Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế ở doanh nghiệp Việt Nam

Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh là chuyên ngành tổng hợp về lĩnh vực kinh tế, thông qua đề tài Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây các bạn đọc giả sẽ có thêm ý tưởng, tài liệu và nhiều thuật ngữ chuyên ngành từ đó giúp bạn làm bài luận tốt hơn. Đồng thời Bài mẫu Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế ở doanh nghiệp Việt Nam là một trong những mẫu luận văn hay được mình chọn lọc để gửi gắm đến các bạn. Nào, mời các bạn đọc giả cùng tham khảo nhé!

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

2.1.1. Tình hình hoạt động của các DNVVN ở Việt Nam

Nghị định của Chính phủ “về trợ giúp phát triển DNVVN“ số 90/2001/NĐ-CP ban hành thực hiện thống nhất ngày 23/11/2001 [35], định nghĩa DNVVN là “cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.. căn cứ vào tình hình kinh tế – xã hội cụ thể của ngành, địa phương, hai tiêu chí có thể linh hoạt áp dụng đồng thời hoặc một trong hai chỉ tiêu trên “ Điều 3, định nghĩa DNVVN). Trước đó tiêu chí về DNVVN chưa có quy định thống nhất nên các Bộ, ngành và các tổ chức khác thường tự đặt ra các tiêu thức để phân loại. Ngày 20-6-1998 Thủ tướng Chính phủ quy định tạm thời DNVVN với hai tiêu thức, vốn điều lệ dưới 5 tỷ động và số lao động bình quân hàng năm dưới 200 người. Với sự thống nhất mới trong Nghị định của Chính phủ, hệ thống các DNVVN tại Việt Nam chủ yếu bao gồm; các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước, các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3-2-2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Việc định nghĩa một cách rõ ràng DNVVN là cơ sở tích cực cho việc xây dựng chính sách trợ giúp phát triển từ phía Chính phủ, đánh giá đẩy đủ vai trò của DNVVN, nhìn nhận sự cống hiến tích cực của các doanh gia trong tiến trình tăng trưởng của kinh tế quốc gia. Đối với một số quốc gia khác trong khu vực APEC tiêu chí được sử dụng để sắp xếp và phân loại DNVVN cũng không hoàn toàn đồng nhất.

Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê tiến hành trên quy mô toàn quốc thời điểm 1-4-2001 [24], trong tổng số 39.762 doanh nghiệp (chưa bao gồm các doanh nghiệp hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thuộc các ngành nông, lâm, thuỷ sản) có hơn 90% doanh nghiệp là DNVVN. Cụ thể nếu tính riêng theo tiêu chí nguồn vốn có 33.844 doanh nghiệp (85,11%), theo số lượng lao động có khoảng 37.500 doanh nghiệp (95%) là DNVVN. Các số liệu trên còn chưa tính đến khoảng 2 triệu hộ và nhóm kinh doanh theo Nghị định 66/HĐBT ban hành ngày 2-3-1992, chủ yếu là các doanh nghiệp rất nhỏ, có số vốn dưới 1 tỷ đồng và số lao động dưới 50 người trong sản xuất công nghiệp và dưới 30 người trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ. ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Xét về lĩnh vực kinh doanh, 43,67% DNVVN hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thương nghiệp, sửa chữa; 26,12% trong công nghiệp chế biến, gần 10% trong lĩnh vực xây dựng, 4,8%: nhà hàng, khách sạn, 4,5%: vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; 3,5%: kinh doanh bất động sản và dịch vụ tư vấn; 2,59%: tài chính tín dụng ; 2,24%: nông, lâm thuỷ sản; 1,1%: khai thác mỏ; hơn 1% hoạt động trong các ngành khác.

Các DNVVN phân bố tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long (55%), đồng bằng Sông Hồng (18,1%), duyên hải miền Trung (10,1%). Theo số liệu thống kê đến ngày 1-4-2001, trong tổng số 32.702 doanh nghiệp ngoài quốc doanh (bao gồm 18.226 doanh nghiệp tư nhân, 10.465 công ty nhà nước, 432 công ty cổ phần không có vốn của nhà nước và 3.187 hợp tác xã) 98,32% là DNVVN. Đối với hệ thống các doanh nghiệp nhà nước, cả nước có 5.531 doanh nghiệp nhà nước với tổng nguồn vốn tính đến thời điểm 31-12-2000 là 500.664.523 triệu đồng, trong đó nguồn vốn chủ sở hữu là 147.437.837 triệu đồng, số doanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 10 tỷ đồng chiếm 43,02% tại một số tỉnh doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ chiến trên 90%, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại, du lịch.

Hình ảnh rõ nét chứng minh sự đóng góp của các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó tỷ trọng DNVVN chiếm đa số, được phản ánh qua giá trị sản xuất công nghiệp, một bộ phận tạo ra xương sống và những nền tảng giá trị căn bản trong nền kinh tế

Tuy nhiên điều đáng để biện giải nhiều hơn đằng sau việc phân định lượng tương đối các loại hình doanh nghiệp là nhận định vai trò tầm quan trọng của chúng trong việc đóng góp vào sự phồn vinh của quốc gia nhằm hình thành và phát triển môi trường kinh doanh hợp lý, cạnh tranh công bằng giữa các thành phần kinh tế, kết hợp với các chính sách khuyến khích trợ giúp thoả đáng, tạo điều kiện cho mọi nguồn lực phát huy được sức mạnh tiềm nằng của chúng.

2.1.2. Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế Việt Nam ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Chiếm tỷ trọng khoản hơn 90% tổng số các doanh nghiệp tại Việt Nam, với sự đa dạng về thành phần sở hữu, loại hình DNVVN đã đóng góp đáng kể vào thành công trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo ổn định an ninh chính trị- kinh tế – xã hội.

Theo tiêu chí vốn, tỷ trọng DNVVN trong các loại hình doanh nghiệp chiếm hơn 95% trong số doanh nghiệp ngoài quốc doanh (99,19% doanh nghiệp tư nhân; 95,54% HTX; 89,93% công ty TNHH; 74,54% công ty CP không có vốn của nhà nước; 54,61% công ty cổ phần có vốn của nhà nước) 87,53% doanh nghiệp nhà nước. Với đặc trưng gọn nhẹ, năng động, các DNVVN có một số ưu thế rõ rệt

Theo số liệu tính toán của Bộ kế hoạch và đầu tư [17], tỷ trong GDP của khu vực ngoài quốc doanh trong toàn bộ nền kinh tế chiếm khoảng 65%, trong đó khu vực cá thể không đăng ký kinh doanh (chủ yếu là cá thể và hộ gia đình trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp) chiếm khoảng 28,4%, do vậy tỷ trọng GDP của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh có đăng ký kinh doanh theo luật khảong 36,6% trong đó DNVVN đóng góp khoảng 19, trong tỷ trọng GDP của khu vực doanh nghiệp nhà nước (khoảng 35%) khu vực DNVVN chiếm khoảng 1/5; khu vực DNVVN tạo ra khoảng 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp hàng năm.

Khu vực ngoài quốc doanh (trong đố đại bộ phận là DNVVN) chiếm tới 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá, sản xuất ra 100% sản lượng của một số loại sản phẩm công nghiệp như đồ mộc, mây tren đan, thủ công mỹ nghệ.

Thực tế cho thấy, các DNVVN có thể sản xuất nhiều loại hàng hoá, đa dạng phù hợp với quy mô và dung lượng thị trường phân tán; có khả năng giải quyết công ăn việc làm tại chỗ, khai thách các nguồn nguyên liệu địa phương, đóng góp đáng kể vào nỗ lực cân đối phát triển phân bổ lao động đặc biệt là lao động nông nhàn, đưa các hình thái sản xuất công nghiệp tới nhiều vùng dân cư khác nhau, góp phần giảm bớt khoảng cách chênh lệch khu vực, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Sự phát triển của các DNVVN thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá và đa dạng hoá ngành nghề góp phần duy trì và phát triển các làng nghề thủ công, gìn giữ giá trị văn hoá dân tộc, đồng htời tạo điều kiện xây dựng và rèn luyện một đội ngũ doanh nhân mới thích ứng với kinh tế thị trường.

DNVVN nhà nước, theo số liệu thống kê năm 2000 cho thấy, số doanh nghiệp nhà nước có quy mô vốn trên 10 tỷ đồng chiến 20%, vốn 5-10 tỷ đồng chiếm 15%, vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm 65%, trong đó 26% có vốn dưới 1 tỷ đồng, như vậy DNVVN trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 80%. Trước 1990, trong nền kinh tế tập trung, doanh nghiệp nhà nước chiếm đa số, gần như ở vị trí độc tôn và đảm bảo cung cấp, cân đối hầu hết các yêu cầu của xã hội, doanh nghiệp nhà nước là lực lượng chủ yếu thực hiện nhiệm vụ phát triển nền kinh tế, đóng góp vào ngân sách nhà nước, việc phát triển doanh nghiệp nhà nước rất được chú trọng.

