành, địa phương và tiếp tục được phân bổ đến các cơ quan, đơn vị trong hệ thống hành chính nhà nước. Công chức cử đi bồi dưỡng được hưởng nguyên lương. Nhà nước bao cấp toàn bộ kinh phí cho công tác ĐTBD.
Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều CBCC vẫn ngại khi được cử đi ĐTBD, nhất là với những người được cử đi ĐTBD tập trung, xa cơ quan, gia đình. Trong những tình huống như vậy, công việc bị xáo trộn, tổ chức cuộc sống gia đình cũng phải có những điều chỉnh nhất định, gây nên tâm lý ngại ngần đối với người được cử đi bồi dưỡng.
- Sử dụng sau khi Bồi dưỡng
Mục tiêu của bồi dưỡng là để nâng cao năng lực làm việc cho công chức, phát huy năng lực làm việc của mỗi công chức bên cạnh các yếu tố chủ quan, còn phụ thuộc rất lớn vào việc bố trí, sử dụng. Nếu công chức được bồi dưỡng về một nghiệp vụ này lại được giao công việc có yêu cầu những nghiệp vụ khác theo kiểu “học một đằng, làm một nẻo” hay bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức trách, ngạch bậc cao nhưng lại được giao một vị trí công việc thấp hơn thì công chức rất khó có thể phát huy năng lực của mình. Điều này còn gây tác động tâm lý không tốt đến những công chức khác trong cơ quan. Như thế, công tác bố trí, sử dụng công chức sau bồi dưỡng của cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có tác động quan trọng đến công tác bồi dưỡng. Vai trò đó thể hiện từ khâu quy hoạch cán bộ; sắp xếp, lựa chọn, bố trí cử công chức tham gia bồi dưỡng; sử dụng công chức sau khi bồi dưỡng một cách “đúng người, đúng việc” đến việc coi kết quả bồi dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng để xem xét đề bạt, bổ nhiệm, sắp xếp vào vị trí công việc cao hơn. Có như vậy mới tạo động lực để công chức tích cực tham gia các khóa bồi dưỡng và quyết tâm hoàn thành khóa học với kết quả cao nhất.
2.5.9. Kết quả bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho công chức phường của Thành phố Huế giai đoạn 2016-2018
Xác định công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức là nhiệm vụ quan trọng, quyết định chất lượng của công chức phường, Thành uỷ, HĐND, UBND Thành phố đã chỉ đạo các phòng ban cấp Thành phố, UBND các phường triển khai đồng bộ các giải pháp về bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, QLNN cho công chức phường.
Từ bảng 2.6 có thể thấy việc bồi dưỡng công chức phường trên địa bàn thành phố Huế trong 3 năm trở lại đây có nhiều chuyển biến tích cực, tăng trưởng rõ rệt. Năm 2016, số công chức bồi dưỡng ngạch Chuyên viên là 5 người, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ là 52 người, chiếm tỷ lệ 16% công chức các phường. Sang năm 2017 trở về sau có chuyển biến tích cực với 34 công chức được bồi dưỡng ngạch Chuyên viên và 296 công chức được bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ chiếm tỷ lệ 99%, năm 2018 là 20 công chức được bồi dưỡng ngạch Chuyên viên, 196 công chức được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
Sự tăng trưởng này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu trên cơ sở Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/1/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2020, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Kế hoạch số 2022/QĐ-UBND ngày 05/9/2017 về việc kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2020, công tác bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã của thành phố Huế được tập trung đầu tư và phát triển.
Tính đến năm 2018, 80.1% công chức chưa qua bồi dưỡng theo ngạch, đây là con số khá cao trong khi nền hành chính hiện nay điều thực hiện cải cách hành chính, đòi hỏi nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN để đáp ứng yêu cầu về chât lượng cung ứng dịch vụ công.
Số công chức các phường thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm là 571 lượt, đạt tỷ lệ 60% ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Từ bảng 2.8 có thể thấy công chức Tư pháp, hộ tịch được tham gia nhiều khóa bồi dưỡng nhất, chiếm 38.84%, sau đó mới là các chức danh công chức khác như Văn phòng – Thống kê 22,1%, Văn hóa – Xã hội 18,1%, Chỉ huy quân sự xã 11%, Địa chính – Xây dựng 8.5%, Tài chính – kế toán 1.5%.
- Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng về Thống kê – Lưu trữ
Thực hiện kế hoạch về bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, hàng năm thông qua Sở Nội vụ, UBND thành phố đã cử công chức tham gia các lớp bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức quản lý văn bản, lập hồ sơ và công tác lưu trữ cho cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Trong đó có chủ yếu là các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lập hồ sơ cho công chức Văn phòng – Thống kê của UBND các phường; bồi dưỡng kỹ năng quản lý văn bản, lập hồ sơ và công tác lưu trữ cho công chức Văn phòng – Thống kê…
- Công tác Bồi dưỡng chuyên sâu lĩnh vực QLNN về đất đai và môi trường cho công chức địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường
Xác định công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức địa chính – nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng vì đây là hết sức nhạy cảm, ảnh hưởng đến công tác an ninh trật tự trên địa bàn. Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố đã chỉ đạo các phòng ban, đoàn thể cấp Thành phố, UBND các phường, triển khai đồng bộ các giải pháp về bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, QLNN cho công chức phường trong lĩnh vực này.
Năm 2017, Sở Nội vụ đã tổ chức lớp Bồi dưỡng về khiếu nại tố cáo và tranh chấp đất đai cho công chức chuyên môn cấp xã, trong đó có 22/27 công chức địa chính các phường của thành phố Huế tham gia khóa học.
Nhóm Công chức Tư pháp – Hộ tịch thuộc nhóm được tham gia bồi dưỡng nhiều nhất. Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cán bộ Tư pháp – Hộ tịch phường ở thành phố Huế đã được triển khai thường xuyên thông qua các lớp bồi dưỡng ngắn ngày của Sở Nội vụ tổ chức.
Thông qua các khóa bồi dưỡng, công chức được cập nhật các thông tin, quy định của pháp luật; trình bày các vấn đề lý luận, nội dung kỹ thuật,…; tập trung trang bị các kiến thức, kỹ năng theo chức danh, vị trí việc làm của công chức cấp xã; hướng dẫn, chuyển giao các kỹ năng, truyền đạt kinh nghiệm trong việc áp dụng pháp luật, giải quyết các vấn đề thực tiễn cho từng lĩnh vực hoạt động, tình huống cụ thể đáp ứng yêu cầu quản lý, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Nội dung, chương trình bồi dưỡng đảm bảo chất lượng, đúng đối tượng, phù hợp với từng chức vụ của công chức Tư pháp – Hộ tịch đồng thời bám sát những nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra hiện nay ở địa phương.
- Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho công chức Tài chính – Kế toán
Nhóm công chức ít được bồi dưỡng nhất là các công chức Tài chính – Kế toán bởi vì kiến thức chuyên ngành của nhóm này đa phần đều được đào tạo trước và trong quá trình làm việc, các thay đổi về định mức, cơ chế, chính sách tài chính đã được cụ thể bằng văn bản, do đó, việc bồi dưỡng cho nhóm công chức này là không thường xuyên. ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Hàng năm, Sở Nội vụ Thừa Thiên Huế kết hợp với các cơ sở ĐTBD tổ chức bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho các công chức Tài chính – Kế toán xã phường, thị trấn. UBND thành phố Huế cũng cử các công chức tài chính – kế toán tham gia các khóa bồi dưỡng. Các công chức sẽ được nghiên cứu, được trang bị nhiều kiến thức về Tổng quan về tài chính xã; Kế toán ngân sách và các hoạt động tài chính khác ở xã; Giao dịch hoạt động tài chính xã qua Kho bạc Nhà nước; Quản lý chi Ngân sách và tài chính khác của xã; Quản lý thu Ngân sách và thu tài chính khác của xã; Quản lý tài chính dự án do xã làm chủ đầu tư; Quản lý tài sản nhà nước tại xã; đồng thời lồng ghép các nội dung chế độ tài chính kế toán hành chính sự nghiệp mới theo Thông tư số 107/2017/TT- BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính.
