Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty TNHH MTV cầu, phà Quảng Ninh này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng, nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp chỉ có hai con đường hoặc là tiếp tục cố gắng để tồn tại và phát triển, hoặc là phá sản và tự loại mình ra hỏi cuộc chơi đầy khó khăn, thử thách này. Để đứng vững trên thị trường doanh nghiệp phải nỗ lực không ngừng nhằm hoàn thiện, tạo ra ưu thế cạnh tranh, biết phát huy thế mạnh của bản thân, đồng thời phải luôn học hỏi và biết nắm bắt thời cơ trong kinh doanh. Việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế chuyển đổi với rất nhiều chính sách mở cửa đã mang lại rất nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Cùng với các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác, xây dựng cơ bản góp phần rất lớn vào sự phát triển chung của toàn xã hội, tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật, của cải cho nền kinh tế quốc dân. Ngành xây dựng cơ bản có tính chất đặc thù, riêng biệt, thu hút rất nhiều vốn đầu tư nhưng cũng có tỷ lệ thất thoát lớn.

Để quản lý chặt chẽ vốn đầu tư tránh tình trạng sử dụng lãng phí đồng thời tạo ưu thế cạnh tranh trên thị trường đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có tầm nhìn chiến lược và phải có những giải pháp hiệu quả. Một trong những giải pháp hữu hiệu mà doanh nghiệp sử dụng để giải quyết được các vấn đề nêu trên là tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Do vậy, việc hoàn thiện công tác kế toán, trong đó kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một trong nội dung quan trọng, gắn liền với việc đánh giá và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh, nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại đơn vị, em đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu và lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

Mục tiêu của khóa luận là vận dụng lý luận về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đã học ở trường vào nghiên cứu thực tiễn tại Công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh.

Nội dung khóa luận được kết 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong đơn vị xây lắp.
  • Chương 2: Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh.
  • Chương 3: Đánh giá thực trạng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh.

Do hạn chế về thời gian, mặc dù em có nhiều cố gắng nhưng bài viết không tránh khỏi những sai sót. Em kính mong thầy cô giáo nhận xét và đóng góp ý kiến để em bổ sung, hoàn thiện kiến thức chuyên môn.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.1 Những vấn đề chung về xây lắp

1.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp có ảnh hưởng đến công tác hạch toán kế toán.

Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp, nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ngành sản xuất có đặc điểm sau:

Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc,….thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân có quy mô và giá trị lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài…Ngoài ra, có nhiều phương thức thi công sản phẩm xây lắp khác nhau dẫn đến giá thành công trình khác nhau. Do đó việc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết phải có các dự toán thiết kế, thi công.

Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo phương thức đặc biệt là theo giá trị dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư từ trước. Do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm không rõ ràng yếu tố thị trường tác động bị hạn chế.

Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe máy, thiết bị thi công, người lao động…) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Mặt khác, hoạt động xây dựng cơ bản thường tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý, sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp, dễ bị mất mát, hư hỏng làm tăng chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, chu kì sản xuất của đơn vị xây lắp thường rất dài, chi phí phát sinh thường xuyên trong khi doanh thu chỉ phát sinh ở từng thời điểm nhất định. Do đó, kỳ tính giá thành ở các đơn vị xây lắp thường được xác định theo kỳ sản xuất. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay phổ biến theo phương thức “khoán gọn” các công trình, hạng mục công trình, khối lượng hoặc công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (đội, xí nghiệp…). Trong giá khoán gọn, không chỉ có tiền lương mà còn có đủ các chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụ thi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán.

Giá thành công trình xây lắp không bao gồm giá trị bản thân thiết bị do chủ đầu tư đưa vào để lắp đặt mà chỉ bao gồm những chi phí do doanh nghiệp xây lắp bỏ ra có liên quan đến xây lắp công trình. Giá thành công tác xây dựng và lắp đặt kết cấu bao gồm giá trị vật kết cấu và giá trị thiết bị kèm theo như các thiết bị vệ sinh, thông gió, thiết bị sưởi ấm, điều hoà nhiệt độ, thiết bị truyền dẫn…

Những đặc điểm hoạt động kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý ngành nói trên phần nào chi phối công tác kế toán trong các doanh nghiệp xây lắp, dẫn đến những khác biệt nhất định. Tuy nhiên, về cơ bản, việc hạch toán các phần hành kế toán trong doanh nghiệp xây lắp cũng tương tự như doanh nghiệp công nghiệp. Những đặc điểm trên đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức công tác hạch toán kế toán trên cơ sở tuân thủ chế độ kế toán nhưng cũng phải phù hợp với đặc điểm đặc thù của hoạt động kinh doanh xây lắp để đảm bảo chất lượng công tác kế toán, cung cấp kịp thời những thông tin cho quản lý.

1.1.2  Đặc điểm kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành xây lắp

Theo quy định về lập dự toán công tác xây dựng, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành xây lắp có những đặc điểm sau:

Kế toán chi phí sản xuất nhất thiết phải được phân tích theo từng khoản mục chi phí, từng hạng mục công trình, từng công trình cụ thể để thường xuyên so sánh, kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí. Qua đó xem xét nguyên nhân vượt thụt dự toán và đánh giá hiệu quả kinh doanh.

Ngoài ra, do đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là công trình, hạng mục công trình, đơn đặt hàng,… nên phải lập dự toán chi phí và tính giá thành theo từng hạng mục công trình hay giai đoạn của hạng mục. Tùy theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất mà lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp cho phù hợp.

Giá thành công trình lắp đặt thiết bị không bao gồm giá trị bản thân thiết bị do chủ đầu tư đưa vào để lắp đặt mà chỉ bao gồm những chi phí do doanh nghiệp xây lắp bỏ ra có liên quan đến xây lắp công trình.