Số liệu thống kê về tổng sản phẩm trong nước (theo giá hiện hành và phân theo thành phần kinh tế) và mức đóng góp đầu tư của các thành phần kinh tế đã minh chứng thêm về vai trò và sự đóng góp của các loại hình doanh nghiệp trong đó tỷ trọng DNVVN chiếm đa số, đối với sự phát triển của kinh tế Việt Nam

Có thể bạn quan tâm:

DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ – BẢNG GIÁ

2.2.1. Thực trạng năng lực cạnh tranh của các DNVVN ở Việt Nam ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Mọi tư duy đều hướng đến tiêu điểm là nâng cao năng lực cạnh tranh, duy trì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phản ánh kết quả kinh doanh tổng hợp với những chỉ số cơ bản dưới dạng chỉ tiêu định tính và định lượng, thể hiện chủ yếu thông qua: doanh thu, lợi nhuận, thị phần, uy tín nhãn hiệu, khả năng điều chỉnh giá, mức quản lý giá (mức độ hạ thấp giá, khả năng điều chỉnh giá, mức chiết khấu và tính phân tán trong chính sách phân hoá giá..) mức độ ràng buộc và liên kết trong hệ thống phân phối tiêu thụ hàng hoá, hiệu quả của hoạt động quảng cáo và xúc tiến thương mại, trình độ công nghệ, độ rộng của các cấp độ chất lượng sản phẩm tương thích với các mức giá, tính phong phú của hàng hoá, chất lượng dịch vụ hỗ trợ, độ nhạy cảm với thị trường của đội ngũ cán bộ..

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm luôn được xem xét phân tích trong mối quan hệ thuộc ngành. Theo điều tra do tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) và Viện chiến lược phát triển (DSI) thuộc bộ kế hoạch và đầu tư, thực hiện tháng 4-1998 [26,27] đã cho thấy vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam (tính theo ngành).

Sức khoẻ của doanh nghiệp được tạo ra thực sự từ cấp vi mô – liên quan đến khả năng của doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có hiệu quả, hỗ trợ việc nâng cao mức lương và lợi nhuận cao trên đồng vốn đầu tư. Trong môi trường vi mô đó có hai nhóm vấn đề quan hệ tương hỗ (xem hình 2.3): sự kết hợp giữa các hoạt động nghiệp vụ và chiến lược của công ty với chất lượng của môi trường kinh doanh vi mô. Trong đó, môi trường kinh doanh vi mô có thể được coi là sự ảnh hưởng của bốn nhóm nhân tố (xem hình 2.4): môi trường chiến lược và cạnh tranh của công ty, địa hình các dạng chiến lược đầu tư mà công ty theo đuổi và cường độ cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh; điều kiện đầu vào như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người, vốn và hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ thông tin; điều kiện của người mua và các hành vi mua đặc trưng; các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan.

Đánh giá năng lực cạnh tranh hiện tại của các doanh nghiệp Việt Nam, Diễn đàn kinh tế thế giới đã xếp hạng tính cạnh tranh của Việt Nam thông qua chỉ số cạnh tranh hiện tại năm 2004, ở vị trí 77 trên tổng số 104 nước; năm 2003: 60; năm 2002: 65.

Cách tiếp cận của Diễn đàn Kinh tế thế giới với chỉ số CCI giúp phần nào cách nhìn toàn diện bức tranh toàn cảnh về hệ thống doanh nghiệp Việt Nam tham gia thị trường thế giới bằng thị phần các sản phẩm do các doanh nghiệp tạo ra, dựa trên các yếu tố nền móng tham gia vào việc sản xuất và chế tạo ra giá trị sản phẩm/ dịch vụ. ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Dưới con mắt của các chuyên gia kinh tế nước ngoài, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn được đo lường chi tiết trên một số các chỉ tiêu như lợi thế cạnh tranh, mô hình chuỗi giá trị, mức độ mở rộng của nhãn hiệu, năng lực đổi mới, tính độc đáo của thiết kế sản phẩm, mức độ phức hợp của quy trình sản xuất, mức độ mở rộng hoạt động marketing, định hướng khách hàng (Xem Bảng 2.11 – Phụ lục 1)…

Những số liệu cung cấp theo Bảng trên đã phần nào nói lên thực trạng cạnh tranh còn nhiều hạn chế. Để tiếp cận vấn đề sâu hơn, tìm hiểu những thụân lợi, khó khăn, nắm bắt cặn kẽ nguyên nhân của vấn đề, cần có nhìn nhận và xem xét trên cả hai giác độ: từ phía doanh nghiệp – là nhân tố chủ động, phản ánh thực trạng nội lực đảm bảo khả năng cạnh tranh, xây dựng và phát triển chiến lược cạnh tranh – và từ phía Chính phủ và thị trường dưới vai trò tạo ra tác nhân và động lực cho cạnh tranh của doanh nghiệp (Xem Bảng 2.12 – Phụ lục 2).

Nền kinh tế Việt Nam hiện đang ở trình độ phát triển thấp, xét về quan hệ thị trường ở nước ta hiện nay vừa có biểu hiện thị trường của nền sản xuất hàng hoá nhỏ, phân tán, vừa có biểu hiện của thị trường cạnh tranh hạn chế và thị trường độc quyền. Thích nghi với những điều kiện thay đổi của môi trường kinh doanh, các DNVVN Việt Nam đã bước đầu phải đối mặt với sự nghiệt ngã của cạnh tranh, số lượng các doanh nghiệp phải bước sang điểm chết – phá sản đã cho thấy phần nào sự cần thiết phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, đề xuất những giải pháp về chiến lược cạnh tranh, duy trình sự phát triển ổn định và bền vững cho doanh nghiệp. Xuất phát từ điều kiện thực tế, tư duy quản trị của các chủ DNVVN đã buộc phải tính đến những ý tưởng kinh doanh lâu dài và chuẩn bị những điều kiện cho việc triển khai thực thi các ý tưởng chiến lược đó. Tuy nhiên, những giải pháp mà doanh nghiệp tiến hành chưa đảm bảo chất lượng nội dung và tính đồng bộ, thêm vào đó tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động kinh doanh mang tính độc quyền của các doanh nghiệp lớn nhằm hạn chế cạnh tranh xảy ra khá phổ biến. Nhà nước chưa có chính sách hợp lý và bộ máy quản lý đủ mạnh để kiểm soát, khắc phục hành vi tiêu cực, đảm bảo các điều kiện cạnh tranh bình đẳng cho các đơn vị kinh tế quy mô khác nhau, thuộc các loại hình sở hữu hiệu đối với các đơn vị kinh tế độc quyền, kể cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Do vậy, nhìn chung có thể nói hầu hết các DNVVN Việt Nam chưa thực sự quan tâm đầy đủ tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh và mặt khác, một số điều kiện tiền đề quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của DNVVN phát huy ý nghĩa cũng chưa được hội tụ một cách đầy đủ. Điều này là chuyện không khó hiểu, bởi có những khó khăn xuất phát từ nhiều phía: phía DNVVN và phía thị trường, Nhà nước:

    Từ phía các DNVVN ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Những khó khăn chủ yếu:

  • Do quy mô nhỏ, năng lực hạn chế, dễ bị tổn thương trong cơ chế thị trường. Quy mô nhỏ có thể tạo ra một số lợi thế cho DNVVN nhưng thiếu vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh là hiện tượng phỏ biến và nghiêm trọng. Đặc biệt là đối với doanh nghiệp nhà nước có tới 60% số doanh nghiệp không đủ vốn pháp định theo quy định, trên 50% doanh nghiệp nhà nước không đủ vốn lưu động tương ứng với quy mô hoạt động kinh doanh. Tình trạng thiếu vốn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn trầm trọng hơn. Do đó tính khả thi của những định hướng chiến lược mở rộng sản xuất, nâng cấp quy trình công nghệ bị hạn chế và làm cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân ít chủ động tính đến các phương án này. Hậu quả dẫn xuất từ thực tế này có thể lại càng làm cho các DNVVN dễ bị lún sâu hơn vào tình trạng tụt hậu.
  • Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu, phần lớn các doanh nghiệp được trang bị máy móc thiết bị có nguồn gốc từ liên Xô, Trung Quốc, các nước Đông âu, các nước ASEAN, Bắc âu và các nước khác, thuộc các thế hệ khác nhau. Máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất đang hoạt động ở nước ta lạc hậu so với thế giới từ 10-20 năm. Hiện nay, công nghệ được coi là một thành tố chiếm tỷ trọng tương đối lớn để đo lường chất lượng sản phẩm. Sự lạc hậu của công nghệ và kỹ thuật sẽ gây khó khăn lớn cho việc xây dựng hình ảnh của Sản phẩm trong nhận thức tiêu dùng của khách hàng, trong việc khắc hoạ một số đặc tính nổi trội của Sản phẩm, ngoài ra còn làm tăng chi phí hao tổn trong quá trình sản xuất – kinh doanh, hạn chế khả năng cạnh tranh bằng giá, trong khi giá hiện thường được coi là biến số chủ yếu tạo ra năng lực cạnh tranh của các DNVVN tại các nước đang phát triển.
  • Chất lượng Sản phẩm dịch vụ thấp và không ổn định. Tính đến cuối năm 1999 chỉ có khoảng 15% Sản phẩm đạt chất lượng xuất khẩu. Số lượng doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9000 là 105 doanh nghiệp (70 doanh nghiệp nhà nước). Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ngành và tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam so với tiêu chuẩn quốc tế còn ở khoảng cách xa, do đó, chưa có đủ khả năng xây dựng những thương hiệu mạnh, có giá trị thương mại cao. Đối mặt với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, các DNVVN có hai nhành thị trường chính để lựa chọn: nhóm khách hàng trong nước và nhóm khách hàng quốc tế. Mỗi nhóm khách hàng mục tiêu có những yêu cầu và lựa chọn khác nhau về chất lượng hàng hoá, dịch vụ, vì vậy sự phân định tương đối cấp độ chất lượng sản phẩm, dịch vụ để theo đuổi yêu cầu của khách hàng mục tiêu và không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng là con đường không có trạm nghỉ của DNVVN Việt Nam.
  • Khả năng quản lý cả về kỹ thuật và kinh doanh kém. Thiếu và yếu về lực lượng lao động có kỹ thuật hoặc tay nghề, có ý thức tuân thủ kỷ luật lao động. Do một thời gian khá dài nhà nước thực hịên chính sách độc quyền ngoại thương, khi thực hiện chính sách mở cửa các doanh nhân Việt Nam gặp nhiều lúng túng khi thiết lập các quan hệ kinh doanh với bạn hàng nước ngoài. Trong quan hệ với nước ngoài những công cụ giao tiếp cơ bản còn chưa được sử dụng thành thạo, làm giảm khả năng có tiếng nói chung với các đối tác.
  • Khả năng chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ sản phẩm yếu, chưa khai thác hết tiềm năng ở thị trường trong nước, việc mở rộng thị trường ra nước ngoài còn nhiều hạn chế, do thiếu thông tin về bạn hàng, ít hiểu biết về tập tính văn hoá và thói quen tiêu dùng của khách hàng nước ngoài, uy tín nhãn hiệu yếu. ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
  • Kinh nghiệm xây dựng và quản lý chiến lược cạnh tranh rất hạn chế và có ít điều kiện để kiểm chứng đầy đủ tính hiệu quả của chiến lược cạnh tranh. Cạnh tranh trong kinh doanh luôn đòi hỏi có những thủ pháp và kỹ thuật ứng xử xuất phát từ những kinh nghiệm thực tế. Doanh nhân Việt Nam, do những điều kiện lịch sử-văn hoá nhất định, vẫn còn hạn chế trong việc cọ sát và tiếp cận với những đường lối cạnh tranh và định hình giải pháp tổng thể nhằm xây dựng và nâng cao năng lực cạnh tranh hiệu quả. Những thương vụ được tiến hành chủ yếu mang tính thụ động, tản mát chưa có chiến lược dài hạn, đôi khi mang tính “chộp giật” khó duy trì uy tín lâu dài.