Hầu hết các công chức phường của thành phố Huế đã được bồi dưỡng qua các lớp này.
- Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho công chức Văn hóa – Xã hội Với đặc thù công việc là trãi rộng các lĩnh vực của đời sống địa phương, thường xuyên tiếp xúc với dân, cung ứng dịch vụ công cho nhân dân, trong khi cơ chế chính sách, quy trình của mỗi ngành thuộc lĩnh vực mà công chức đang đảm nhận lại khác nhau, phải thường xuyên cập nhật điều chỉnh, nâng cao chất lượng phục vụ dân. Do đó, nhóm các chức danh công chức Văn hóa – Xã hội thường xuyên được bồi dưỡngvè kiến thức QLNN để cập nhật kiến thức và nâng cao chất lượng phục vụ.
Thông qua các lớp bồi dưỡng của Sở Nội vụ, công chức Văn hóa – Xã hội các phường của thành phố Huế được bồi dưỡng về các các nội dung như: Nội dung cơ bản về quản lý lao động và Bảo hiểm thất nghiệp; Quy định của pháp luật trong hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; Nhiệm vụ cụ thể của công chức xã phụ trách lĩnh vực lao động, người có công và xã hội về hướng nghiệp, dạy nghề; Chính sách về lao động; Thu thập và xử lý thông tin cung – cầu lao động; Vai trò, nhiệm vụ của cơ quan quản lý cấp cơ sở đối với hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; Quy định của pháp luật, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH; Quyền lợi, trách nhiệm của người lao động khi tham gia BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện; Chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Các quy định của Nhà nước về ưu đãi đối với người có công; Triển khai các dịch vụ công tác xã hội cơ bản trên địa bàn; QLNN về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; Công tác xã hội đối với trẻ em và một số kỹ năng làm việc với trẻ em; Nhiệm vụ cụ thể của công chức cấp xã phụ trách lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội; công tác Tài chính ngành Lao động – Thương binh và Xã hội ở cấp xã.
Công tác bồi dưỡng công chức phường trên địa bàn Thành phố đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đội ngũ công chức phường sau khi được bồi dưỡng đã vận dụng đúng đắn các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào tình hình thực tiễn; phát huy được trí tuệ, khả năng lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ ở cơ sở.
Kết quả bồi dưỡng công chức hường trên địa bàn Thành phố được người học đánh giá tốt. ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Để có cơ sở đánh giá kết quả bồi dưỡng từ phía người học, học viên đã tiến hành khảo sát đội ngũ công chức phường trên địa bàn Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả về mức độ đáp ứng đối với người học sau khi tham gia các khóa bồi dưỡng thể hiện qua biểu đồ sau:
Khi được hỏi về mức độ đáp ứng của các khóa bồi dưỡng đã có 73,5% công chức cho rằng các khóa bồi dưỡng đã đáp ứng nhu cầu của họ. Kết quả phản hồi trên cho thấy công chức hài lòng sau khi được cử đi tham gia các khóa bồi dưỡng. Nhiều công chức đánh giá cao các chương trình bồi dưỡng về kỹ năng QLNN và các nghiệp vụ chuyên ngành như thanh tra, công tác văn thư, nghiệp vụ về đất đai. Tuy nhiên, có một bộ phận công chức thấy chương trình bồi dưỡng chưa đáp ứng được nhu cầu công việc, chủ yếu là chương trình chưa phù hợp với chuyên môn, bồi dưỡng các lĩnh vực mà công chức ít vận dụng đến.
Để có cơ sở đánh giá về điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, về đội ngũ giảng dạy và các tiêu chí khác, học viên đã tiến hành khảo sát thực tiễn, kết quả thu thập được tổng hợp và sắp xếp dựa trên một số tiêu chí và được thể hiện ở bảng 2.12.
