Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

1, Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến do có sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Trước sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, mối quan tâm lớn nhất và hàng đầu của các doanh nghiệp là: lợi nhuận. Lợi nhuận quyết định sự tồn tại hay không tồn tại của doanh nghiệp. Từ tình hình thực tế, các doanh nghiệp phải thường xuyên điều tra, tính toán, cân nhắc để lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu sao cho chi phí bỏ ra ít nhất nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất với sản phẩm có chất lượng cao.

XDCB là hoạt động mang tính chất tiền đề để tạo ra cơ sở vật chất cho quá trình tái sản xuất xã hội, tạo ra tài sản cố định quyết định sức mạnh của nền kinh tế và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.Vấn đề đặt ra là làm sao quản lý vốn một cách hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát vốn trong điều kiện sản xuất XDCB trải qua nhiều khâu từ thiết kế lập dự án đến thi công, nghiệm thu, thời gian sản xuất kéo dài. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi phải tăng cường quản lý chặt chẽ đặc biệt chú trọng vào công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Nó là cơ sở giúp cho doanh nghiệp quyết định được giá bán sản phẩm có lãi và doanh nghiệp biết được sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, sau một thời gian thực tập tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền em chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền” cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục tiêu của khóa luận là vận dụng lý luận về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành đã học ở trường vào nghiên cứu thực tiễn công việc, từ đó phân tích những mặt tồn tại, góp phần hoàn thiện công tác hạch toán tại doanh nghiệp.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:

Trên cơ sở tìm hiểu tổng quan về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp, đồng thời qua nghiên cứu thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền năm 2012 từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty này.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là: kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.Trong khuôn khổ đề tài này, em lấy dẫn chứng minh họa về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm công trình “Xây dựng ký túc xá 5 tầng trường Đại học Hải Phòng” do công ty Cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền chịu trách nhiệm thi công.

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu đối tượng nêu trên trong năm 2012 tại Công ty Cổ phần Xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền

4. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa lí luận của đề tài: Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

Bài khóa luận này sẽ góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tập hợp CPSX và tính gia thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.

4.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Trên cơ sở khảo sát thực tế, phân tích, đánh giá, chỉ rõ những ưu điểm cần phát huy và những hạn chế cần nghiên cứu; những kiến nghị mà khóa luận đưa ra nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền.

5. Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ biểu, khóa luận tốt nghiệp được chia thành 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
  • Chương 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền.
  • Chương 3: Một số ý kiền đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền.

Trong quá trình tìm hiểu về lý luận và thực tế để hoàn thành đề tài này em đã nhận được sự tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn của thầy giáo, Thạc sỹ Nguyễn Văn Thụ và của các cô trong phòng kế toán – tài vụ công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền.

Do khả năng chuyên môn của bản thân còn hạn chế, nhất là trong quá trình tiếp cận với những vấn đề mới nên chắc chắn bài viết của em còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, em rất mong muốn được tiếp thu những ý kiến đóng góp chỉ bảo để em có điều kiện bổ sung nâng cao kiến thức của mình phục vụ tốt hơn cho công tác thực tế sau này.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.1 Những vấn đề chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.

1.1.1 Sự cần thiết phải tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.

Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, các doanh nghiệp cũng đã và đang nỗ lực để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình thông qua các chiến lược và biện pháp quản lý sản xuất kinh doanh nhằm tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp, có mối quan hệ mật thiết với doanh thu, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do vây, việc tổ chức kế toán đúng, hợp lý, chính xác chi phí sản xuất và tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản phẩm, trong việc kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp nói chung và ở các phân xưởng, tổ, đội sản xuất nói riêng. Thông qua số liệu do bộ phận kế toán tập hợp chi phí, tính giá thành cung cấp, nhà quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giá thành thực tế của từng loại sản phẩm, nhóm sản phẩm, của hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác trong doanh nghiệp. Qua đó, nhà quản lý có thể phân tích, đánh giá tình hình sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn hiệu quả, để từ đó có thể đề ra các quyết định quản trị doanh nghiệp sao cho hiệu quả để hạ thấp giá thành sản phẩm, giúp doanh nghiệp tự tin đứng vững trên thị trường cạnh tranh ở điều kiện khó khăn như hiện nay.

Vì vậy, tổ chức tốt công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm để đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành, xác định đúng lượng giá trị của các yếu tố chi phí đã dịch chuyển vào sản phẩm hoàn thành là yêu cầu cấp bách và ngày càng phải hoàn thiện đổi mới công tác đó là rất cần thiết đối với doanh nghiệp.

1.1.2 Đặc điểm sản phẩm xây lắp. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân, tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế quốc phòng của đất nước. Nói một cách cụ thể hơn sản xuất xây dựng bao gồm các hoạt động: xây dựng mới, mở rộng, khôi phục, cải tạo lại, hay hiện đại hoá các công trình hiện có thuộc mọi lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân (như công trình giao thông thuỷ lợi, các khu công nghiệp, các công trình quốc phòng, các công trình dân dụng khác).

Ngành xây dựng là ngành sản xuất độc lập có những điểm đặc thù về mặt kinh tế, tổ chức quản lý và kỹ thuật chi phối trực tiếp đến việc tổ chức công tác kế toán nói chung và tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng, điều này càng được thể hiện rõ qua đặc trưng về sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm đó:

Sản phẩm xây lắp là: các công trình, các vật kiến trúc…có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm lâu dài. Vì vậy doanh nghiệp nhất thiết phải lập dự toán bao gồm cả dự toán thiết kế và dự toán thi công, mua bảo hiểm cho những rủi ro có thể xảy ra đối với công trình, trong quá trình thực hiện luôn phải so sánh đối chiếu với dự toán, lấy dự toán làm thước đo.

Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu). Trong hợp đồng xây dựng đã phản ánh rõ giá bán, người mua, người bán trước khi tiến hành sản xuất sản phẩm xây lắp do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không được thể hiện một cách rõ ràng.

Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất và các điều kiện của quá trình sản xuất như người lao động, máy móc, thiết bị thi công… sẽ phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc điểm này khiến cho công tác quản lý sử dụng gặp nhiều khó khăn, việc hạnh toán về vật tư, tài sản, tiền vốn phức tạp, hơn nữa lại chịu ảnh hưởng của thiên nhiên, thời tiết và rất dễ bị mất mát và hư hỏng.

Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài, nó phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường như nắng, mưa, lũ lụt…Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý giám sát chặt chẽ sao cho đảm bảo chất lượng công trình đúng như thiết kế, dự toán. Hơn nữa nhà thầu phải thực hiện việc bảo hành sản phẩm xây lắp, theo đó chủ đầu tư sẽ giữ lại một tỷ lệ nhất định tính trên giá trị của công trình và sẽ hoàn trả lại cho nhà thầu khi hết hạn hợp đồng bảo hành.

Từ những đặc điểm trên đòi hỏi công tác kế toán vừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng nhiệm vụ kế toán của một doanh nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc tính riêng của doanh nghiệp xây lắp. Từ đó, cung cấp số liệu chính xác, kịp thời giúp cho nhà quản lý đưa ra những đánh giá đúng tình hình kế hoạch SXKD, cố vấn cho lãnh đạo trong việc tổ chức quản lý để đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh.

1.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

1.2.1 Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

  • Đối tượng kế toán chi phí sản xuất

Đối tượng kế toán chi phí là phạm vi, giới hạn mà các chi phí cần phải tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát CPSX và tính giá thành sản phẩm. Xác định đối tượng kế toán CPSX là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán CPSX.

Khi xác định đối tượng kế toán CPSX trước hết các nhà quản trị phải căn cứ vào mục đích sử dụng của chi phí, sau đó phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức SXKD, quản lý SXKD, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất sản phẩm, khả năng, trình độ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.

Do những đặc điểm của ngành XDCB mà đối tượng kế toán CPSX trong các doanh nghiệp xây lắp có thường là công trình, HMCT. Ngoài ra, tuỳ theo công việc cụ thể có thể tập hợp CPSX theo đơn đặt hàng hay giai đoạn công việc hoàn thành

  • Đối tượng tính giá thành sản phẩm:

Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc do doanh nghiệp sản xuất ra và cần phải tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị. Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công tác tính giá thành sản phẩm. Bộ phận kế toán giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, các loại sản phẩm và lao vụ mà doanh nghiệp sản xuất, tính chất sản xuất của chúng để xác định đối tượng tính giá thành cho thích hợp.

Trong các DNXL, đối tượng tính giá thành thường phù hợp với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, có thể là: các công trình, HMCT, KLXL hoàn thành bàn giao hoặc hoàn thành quy ước, tuỳ thuộc vào phương thức bàn giao thanh toán giữa đơn vị xây lắp và chủ đầu tư.

  • Kỳ tính giá thành

Kỳ tính giá thành là thời gian tính giá thành thực tế cho từng đối tượng tính giá thành nhất định. Kỳ tính giá thành là mốc thời gian mà bộ phận kế toán giá thành tổng hợp số liệu thực tế cho các đối tượng. Việc xác định kỳ tính giá thành phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chu kỳ sản xuất và hình thức bàn giao công trình. Trong doanh nghiệp xây dựng kỳ tính giá thành được xác định như sau:

  • Nếu đối tượng tính giá thành là công trình, hạng mục công trình hoàn thành hoặc theo đơn đặt hàng thì thời điểm tính giá thành là khi công trình, HMCT hoặc đơn đặt hàng hoàn thành.
  • Nếu đối tượng tính giá thành là HMCT được quy định thanh toán chi phí thực tế thì kỳ tính giá thành là theo giai đoạn xây dựng hoàn thành. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.
  • Nếu đối tượng tính giá thành là HMCT được quy định thanh toán định kỳ theo khối lượng từng loại công việc trên cơ sở giá dự toán thì kỳ tính giá thành là theo tháng (quý).

Phương pháp tập hợp CPSX sản phẩm

  • Tuỳ theo đặc điểm của các loại chi phí mà kế toán có thể sử dụng một trong hai phương pháp tập hợp CPSX là phương pháp tập hợp trực tiếp hoặc phương pháp phân bổ gián tiếp.

Phương pháp tập hợp trực tiếp

  • Phương pháp này được áp dụng khi các chi phí phát sinh chỉ liên quan trực tiếp đến một đối tượng tập hợp CPSX.
  • Theo phương pháp này, chi phí phát sinh liên quan đến đối tượng nào thì tiến hành tập hợp chi phí đó, tức là kế toán lấy số liệu ở chứng từ gốc liên quan đến từng đối tượng tập hợp CPSX và ghi thẳng cho đối tượng đó mà không cần tính toán phân bổ.

Phương pháp phân bổ gián tiếp

  • Phương pháp này được áp dụng khi chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp CPSX, không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng.
  • Khi các chi phí liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp CPSX thì kế toán tiến hành tập hợp CPSX cho tất cả đối tượng chịu chi phí liên quan, sau đó sẽ tiến hành phân bổ cho từng đối tượng theo công thức:

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI NGÔ QUYỀN

2.1 Khái quát chung về Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền.

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền.

Nước ta đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, để có những bước tiến nhanh và vững chắc, chúng ta cần phải có 1 nền tảng cơ bản, mà cơ sở vật chất hiện đại là một trong những nền tảng quan trọng, để góp sức vào công cuộc kiến tạo nền tảng đó, Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền được thành lập.