Giá thành công tác xây dựng và lắp đặt kết cấu bao gồm giá trị vật kết cấu và giá trị thiết bị kèm theo như thiết bị sưởi, điều hòa nhiệt độ…

1.2 Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

1.2.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất

  • Chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất của doanh nghiệp là toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định được biểu hiện bằng tiền.

Chi phí sản xuất gồm nhiều loại, nhiều yếu tố nhưng quy lại bao gồm chi phí lao động sống là những chi phí về tiền lương và các khoản trích theo lương. Chi phí về lao động vật hóa là những chi phí như: nguyên vật liệu, khấu hao tài sản cố định,… Tùy theo mục đích quản lý và hạch toán mà doanh nghiệp phải lựa chọn cách phân loại, tiêu thức phân loại và chi phí cho phù hợp.

  • Phân loại chi phí sản xuất

a, Theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.

  • Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất bao gồm:

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu,.. tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.

Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp của những người tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất hay thực hiện lao vụ và dịch vụ. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung của phân xưởng, đội sản xuất như chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng…

Chi phí máy thi công: là các chi phí liên quan đến hoạt động của máy thi công (chi phí vật liệu cho máy hoạt động, chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp, tiền công của công nhân trực tiếp điều khiển máy, chi phí bảo dưỡng, sửa chữa xe, máy thi công,..) chi phí vật liệu, chi phí dịch vụ khác phục vụ cho xe, máy thi công.

Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm chi phí quản lý doanh nghiệp, tiền lương và các khoản phụ cấp… của các nhân viên quản lý doanh nghiệp, dụng cụ quản lý, vật liệu dùng cho quản lý.

Chi phí bán hàng: gồm chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm (đóng gói, bảo quản vận chuyển…)

=>Việc phân loại theo tiêu thức trên thích hợp cho từng ngành sản xuất. Thông qua cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy rõ:

  • Tình hình năng suất lao động thông qua sự biến động của tiền lương trong cơ cấu giá thành sản phẩm.
  • Tình hình quản lý chi phí và việc tổ chức quản lý chi phí.

b, Theo nội dung kinh tế:

Theo cách phân loại này CPSX được chia thành các loại như sau:

  • Nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, phụ,… sử dụng vào sản xuất kinh doanh.
  • Nhiên liệu động lực: Gồm giá trị vật tư xăng dầu…sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ.
  • Tiền lương và các khoản trích theo lương: phản ánh tổng số tiền lương và các khoản trích theo lương phải trả cho cán bộ công nhân viên chức.
  • Khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải trích trong kỳ của các tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.
  • Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.
  • Chi phí khác bằng tiền: bao gồm toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

=>Việc áp dụng tiêu thức phân loại chi phí trên cho phép cơ quan quản lý cấp trên dễ dàng kiểm tra chi phí sản xuất của doanh nghiệp, tính nhu cầu vốn lưu động, hao phí vật chất và thu nhập quốc dân…

1.2.2 Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm

  • Khái niệm

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ.

Giá thành có 2 chức năng chủ yếu là thước đo bù đắp chi phí và chức năng giá. Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để hoàn thành một khối lượng sản phẩm phải được bù đắp bằng số tiền thu về tiêu thụ sản phẩm. Song, việc bù đắp những chi phí đầu vào mới chỉ đảm bảo được quá trình tái sản xuất giản đơn. Trong khi đó mục đích và nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị trường là tái sản xuất mở rộng, đảm bảo mọi chi phí đầu vào và có lãi. Vì vậy, để đáp ứng các yêu cầu quản lý, kế hoạch hạ giá thành được xem xét phân loại dưới nhiều góc độ khác nhau.

  • Phân loại giá thành sản phẩm

Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành

Theo cách phân chia này thì chi phí được chia thành giá thành dự toán, giá thành kế hoạch, và giá thành thực tế.

Giá thành dự toán: là chỉ tiêu giá thành được xây dựng trên cơ sở thiết kế kỹ thuật đã được duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định, tính theo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực thi công và phân tích định mức.

  • Căn cứ vào giá trị dự toán, ta có thể xác định giá thành của sản phẩm xây lắp được xác định theo công thức:
  • Giá thành dự toán = Giá trị dự toán – Lãi định mức

Trong đó:

Lãi định mức trong XDCB được nhà nước quy định trong từng thời kỳ Giá trị dự toán xây lắp được xây lắp được xác định dựa vào định mức của các cơ quan có thẩm quyền.

Giá thành kế hoạch: giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch. Chỉ tiêu này được xác lập trên cơ sở giá thành dự toán gắn liền với điều kiện cụ thể, năng lực thực tế của từng doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.

Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán – Mức hạ giá thành

Giá thành kế hoạch là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, là mục tiêu phấn đấu hạ giá thành của doanh nghiệp. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.

Các phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định được các nguyên nhân vượt định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó, điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.

  • Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí

Theo phạm vi phát sinh chi phí giá thành được chia thành 2 loại:

Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất. Đối với các đơn vị xây lắp giá thành sản xuất gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung.

Giá thành tiêu thụ (hay còn gọi là giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ bao gồm giá thành sản xuất cộng thêm chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp.

=>Cách phân loại này có tác dụng giúp cho các nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ.

1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Về bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện hai mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, cũng giống nhau về bản chất vì đều cùng biểu hiện bằng tiền những lao động sống và lao động vật hóa bỏ ra nhưng khác nhau về mặt lượng. Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn chúng trong một thời kỳ nhất định tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định.