Qua bảng số liệu 2.12 cho thấy 96,7% công chức đánh giá cao sự quan tâm tạo điều kiện của cơ quan cử đi học, trong đó tỷ lệ đánh giá Tốt chiếm 62,5%, tỷ lệ đánh giá Khá chiếm 34,2%. Mức độ hài lòng ở chế độ, chính sách hỗ trợ cho người đi học nâng cao trình độ thể hiện ở việc phân bố kinh phí cho công tác bồi dưỡng, điều kiện sinh hoạt của học viên, mức hỗ trợ học phí các khóa bồi dưỡng, tiền tàu xe đi lại ở ngoài tỉnh, hỗ trợ về tài liệu, về thời gian đi học: 65% công chức phường đánh giá các chế độ đãi ngộ tốt và tỷ lệ nhỏ 2,5% công chức chưa thực sự hài lòng với chế độ đãi ngộ của cơ quan khi cử công chức đi bồi dưỡng.
Mức độ đánh giá của công chức đối với các điều kiện về giảng viên, chương trình và phương pháp đào tạo ở mức Khá. Cụ thể, về điều kiện cơ sở vật chất của các cơ sở ĐTBD: 89% công chức đánh giá cơ sở vật chất kỹ thuật ở mức Trung bình khá và 2,9% công chức chưa hài lòng với cơ sở vật chất của các cơ sở; Về đội ngũ giảng viên chiếm 52,7%, chương trình đào tạo chiếm 55,3%, phương pháp đào tạo chiếm 45,5%.
2.6. Đánh giá chung về công tác bồi dưỡng kiến thức kỹ năng quản lý nhà nước công chức phường trên địa bàn Thành phố Huế
2.6.1. Những kết quả đã đạt được ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Qua phân tích thực trạng công chức phường và công tác bồi dưỡng kiến thưc, kỹ năng QLNN cho công chức phường trên địa bàn thành phố Huế cho thấy, tuy còn rất nhiều khó khăn, nhưng Thành ủy và chính quyền thành phố Huế đã có sự quan tâm đầu tư cho công tác bồi dưỡng công chức phường, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ công chức phường không ngừng được nâng lên.
- Công tác bồi dưỡng công chức phường của thành phố Huế giai đoạn 2016 – 2018 được triển khai thực hiện theo đúng chủ trương, đường lối và chính sách Đảng, Nhà nước, đúng chương trình kế hoạch về ĐTBD đã được UBND tỉnh phê duyệt. Thông qua các lớp bồi dưỡng công chức phường đã trang bị, cập nhật thêm kỹ năng, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, tích lũy thêm kinh nghiệm xử lý các tình huống thực tế, nâng cao trình độ và các kỹ năng
- Công tác xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cũng từng bước đi vào nề nếp. Trên cơ sở báo cáo nhu cầu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức của các xã, Phòng Nội vụ thành phố Huế chủ động tham mưu UBND thành phố làm tốt việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng.
Song song với kế hoạch cử công chức đi học về QLNN, bồi dưỡng nâng cao kiến thức kinh tế, pháp luật tại các cơ sở ĐTBD của tỉnh, UBND thành phố còn lập kế hoạch bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức phường tại cơ sở ĐTBD trên địa bàn Thành phố Huế nhất là tại Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia tại thành phố Huế. Đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành chức năng trong việc hướng dẫn rà soát đối tượng người học, xây dựng kế hoạch, dự toán ngân sách, thanh quyết toán tài chính; theo dõi, giám sát việc thực hiện kế hoạch ĐTBD của các đơn vị để kịp thời chỉ đạo và có những giải pháp điều chỉnh phù hợp.
- Nội dung chương trình bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ QLNN cho công chức phường trên địa bàn Thành phố cũng được xây dựng trên cơ sở thực trạng trình độ của đội ngũ công chức phường và yêu cầu cập nhật kiến thức, rèn luyện kỹ năng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Đã tập trung hơn vào các kỹ năng hành chính, chuyên môn nghiệp vụ cụ thể, như QLNN về địa chính, nhà đất; tư pháp, hộ tịch; giải quyết khiếu nại, tố cáo… giúp cho các công chức chính quyền sau các khóa bồi dưỡng về cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác.
- Hình thức bồi dưỡng công chức phường trên địa bàn Thành phố đã có nhiều đổi mới, đa dạng, phong phú hơn: Kết hợp giữa bồi dưỡng tại chỗ với gửi đi bồi dưỡng ở các học viện, các cơ sở ĐTBD trong tỉnh; kết hợp học tập trên lớp với tham quan, học tập, nghiên cứu thực tế ở các địa phương.