Công ty công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0203000244 ngày 18 tháng 7 năm 2002 của sở kế hoạch đầu tư. Chính thức đi vào hoạt động từ tháng 8/2002, Công ty đã nhanh chóng trở thành một doanh nghiệp lớn mạnh trên địa bàn Hải Phòng và cả nước, một doanh nghiệp mới có hơn 10 năm hoạt động nhưng lại có bề dày thành tích đáng nể. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

  • Tên công ty: Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền
  • Tên giao dịch: Ngo Quyen contruction anh trading service jostock company
  • Địa chỉ: Số 341 Đà Nẵng – Quận Ngô Quyền – Hải Phòng
  • Văn phòng đại điện: Số 18 Trần Quang Khải- Ngô Quyền – Hải Phòng
  • Giấy chứng nhận ĐKKD số: 0200468892 của Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng
  • Email: ngoquyen@gmail.com Vốn điều lệ: 60.000.000.000 đồng
  • Giám đốc điều hành: Nguyễn Thị Huyền
  • Công ty đang sản xuất kinh doanh trên mặt bằng rộng 750m2 gồm: Xưởng sản xuất và gia công đồ gỗ cơ khí, xưởng sản xuất và gia công nhôm kính tại khu dân cư Đông Hải – Quận Hải An – Hải Phòng.

Tuy ra đời và hoạt động chưa lâu nhưng Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền đã có nhiều cố gắng trong tìm kiếm thị trường hoạt động, có nhiều hình thức huy động vốn sản xuất. Với phương châm: “Chất luợng tốt nhất để tồn tại và phát triển”, Công ty không ngừng đầu tư đổi mới quy trình công nghệ; áp dụng hiệu quả công tác quản lý theo chứng chỉ ISO 9001:2000; đầu tư máy móc thiết bị, áp dụng những công nghệ mới trong công tác thi công, nâng cao trình độ quản lý của cán bộ, phổ biến mục tiêu, chính sách chất lượng, các hướng dẫn kỹ thuật thi công xây dựng cho 100% các công nhân lao động trực tiếp…chính nhờ có đường lối đúng đắn đi đôi với các biện pháp thích hợp nên doanh thu, lợi nhuận đóng góp cho NSNN không ngừng được nâng cao. Đến nay, Công ty đã thực sự đứng vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường đang phát triển mạnh.

Trong những năm gần đây do tiềm năng sẵn có cùng với chiến lược phát triển đúng đắn giá trị sản xuất của công ty không ngừng tăng lên. Công ty đã và đang thi công nhiều công trình dân dụng và công nghiệp có quy mô lớn, tốc độ thi công nhanh, kết cấu hiện đại như: hạ tầng kỹ thuật trường đại học Hải Phòng, xây dựng nhà ký túc xá 5 tầng thuộc dự án đầu tư xây dựng khu ký túc xá sinh viên trường đại học Hải Phòng, xây dựng khu đô thị mới Đằng Lâm – Tràng Cát (với diện tích 67ha), xây dựng sân vận động nhà thi đấu thể thao các sân thể thao và hạ tầng ngoài nhà Trung tâm giáo dục thể chất – trường đai học Hải Phòng, gói thầu số 01: gói thầu xây lắp xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu trung tâm hành chính quận Dương Kinh, xây dựng lắp đặt thiết bị Trụ sở làm việc Quận ủy, UBND và các đoàn thể quận Dương Kinh…

Bên cạnh đó, Công ty còn mở rộng sản xuất kinh doanh sang lĩnh vực thi công các công trình hạ tầng, các công trình đường giao thông, công trình thủy lợi như: rải asphalt xung quanh nhà thi đấu khu liên hợp thể thao đại học Hải Phòng, dự án cấp nước sạch thị trấn Cát Bà, dự án làm đường 128 huyện An Dương… Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

Với những bước đi bài bản, phù hợp với nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Công ty ngày càng phát triển một cách bền vững, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của thành phố và đất nước…

Qua bảng trên ta thấy, doanh thu thuần năm 2011 tăng so với năm 2010 là: 17.115.026.524 đồng tương ứng với tăng 1,415%, doanh thu thuần năm 2012 tăng so với năm 2010 là: 25.886.110.654 đồng tương ứng với tăng 1,44%. Lợi nhuận sau thuế năm 2011 tăng 7.606.869 đồng tương ứng tăng 1,06%. Lợi nhuận sau thuế năm 2012 cũng tăng so với năm 2010 là: 18.406.828 đồng tương ứng tăng 1,15%. Điều đó cho thấy năm 2012 các hoạt động của Công ty đã được mở rộng và thu được lợi nhuận cao.

Đạt được thành tích như vậy là do công ty có những thuận lợi sau:

  • Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhu cầu về xây dựng có xu hướng phát triển mạnh mẽ. Do vậy, nhu cầu của thị trường về sản phẩm của công ty là rất lớn. Nó đã trở thành tiềm năng của công ty, giúp cho công ty có thể mở rộng phạm vi hoạt động của mình.
  • Hệ thống cung cấp vật liệu đầu vào cho quá trình thi công các công trình trên phạm vi các tỉnh, thành phố tương đối ổn định và có mối quan hệ hợp tác.
  • Công ty có đội ngũ công nhân viên với trình độ chuyên môn, tay nghề cao, năng động và khả năng tiếp cận thị trường, tiến bộ khoa học kỹ thuật nhanh chóng. Bên cạnh đó, nội bộ cán bộ trong công ty đoàn kết, mọi thành viên đều nhiệt huyết trong công việc, điều này đã giúp công ty hoàn thành mọi nhiệm vụ tạo uy tín trên thị trường.