Những lợi thế:

Mặc dù là nước chậm phát triển nhưng so với các nước có cùng mức độ phát triển kinh tế, DNVVN Việt Nam cũng được thừa hưởng một số lợi thế sau:

  • Trình độ dân trí nước ta ở mức độ khá, đây cũng là lợi thế nếu được tận dụng phát huy, nhất là khi nền kinh tế thế thới đang chuyển dần sang nền kinh tế hậu công nghiệp, trí tuệ và khả năng sáng tạo đang trở thành nhân tố quan trọng tạo nên sự thành công của các doanh nghiệp.
  • Kinh nghiệm của nhiều doanh nghiệp trong thời gian qua đã thể hiện được yếu tố sáng tạo, chủ động trong kinh doanh, xuất hiện trên thị trường với tư thế cạnh tranh bằng chất lượng, giá cả và hiệu quả chứ không phải là chờ đợi vào sự bảo hộ của nhà nước. Có thể khẳng định tiềm năng giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất lớn. Vấn đề đặt ra là phải biết khai thác có hiệu quả các tiềm năng đó của doanh nghiệp.
  • Trong thời gian qua số lượng các doanh nghiệp tăng trưởng khá cao, và hiệu quả kinh tế sản phẩm xuất khẩu tăng rõ rệt, phát huy được nguồn tài nguyên trong nước, sản phẩm có sức cạnh tranh với hàng nước ngoài không còn là cá biệt mà có cả hàng trăm chủng loại. Đáp ứng yêu cầu thị trường trong và ngoài nước, một số doanh nghiệp đã bắt đầu sử dụng thành công công nghệ Mặc dù những sản phẩm cạnh tranh còn chủ yếu dựa vào thế tự nhiên nhưng những kinh nghiệm bước đầu trong thời kỳ tăng trưởng cũng cho phép các doanh nghiệp Việt Nam thành thạo hơn trong các kỹ thuật nghịêp vụ kinh doanh thương mại quốc tế, có những cơ sở để tìm hiểu sâu bạn hàng, thị trường và những khác biệt về văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội và pháp luật của thị trường nước ngoài.

  Từ phía thị trường:

  • Cơ cấu ngành nghề mất cân đối nghiêm trọng. Sự chồng chéo, trùng lặp về ngành nghề, về sản phẩm trong một thị trường còn chưa được phát triển và sức mua của nhân dân còn chưa được nâng cao tạo ra một sự cạnh tranh không lành mạnh, đầu tư dàn trải trong lúc nguồn vốn hạn hẹp, các kênh huy động vốn trong xã hội lại chưa được khai thông.
  • Các doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh quá tập trung đầu tư vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong những lĩnh vực sản xuất và dịch vụ thông thường, chưa xã hội hoá rộng rãi để phát huy nội lực của toàn xã hội. Còn quá ít doanh nghiệp tham gia vào những lĩnh vực quan trọng đòi hỏi chất lượng công nghệ cao. Số liệu thống kê 1-4-2001 của tổng cục thống kê cho thấy số doanh nghiệp trong các ngành thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ, doanh nghiệp dân doanh chiếm gần 95%, doanh nghiệp nhà nước chiếm 4,7%, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài 0,5%.
  • Bên cạnh những bất lợi về thực lực nêu trên, lợi thế so sánh của Việt Nam nói chung còn thấp, chủ yếu là tài nguyên, nguồn lao động và một thị trường 80 triệu người, những yếu tố khác như: vốn, công nghệ, hàm lượng chất xám trong Sản phẩm còn ít và tác động không nhỏ đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường quốc tế.
  • Nhìn nhận về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua kim nghạch xuất khẩu, cơ cấu vốn đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không những phản ánh thực trạng sự mất cân đối về cơ cấu mặt hàng mà còn phụ thuộc quá nhiều vào một số thị trường chủ yếu.
  • Tuy nhiên xu thế hội nhập, toàn cầu hoá là cơ hội tạo ra khả năng các nguồn lực về vốn, công nghệ sẽ được tiếp cận tự do hơn, giúp cho các doanh nghiệp từng bước phát triển và nâng cao sức cạnh tranh.

  Từ phía Nhà nước: ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Trong thời gian qua, nhiều chính sách khuyến khích hỗ trợ nhằm nâng cao khả năng hoạt động của DNVVN, cũng như khả năng cạnh tranh của các DNVVN đã được triển khai. Cụ thể:

  • Xây dựng môi trường phát triển và môi trường cạnh tranh cho doanh nghiệp. Xác lập các quy định pháp lý về thành lập, đăng ký kinh doanh, hoạt động và giải thể, phá sản doanh nghiệp. Quan điểm quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân đã được cải thiện đán kể, chuyển từ cơ chế “chỉ làm những gì được phép” sang cơ chế “được làm những gì mà pháp luật không cấm “ cùng với Luật khuyến khích đầu tư trong nước (Quốc hội thông qua ngày 22-6- 1994) đã góp phần làm cho nền kinh tế trở nên sôi động và linh hoạt hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của cuộc sống, tác động tích cực tới sự phát triển của nền kinh tế nói chung, làm động lực cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh hịên
  • Tạo lập các thị trường cho DNVVN

+ Phá bỏ các ngăn cấm, hạn chế, cát cứ thị trường. Xây dựng một thị trường thống nhất trong cả nước, liên kết với thị trường nước ngoài.

+ Từng bước tạo lập đồng bộ các thị trường: thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước, thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động.

+ Từng bước loại bỏ các hạn chế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: cho phép các doanh nghiệp được quyền chủ động xuất nhập khẩu hàng hoá theo ngành hàng đã đăng ký (Nghị định số 57/1998/NĐ-CP), giảm dần các mặt hàng xuất nhập khẩu quản lý bằng hạn ngạch (năm 1999 có 15 mặt hàng nhập khẩu có điều kiện, sang năm 2000 chỉ có 9 mặt hàng nhập khẩu có điều kiện) chuyển sang quản lý điều tiết nhập khẩu hàng tiêu dùng thông qua thuế, bỏ dần biện pháp phi thuế quan, giảm dần các mặt hàng trong diện nhà nước quản lý giá… Ngoại trừ một số ngành hàng có tính độc quyền tự nhiên hoặc yêu cầu bảo hộ để hội nhập, phần lớn các ngành hàng khác, các doanh nghiệp đều được tự do kinh doanh.

  • Mở cửa nền kinh tế, mà đặc trưng sự mở rộng và đa dạng hoá hoạt động ngoại thương, thu hút dòng đầu tư nước ngoài và hội nhập sâu sắc với hệ thống thương mại quốc tế thông qua việc gia nhập ASEAN, APEC, ký kết thực hiện nhiều hiệp định song phương và đang đàm phán xin gia nhập
  • Giảm bớt sự can thiệp kiểm soát của Nhà nước đối với thị trường

+ Mặc dù tỷ giá hối đoái vẫn nằm trong phạm vi quản lý trực tiếp của nhà nước, nhưng sự điều hành có tính chủ động và linh hoạt cao, đưa tỷ giá bám sát với thực tế thị trường (Thể hiện qua việc điều chỉnh tỷ giá trong các năm 1997, 1998, 1999)

+ Điều chỉnh các mức giá thấp trong khung quy định của nhà nước sát với sự thay đổi của thị trường quốc tế. Nới rộng khả năng áp dụng giá nhập khẩu thực tế theo hợp đồng nhập khẩu để tính thuế nhập khẩu.