Đứng trên góc độ quá trình hoạt động để xem xét thì quá trình sản xuất là một quá trình hoạt động liên tục, còn việc tính giá thành sản phẩm thực hiện tại một điểm cắt có tính chất chu kỳ để so sánh chi phí với khối lượng sản phẩm lao vụ dịch vụ hoàn thành. Tại thời điểm tính giá thành có thể có một khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành, chứa đựng một lượng chi phí cho nó là chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ. Tương tự như vậy đầu kỳ có thể có một khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành ở kỳ trước chuyển sang và một phần chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.

Giá thành được sản xuất theo công thức: Giá thành sản xuất = Giá trị SPDDĐK + CPPS trong kỳ – Giá trị SPDDCK

Như vậy, chi phí sản xuất khác với giá thành sản phẩm cả về phạm vi cấu thành, nhưng chi phí sản xuất là cơ sở duy nhất để tính giá thành sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY TNHH 1 THÀNH VIÊN CẦU, PHÀ QUẢNG NINH

2.1 Khái quát chung về tình hình công ty TNHH 1 thành viên cầu,phà Quảng Ninh

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển.

  • Tên công ty: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MTV CẦU PHÀ QUẢNG NINH
  • Tên bằng tiếng nước ngoài: QUANG NINH BRIDGE AND FERRY ONE MEMBER ,LTD
  • Tên viết tắt: không có
  • Địa chỉ trụ sở chính: Số 1A – Lê Thánh Tông – Hòn Gai – Hạ Long – Quảng Ninh – Mã số thuế: 5700471268

Công ty TNHH MTV Cầu phà Quảng Ninh trải qua 20 năm đổi mới, phấn đấu trưởng thành gắn liền với 20 năm đổi mới của Đảng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI-1986, Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới gắn liền tiến trình cầu hoá và các cây cầu lần lượt được xây dựng thay cho những chiếc phà ngày ngày chở khách và xe qua sông.

2.1.2 Ngành nghề kinh doanh chính

  • Công ty có nhiệm vụ sữa chữa vá ổ gà, nạo vét rãnh, phát quang,…sản phẩm tạo ra cuối cùng là những con đường đảm bảo giao thông thông suốt và an toàn, sản phẩm được cả xã hội tiêu dùng.
  • Nhận thầu xây dựng các công trình giao thông.
  • Sửa chữa các công trình giao thông.
  • Căn cứ vào kế hoạch đầu năm, ban lãnh đạo của công ty giao kế hoạch xuống các đơn vị trực thuộc để làm công tác bảo dưỡng sửa chữa cầu. Ở các hạt lập kế hoạch sửa chữa thường xuyên để làm căn cứ thực hiện.
  • Nhiệm vụ chính của công ty là đảm bảo giao thông thông suốt, an toàn cho người và phương tiện trên phạm vi những tuyến phà, cầu do công ty quản lý. Tất cả các cây cầu, tuyến phà trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

2.1.3 Đặc điểm quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH 1 thành viên quản lý cầu, phà Quảng Ninh có ảnh hưởng đến công tác kế toán. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Căn cứ vào năng lực sản xuất của đơn vị mình, giám đốc bố trí nhân lực cho từng thành phần công việc, chuẩn bị nguyên vật liệu, máy móc, và điều khiển mặt bằng kỹ thuật thi công, rồi tổ chức thi công.

2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh.

Để đảm bảo cho việc tổ chức và quản lý kinh doanh phục vụ có hiệu quả, bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo dạng trực tuyến chức năng, Bộ máy quản lý gọn nhẹ theo chế độ một thủ trưởng. Với mô hình này đảm bảo tính thống nhất cao trong hoạt động, đồng thời cũng thể hiện tính tập trung chuyên môn hoá cao.

Giám đốc Công ty: là người đứng đầu Công ty, do sở giao thông vận tải bầu ra, là người chịu trách nhiệm cao nhất trước nhà nước và pháp luật về các hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ của Công ty, đồng thời là người chỉ đạo trực tiếp công tác tổ chức bộ máy Công ty.

Phòng Tổ chức hành chính: có nhiệm vụ quản lý lao động – tiền lương, những công việc có liên quan đến công tác hành chính và các quan hệ xã hội khác.

Công tác quản lý lao động – tiền lương: có chức năng xây dựng kế hoạch quản lý công tác tổ chức lao động tiền lương, định mức lao động, chế độ tiền lương, tiền thưởng, đề xuất kế hoạch đào tại lại, tổ chức thi nâng bậc cho công nhân, giải quyết chế độ chính sách, quản lý hồ sơ người lao động, tổ chức công tác văn thư lưu trữ…

Công tác hành chính: quản lý và thực hiện toàn bộ công tác hành chính trong công ty, thực hiện công tác chính sách, quy định của cơ quan chính quyền, của cơ quan quản lý cấp trên là Sở giao thông vận tải Tỉnh Quảng Ninh….

Phòng Tài chính – Kế toán: Có chức năng lập và tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính theo tháng, quý, năm, thực hiện hạch toán theo quy định của nhà nước và điều lệ của Công ty, cung cấp các chỉ tiêu kinh tế cơ bản, đồng thời là cơ quan tham mưu cho Giám đốc về công tác quản lý tài chính của Công ty để kịp thời đưa ra các quyết định nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý thu chi tài chính, vật tư, tiền vốn, thực hiện hạch toán kinh doanh, thanh quyết toán với Nhà nước.

Phòng Kỹ thuật – Vật tư: có nhiệm vụ lập kế hoạch kinh doanh phục vụ hàng năm, giao và kiểm tra thực hiện kế hoạch hàng tháng ở các đơn vị thành viên, lập kế hoạch sửa chữa lớn, sửa chữa nhỏ, bảo dưỡng phương tiện giao cho XN thực hiện.