Bên cạnh những thuận lợi thì công ty còn gặp một số khó khăn:

  • Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới khủng hoảng, thị trường các yếu tố đầu vào cho sản xuất như sắt thép, xăng dầu và các vật liệu xây dựng biến động, không ổn định, tình hình tài chính trong nước không ổn định, lạm phát tăng nhanh. Để ổn định kinh tế vĩ mô đảm bảo an sinh xã hội Nhà nước đã ban hành các Thông tư, Nghị định để kiềm chế lạm phát, thắt chặt chính sách tiền tệ do đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để tháo gỡ khó khăn trước mắt, Công ty đã tiếp cận được nguồn vốn vay của Ngân hàng, tuy nhiên chi phí lãi vay tăng nhanh dẫn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả cao.
  • Tình hình thu hồi công nợ gặp nhiều khó khăn. Nhiều công trình đã hoàn thành bàn giao nhưng chỉ thanh toán 40-70% khối lượng, thậm chí có những công trình đã đưa vào sử dụng mà chỉ thanh toán 20% khối lượng. Trong khi đó, vốn kinh doanh của doanh nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu, dẫn đến quay vòng vốn chậm, hiệu quả kinh doanh không cao.
  • Trong cơ chế thị trường mở cửa, ngày càng nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản được thành lập, tham gia đấu thầu, gây áp lực cạnh tranh đối với công ty.
  • Công ty cũng gặp khó khăn trong công tác quản lý do địa bàn xây dựng các công trình xây dựng không tập trung, công ty không thể kiểm tra, chỉ đạo trực tiếp toàn bộ quá trình thi công công trình xây dựng. Đôi khi việc thi công bị gián đoạn do phải chờ quyết định của ban lãnh đạo về việc cấp thêm vốn…Các chi phí phát sinh bất thường khó kiểm soát, chi phí xây dựng dễ bị thất thoát với những công trình ở xa.

Mặc dù phải đối mặt với những khó khăn trên, nhưng dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của ban lãnh đạo, công ty đã hoàn thành tốt kế hoạch đề ra. Với việc đặt ra nhiệm vụ và luôn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ, mặc dù công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền là công ty còn non trẻ, phải đối mặt với những khó khăn, thách thức nhưng đã tạo được uy tín đáng kể với toàn ngành ngay từ những bước đi đầu tiên.

2.2. Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

2.2.1 Kế toán chi phí sản xuất

  • Phân loại chi phí sản xuất

Để phục vụ cho công tác hạch toán kế toán cũng như việc quản lý chi phí sản xuất được thuận tiện và dễ dàng, kế toán trong công ty đã phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí.Theo đó chi phí sản xuất được phân loại thành:

  • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm toàn bộ giá trị vật liệu cần thiết trực tiếp tạo ra sản phẩm như gạch, cát, sỏi, xi măng, thép…
  • Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp tính trả cho công nhân xây lắp BHYT .
  • Chi phí sử dụng máy thi công: Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhiên liệu và các chi phí khác có liên quan đến việc sử dụng máy thi công phục vụ tại các công trình.
  • Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý đội xây dựng,chi phí vật liệu CCDC phục vụ quản lý, chi phí dịch vụ mua ngoài…
  • Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất tại công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền

Đối tượng tập hợp CPSX

Xuất phát từ đặc điểm ngành xây dựng, từ đặc thù của sản phẩm xây dựng và để đáp ứng tốt nhất yêu cầu của công tác quản lý, công tác kế toán, Công ty đã xác định đối tượng tập hợp CPSX là từng công trình, hạng mục công trình. Mỗi công trình, hạng mục công trình từ khi khởi công cho tới khi hoàn thành bàn giao đều được theo dõi chi tiết trên Sổ chi tiết để tập hợp chi phí sản xuất thực tế cho từng công trình, hạng mục công trình đó.

  • Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất

Phương pháp tập hợp chi phí mà công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền sử dụng phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp đối với các khoản mục chi phí có thể tập hợp trực tiếp cho từng công trình, HMCT còn các chi phí liên quan đến nhiều đối tượng thì công ty sử dụng phương pháp tập hợp gián tiếp, các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng sẽ được tập hợp chung, cuối kỳ kế toán tiến hành phân bổ theo giá thành dự toán. Do phạm vi hoạt động của Công ty rộng, thi công nhiều công trình, HMCT, phương pháp kế toán tập hợp CPSX cho từng công trình là giống nhau nên để đảm bảo tính khái quát, trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp này em xin lấy số liệu của Công trình “Xây dựng khu ký túc 5 tầng – Trường Đại học Hải Phòng” để minh hoạ. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

  • Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dùng trong quá trình thi công tại công ty gồm nhiều loại, được chia thành nhóm nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ, vật liệu kết cấu.

  • Nguyên vật liệu chính dùng trong quá trình thi công gồm các loại vật liệu xây dựng chủ yếu như : gạch, vôi, xi măng, cát, đá, sắt thép…
  • Nguyên vật liệu phụ gồm các loại nguyên vật liệu xây dựng cấu thành vào công trình như : đinh, dây buộc, bột màu, …
  • Vật liệu kết cấu: tấm lợp, sà, khung, cửa…

Khi trúng thầu một công trình xây dựng, căn cứ vào hợp đồng giao nhận thầu, phòng kỹ thuật và vật tư căn cứ vào dự toán công trình, tiến độ thi công công trình, thời hạn thi công tiến hành bóc tách các khoản mục chi phí trong dự toán để lập kế hoạch sản xuất thi công cho các đội xây dựng, trong đó, có kế hoạch cung cấp vật tư cho thi công công trình.