+ Cải cách mạnh các hạn chế kinh doanh thông qua giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề. Cải cách mạnh mẽ hành chính nhà nước, thống nhất chủ trương để giải quyết một công việc chỉ tập trung vào một đầu mối (một cửa) và đơn giản hoá thủ tục hành chính.

+ Cải cách thuế: chuyển thuế doanh thu với nhiều mức thuế sang thực hiện thuế giá trị gia tăng (VAT) với 4 mức thuế. Nhờ đó đảm bảo hiệu lực thực hiện thuế, tạo môi trường bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế giữa các doanh nghiệp, giữa các nghành nghề, loại hình kinh doanh.

+ Tuy nhiên cơ chế “xin – cho” thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà cũng hạn chế nhiều đến khả năng áp dụng các tiến bộ mới vào kinh doanh, phát huy tính năng động, linh hoạt trong kinh doanh của doanh nghiệp ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

+ Vị thế và vai trò của các doanh nghiệp tư nhân một thời gian dài bị xem nhẹ cho nên dẫn đến nhiều vấn đề liên quan như chính sách vay vốn, khuyến khích xuất khẩu, mối liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân chưa được thiết lập. Nhìn chung, còn nhiều vấn đề cần được tháo gỡ để doanh nghiệp phát triển và nâng cao sức cạnh tranh khi tham gia vào quá trình toàn cầu hoá.

  • Các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp

+ Luật khuyến khích đầu tư trong nước thông qua ngày 29-5-1998 đã đưa ra 12 loại ưu đãi đầu tư, áp dụng cụ thể cho từng ngành, nghề, từng địa bàn được khuyến khích phát triển.

+ Tiếp cận cơ hội kinh doanh và nguồn lực của đất nước:

+ Xây dựng các kênh đối thoại, cung cấp thông tin cho doanh nghiệp.

  • Cải cách doanh nghiệp nhà nước: khu vực doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận đóng góp phần lớn cho ngân sách và giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt nền kinh tế nước ta phát triển. Hệ thống doanh nghiệp nhà nước với đặc điểm cơ bản là có số lượng nhiều nhưng phân tán, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật. Với tổng số 5.571 doanh nghiệp nhà nước, tổng số vốn nhằnớc khoảng 116.000 tỷ đồng, bình quân mỗi doanh nghiệp gần 21 tỷ đồng, số doanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm 65,4% (Tại 14 tỉnh, loại doanh nghiệp này chiếm, trên 90% chủ yếu trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại, du lịch) số doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 21%.. Năng suất lao động trong doanh nghiệp nhà nước còn thấp phản ánh thông qua chỉ số về hiệu quả sử dụng vốn (xem bảng 2.13: hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước năm 2000 tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh). Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn nhà nước thấp và có xu hướng giảm dần (1996: 11,2%; 1997:10,3%; 1998:9,1%; 1999:9,2%). Hiện nay, cả nước  có gần 6.000 doanh nghiệp nhà nước thì trong số đó chỉ có trên 40% doanh nghiệp hoạt động có hịêu quả, 44% hoạt động chưa có hịêu quả và khó khăn tạm thời; 16% kinh doanh không có hiệu quả.

Công nợ của doanh nghiệp nhà nước (nợ quá hạn, nợ khó đòi) ngày càng tăng, trong số 15,1% nợ quá hạn của ngân hàng thương mại nhà nước, doanh nghiệp nhà nước chiếm 74,8%. Năm 1996, tổng nợ là 174.797 tỷ đồng, năm 1999 tổng nợ là

199.060 tỷ đồng, nợ phải thu chiếm tới trên 62%, nợ phải trả bằng 109% vốn nhà nước trong doanh nghiệp. Mặc dù, doanh nghiệp nhà nước đã tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, chiếm 39,2% tổng nộp ngân sách nhà nước, đóng góp 40,2% GDP, nhưng cũng sử dụng phần lớn nguồn lực của nhà nước.

Sự đóng góp đích thực của doanh nghiệp nhà nước trong nguồn thu vào ngân sách nhà nước là không lớn. Có những doanh nghiệp lỗ rất nhiều nhưng vẫn nộp ngân sách một khoản tiền rất lớn, đặc biệt là những doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Sức cạnh tranh thấp trên cả thị trường trong và ngoài nước đang là điểm yếu của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập với khu vực và quốc tế.

Do vậy, cải cách doanh nghiệp nhà nước trở thành giải pháp chủ yếu trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy doanh nghiệp tăng trưởng, phát triển, đồng thời cải thiện môi trường cạnh tranh hiện nay của Việt Nam.

2.2.2. Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của DNVVN ở Việt Nam ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Theo thông báo về điều tra năm 2000 được thực hiện với 975 doanh nghiệp (không gồm các Tổng công ty 90 và 91) trên cả ba miền theo tỷ lệ: miền Bắc 37%, miền Trung 18%, miền Nam 45%. Tỷ lệ phiếu gửi về là 30%, trong đó: 57,6% là doanh nghiệp nhà nước, 37,7% là doanh nghiệp dân doanh (25,7% – công ty trách nhiệm hữu hạn, 2,9% – doanh nghiệp tư nhân; 0,5% – hợp tác xã) và 4,7% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia điều tra trong các năm được phản ánh trong bảng 2.14. trong tổng số các doanh nghiệp tham gia điều tra có 67,6% (1999:61%; 1998:56%) doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, và số doanh nghiệp xuất khẩu trên 305 sẩn phẩm sản xuất ra chiếm 43,2% (năm 1999: 41%)

a. Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Theo thang điểm từ 1 đến 5 (1- không có khả năng cạnh tranh; 5- có khả năng cạnh tranh cao)

Nhìn chung, các doanh nghiệp vẫn tự đánh giá cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ của mình và nỗ lực gia tăng năng lực cạnh tranh chống lại các xu hướng giảm giá do khủng hoảng, giá thấp của hàng ngoại nhập, hàng lậu, hàng nhái, kém phẩm chất, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn bị phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập, năm 2000 29% doanh nghiệp phải nhập trên 40% nguyên phụ liệu trong tổng số 63% doanh nghiệp có nhập nguyên liệu.

b. Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Thứ tự các biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh được các doanh nghiệp lựa chọn theo thứ tự; tăng năng suất, giảm chi phí, đổi mới thiết bị và công nghệ, sản xuất Sản phẩm mới, áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000, tuy nhiên một khó khăn trong việc áp dụng hệ thống tiêu chuẩn này đối với DNVVN là chi phí tư vấn, đào tạo, chứng nhận để được cấp chứng chỉ ISO9000 vẫn còn quá cao. Đặc biệt các vấn đề về bí quyết kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ, và thương hiệu của doanh nghiệp và sản phẩm ít được các doanh nghiệp đề cập đến.

c. Đánh giá hiểu biết về khả năng và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đối với ngành hàng của doanh nghiệp

c1. Hiểu biết về yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đối với ngành hàng của mình. 84% doanh nghiệp nắm bắt được thông tin cần thiết đối với quá trình hội nhập, 16% chưa biết về những thách thức đối với công ty trong tương lai.

C2. Tự đánh giá khi hội nhập kinh tế quốc tế

Thuận lợi hơn: 52%; khó khăn hơn: 40%; không có ý kiến 8%

C3. Biện pháp chuẩn bị cho quá trình hội nhập: ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

 Qua đó cho thấy một phần nào bức tranh toàn cảnh của các doanh nghiệp Việt Nam. Đó là những bằng chứng thực tế nhất giúp đưa ra một số nhận xét khái quát liên quan tới các điều kiện cần và đủ giúp các DNVVN nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường kinh doanh lành mạnh hơn.

  • NHỮNG THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC CỦA CÁC DNVVN Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.

Trong điều kiện của nền kinh tế Việt Nam, với khoảng 90% số lượng các doanh nghiệp là DNVVN, xuất phát điểm từ hạ tầng cơ sở yếu kém, kinh nghiệm quản lý và điều hành nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường còn thiếu, đội ngũ cán bộ và các nhân viên cần được đào tạo và đào tạo lại, bồi dường các kỹ năng tư duy chiến lược, nghệ thuật điều hành quản lý đáp ứng với những biến động, thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh hiện nay. Trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, nhận thức đầy đủ và sáng suốt những cơ hội cũng như những thách thức là bước đi đầu tiên giúp các nhà hoạch định chính sách, các doanh gia chuẩn bị hành trang tri thức nhằm ứng phó kịp thời, hiệu quả với những khó khăn có thể gặp phải.