Các đơn vị thành viên: là các bộ phận trực tiếp sản xuất theo yêu cầu của Giám đốc, Phó giám đốc trên cơ sở kế hoạch được giao dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các giám đốc đơn vị… Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

2.1.5 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán và chế độ của Công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh

  • Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh
  • Cơ cấu bộ máy kế toán bao gồm:

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán

Kế toán trưởng: Là người chịu trách nhiệm cao nhất về hoạt động kế toán của công ty, là người trực tiếp quản lý các nhân viên kế toán ở công ty, chịu trách nhiệm về tính chính xác của BCTC cũng như các khoản chi phí phát sinh trong mọi hoạt động tài chính của công ty.

Kế toán tổng hợp: phụ trách công tác tập hợp chi phí và tính giá thành, giám sát công việc kế toán. Đồng thời là người lên bảng cân đối phát sinh, bảng tổng kết tài sản cuối tháng, quý, năm và lập báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo thuế.

Kế toán tiền lương: Mở sổ sách ghi chép phản ánh tổng hợp về lượng lao động, tiền lương và các khoản trích theo lương.

Kế toán vốn bằng tiền: Có nhiệm vụ thanh toán các khoản thanh toán bằng tiền mặt, séc, chuyển khoản và các giao dịch khác với ngân hàng. Ngoài ra, còn theo dõi và phản ánh kịp thời tình hình biến động của các khoản nợ phải thu khách hàng, phải trả nhà cung cấp và số thuế VAT đầu vào của công ty.

Kế toán vật tư và TSCĐ: Ghi chép, tính toán,phản ánh chính xác trung thực kịp thời số lượng, chất lượng của vật liệu nhập, xuất, tồn kho, phân bổ hợp lí chi phí theo đối tượng sử dụng để tính giá thành, theo dõi toàn bộ phần thanh toán, quyết toán của công trình và hạng mục công trình XDCB, tình hình tăng giảm TSCĐ, hiện trạng sử dụng TSCĐ tính toán và phân bổ chính xác mức khấu hao TSCĐ vào chi phí, lập kế hoạch sửa chửa TSCĐ của công ty.

Thủ quỹ: Có nhiệm vụ đảm bảo an toàn tiền mặt, ngân quỹ…mở sổ sách theo dõi phiếu thu, chi do kế toán, chi tiết phải lập cuối ngày phải đối chiếu số tiền tồn quỹ thực tế với sổ sách. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Tuy có sự phân chia giữa các phần hành kế toán, mỗi người có một nhiệm vụ riêng nhưng các nhân viên kế toán vẫn có sự phối hợp hài hòa với nhau. Để việc hạch toán có sự trung thực, chính xác các nhiệm vụ kinh tế phát sinh ở từng khâu là tiền đề cho khâu tiếp theo và đảm bảo an toàn tránh sai sót cho toàn hệ thống.

  • Chế độ kế toán đang áp dụng tại công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh.
  • Chế độ kế toán vận dụng tại Công ty theo quyết định số 15/2006/QĐ –BTC ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Tài Chính.
  • Niên độ kế toán: Bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31/12 hàng năm.

Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán: VNĐ

  • Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ: Bình quân gia quyền liên hoàn.
  • Phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên.
  • Phương pháp khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng.
  • Phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

Tổ chức hệ thống sổ kế toán

Về hình thức sổ kế toán: Hiện nay công ty đang sử dụng hình thức “Chứng từ ghi sổ” với hệ thống các sổ kế toán chi tiết, tổng hợp và báo cáo thống nhất theo quy định của Bộ tài chính.

Chứng từ ghi sổ được lập trên cơ sở chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp các chứng từ gốc cùng loại có cùng 1 nội dung kinh tế, chứng từ ghi sổ được đánh số hiệu liên tục trong từng ngày, từng tháng hoặc cả năm và có chứng từ gốc đính kèm, phải được kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ kế toán.

  • Sơ đồ 2.2: Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán của công ty theo hình thức CTGS

Giải thích trình tự ghi sổ:

  • Bước 1: Căn cứ vào chứng từ gốc đã được kiểm tra, kế toán phân loại chứng từ thành các loại khác nhau.
  • Bước 2: Lập chứng từ ghi sổ trong các nghiệp vụ kinh tế phát sinh cùng loại.
  • Bước 3: Tổng hợp số liệu trên chứng từ ghi sổ và kèm theo các chứng từ gốc đính kèm.
  • Bước 4: Lập số liệu tổng hợp cuối cùng của chứng từ ghi sổ vào sổ đăng kí chứng từ ghi sổ.
  • Bước 5: Lập số liệu của chứng từ ghi sổ và sổ cái cho những tài khoản liên quan.

Công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh vẫn đang tìm hiểu và nghiên cứu để lựa chọn một phần mềm kế toán phù hợp với tổ chức kế toán của công ty. Vì vậy, hiện nay phòng kế toán của công ty vẫn sử dụng Excel làm phương tiện tính toán chủ yếu.

2.2 Thực trạng kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm sản xuất tại công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

2.2.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

  • Công ty xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là công trình, hạng mục công trình hoàn thành.

2.2.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của Công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh

Trong bài khóa luận này, em xin trình bày kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành của công trình xây dựng hạng mục cầu. Tên công trình: “Hạng mục 4 Ba Chẽ” do đội xây dựng 1,2,3 cầu Ba Chẽ của công ty thực hiện. Công trình được khởi công xây dựng từ ngày 01 tháng 03 năm 2012 giá trị hợp đồng 1.304.284.391đồng.

  • Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

a, Nội dung

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ở công ty bao gồm toàn bộ giá trị vật liệu cần thiết tạo ra sản phẩm xây lắp, trực tiếp phục vụ cho hoạt động xây lắp: vật liệu chính (gạch, đá, xi măng, sắt, thép,…), vật liệu phụ (cọc tre, dây buộc,…), các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình (tấm xi măng đúc sẵn, ống cống,…), vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực thể công trình hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp, các loại công cụ dụng cụ sản xuất,…

b, Chứng từ sử dụng:

  • Hoá đơn GTGT
  • Giấy đề nghị thanh toán
  • Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho
  • Phiếu chi, giấy báo Nợ của ngân hàng
  • Bảng kê hoá đơn thuế, Bảng tiêu hao vật tư
  • Sổ chi tiết TK 621, Sổ cái TK 621 …

c, Tài khoản sử dụng:

Tài khoản kế toán được sử dụng để tập hợp chi phí là TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình theo yêu cầu. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

d, Quy trình ghi sổ kế toán chi tiết

Căn cứ vào khối lượng thi công, giám đốc xí nghiệp cùng chủ nhiệm công trình, nhân viên kế hoạch, nhân viên kỹ thuật, nhân viên tiếp liệu của xí nghiệp tiến hành lập dự toán, lập phương án thi công công trình nhận thầu; lập kế hoạch cung ứng vật tư và giao nhiệm vụ sản xuất thi công cho từng tổ đội.

Các tổ đội thi công, căn cứ vào nhiệm vụ được giao, dựa trên dự toán sẽ tính toán khối lượng vật tư cần thiết phục vụ cho quá trình thi công ở tổ đội mình. Khi có lệnh sản xuất thi công, các tổ yêu cầu cung cấp vật tư có sự xác nhận của chủ nhiệm công trình hoặc nhân viên kỹ thuật, rồi gửi cho nhân viên tiếp liệu tiến hành việc thu mua vật tư theo yêu cầu.

Do đặc điểm ngành XDCB và của SPXL, để thuận lợi cho việc thi công, tránh việc vận chuyển tốn kém, các xí nghiệp thường kí hợp đồng mua trọn gói với các nhà cung ứng. Có những vật liệu đơn giản được mua về vận chuyển đến tận chân công trình. Ví dụ như : que hàn, dây thép buộc với số lượng thực tế, dung tới đâu mua tới đó. Những vật liệu chủ đạo như: xi măng, thép…thì xuất ở kho ra.

Khi vật liệu được đưa về, tổ trưởng và thủ kho tiến hành kiểm tra số lượng, chất lượng, chủng loại vật tư mua về. Nếu đáp ứng được đúng, đủ như trong hợp đồng mua bán đã ký kết thì ký nhận vào phiếu giao hàng, nhập kho, ghi vào sổ kho, thẻ kho theo số lượng nhập thực tế và đơn giá theo hoá đơn.

Căn cứ vào chứng từ gốc (hoá đơn bán hàng – liên 2 giao cho khách hàng), kế toán xí nghiệp lập phiếu nhập kho sau đó ghi luôn phiếu xuất kho đồng thời ghi sổ chi tiết vật tư.

Căn cứ vào kế hoạch thi công và định mức thi công NVL, đội trưởng đội xây lắp lập phiếu yêu cầu vật tư:

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP & KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH MTV CẦU, PHÀ QUẢNG NINH

3.1 Đánh giá thực trạng công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh.

Công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh là một doanh nghiệp Nhà nước hiện đang hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, được thành lập ngay sau những ngày đất nước giải phóng. Những năm vừa qua, công ty đã có những đóng góp không nhỏ vào công cuộc xây dựng và cải tạo nước nhà. Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, công ty đã vững vàng vượt qua những khó khăn của nền kinh tế nói chung và của ngành xây dựng nói riêng. Trong quá trình hoạt động, công ty luôn tìm cách tiếp cận thị trường, mở rộng quy mô kinh doanh, tự tìm kiếm và tham gia các cuộc đấu thầu xây dựng. Là một doanh nghiệp có bề dày kinh nghiệm, cùng với sự nỗ lực hết mình của bản thân doanh nghiệp, cũng như sự giúp đỡ của các đơn vị hữu quan, đơn vị chủ quan, công ty đã không ngừng lớn mạnh và từng bước khẳng định mình trên thị trường với sản phẩm xây lắp có chất lượng tốt, kiểu dáng đẹp, giá thành hợp lý, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Để làm được điều này, công ty đã áp dụng nhiều biện pháp tổng hợp, trong đó việc quản lý chi phí tiết kiệm và hạ giá thành là một biện pháp vô cùng quan trọng. Vì vậy, công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm giữ một vị trí không hề nhỏ trong thành công chung của công ty. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Qua quá trình tìm hiểu thực tế về công tác quản lý, công tác kế toán nói chung và công tác kế toán chi phí, giá thành nói riêng, em nhận thấy công ty đã xây dựng được mô hình quản lý và hạch toán khoa học, hợp lý, phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện nay. Nhìn chung công tác kế toán tại công ty đã chấp hành đúng mọi chế độ, chính sách của Nhà nước cho các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực và cho doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây lắp. Về phương pháp hạch toán, trên cơ sở tuân thủ theo đúng nguyên tắc, chuẩn mực, công ty cũng có thay đổi một số cách làm truyền thống để phù hợp với tình hình thực tế của công ty và để đơn giản hoá công việc kế toán mà không làm ảnh hưởng đến việc cung cấp thông tin trung thực, hợp lý, chính xác, kịp thời cho các đối tượng sử dụng thông tin của tài chính kế toán. Tuy nhiên, cũng còn một số hạn chế trong tổ chức công tác kế toán cần công ty tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hệ thống kế toán cho phù hợp thời kỳ mới và để đảm bảo hơn nữa tính chính xác, trung thực của thông tin.

Dưới góc độ là một sinh viên thực tập, lần đầu làm quen với thực tế, em xin mạnh dạn đưa ra một số đánh giá của cá nhân về kết quả đạt được và tồn tại cần hoàn thiện trong công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh.