Nguyên vật liệu ở công ty chủ yếu là công ty mua ngoài theo giá thị trường, trị giá NVL mua về được tính theo trị giá vốn thực tế:

Trị giá NVL = Giá mua + Chi phí mua (Chi phí vận chuyển, bốc xếp…)

NVL mua về có thể được nhập kho hoặc đem sử dụng trực tiếp cho công trình.Trị giá NVL xuất kho sử dụng cho các công trình được tính theo phương pháp nhập trước xuất trước. Tuy nhiên với mỗi công trình nhu cầu về NVL thường rất lớn và được bỏ dần theo tiến độ công trình, đồng thời với nguồn cung ứng NVL dồi dào như hiện tại công ty thường áp dụng phương pháp mua chuyển thẳng tới công trình sử dụng trực tiếp không qua nhập kho, như vậy sẽ tiết kiệm được chi phí lưu kho, bảo quản…

Căn cứ vào kế hoạch sản xuất thi công, nhu cầu sử dụng NVL tại công trình và định mức tiêu hao vật liệu, cán bộ kỹ thuật sẽ gửi giấy đề nghị cung cấp vật tư. Khi có giấy đề nghị cung cấp vật tư, kế toán chuyển lên phòng vật tư công ty xin duyệt. Đề nghị được trưởng phòng vật tư ký duyệt, vật tư sẽ được mua về và chuyển ngay tới chân công trình. Sau khi nhận vật tư kế toán đội và kỹ thuật viên xây dựng kiểm tra chất lượng và số lượng vật tư sau đó xác nhận và ký vào biên bản giao nhận hàng hóa.

  • Chứng từ sử dụng: giấy đề nghị cung ứng vật tư, hóa đơn giá trị gia tăng, biên bản bàn giao…
  • Tài khoản sử dụng: Công ty sử dụng TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” để phản ánh chi phí NVLTT sử dụng cho công trình. TK 621 được mở chi tiết cho từng công trình, HMCT.
  • TK 6211- Công trình “Xây dựng Ký túc xá trường đại học Hải Phòng”
  • TK 6212 – Công trình “Xây dựng trụ sở hành chính quận Dương Kinh” TK 6213 – Công trình “Sửa chữa nâng cấp đường 208 An Dương”…

Sổ sách sử dụng: Sổ nhật ký chung, Sổ cái TK 621, Sổ chi phí sản xuất kinh doanh của TK 621, Sổ sách có liên quan (sổ chi tiết từng loại NVL mở riêng cho từng CT)… Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI NGÔ QUYỀN

3.1. Đánh giá chung về công tác kế toán chi phí xây lắp và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần và dịch vụ thương mại Ngô Quyền

  • Ưu điểm

Qua quá trình tìm hiểu thực tế về công tác quản lý, công tác kế toán nói chung và công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp nói riêng ở Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền, em đã nhận thấy những ưu điểm sau:

Thứ nhất, Công ty đã xây dựng được mô hình tổ chức công tác kế toán khoa học hợp lý và có hiệu quả phù hợp với yêu cầu hoạt động sản xuất, do đó công ty có thể chủ động trong hoạch định sản xuất kinh doanh, có uy tín trên thị trường trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, đứng vững trong cạnh tranh và phát triển trong điều kiện hiện nay.

Thứ hai, Công ty có bộ máy quản lý nói chung và bộ máy kế toán nói riêng hết sức gọn nhẹ song vẫn đảm bảo được yêu cầu quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu về toàn bộ thông tin kế toán trong công ty. Các phòng ban chức năng phục vụ có hiệu quả, giúp cho lãnh đạo công ty giám sát thi công, quản lý kinh tế, tổ chức sản xuất khoa học, hợp lý và đạt hiệu quả cao.

Thứ ba, phòng tài chính kế toán của Công ty với đội ngũ nhân viên có trình độ năng lực, nhiệt tình, trung thực, được bố trí những công việc cụ thể đã góp phần đắc lực vào công tác kế toán và quản lý, luôn được ban giám đốc tin tưởng và đánh giá cao.

Thứ tư, về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp: Tại Công ty, công tác này đã phát huy hiệu quả.

Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là từng công trình, HMCT trong kỳ là hợp lý, có căn cứ khoa học, phù hợp với điều kiện sản xuất thi công của công ty, phục vụ tốt công tác chỉ đạo sản xuất, quản lý giá thành và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Công ty đã tổ chức hoạt động một cách khoa học hợp lý, quản lý chặt chẽ thời gian và chất lượng lao động của công nhân, góp phần giảm bớt các chi phí thiệt hại.

Công tác kiểm kê khối lượng xây lắp dở dang được tổ chức một cách khoa học, cung cấp số liệu hợp lý, kịp thời phục vụ cho công tác tính giá thành. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

Hệ thống sổ kế toán sử dụng cho việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo hình thức kế toán nhật ký chung tương đối hoàn thiện, hợp lý, trình tự hạch toán chặt chẽ, các chi phí phát sinh được tập hợp và phản ánh rõ ràng. Số liệu tập hợp được có khả năng sử dụng để tính toán, đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Những ưu điểm về quản lý và kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm xây lắp nêu trên đã có tác dụng tích cực đến việc tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm xây lắp, tối đa hoá lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.

  • Nhược điểm

Bên cạnh những mặt tích cực đã nêu trên, công tác kế toán nói chung và công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền vẫn có những tồn tại nhất định cần phải hoàn thiện.

  • Thứ nhất, về kế toán chi phí sử dụng máy thi công

Công ty không tiến hành tập hợp riêng các khoản chi phí có thể tập hợp riêng được cho từng công trình, HMCT như chi phí nhiên liệu…mà tập hợp chung tất cả các khoản chi phí sử dụng máy thi công phát sinh trong kỳ sau đó cuối kỳ mới phân bổ cho từng công trình, HMCT. Như vậy sẽ không tập hợp chính xác chi phí SDMTC cho từng công trình, HMCT, từ đó sẽ không phản ánh chính xác giá thành của công trình đó.

Hiện tại công ty lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho từng công trình, HMCT là tiêu thức “giá thành dự toán”. Lựa chọn tiêu thức này là chưa hợp lý vì trong giá thành dự toán bao gồm cả 4 khoản mục chi phí (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung) mà các công trình khác nhau sẽ có mức sử dụng máy thi công là khác nhau. Ví dụ có thể cùng một giá trị như nhau nhưng công trình, hạng mục sửa chữa sẽ có mức độ sử dụng máy thi công ít hơn là công trình xây mới.