- Các lớp bồi dưỡng công chức phường được tổ chức dưới nhiều hình thức phong phú như: thảo luận, toạ đàm, đối thoại trực tiếp, tham quan, nghiên cứu thực tế, học tập kinh nghiệm… giúp công chức có hứng thú, say mê học tập, tìm tòi, áp dụng kiến thức, kinh nghiệm đã học được vào thực tiễn để đạt hiệu quả công tác ngày càng cao.
- Hàng năm, Thành phố dành một khoản kinh phí nhất định cho việc thực hiện chế độ chính sách đối với công chức phường được cử đi bồi dưỡng nhằm khuyến khích người học. Các lớp bồi dưỡng công chức phường đều được Thành phố hỗ trợ kinh phí, vì vậy học viên tham gia khóa học đều giảm bớt khó khăn về kinh phí. Các lớp bồi dưỡng phần nhiều được mở tại địa bàn Thành phố đã tạo điều kiện thuận lợi cho học viên vừa học tập, vừa công tác và giảm bớt kinh phí ăn ở, đi lại…
- Đội ngũ giảng viên làm công tác giảng dạy đang từng bước nâng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn, trình độ theo quy định của tỉnh, của Bộ Nội vụ và ngành chuyên môn. Để gắn lý thuyết với thực tế, Thành phố chủ trương kết hợp giảng viên cơ hữu với giảng viên kiêm chức tham gia giảng dạy ở các lớp bồi dưỡng công chức phường.
Được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng và chính quyền Thành phố, các lớp bồi dưỡng công chức phường đạt kết quả tốt; học viên tham gia đầy đủ, trách nhiệm và nhiệt tình; trình độ của công chức phường được nâng lên, tăng khả năng tham mưu, đề xuất ý kiến đóng góp cùng UBND phường xây dựng kế hoạch công tác, xác định các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.
2.6.2. Những hạn chế ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức phường trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn còn một số tồn tại sau:
- Việc quản lý công tác bồi dưỡng, quản lý cán bộ chưa được tăng cường và thống nhất trong toàn hệ thống. Khả năng nghiên cứu, đề xuất nội dung chương trình bồi dưỡng công chức phường còn hạn chế. Nội dung và thời lượng cho các chương trình bồi dưỡng công chức phường liên tục thay đổi nhưng chưa thật sự có chất lượng, chưa phù hợp với thực tế.
- Công tác bồi dưỡng công chức phường trên địa bàn thành phố chưa thật sự căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của từng chức danh công chức đảm nhận để xét cử hoặc chấp thuận cho công chức tham gia các khóa bồi dưỡng phù hợp. Vì vậy, số lượng lớn công chức không phát huy được kiến thức đã được học. Theo thống kê của Phòng Nội vụ thành phố, có hơn 60% công chức phường tham gia các khóa bồi dưỡng chưa thật sự gắn với chức danh. Điều này đã dẫn đến việc công chức phường mặc dù được chuẩn hoá về bằng cấp, nhưng chưa nâng cao được trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách ở địa phương.
- Còn thiếu những quy định, quy chế để quản lý công tác bồi dưỡng công chức phường trong toàn thành phố một cách có hiệu quả. Kinh phí phục vụ công tác bồi dưỡng dù được quan tâm nhiều hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Chưa đánh giá được hiệu quả và chất lượng của các khóa bồi dưỡng.
- Số ít công chức còn xem việc học tập chỉ để đảm bảo chuẩn hóa, học để lấy chứng chỉ. Vì vậy trong học tập chưa chịu khó, thời gian tham gia học tập chưa đảm bảo dẫn đến chất lượng, kết quả kiến thức thu được còn hạn chế.
- Công chức phường tham gia các lớp học là những người làm công tác chuyên môn tại UBND phường, vừa tham gia học tập vừa phải hoàn thành công việc chuyên môn, do đó sự chuyên tâm dành cho học tập chưa nhiều.
Do xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chưa sát nên số lượng công chức đi bồi dưỡng cùng thời điểm quá nhiều đã ảnh hưởng đến kết quả công tác ở phường.