3.1.1 Đánh giá chung về công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh

  • Về bộ máy quản lý:

Bộ máy quản lý của công ty ko ngừng cải thiện và ngày càng gọn nhẹ; có sự phân công rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban, đảm bảo việc cung cấp đã phát huy được tính chủ động và khả năng tiềm tàng của các xí nghiệp trực thuộc trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Công ty có đội ngũ cán bộ có trình độ, đầy nhiệt huyết với nghề, cùng bước trẻ hoá nhân sự cùng chung tay, góp sức vì sự phát triển bền vững của công ty. Tổ chức bộ máy quản lý khoa học, có hiệu quả, phân công đúng người, đúng việc đã góp phần rất lớn trong việc giữ vững và chiếm lĩnh thị trường, khẳng định uy tín và thương hiệu công ty của công ty, đảm bảo về chất lượng – giá thành – tiến độ các công trình.

  • Về bộ máy kế toán: Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Công ty chủ động lựa chọn, xây dựng bộ máy kế toán theo mô hình kế toán tập trung phù hợp với đặc điểm tổ chức, quy mô và phạm vi hoạt động của công ty. Cán bộ kế toán nắm vững về nguyên tắc, chế độ kế toán, tác phong làm việc nghiêm túc, có tinh thần trợ giúp lẫn nhau trong công việc vì lợi ích chung. Phòng kế toán công ty gồm 07 người được phân công nhiệm vụ rõ ràng và chịu trách nhiệm trực tiếp với kế toán trưởng và ban giám đốc công ty. Các kế toán viên dưới xí nghiệp chịu sự quản lý của phòng kế toán công ty và đảm nhận toàn bộ công việc hạch toán ban đầu của đơn vị mình rồi báo cáo với phòng kế toán công ty. Bộ máy kế toán gọn nhẹ nhưng vẫn đảm bảo cung cấp thông tin kế toán nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ cho mọi đối tượng sử dụng thông tin.

Tuy công ty không có bộ phận kế toán quản trị riêng mà bộ phận kế toán tài chính vẫn làm luôn vai trò của kế toán quản trị, nhưng do trong quá trình hạch toán công ty đã chi tiết đến mức có thể các khoản mục chi phí theo đúng đối tượng tập hợp chi phí, cũng như đối tượng tính giá thành là từng công trình, hạng mục công trình cụ thể nên kế toán tài chính có thể thông qua việc lọc số liệu có thể làm được báo cáo quản trị cho ban lãnh đạo công ty khi có nhu cầu sử dụng những thông tin này.

  • Về hệ thống sổ sách báo cáo tài chính:

Công ty đã mở các sổ kế toán chi tiết để hạch toán chi tiết theo từng công trình, hạng mục công trình đảm bảo cho việc theo dõi, quản lý chặt chẽ các khoản mục chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp, đồng thời tính toán được hiệu quả hoạt động của từng xí nghiệp cũng như toàn công ty khi tham gia thi công công trình, hạng mục công trình đó.

Hệ thống sổ sách, báo cáo của công ty là tương đối đầy đủ, khoa học, đúng theo yêu cầu về chính sách, chế độ của Nhà nước, các cơ quan hữu quan. Tuy nhiên, công ty cũng cần nhanh chóng tổ chức lại hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách báo cáo theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC để theo kịp với chính sách kế toán mới ban hành của Nhà nước, thuận lợi hơn cho quá trình hội nhập với nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

  • Về công tác kế toán tập hợp chi phí SX và tính giá thành sản phẩm xây lắp:

Công ty đã xác định được đúng đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành và các phương pháp tập hợp chi phí, phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp phù hợp với đặc điểm bộ máy tổ chức quản lý, tổ chức thi công và quy trình sản xuất kinh doanh của công ty. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Việc tập hợp chi phí sản xuất là tương đối khoa học, đúng định mức, đúng chế độ. Các chi phí phát sinh được tập hợp chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình theo từng khoản mục qua việc hạch toán ban đầu tại xí nghiệp, sau đó gửi về phòng tài chính kế toán công ty để nhập liệu, vào sổ và quản lý chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí, theo từng xí nghiệp thi công. Các chi phí được tập hợp theo phương pháp trực tiếp theo từng công trình, hạng mục công trình đến mức có thể trong điều kiện cho phép; còn các chi phí gián tiếp không tập hợp trực tiếp được thì công ty tiến hành phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình theo tiêu thức phân bổ phù hợp.

Về phương pháp tính giá thành của công ty rất nhanh chóng và tương đối chính xác do dựa vào doanh thu kết toán hay quyết toán của cả hai bên chủ đầu tư, đại diện công ty và xí nghiệp thi công chấp nhận; tạo điều kiện để xác định kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ của công ty. Nhưng để đảm bảo cho việc theo dõi chi phí phát sinh theo từng khoản mục kế toán nên đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ và tính giá thành sản phẩm theo các phương pháp cụ thể.

Những ưu điểm kể trên có tác dụng rất lớn trong quá trình xây dựng và lớn mạnh của công ty trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, để đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu và nhiệm vụ của công tác kế toán, công tác quản lý trong thời đại mới, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận một số mặt còn tồn tại trong công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí giá thành nói riêng của công ty.

3.1.2 Những tồn tại và nguyên nhân:

  • Về quá trình luân chuyển chứng từ:

Tại công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh hiện nay, việc luân chuyển chứng từ từ một số đội xây dựng lên phòng kế toán công ty vẫn tập trung vào cuối tháng làm cho công tác cập nhật thông tin của kế toán cũng bị dồn vào cuối tháng và đôi khi làm kế toán giá thành phải tập hợp chi phí sản xuất chậm hơn so với yêu cầu gây ảnh hưởng tới việc cung cấp thông tin cho các nhà quản lý.