  • Thứ hai, về hình thức kế toán công ty áp dụng: Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

Hiện nay công ty vẫn áp dụng hình thức kế toán thủ công để hạch toán kế toán.Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học công nghệ, các phần mềm kế toán ra đời là một bước phát triển mới, là công cụ vô cùng đắc lực hỗ trợ cho công tác kế toán. Vì vậy, để giảm bớt công việc cho kế toán, công ty nên áp dụng phần mềm trong hạch toán kế toán. Việc sử dụng phần mềm kế toán giúp giảm bớt khối lượng công việc ghi chép tính toán,có khả năng tổng hợp hệ thống hóa thông tin nhanh chóng, chính xác, phục vụ yêu cầu quản trị doanh nghiệp, đáp ứng được khối lượng nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh rất lớn ở công ty.

  • Thứ ba: Về việc hạch toán các khoản thiệt hại trong quá trình sản xuất

Là doanh nghiệp trong lĩnh vực xây lắp, với đặc thù riêng công ty có thể gặp phải những rủi ro khách quan hay chủ quan. Những khoản thiệt hại này không những gây tổn thất cho Công ty mà còn làm chi phí sản xuất tăng lên, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Công ty hạch toán các khoản thiệt hại trong quá trình sản xuất (thiệt hại về sản phẩm hỏng,…) vào chi phí sản xuất chung mà không tiến hành hạch toán các khoản thiệt hại này căn cứ vào từng nguyên nhân cụ thể. Dẫn đến khó kiểm soát và quản lý các khoản thiệt hại, không đảm bảo độ chính xác của giá thành sản phẩm.

  • Thứ tư: Về việc hạch toán các khoản chi phí, các khoản thu về thanh lý TSCĐ

Trường hợp công ty có thi công những công trình lớn, có thời gian thi công dài (có thể kéo dài đến 2 hoặc 3 năm) có sử dụng những loại máy móc thiết bị chuyên dùng và các loại máy móc, thiết bị này đã được trích khấu hao hết vào trong giá trị của công trình đó. Khi thanh lý nhượng bán, kế toán hạch toán như sau:

Bt1: phản ánh số thu hồi về thanh lý:

  • Nợ TK 111,112,131: thu bằng tiền, bán chịu.
  • Có TK 711: thu nhập về thanh lý. Có TK 3331:VAT đầu ra nếu có.

Bt2: Phản ánh chi phí thanh lý số máy móc, thiết bị thi công nếu có: Nợ TK 811: chi phí thanh lý.

  • Nợ TK 133: VAT đầu vào nếu có.
  • Có TK liên quan: 111,112, 334….

Việc hạch toán như trên là không đúng chế độ kế toán áp dụng đối với doanh nghiệp xây dựng, đồng thời phản ánh không chính xác giá thành công trình. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

  • Thứ năm: Về việc trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định

Tài sản cố định của Công ty do được mua sắm từ lâu nên một số tài sản đã xuống cấp mặc dù vậy, kế toán vẫn không thực hiện trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ hàng năm mà tính vào chi phí sản xuất khi có TSCĐ hỏng, sửa chữa lớn, như vậy chi phí đúng ra phải phân bổ cho nhiều công trình thì lại phân bổ cho một công trình làm tăng chi phí giá thành, mà đúng ra mỗi công trình sử dụng TSCĐ đều phải gánh chịu một phần. Hạch toán như trên làm cho chi phí sản xuất trong kỳ được xác định thiếu chính xác, làm tăng chi phí sản xuất của kỳ này và giảm chi phí sản xuất của kỳ khác, làm cho giá thành công trình bị sai lệch so với thực tế.

  • Thứ sáu: về việc hạch toán các khoản trích theo lương

Công ty tiến hành trích các khoản trích theo lương theo tỷ lệ là 30.5% trong đó 9,5% khấu trừ vào lương nhân viên, 21% tính vào GTSP xây lắp. Cụ thể là 17% BHXH, 3% BHYT, 1% BHTN tính trên lương cơ bản. Tuy nhiên Công ty không tiến hành trích KPCĐ cho người lao động, như vậy là không đúng theo quy định. Theo quy định tại thời điểm quý IV năm 2012, công ty phải trích 32,5% trong đó 23% tính vào GTSP xây lắp, 9,5 % khấu trừ vào lương nhân viên.

3.2. Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền trong điều kiện hiện nay

  • Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền

Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành đầy đủ, kịp thời, chính xác không chỉ giúp cho việc phản ánh đúng đắn tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn cung cấp kịp thời thông tin cho nhà quản lý. Vì thế, hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là công việc rất cần thiết, góp phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, hoàn thiện công tác hạch toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm giúp cho doanh nghiệp tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty và yêu cầu quản lý của Nhà nước đồng thời thực hiện nguyên tắc tiết kiệm, khoa học trong công tác kế toán và nhờ đó cung cấp thông tin kịp thời, nhanh chóng. Hiện nay, tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền còn tồn tại một số hạn chế trong việc hạch toán chi phí sản xuất làm cho việc tính toán giá thành sản phẩm còn tồn tại một số hạn chế. Vấn đề đặt ra đối với Công ty lúc này là phải làm thế nào để có thể theo dõi một cách chính xác nhất chi phí sản xuất để xác định đúng đắn giá thành sản phẩm? Để giải quyết được vấn đề này, Công ty cần xây dựng cho mình quy trình hạch toán hiệu quả, phù hợp với doanh nghiệp nhưng phải đảm bảo phù hợp với chế độ chuẩn mực kế toán của Nhà nước. Vì vậy, việc tìm ra giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác hạch toán kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại đơn vị là một trong những yêu cầu có tính chiến lược đối với sự phát triển và lớn mạnh của Công ty.

Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền, được sự chỉ bảo và giúp đỡ nhiệt tình của các cô, chú trong phòng Kế toán – Tài chính, em đã có điều kiện tìm hiểu hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng hạch toán tại Công ty. Dưới đây, em xin đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tại công ty

  • Một số ý kiến đề xuất hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính nói chung và công tác quản lý chi phí sản xuất xây lắp nói riêng, công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền cần tiếp tục phát huy những ưu điểm và tìm những giải pháp khắc phục những tồn tại hiện nay. Dưới góc độ là một sinh viên thực tập tại công ty trong thời gian ngắn, em xin mạnh dạn đế xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán nói chung, công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nói riêng tại công ty như sau:

  • Ý kiến 1: Về kế toán chi phí sử dụng máy thi công

Công ty tiến hành tập hợp chi phí sử dụng máy thi công chung cho toàn công ty mà không tập hợp riêng các khoản chi phí có thể tập hợp riêng được cho từng công trình, Như vậy, sẽ không phản ánh chính xác chi phí SDMTC cho từng công trình, HMCT, từ đó sẽ không phản ánh chính xác giá thành của công trình, HMCT đó. Theo em, công ty nên tập hợp chi phí sử dụng máy thi công chi tiết cho từng công trình, HMCT, còn những chi phí Sử dụng máy thi công liên quan đến nhiều công trình không thể tập hợp riêng được thì sẽ tập hợp chung và phân bổ vào cuối mỗi quý.

Hiện tại, công ty lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các công trình, hạng mục công trình là tiêu thức “giá thành dự toán”. Xuất phát từ sự đa dạng trong sản phẩm xây lắp của công ty đó là bao gồm các loại công trình từ sửa chữa, xây mới, các công trình thi công có độ khó và kỹ thuật phức tạp khác nhau…..nên mức độ và nhu cầu sử dụng máy thi công là rất khác nhau. Công trình xây mới thì chi phí sử dụng máy thi công sẽ nhiều hơn công trình sửa chữa nâng cấp. Vì vậy công ty lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các công trình, hạng mục công trình là “giá thành dự toán” là chưa hợp lý và chính xác.Theo em, công ty nên tính chi phí sử dụng máy thi công theo số ca máy phục vụ cho từng công trình ( số liệu về các ca máy phục vụ cho từng công trình sẽ được lấy từ bảng lịch trình ca máy) vì như thế mới phản ánh được chính xác chi phí máy thi công sử dụng cho từng công trình. Công thức tính chi phí sử dụng máy thi công cho từng công trình như sau:

Với cách làm trên, công ty sẽ phản ánh được chi phí sử dụng máy thi công tính cho từng công trình một cách chính xác, từ đó góp phần phản ánh chính xác hơn giá thành của mỗi công trình

  • Ý kiến 2: Về việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán tại công ty Cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền.

Hiện nay, công ty có ứng dụng công nghệ tin học vào trong công tác kế toán nhưng chỉ là phần rất nhỏ trong tài nguyên của máy tính như chương trình tin học văn phòng: Word, Exell. Trên thực tế thì hàng ngày tại công ty các nghiệp vụ kinh tế phát sinh diễn ra rất nhiều, đòi hỏi nhân viên kế toán phải theo dõi rất nhiều chứng từ nên nếu chỉ sử dụng chương trình tin học văn phòng thì việc theo dõi công tác kế toán sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, theo em công ty nên sử dụng 1 phần mềm kế toán được lập trình sẵn, phù hợp với mục đích sử dụng của công ty, giúp cho công tác kế toán của công ty nói chung và công tác kế toán tập hợp chi phí tính giá thành sản phẩm nói riêng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn, theo dõi được thuận tiện, đẩy nhanh tiến độ công việc, xử lý thông tin kịp thời. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

Công ty có thể tự viết phần mềm theo tiêu chuẩn quy định tại thông tư 103/2005/TT- BTC của Bộ Tài Chính ngày 24/11/2005 về việc “Hướng dẫn tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán” hoặc công có thể đi mua phần mềm của các nhà cung cấp phần mềm kế toán chuyên nghiệp như:

  • Phần mềm kế toán FASTcủa công ty cổ phần FAST. Phần mềm kế toán MISA của công ty cổ phần MISA
  • Phần mềm kế toán SASINNOVA của công ty cổ phần SIS Việt Nam. Phần mềm kế toán ACMAN của công ty cổ phần ACMAN

Khi trang bị phần mềm, đội ngũ kế toán cần được đào tạo, bồi dưỡng để có thể sử dụng thành thạo, khai thác được những tính năng ưu việt của phần mềm. Việc sử dụng thành công phần mềm sẽ giúp cho việc xử lý và cung cấp thông tin kinh tế – tài chính được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm được sức lao động, nâng cao hiệu quả công việc, tránh nhầm lẫn, sai sót đồng thời lưu trữ, bảo quản số liệu thuận lợi và an toàn.

  • Ý kiến 3 về hoàn thiện kế toán các khoản thiệt hại trong sản xuất

Thực tế hiện nay tại Công ty Cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền trong quá trình thi công các công trình, hạng mục công trình có những thời điểm công ty phải bỏ ra những chi phí nhưng không đem lại kết quả vì các nguyên nhân khác nhau như: thiên tai, hỏa hoạn, trình độ tay nghề người lao động, chất lượng nguyên vật liệu không đảm bảo. Để tránh tình trạng này xảy ra, công ty nên tiến hành hạch toán các khoản chi phí thiệt hại này căn cứ vào từng nguyên nhân cụ thể. Có như vậy mới khắc phục được, kiểm soát và quản lý các khoản thiệt hại góp phần đảm bảo độ chính xác của giá thành sản phẩm.