2.3.1. Thời cơ và khả năng của các doanh nghiệp vừa nhỏ

2.3.1.1.  Thời cơ:

  • Tiếp cận nhanh chóng công nghệ tiên tiến hiện đại: thông qua con đường chuyển giao công nghệ, rút ngắn những bước đi dò dẫm, giảm chi phí trong công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, con đường phát triển này được ví như cách của những anh chàng tí hon tận dụng đôi vai của các chàng khổng lồ để có thể nhìn thế giới, tạo bước nhảy lớn, đột phá trong phát triển kinh tế cùng với nỗ lực theo kịp các nước công nghiệp phát triển. Thông qua nhiều con đường như liên doanh, liên kết, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ, thầu phụ công nghiệp, các DNVVN có thể tiếp nhận nhanh chóng công nghiệp, kỹ thuật hiện đại, nâng cao năng suất lao động, cải tiến chất lượng sản phẩm, bảo vệ thị trường nội địa và chủ động tham gia thị trường quốc tế.
  • Có cơ hội lớn hơn về thị trường để mở rộng sản xuất – kinh doanh, phát triển kinh tế. Cả trong lý thuyết lẫn thực tiễn, vai trò của thị trường đã dược khẳng định rõ nét trong việc điều tiết mọi đầu mối sản xuất, kích thích tăng cường sức mua, làm đa dạng hoá và khác biệt hoá nhu cầu, tạo ra sức hút cao đối với khả ngăng cung ứng của các công ty, chất lượng cuộc sống của người dân đang được cải thiện về lượng và chất, các nền kinh tế mang đặc trưng tiêu thụ rõ nét. Toàn cầu hoá, mở rộng tự do thương mại có khả năng tạo ra những cơ hội thị trường cho mọi loại hình doanh nghiệp, cả doanh nghiệp lớn và các DNVVN. Trên một thị trường mở, nếu như mảng thị phần lớn dễ lọt vào tay các doanh nghiệp lớn thì cũng luôn tồn tại cùng lúc những thị trường của các nhóm khách hàng nhỏ, các nhóm khách hàng khách hình thành do sự khác biệt về sức mua, thói quen, tập quán và văn hoá tiêu dùng, cũng như một loạt các yếu tố khác gắn với đặc trưng nhu cầu của từng cá nhân khách hàng. Ngoài ra, cùng với những cơn đói (nhu cầu) của các thị trường lớn có thể được đáp ứng chủ yếu bởi các tập đoàn công ty toàn cầu lớn, có uy tín và kinh nghiệm lâu năm trên thị trường thì vẫn luôn có một khoảng trống thị trường được tạo ra bởi các đợt sóng của quá trình chuyển giao các thế hệ kỹ thuật, và đây có thể là thời điểm thuận lợi cho những người đi sau. Thêm vào đó, những ngách thị trường sẽ là miền đầt màu mỡ của một số công ty trẻ, và tại đây ưu thế nổi trội dường như thuộc về các DNVVN. Thực tế trong những năm sau đổi mới, đã có nhiều điển hình của DNVVN Việt Nam với các sản phẩm thành công trên cả thị trường trong nước và thị trường ngoài nước, như sản phẩm khăn dệt doanh nghiệp Hương Sen (làng Mẹo – Thái Bình), chổi lông gà xuất khẩu (làng Triều Khúc – Hà Tây), rơm rạ xuất khẩu (Quảng Nam)
  • Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế, các quốc gia và các doanh nghiệp có thêm nhiều điều kiện để tiếp nhận nguồn vốn quốc tế với nhiều hình thức đa dạng. Hiện nay, nguồn tài chính vẫn còn là điểm nóng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là DNVVN tại các nước đang phát triển. Vì vậy, tận dụng được các nguồn vốn vay ưu đãi chính thức, vay thương mại, các nguồn viện trợ của nước ngoài, hoặc qua con đường hợp tác liên doanh liên kết, đầu tư trực tiếp của nước ngoài, các chương trình dự án hỗ trợ phát triển là con đường lựa chọn thích hợp, nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tăng cường năng lực sản xuất hàng hoá và tham gia vào quá tình thương mại hoá toàn cầu một cách thuận lợi hơn, như các chương trình, dự án của Cộng hoà Liên bang Đức (GTZ) với việc tăng cường các hoạt động đào tạo, hỗ trợ các doanh nhân trong qúa trình khởi sự doanh nghiệp, các chương trình của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) hỗ trợ doanh nhân nữ… Tuy nhiên, để khai thác được lợi thế từ nguồn vốn nước ngoài cần có sự hỗ trợ từ phía Chính phủ trong việc cải cách hành chính, tạo hành lang pháp lý cho đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo sự thông thoáng cho các thành phần kinh tế cùng tham gia khai thác thị trường. ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
  • Có điều kiện tham gia nhanh chóng vào phân công lao động quốc tế theo các dây chuyền sản xuất hoặc các công đoạn kinh doanh của các công ty lớn. Với việc mở rộng quan hệ thương mại quốc tế, sự vận động của các yếu tố nguồn lực cũng bắt đầu mang tính chuyên mốn hoá trên cấp độ quốc tế; và lao động cũng là một yếu tố quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực. Đối với các nước đang phát triển, do năng lực và hịêu quả sản xuất còn thấp, với hệ thống hạ tầng cơ sở non yếu, hệ thống phúc lợi công cộng còn ở mức thấp, công nghệ sản xuất còn lạc hậu, họ thường nhắm vào khai thách nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và lao động rẻ. Bằng việc sử dụng luân chuyển số lượng lao động lớn, kỹ năng lao động giản đơn, thuần tuý mang tính kỹ thuật sơ đẳng, các nước nghèo cũng phần nào giải quyết được những gánh nặng kinh tế – xã hội, học tập tác phong lao động công nghiệp, có kỷ luật, tự giác, chủ động, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
  • Một trong những điều kiện tiền đề thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá là sự phát triển của công nghệ thông tin – viễn thông. Kết quả của hệ thống thông tin toàn cầu còn là điều kiện để nâng cao dân trí, mở rộng giao lưu giữa các dòng văn hoá, các dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc với một thế giới mở, nâng cao năng lực đổimới và hiện đại hoá công tác quảnh lý, trao đổi những tri thức và kinh nghiệm đã được tìm tòi, đúc kết từ bao đời; hưởng thụ nền văn minh nhân loại, tiết kiệm thời gian và nguồn lực trong việc khám phá nhưng điều kỳ thú của thế giới xung quanh. Đồng thời xu thế cạnh tranh của nền kinh tế dựa trên trí tuệ, cũng là cơ hội tiềm tàng có nhềiu hứa hẹn đối với những nền kinh tế non trẻ.
  • Một hệ quả tất yếu của quá trình toàn cầu hoá là mở rộng các mối quan hệ quốc tế, mở rộng thị trường. Các mối quan hệ song phương và đa phương được thực hiện đan xen cùng các quan hệ thương mại của các doanh nghiệp càng củng cố thêm sự bền vững và tính hịêu quả trên cơ sở có sự tôn trọng lợi ích chính đáng của các thành viên. Ngoài ra tăng cường mối quan hệ quốc tế cũng đặt ra những yêu cầu và ràng buộc ngày càng cao trong việc tuân thủ luật pháp quốc tế, tạo điều kiện duy trì thế ổn định chính trị toàn cầu, cũng như trong từng khu vực và từng quốc

2.3.1.2. Khả năng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của các DNVVN ở Việt Nam

DNVVN là một tế bào có khả năng sinh trưởng nhanh nếu có môi trường phát triển thuận lợi, khả năng hội nhập của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào tính quốc tế hoá của quốc gia. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới, tính quốc tế hoá của quốc gia, chiếm trọng 1/3 trong tổng số 3 nhân tố (tính quốc tế hoá, tài chính và sáng tạo công nghệ) được đưa ra nhằm đo đếm năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo đánh giá của ngân hàng thế giới, những thành tựu mà Việt Nam đạt được đã được xác nhận rộng rãi nhưng nguy cơ tụt hậu và bị xếp vào các nước nghèo nhất thế giới vẫn luôn tồn tại, thu nhập bình quân tính theo đầu người GDP/người năm 2001 là 370USD bằng 1/6 của Thái Lan, 1/9 của Malaixia và1/80 của Xingapo (Trung Quốc; 780USD/người; Thái Lan: 1.960USD/người; Malaixia 3.400 USD/người; Xingapo 29.610 USD/người). Trên thực tế, tốc độ tăng thu nhập bình quân trên đầu người trong giai đoạn 1989-1999 của Việt Nam và các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia, Xingapo tương ứng là 5,2%; 8,0%;5,1%; 4,5% và 6,8% nhưng Việt Nam cần 15 năm, 33 năm, 44 năm và 86 năm để đuổi kịp các nước tại mức thu nhập bình quân năm 1999. Do đó, thu hẹp khoảng cách với các nước về mức thu nhập là một thách thức lớn đối với Việt Nam và phát triển kinh tế là con đường duy nhất. Dưới cách nhìn của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có một số điểm mạnh về quản lý kinh tế vĩ mô, chính sách xã hội và công bằng, trong đó có việc kiểm soát lạm phát, chính sách ngân sách, quản lý nợ nước ngoài, và chỉ số phát triển con người đều cao hơn mức trung bình của các nước khác có cùng thu nhập. Tuy nhiên, điểm yếu nhất của Việt Nam theo Ngân hàng Thế giới là cơ chế chính sách lạc hậu, thể hiện trong lĩnh vực quản lý cơ chế chính sách và chính sách quản lý khu vực công. Cụ thể về chính sách thương mại và tỷ giá, chúng ta có duy trì một hàng rào thuế quan cao và có những hàng rào phi quan thuế và hay thay đổi, chế độ tỷ giá được quản lý theo nhiều mức, vốn tài sản tại hệ thống ngân hàng còn thấp, tỷ lệ nợ không sinh lời cao, các định chế phi ngân chưa hình thành đồng bộ và kém hiệu quả, cơ chế giám sát hệ thồng ngân hàng chưa đầy đủ. Ngoài ra, môi trường cạnh tranh vẫn còn nhiều hạn chế, còn tồn tại nhiều rào cản tham gia vào các thị trường Sản phẩm, dịch vụ. Thực trạng này xuất phát chủ yếu từ đặc trưng lịch sử, có tính kế thừa từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với toàn bộ nền kinh tế bị phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp nhà nước được bảo hộ, hoạt động kém hiệu quả, có tính độc quyền cao. Hơn nữa, cùng với mức tính luỹ nội bộ và đầu tư trong nước thấp, hệ thống tài chính ngân hàng còn bao cấp, thiếu lành mạnh, còn có khuynh hướng đầu tư thiếu hịêu quả vào những ngành có vốn đầu tư cao, thời gian thu hồi vốn chậm, mang tính thay thế nhập khẩu đã làm chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Nhà nước chưa chú trọng khuyến khích DNVVN và các hình thức dân doanh nhằm giải quyết công ăn việc làm cho đội ngũ lao động dư thừa, đặc biệt ở các vùng nông thôn. Trong một báo cáo gần đây, Charles Harvie giám đốc trung tâm nghiên cứu và phát triển DNVVN của trường đại học Wollongong, New South Wales, Ôxtraaylia, đã đưa ra kết quả so sánh giữa hai nền kinh tế quá độ của Châu á là Việt Nam và Trung Quốc, trong đó tác giả sử dụng các tiêu thức chính để đánh giá mức độ khuyến khích cạnh tranh, phát triển khu vực tư nhân và tự do hoá thị trường.