2.6.3. Nguyên nhân của những hạn chế
- Hệ thống văn bản pháp quy về bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức phường chưa được ban hành đầy đủ, đồng bộ và kịp thời. Các quy định của pháp luật về bồi dưỡng công chức phường chưa hợp lý. Theo quy định tại Điểm e, Khoản 2, Điều 2 Thông tư số 06/2012/TT-BVN của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn: “Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị đối với công chức xã hiện đảm nhiệm”. Nhưng tại các quy định cụ thể về tiêu chuẩn công chức, không quy định công chức chuyên môn phải có trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý hành chính nhà nước với các yêu cầu cụ thể nào dẫn đến việc thực hiện quy định thiếu thống nhất.
- Đội ngũ giảngviên giảng dạy tại các cơ sở ĐTBD, chủ yếu được tuyển chọn từ những sinh viên mới tốt nghiệp. Mặc dù họ được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn nhưng chưa có kinh nghiệm thực tiễn nên việc truyền đạt kiến thức và giảng dạy gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ giảng viên và cán bộ hành chính trong các cơ sở ĐTBD còn bất hợp lý, số cán bộ hành chính chiếm hơn 60% tổng số cán bộ, giáo viên của các cơ sở.
- Hệ thống giáo trình chưa được cập nhật, đổi mới đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Nhìn chung, nội dung chương trình của các cơ sở ĐTBD trên địa bàn thành phố hiện nay vẫn thiên về giảng dạy những vấn đề thuộc lý luận chung, chưa đi sâu vào giảng dạy kỹ năng thực hành và nghiệp vụ QLNN cho đội ngũ công chức phường.
- Một số công chức phường thường xuyên thay đổi do chuyển công tác nên việc thực hiện công tác bồi dưỡng nói chung và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức ở địa phương còn hạn chế. ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
- Một số cơ sở ĐTBD chỉ quan tâm đến việc huy động các nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất mà không thật sự quan tâm đến việc đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra còn hạn chế bất cập, có nơi phát sinh tiêu cực.
- Nguồn kinh phí ngân sách địa phương cấp cho công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức phường chưa đáp ứng được yêu cầu và phụ thuộc vào nguồn ngân sách cấp trên; việc giải ngân nguồn kinh phí này thường rất chậm. Điều này gây khó khăn cho địa phương trong việc triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch Bồi dưỡng.
- Phần đông người học tiếp thu một cách thụ động, chỉ cần đủ bằng cấp, chứng chỉ quy định, học để nâng lương, nâng ngạch chứ chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu mong muốn thực hiện công vụ được tốt hơn.
Tiểu kết chương 2
Trong chương 2, tác giả đã giới thiệu khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế và ảnh hưởng của các yếu tố này đến công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức của thành phố. Trong chương này, luận văn cũng trình bày cơ sở pháp lý về bồi dưỡng cho công chức phường; thực trạng đội ngũ công chức phường trên địa bàn thành phố.
Nội dung trọng tâm của chương này, tác giả đi sâu phân tích và đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng công chức phường tại thành phố Huế. Để phân tích, đánh giá các nội dung trên, học viên dựa vào các tiêu chí đánh giá trong công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức.
Kết quả đánh giá cho thấy công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức phường tại thành phố Huế đã đạt được những kết quả bước đầu, chất lượng của đội ngũ công chức phường trên địa bàn thành phố đã được nâng lên đáng kể.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác bồi dưỡng công chức phường tại thành phố vẫn còn một số hạn chế, chất lượng bồi dưỡng công chức phường vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, có nguyên nhân chủ quan, xuất phát từ việc xác định nội dung chương trình, xây dựng cơ sở vật chất các cơ sở ĐTBD và đội ngũ giảng viên đến thái độ, động cơ của người học; có nguyên nhân từ sự chỉ đạo, điều hành của các cơ quan trung ương cũng như tổ chức thực hiện của địa phương.
Việc chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác bồi dưỡng công chức phường tại thành phố Huế giúp tác giả đề xuất phương hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức phường tại hành phố Huế trong chương 3 của luận văn ( Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay )
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