  • Phương pháp hạch toán sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được:

Để hạch toán các khoản thiệt hại trong sản xuất kế toán sử dụng các tài khoản như quá trình sản xuẩt sản phẩm: 138, 621, 622, 623, 627, 154. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

  • Ý kiến 4: về hoàn thiện việc hạch toán các khoản chi phí, các khoản thu về thanh lý TSCĐ

Trường hợp công ty có thi công những công trình lớn, có thời gian thi công dài (có thể kéo dài đến 2 hoặc 3 năm thậm chí là lâu hơn nữa) có sử dụng những loại máy móc thiết bị chuyên dùng và các loại máy móc, thiết bị này đã được trích khấu hao hết vào trong giá trị của công trình đó. Khi thanh lý nhượng bán, phần giá trị thu hồi theo quy định công ty không được ghi nhận vào tài khoản 711 mà phải ghi nhận vào bên có của tài khoản 154 (làm giảm giá thành công trình). Chi phí về liên quan đến nhượng bán không được phản ánh vào tài khoản 811 mà được phản ánh vào bên nợ tài khoản 154 (làm tăng giá thành công trinh). Cụ thể là:

Bút toán 1: Phản ánh số thu hồi về thanh lý, kế toán ghi: Nợ TK 111, 112, 131: thu bằng tiền, bán chịu.

  • Có TK 154: thu nhập về thanh lý (giá bán chưa thuế) Có TK 3331: VAT đầu ra (nếu có)

Bút toán 2: Phản ánh chi phí thanh lý số máy móc, thiết bị thi công nếu có, kế toán ghi:

  • Nợ TK 154: chi phí thanh lý (làm tăng giá thành công trình). Nợ TK 133: VAT đầu vào (nếu có)
  • Có TK liên quan: 111, 112, 331….

Với cách làm trên, công ty sẽ tuân thủ đúng theo chế độ kế toán hiện hành áp dụng trong doanh nghiệp xây lắp và phản ánh chính xác giá thành của mỗi công trình.

  • Ý kiến 5: Về việc tiến hành trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ

Nhằm mục đích ổn định tài chính cho công ty, đảm bảo khi các khoản chi phí sửa chữa lớn phát sinh thực tế không gây đột biến cho chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ ảnh hưởng tới việc tính giá thành và xác định kết quả kinh doanh mỗi quý, chủ động về vốn, chủ động về nguồn tài trợ cho việc sửa chữa lớn TSCĐ thì vào đầu năm hoặc đầu niên độ kinh doanh, Công ty nên lập kế hoạch sửa chữa lớn và tiến hành trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ. Sau đó, khi việc sửa chữa lớn TSCĐ thực tế phát sinh trong bất kỳ thời gian nào trong năm thì doanh nghiệp không cần lo lắng về khả năng tài chính hiện tại có đáp ứng được hay không.

Để trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định thì cuối mỗi năm công ty cần xem xét tình hình, khả năng hoạt động của tài sản cố định hiện có, từ đó lập kế hoạch sửa chữa lớn TSCĐ cho cả năm. Dựa vào kế hoạch chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định trong năm, kế toán tính và trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định theo tháng hoặc quý rồi phân bổ đều chi phí cho các công trình. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

Trích trước vào chi phí sản xuất kinh doanh số chi phí sửa chữa lớn TSCĐ dự tính sẽ phát sinh, ghi:

  • Nợ TK 623 – Chi phí sử dụng máy thi công
  • Nợ TK 627 – Chi phí sản xuất chung
  • Nợ TK 641 – Chi phí bán hàng
  • Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp
  • Có TK 335 – Chi phí phải trả

Các khoản chi phí phát sinh trong quá trình sửa chữa TSCĐ kế toán ghi Nợ TK 241(3) chi phí sửa chữa TSCĐ

  • Nợ TK 133 thuế VAT đầu vào (nếu có)
  • Có TK 111, 112, 331… Tổng giá thanh toán

Khi công việc sửa chữa lớn hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng, kế toán kết chuyển chi phí thực tế phát sinh thuộc khối lượng công việc sửa chữa lớn TSCĐ đã được dự trích trước vào chi phí, ghi:

  • Nợ TK 623, 627, 641, 642 (Nếu số đã chi lớn hơn số trích trước)
  • Nợ TK 335 – Chi phí phải trả (số đã trích trước)

Có TK 241 – XDCB dở dang (2413)(Tổng chi phí thực tế phát sinh) Có TK 623, 627, 641, 642 (Nếu số đã chi nhỏ hơn số trích trước)

  • Ý kiến 6: về việc hạch toán các khoản trích theo lương

Công ty chỉ tiến hành trích các khoản BHXH, BHYT, BHTN tính trên lương cơ bản mà không tiến hành trích KPCĐ cho người lao động, như vậy là không đúng theo quy định. Theo quy định tại thời điểm quý IV năm 2012, công ty phải trích 32,5% trong đó 23% tính vào GTSP xây lắp, 9,5 % khấu trừ vào lương nhân viên.Công ty nên trích các khoản trích theo lương theo đúng quy định.

Trên đây là một số ý kiến của em nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, để thực hiện được những giải pháp trên Công ty còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

Đối với mỗi doanh nghiệp sản kinh doanh, việc làm thế nào để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu ưu tiên số một để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay. Để đạt được mục tiêu này, thông tin kế toán về CPSX và giá thành sản phẩm giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chi phối quyết định của ban lãnh đạo.

Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền, em đã hoàn thành khoá luận với đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền”. Em đã trình bày thực trạng công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền. Trên cơ sở phân tích, đánh giá những ưu nhược điểm, em đã mạnh dạn đưa ra những mặt còn tồn tại trong công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm tại Công ty, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa tổ chức kế toán nói chung cũng như kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm nói riêng.

Do thời gian thực tập tại đơn vị có hạn và sự hạn chế trong nhận biết của bản thân về lý luận và thực tế nên những giải pháp mà em đưa ra khó có thể tránh khỏi những sai sót nhất định. Em rất mong nhận được sự chỉ dạy, ý kiến đóng góp của thầy cô giáo và các anh chị phòng tài chính kế toán Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Cty Ngô.

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn tập thể Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại Ngô Quyền, phòng tài chính kế toán và thầy giáo, Thạc sỹ – Nguyễn Văn Thụ đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí XĐKQKD tại Công ty may

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537