  • Mô hình kế toán:

Mô hình kế toán của công ty là mô hình kế toán tập trung nên toàn bộ chứng từ phát sinh đều phải tập hợp về phòng Kế toán – tài chính của công ty để kế toán tiến hành ghi sổ. Tuy nhiên do đặc điểm chu chuyển thường xuyên trong xây dựng, các công trình thi công nằm rải rác ở nhiều vùng khác nhau, xa trụ sở của công ty nên việc luân chuyển chứng từ từ các đội sản xuất lên phòng kế toán của công ty bị chậm trễ là điều không tránh khỏi. Điều này làm ảnh hưởng tới công tác hạch toán kế toản, cung cấp thông tin cho lãnh đạo công ty và phần nào ảnh hưởng tới hoạt động SXKD của công ty. Khối lượng chứng từ nhiều, thường bị dồn vào cuối ký dẫn đến những sai sót không đáng có trong công tác hạch toán chi phí như ghi thiếu, ghi nhầm…

  • Về kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Công ty không tiến hành dự trữ NVL, do đó nhiều khi thiếu nguyên vật liệu, làm giảm tiến độ thi công công trình. Ở công ty việc tiến hành kiểm tra chất lượng NVL không được tiến hành thường xuyên, có thể xảy ra trường hợp mua NVL về không đảm bảo chất lượng yêu cầu dẫn đến sản phẩm xây dựng xong không đạt yêu cầu kĩ thuật phải tiến hành xây dựng lại, như vậy vừa mất thời gian, vừa tốn kém, lại mất uy tín. Việc hạch toán trị giá NVL xuất kho theo phương pháp thực tế đích danh cần phải theo dõi chính xác giá trị thực tế nhập kho của từng NVL. Tuy nhiên, khối lượng NVL nhiều nên một số NVL xuất kho có trị giá không chính xác, ảnh hưởng đến công tác hạch toán chi phí NVL trực tiếp. Cuối kỳ kế toán, chi phí NVL trực tiếp không sử dụng hết nhập kho hoặc có bút toán ghi âm. Do đó, chi phí NVL trực tiếp trong kỳ kế toán hiện tại tăng nhưng kỳ kế toán sau lại giảm mặc dù tổng chi phí vật liệu cho công trình là không đổi. Điều này làm cho chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán không được chính xác.

  • Kế toán chi phí NCTT

Hiện nay công ty chưa thực hiện trích lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất. Khoản mục chi phí này phát sinh khá lớn do đó gây ra biến động về giá thành sản phẩm trong kỳ.

  • Về cán bộ kế toán trong công ty:

Tuy đa số cán bộ trong công ty có trình độ chuyên môn nhưng vẫn còn trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm làm việc, hơn nữa với điều kiện khoa học công nghệ phát triển như hiện nay thì cần phải được đào tạo lại để kịp thời nắm bắt công nghệ tiên tiến, phù hợp với yêu cầu công việc.

3.2 Sự cần thiết của việc hoàn thành công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Trong nền kinh tế thị trường ngày một phát triển, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải biết tự chủ về mọi mặt trong hoạt động SXKD, từ việc đầu tư, sử dụng vốn, tổ chức sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm, đồng thời phải biết tận dụng năng lực, cơ hội để lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn. Để có được điều đó, một trong những biện pháp được các doanh nghiệp lựa chọn là không ngừng hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Chính vì vậy, trong suốt quá trình sản xuất, quản trị doanh nghiệp cần thu nhập những thông tin về tình hình chi phí so với kết quả đạt được, từ đó đề ra các biện pháp không ngừng giảm bớt chi phí không cần thiết, khai thác tối đa mọi tiềm năng sẵn có về NVL, lao động,…của doanh nghiệp. Những thông tin kinh tế đó không chỉ được xác định bằng phương pháp trực tiếp quan, căn cứ vào sự tồn tại hình thái vật chất của nó mà còn bằng phương pháp ghi chép, tính toán trên sự phản ảnh tính hình chi phí thực tế trên sổ sách. Xét trên góc độ này, kế toán với chức năng cơ bản là công cấp thông tin cho quản lý, đã khẳng định vai trò không thể thiếu đối với quản trị doanh nghiệp. Là một trong những phần quan trọng cả công tác kế toán, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với chức năng giám sát, phản ánh trung thực kịp thời các thông tin CPSX phát sinh, tính đúng, tính đủ CPSX vào giá thành sản phẩm sẽ giúp cho các nhà quản trị đưa ra được các phương án thích hợp giữa SXKD và xác định giá bán sản phẩm, đảm bảo SXKD có hiệu quả, là cơ sở để doanh nghiệp đưa ra quyết định quản lý. Do đó, hoàn thiện hệ thống kế toán nói chung và phân hệ kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm nói riêng nhằm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho quản lý là việc làm thực sự cần thiết và có ý nghĩa chiến lược trong sự phát triển của mỗi DN.

3.3 Một số kiến nghị và đề xuất.

3.3.1. Kiến nghị 1: Về ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán tại công ty TNHH MTV cầu, phà Quảng Ninh

Sử dụng phần mềm kế toán trong doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện giảm bớt khối lượng công việc, giảm bớt sổ sách kế toán và đặc biệt đảm bảo cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác, góp phần đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công tác kế toán nói riêng cũng như công tác quản lý nói chung.