  • Thách thức và những vấn đề đặt ra cho DNVVN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

2.3.2.1. Thách thức: ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Tham gia tiến trình hội nhập kinh tế các DNVVN Việt Nam cùng lúc phải đối mặt với những thách thức trong và ngoài nước. Cụ thể:

  • Các DNVVN Việt Nam có quy mô quá nhỏ bé, tiềm lực vật chất nghèo nàn. Kết quả điều tra toàn bộ doanh nghiệp năm 2001 của Tổng cục Thống kê cho thấy 85 % doanh nghiệp Việt Nam có số vốn dưới 10 tỷ đồng (tương đương khoảng 700.000 USD). Với năng lực tài chính hạn chế DNVVN Việt Nam khó có khả năng đầu tư quy trình công nghệ hiện đại để tạo ra các sản phẩm có chất lượng quốc tế. Tiềm lực vật chất nghèo nàn cũng dễ dẫn đến tâm lý “ăn xổi, ở thì” hạn chế tầm nhìn cho các chương tình phát triển chiến lựơc.
  • Trình độ công nghệ lạc hậu, trong khi sức cạnh tranh quốc gia còn quá thấp, năng lực cạnh tranh không đồng đều giữa các tập đoàn công ty và các quốc gia buộc các công ty và các quôc gia phải nhìn nhận lại cái được và cái mất trong quá trình hội nhập. Giải quyết những vướng mắc này không phải là chuyện giản đơn, vì cơ sở để giành lại thế cân bằng đang nằm trong các tiền đề đối lập nhau, đó là cạnh tranh bình đẳng và cân nhắc ưu đãi cho từng thành viên. Có thể nhìn thấy hình ảnh của khó khăn này trong từng hành vi kinh doanh cụ thể, cũng như trong bức tranh toàn cảnh của một nền công nghiệp non trẻ. So với các quốc gia khác trong khu vực DNVVN Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tình trạng máy móc thiết bị cũ, lạc hậu (tình trạng công nghệ của các DNVVN Việt Nam so với Thái Lan tụt hậu khoảng 25-30 năm) kết quả là năng suất lao động thấp chất lượng sản phẩm chưa cao, giá đầu vào cao, giá thành khó cạnh Hơn nữa, tiềm lực mỏng, nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật hạn chế, đã gây khó khăn cho quá trình chuyển giao và tiếp nhận quy trình kỹ thuật đồng bộ hiện đại, và lợi thế của người đi sau dường như chỉ là điều được nói trên lý thuyết. Thêm vào đó, cạnh tranh trong môi trường cùng lúc có nhiều đối thủ cũng trở nên khó khăn hơn, do phải phân tán các nguồn lực và phải chịu sức ép từ nhiều phía.
  • Điều kiện hạ tầng cơ sở cho sản xuất, kinh doanh của các DNVVN còn nhiều bất cập, chi phí đầu vào cho sản xuất lớn, bao gồm cả giá đầu vào và chi phí trung gian cao. Theo điều tra của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam các doanh nghiệp phải sử dụng trên 40% nguyên phụ liệu nhập khẩu, thậm trí trong một số ngành tỷ lệ này là 70-80%, điều đó làm cho nguồn cung ứng bị phụ thuộc vào hàmg lượng giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu bị hạn chế, phí hải quan, chi phí điện, nước cao, giá xăng dầu cao… và các khoản phí “lót tay” khác đã làm tăng đáng kể chi phí của doanh nghiệp
  • Định hướng hội nhập kinh tế, nhiều quốc gia cùng có xu hướng phát triển kinh tế theo trào lưu hướng ngoại, mà các kết quả nhiều khi không phải như mong đợi, mà các DNVVN non trẻ ít có cơ hội nhận được sự bảo hộ (bằng thuế và phí thuế) của Nhà nước, dẫn đến việc làm suy giảm khả năng bảo vệ thị trường nội địa. Theo lộ trình gia nhập AFTA của Việt Nam, đến năm 2006 mức thuế suất phải được giảm xuống mức 0- 5% đối với các hàng hoá trong danh mục hàng hoá sẽ được cắt giảm thuế (IL) và danh mục loại trừ tạm thời (TEL), khi đó hàng rào bảo hộ (thuế và phí thuế) đối với sản xuất trong nước không còn tác dụng. Điều này buộc các DNVVN đứng trước nhiều khó khăn, thách thức

Các DNVVN Việt Nam đang tham gia tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện của nền kinh tế quá độ, có sự chênh lệnh lớn về năng lực tổ chức, sự thiếu đồng bộ về hệ thống pháp luật. Điều này có thể tạo sự không nhất quán trong cơ cấu hành chính vĩ mô. Trong sự thay đổi này, với đặc trưng của nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ, thể chế hành chính và luật pháp Việt Nam vẫn còn cồng kềnh, chồng chéo, phức tạp, chưa đồng bộ và kém hiệu lực, đáng kể như một số thủ tục liên quan đến việc triển khai dự án đầu tư, giải phóng mặt bằng, đất đai, xây dựng, xuất nhập khẩu, hải quan, thuế… Điều này đã tạo cơ hội cho một số cá nhân ở một số cơ quan lợi dụng gây sách nhiễu doanh nghiệp, các cơ quan bị lôi kéo vào các công việc hành chính sự vụ, không quan tâm đúng mức đến việc quy hoạch phát triển chiến lược đồng bộ, đến việc xác định đúng những trọng điểm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển giữa các Bộ, Ngành. Đồng thời, vẫn tồn tại những văn bản pháp quy, quy định những điều không khả thi, thiếu minh bạch và mâu thuẫn, điều này làm cho các doanh nghiệp kém tin tưởng vào chính sách của Nhà nước và nản lòng không muốn đầu tư lớn, lâu dài để mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, xét trên góc độ toàn bộ đời sống kinh tế – chính trị – xã hội, toàn cầu hoá đòi hỏi sự thay đổi nhanh chóng và căn bản, cả từ cơ cấu hạ tầng cơ sở đến trung tâm của thượng tầng kiến trúc trong mỗi quốc gia. Sự thay đổi diễn ra từ trong nhận thức đến việc hướng dẫn hành vi, từ hệ thống mạng lưới đơn lẻ đến hệ thống mạng lưới rộng khắp và trong bản chất của bất kỳ thay đổi nào cũng luôn hàm chứa một sự xáo động, bất ổn, kéo theo đó là một hệ quả mang tính chính trị – xã hội về thay đổi cơ cấu, sự thất nghiệp, cắt giảm chỗ làm, tiền lương và phúc lợi xã hội…

  • Nguy cơ “bị lép vế“ trong việc tìm kiếm các cơ hội, hợp đồng hợp tác trong dây truyền sản xuất mắt xích giữa các doanh nghiệp lớn và các DNVVN thuộc các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển. Toàn cầu hoá được khởi phát từ các quốc gia phát triển có trình độ phát triển sức sản xuất cao, do đó họ có thế mạnh để dẫn dắt, điều chỉnh chiều hướng phát triển của toàn cầu hoá theo cách chủ yếu có lợi hơn cho các quốc gia như họ. Thông qua các hoạt động kinh tế và thương mại các nước giàu có thể áp đặt các chuẩn mực, lối sống của họ lên toàn thể giới, và các nước nghèo dẽ bị làn sóng của toàn cầu hoá lôi cuốn đi trong thế bị động. Do khác biệt về nội lực của các quốc gia, các điều kiện ràng buộc liên quan đến các nguồn tài chính quốc tế, thị trường xuất khẩu hàng hoá – dịch vụ đã khiến cho các quốc gia nghèo bị lệ thuộc nhiều hơn, các nước đang phát triển khó có thể có sự bình đẳng thực sự với các quốc gia phát triển. Nhờ ưu thế của mình, các nước giàu lại càng trở nênh giàu hơn, còn các nước nghèo càng trở nên nghèo hơn, hố sâu ngăn cách giàu nghèo giữa các quốc gia càng trở nên lớn hơn, dẫn đến việc có thể làm xói mòn một số giá trị văn hoá của các dân tộc.
  • Hơn nữa, trên thực tế phải thừa nhận một điều, bề dày văn hoá kinh doanh của các DNVVN Việt Nam trong nền kinh tế thị trường chưa hình thành một cách rõ nét. Nguyên nhân của vấn đề có thể xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, văn hoá và thói quen trong thời gian dài của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, điều này không đủ cơ sở để tạo lập sức mạnh hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên chính điều này dẫn đến việc các chủ thể quan hệ sẽ tham gia chế ước lẫn nhau trong các hành động cụ thể, và khống chế một phần cả những mặt hạn chế của quá trình toàn cầu hoá.

2.3.2.2. Những vấn đề đặt ra trong việc phát triển chiến lược cạnh tranh của các DNVVN ở Việt Nam

“Báo cáo về sản phẩm và dịch vụ có khả năng cạnh tranh” của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 16-3-2000 [18] đã đưa ra đánh giá tổng quát về khả năng cạnh tranh của nước ta, trong đó khả năng cạnh tranh quốc gia thấp, mức độ bảo hộ thực là rất cao đối với nhiều ngành công nghiệp chế tạo, ví dụ, đồ nhựa: 167%, đồ dùng gia đình: 108%, xe đạp, xe máy 59%, đồ uống không cồn: 50%, gạch và gạch ốp lát: 48%, hàng may mặc: 42%, dệt: 41%, chất tẩy rửa: 395, đường 32,4%. Đối với các doanh nghiệp, vấn đề nổi cộm là hịêu quả hoạt động kinh doanh thấp do công nghệ máy móc lạc hậu, thiếu vốn, ít chú ý đến đổi mới quản lý và phương thức kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh về chất và tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế tốt. Nhiều doanh nghiệp còn ỷ lại vào sự bao cấp và bảo hộ của nhà nước, chưa thực sự chủ động linh hoạt trong các hoạt động tổ chức quản lý và kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhiều doanh nghiệp gần như không đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, marketing, đào tạo bồi dưỡng huấn luyện. Các doanh nghiệp xuất khẩu thường phải dựa nhiều vào bạn hàng trong việc cung cấp đầu vào và thiết kế mẫu, chưa có khả năng và/hoặc ít chú ý đến việc xây dựng thương hiệu riêng cho mình, thiết kế mối quan hệ trực tiếp với khách hàng và kiểm soát kênh phân phối quốc tế ở mức độ nhất định. Ngoài ra do quy hoạch phát triển ngành trước đây đã không tính đến một ách đầy đủ các yếu tố cạnh tranh và thị trường trong điều kiện thị trường trong điều kiện kinh tế thế giới hiện nay nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp. ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Có thể thấy rõ ràng sinh lực của nền kinh tế tuỳ thuộc vào năng lực phát triển của các doanh nghiệp. Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, các DNVVN khó có khả năng tự đảm bảo tính hiệu quả cho chiến lược cạnh tranh của mình nếu thiếu đi sự trợ giúp từ phía nhà nước trong việc hình thành môi trường kinh doanh lành mạnh cùng với các chính sách khuyến khích dưới nhiều hình thức, và sự tham gia của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp như các tổ chức hiệp hội, câu lạc bộ, các tổ chức phi chính phủ…. Tuy nhiên những điều nói trên không phủ định vấn đề cốt lõi của nâng cao năng lực cạnh tranh vẫn nằm chính gốc tại các doanh nghiệp. Theo tư duy đó, tôi thấy có ba mảng vấn đề chính được đặt ra trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNVVN Việt Nam. Một là, năng lực nhận thức vấn đề và khả năng sức thích nghi của doanh nghiệp với môi trường kinh doanh [35] bằng việc xây dựng chương trình triểm khai và phát triển nguồn nội lực của các DNVVN. Hai là, sự hỗ trợ cần thiết của nhà nước đối với việc đẩy nhanh quá trình lạm mạnh hoá môi trường kinh doanh và tạo động lực nảy sinh, nuôi dưỡng tinh thần kinh doanh của các doanh gia. Ba là, tăng cường vai trò tác động tích cực của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp và công luận.

Để triển khai xây dựng các chương trình phát triển nguồn nội lực của các DNVVN, cần xuất phát từ việc đánh giá đúng thực chất những hạn chế/ khó khăn chủ yếu cũng như những ưu thế riêng của các DNVVN. Theo nhận xét của nhiều tổ chức và cá nhân các nhà nghiên cứu kinh tế, DNVVN Việt Nam hiện đang phải đối phó với năm mảng vấn đề trọng tâm: thiếu nguồn tài chính, vốn nhỏ, ít khả năng tiếp cận thị trường, hệ thống thông tin yếu, công nghệ lạc hậu, nguồn nhân lực hạn chế, hịêu quả kinh doanh chưa cao.

  • Thiếu vốn: DNVVN gặp nhiều khó khăn về vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất. Thị trường cung ứng vốn cho DNVVN chủ yếu là thị trường tài chính không chính thức. Chủ doanh nghiệp thường phải vay với lãi suất cao từ bạn bè, hoặc các cơ sở “tín dụng nhân dân”. Tình trạng thiếu vốn cũng có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng chú ý là do hệ thống ngân hàng chưa tiếp cận với nhu cầu tín dụng của loại hình doanh nghiệp này vì nguồn vốn bị phân tán, chi phí cho vay lớn, độ rủi ro cao, khó đòi nợ. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của ngân hàng về thủ tục lập dự án, các điều kiện thế chấp, và điều kiện về lãi suất; ngoài ra một số chủ doanh nghiệp không muốn vay ngân hàng vì phải công khai tài chính.
  • Trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ yếu
  • Năng lực quản lý của cán bộ lãnh đạo và trình độ tay nghề của lao động thấp
  • Thị trường eo hẹp và khả năng cạnh tranh của Sản phẩm hàng hoá thấp

– Hiệu quả kinh doanh và tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chưa cao.

Trong điều kiện kinh doanh cạnh tranh, mọi hoạt động của doanh nghiệp được đặt trọng tâm theo định hướng thị trường, nhằm đáp ứng cao hơn nhu cầu của khách hàng. Quá trình này đòi hỏi một kết quả tổng hợp của mọi nguồn lực bên trong doanh nghiệp, giá trị trong từng khâu công việc chức năng sẽ làm gia tăng tổng giá trị mà công ty cung cấp cho khách hàng của mình.

Việc tìm ra lời giải chung cho các DNVVN thuộc các ngành kinh doanh khác nhau là điều khó thực hiện, do đặc trưng khác biệt trong phương thức kinh doanh, trong hành vi ứng xử của các nhóm khách hàng mục tiêu, trong đặc tính của Sản phẩm và một loạt các yếu tố khác chi phối, ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên một số vấn đề nêu ra sau đây có thể coi như phương pháp luận tiếp cận tới điểm đích và phần còn lại được giành lại cho tài năng của các chủ doanh nghiệp, phản ứng trước những tình huống phát sinh khó định trước của môi trường kinh doanh trong thời đại của “những hón đá lăn” ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Với những điều kiện cụ thể của Việt Nam, tìm lời giải cho bài toán phức tạp của các DNVVN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cần chú trọng một số vấn đề:

Các vấn đề về nhân sự: nhiều kết quả nghiên cứu đã chứng minh rõ xu thế của các lợi thế cạnh tranh trong tương lai không phụ thuộc vào tài nguyên, vốn- tài chính, mà bắt đầy tùy thuộc rất lớn vào hàm lượng tri thức chứa đựng trong giá trị sản phẩm. Khái niệm và thuật ngữ đang được sử dụng rộng rãi “nền kinh tế dựa trên tri thức” đã phản ánh phần nào tầm quan trọng cuỉa nhân tố con người (nhà lãnh đạo – nhà quản trị và đội ngũ nhân viên thực hành nghiệp vụ). Các nhân tố về con người luôn được coi là lợi thế cạnh tranh không thể sao chép, trong xu thế chung của nền kinh tế thế giới dựa trên tri thức. Liên quan đến con người có thể có nhiều cách tiếp cận để tìm kiếm giải pháp, nhưng tựu chung có mấy điểm chính:

  • Năng lực gắn với tư chất cá nhân: những phẩm chất đòi hỏi như một năng khiếu và được nuôi dưỡng, thử thách trong môi trường cạnh
  • Tri thức kinh doanh: quá trình học hỏi, đào tạo và tái đào tạo, tích luỹ kinh nghiệm thực tế, quá trình thực tế hoá tri thức kinh doanh.
  • Đạo đức kinh doanh và việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp.

Chủ động khai thác các nguồn vốn; hịên nay khoảng 75% DNVVN có số vốn dưới 50 triệu đồng, thiếu vốn vẫn đang là khó khăn chủ yếu. Trong mấy năm gần đây, trên địa bàn thành phố Hà Nội, hoạt động tín dụng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại các ngân hàng thương mại đang gia tăng đáng kể, năm 1990 tổng dư nợ là 8,2% năm 1993; 20,3%, năm 1994: 34,5%. Cơ cấu tín dụng cũng thay đổi đáng kể, năm 1990 tín dụng cho lĩnh vực công nghiệp là 24,85, nông nghiệp 2,6%, dịch vụ: 72,6%,năm 1995 cơ cấu cho vay chuyển hướng nhiều hơn sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp với 66% tổng dư nợ, nông nghiệp là 3,4% và dịch vụ 30,6%. Trong 10 năm trở lại đây, vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho kinh doanh ngoài quốc doanh (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh, trang trại gia đình, hộ sản xuất kinh doanh) đã có nhiều thay đổi đáng kể, tính đến năm 2000 Ngân hàng công thương Việt Nam có 228.873 đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh quan hệ tín dụng thường xuyên, với dự nợ tăng từ 5.896 tỷ đồng, chiếm 50,9% tổng dư nợ năm 1997, lên 8.642 tỷ đồng, chiếm 51,6% hiện nay. Ngoài ra các doanh nghiệp cũng còn được nhận các khoản tài trợ thông qua dự án của nước ngoài như ADB, WB. Theo dự báo đến cuối năm 2005 số lượng các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tăng gấp 3 lần và đến năn 2010 tăng gấp 6,5 lần hiện nay, đạt số lượng 86.000-90.000 doanh nghiệp; các hộ kinh doanh ở đô thị tăng khoảng 20-28%, số lượng trang trại và hộ sản xuất nông thôn tăng 8-10%/năm. Hệ thống doanh nghiệp nhà nước với chương trình cổ phần hoá dự kiến đến năm 2005 số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm xuống còn khoảng 60% so với hiện nay và còn khoảng 30-35% vào năm 2010, đồng thời với chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế, Chính phủ đang thí điểm hoạt động tập đoàn kinh tế (với số vốn tối thiểu là 10.000 tỷ đồng) trong các lĩnh vực then chốt và các tổn công ty nhà nước với số vốn tối thiểu là 500 tỷ đồng ổn định các chính sách nhằm chủ động khai thác nguồn vốn sẽ có ý nghĩa lớn.

Tăng cường năng lực kinh doanh với việc phát triển các kỹ năng quản trị chiến lược và các nghiệp vụ về marketting, kế toán – tài chính, nhân sự, thông tin. Do hạn chế về nguồn lực với đặc trưng quy mô nhỏ, DNVVN càng cần thiết phải nâng cao năng lực kinh doanh thông qua phát triển hiệu quả các hoạt động chức năng. Với tư duy marketting, việc lựa chọn chuẩn sác thị trường mục tiêu để theo đuổi sẽ mở đầu cho một loạt các cơ hội đầu tư đúng, định vị Sản phẩm trong các nhóm khách hàng trọng điểm, tổ chức chủ động đáp ứng nhu cầu khách hàng. Với tiêu điểm thoả mãi ngày càng cao nhu cầu khách hàng, các công cụ marketing: sản phẩm phù hợp, mức giá thoả đáng, hệ thống phân phối thụân lợi, khuyếch trường hợp lý, sẽ giúp công ty kiểm soát tốt hoạt động sản xuất kinh doanh. Cùng với các hoạt động marketing, công tác tài chính – kế toán nhằm tạo ra sự lưu thông trong hệ thống huyết mạch của công ty sẽ cho phép công ty kiểm soát đầy đủ sự vận động của các dòng tiền và tính chi tiết của các dạng chi phí. Quản trị tốt về tài chính là một yêu cầu quan trọng cho phép DNVVN nhận định về thời điểm có thể tạo ra những bước đột phá trong danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro đồng thời nhân nhanh giá trị của vốn đầu tư. ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Năng động trong việc tiếp thu các tri thức mới để phục vụ cho sự phát triển và thích ứng với sự thay đổi mới. Nhu cầu tri thức cho phát triển cần thiết cho tât cả mọi người, thuộc mọi tầng lớp, nghề nghiệp, mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội của quốc gia. Tri thức phục vụ cho phát triển bao gồm cả tri thức bản địa lẫn tri thức hiện đại du nhập từ bên ngoài. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, các quốc gia cũng như các doanh nghiệp cần có chương trình hành động sử dụng tri thức cho phát triển với một môi trường thể chế kích thích kinh tế hướng đầu từ vào tri thức và khai thác một cách hiệu quả tri thức cho phát triển kinh tế, đẩy mạnh liên kết giữa các doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học và các cơ sở nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, tăng cường trao đổi thông tin, phổ biến tri thức và công nghệ tới khu vực sản xuất và dịch vụ, chuyển giao tri thức công nghệ hiện đại, khai thác kết cấu hạ tầng viễn thông, mở rộng khả năng truy cập các nguồn thông tin trên thế giới. Những dấu hiệu tích cực trong thời gian gần đây cho thấy mức độ sử dụng máy tính cá nhân của Việt Nam đã tăng đáng kể, số lượng truy cập internet cũng đang có chiều hướng gia tăng, từ khi chính thức được đưa vào hoạt động tháng 11-1999 đến nay số điểm truy cập internet đã phủ kín các tỉnh trên toàn quốc, với hàng trăm nghìn thuê bao. Theo số liệu của ban khoa giáo trung ương đảng (9-2000) tỷ lệ sử dụng kết cấu hạ tầng bình quân trên 100 dân của Việt Nam (so với trung bình thế giới) là : điện thoại: 2,1(14,4), điện thoại di động: 0,2(4,0) máy thu hình: 18(28) máy tính cá nhân; 0,5(5,8), thuê bao Internet; 0,001(0,01). Dịch vụ thông tin hiện nay của Việt Nam còn hạn chế trong khu vực nhà nước do nhà nước nắm độc quyền phát triển và khai thác các mạng thông tin liên tạc, nắm sở hữu hoàn toàn các mạng thông tin liên lạc cho đến các thiết bị khai thác đầu cuối, nắm quyền kiểm soát các cổng, nắm quyền định giá thống nhất, do vậy so với các nước trong khu vực giá cước dịch vụ nói chung còn rất cao, giá thuê bao đường truyền 64Kb của Việt Nam cao gấp 1,5 lần so với Thái Lan, 3,1 lần so với malaixia, 4,2 lần so với Xingapo. Ngày 8-2-2002 Thủ tướng chính phủ ra quyết định 33/2002/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch phát triển Internet Việt Nam 2001-2005, theo đó đến năm 2005, tỷ lệ dân sử dụng internet là 4-5%, mật độ bình quân là 1,3 0 1,5 thuê bao Internet/100 dân và vhiếm 2010 tỷ lệ dân sử dụng Internet đạt mức trung bình trong khu vực.

Các vấn đề về công nghệ: công nghệ ở đây được hiểu theo nghĩa là các phương tiện, công cụ, và các giải pháp kỹ thuật. Công nghệ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng Sản phẩm, tới khả năng thương mại của Sản phẩm nên chính cạnh tranh sẽ dẫn tới việc giành ưu tiên khuyến khích nâng cấp công nghệ trong điều kiện của Việt Nam, các doanh nghiệp cần tiếp tục thực hiện chuyển giao công nghệ nước ngoài và dàn xếp môi trường hiệu quả để phổ biến côngnghệ nhập khẩu. Cần nhấn mạnh rằng, việc chuyển giao công nghệ phải được tiến hành trong trạng thái đầy đủ toàn bộ bí quyết công nghệ từ các nhà cung cấp nước ngoài và phải có tính đến khả năng hấp thụ, áp dụng và nâng cấp các công nghệ nhập khẩu

Các vấn đề liên quan tới chiến lược và chính sách kinh doanh: nổi cộm trong số những khó khăn lớn của các DNVVN Việt Nam là thiếu thị trường tiêu thụ. Nguyên nhân của vấn đề có thể là rất nhiều trong đó có khả năng họach định chương trình phát triển chiến lược và hệ thống chính sách marketing hướng ra thị trường và khách hàng. ( Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )

Tư duy marketing định hướng khách hàng sẽ đặt ra những bài tập tình huống cụ thể cho từng công ty, từng ngành khi triển khai thâm nhập, duy trì thị phần, mở rộng địa dư và sức tiêu thụ Sản phẩm bằng chính năng lực cải tiến Sản phẩm, tạo khả năng trẻ hoá Sản phẩm, kép dài chu kỳ sống của Sản phẩm, chủ động loại bỏ Sản phẩm đã lão hoá, thổi sức sống mới cho Sản phẩm bằng khả năng cập nhật nhanh những công nghệ mới, kỹ thuật mới. Một điều không nên quên là mặc dù marketing hiện đại đã áp dụng thành công nhiều kỹ thuật cạnh tranh phi giá, nhưng điều đó không có ý nghĩa kiểm soát tốt chi phí, hạ giá thành Sản phẩm lại mất đi ý nghĩa căn bản, nhất là đối với các DNVVN. Do đặc trưng gắn với quy mô, bên cạnh những mặt còn hạn chế DNVVN cũng có nhiều lợi thế để tạo ra tính linh hoạt, khả năng chuyển đổi nhanh, cơ cấu quản lý gọn nhẹ (đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân). Để phát huy phần nào lợi thế, giảm thiểu những hạn chế, DNVVN có thể tăng cường sức mạnh theo kiểu tư duy “bó đũa” bằng hoạt động của các hiệp hội ngành nghề, các câu lạc bộ doanh nghiệp, hỗ trợ lẫn nhau trong việc vay vốn, chuyển giao công nghệ, học hỏi bí quyết kinh doanh, củng cố các “mối quan hệ hành lang” hợp pháp theo truyền thống văn hoá á đông.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

→ Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế ở doanh nghiệp Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537