Công ty có thể tự viết phần mềm theo tiêu chuẩn quy định tại thông tư 103/2005/TT- BTC của Bộ Tài Chính ngày 24/11/2005 về việc “Hướng dẫn tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán”. Hoặc công ty có thể đi mua phần mềm của các nhà cung cấp phần mềm kế toán chuyên nghiệp như: Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

  • Phần mềm kế toán FASTcủa công ty cổ phần
  • Phần mềm kế toán MISA của công ty cổ phần MISA
  • Phần mềm kế toán SASINNOVA của công ty cổ phần SIS Việt
  • Phần mềm kế toán ASOFT của công ty giải pháp phần mềm
  • Phần mềm kế toán ACMAN của công ty cổ phần ACMAN
  • Phần mềm kế toán EFFECT của công ty cổ phần EFFECT
  • Phần mềm kế toán Bravo của công ty cổ phần

Khi trang bị phần mềm, đội ngũ kế toán cần được đào tạo, bồi dưỡng để có thể sử dụng thành thạo, khai thác được những tính năng ưu việt của phần mềm.việc sử dụng thành công phần mềm sẽ giúp cho việc xử lý và cung cấp thông tin kinh tế – tài chính được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm được sức lao động, nâng cao hiệu quả công việc, tránh nhầm lẫn, sai sót đồng thời lưu trữ, bảo quản số liệu thuận lợi và an toàn.

3.3.2. Kiến nghị 2: Tiến hành trích lập dự phòng chi phí bảo hành công trình xây lắp:

Nội dung bảo hành công trình bao gồm: khắc phục, sửa chữa, thay thế thiết bị hư hỏng, khiếm khuyết hoặc khi công trình vận hành, sử dụng không bình thường do lỗi của nhà thầu gây ra. Xuất phát từ các đặc điểm của ngành xây lắp là sản phẩm mang tính đơn chiếc, khối lượng lớn, giá trị sử dụng lâu dài, chỉ có thể nhận biết được chất lượng của công trình sau khi bàn giao và đưa vào sử dụng, thời hạn bảo hành dài thường là 12 tháng, 24 tháng hoặc dài hơn( tùy từng công trình). Vì vậy, việc lập dự phòng về bảo hành công trình xây lắp phải được tính toán một cách chặt chẽ (lập dự toán chi phí trích trước). Thực tế, Công ty không trích lập dự phòng các khoản chi phí này do đó khi các khoản chi phí này phát sinh sẽ làm tăng chi phí bất thường và giảm lợi nhuận trong kỳ của Công ty. Nhằm giảm bớt và loại bỏ sự bất ổn của chi phí các kỳ sản xuất kinh doanh, “tạo nguồn” dự phòng để các chi phí này khi phát sinh không ảnh hưởng đến hoạt động của công ty, dự phòng rủi ro: kế toán nên tiến hành trích lập dự phòng bảo hành công trình xây lắp.

3.3.3. Kiến nghị 3: Về việc lập sổ sách theo đúng chuẩn mực

Công ty lập chứng từ ghi sổ dựa vào chứng từ gốc. Sau đó cho thẳng vào chứng từ ghi sổ không tiến hành phân loại dựa vào bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại trong kỳ. Sau đó mới đưa vào chứng từ ghi sổ. Gây khó khăn trong việc ghi sổ, lộn xộn, dễ nhầm lẫn. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Để dễ dàng hơn trong việc ghi sổ, phân loại chứng từ. Kế toán công ty có thể lập bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại theo mẫu tham khảo sau:

3.3.4. Kiến nghị 4: Hạch toán chi phí nguyên vật liệu

Việc mua nguyên vật liệu đã được tính toán theo dự toán và kế hoạch thi công nhưng thực tế số vật liệu cuối kỳ còn lại tại các công trình do chưa sử dụng hết cũng chiếm một lượng không nhỏ, do đó chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế phát sinh trong kỳ có thể chưa được phản ánh chính xác.

Kế toán công ty cần yêu cầu các nhân viên thống kê đội lập bảng kê vật liệu thừa chưa sử dụng hết ở công trình để có căn cứ phản ánh chính xác hơn chi phí NVLTT thực tế phát sinh.

Để lập bảng kê này, nhân viên thống kê đội cùng cán bộ kỹ thuật tiến hành kiểm kê xác định khối lượng vật liệu còn lại tại công trường để tiến hành tính toán ghi vào bảng kê. Bảng kê được lập theo từng công trình hoặc hạng mục công trình tại thời điểm hoàn thành. Công việc này cũng có thể thực hiện vào cuối tháng (nếu điều kiện cho phép). Bảng kê NVL còn lại cuối kỳ có thể lập theo mẫu tham khảo sau:

Đồng thời cần có các biện pháp nhằm khuyến khích việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu, chú trọng công tác thu hồi vật tư thừa, phế liệu nhập kho nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.

Để khuyến khích việc sử dụng tiết kiệm NVL, công ty nên có chế độ thưởng, phạt nghiêm minh đối với những công nhân sử dụng tiết kiệm hay lãng phí NVL. Thường xuyên quan tâm chú ý nhắc nhở người lao động nên có ý thức tiết kiệm trong lao động. Đây cũng là một biện pháp tích cực nhằm hạ giá thành sản phẩm

3.3.5. Kiến nghị 5: Về các khoản thiệt hại trong sản xuất.

Nếu không tiến hành theo dõi các khoản thiệt hại trong sản xuất sẽ dẫn tới một số hạn chế trong việc quản lý chi phí và quản lý lao động như khó có thể thu hồi khoản bồi thường thiệt hại, không giáo dục được ý thức cẩn trọng trong lao động của công nhân… Để tránh tình trạng này xảy ra Công ty nên tiến hành hạch toán các khoản chi phí thiệt hại này căn cứ vào từng nguyên nhân cụ thể. Có như vậy mới hạn chế và khắc phục, kiểm soát và quản lý được các khoản thiệt hại và đảm bảo độ chính xác của giá thành sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

  • Thiệt hại về sản phẩm hỏng:

Sản phẩm hỏng là những sản phẩm không thoả mãn các tiêu chuẩn về chất lượng và đặc điểm kỹ thuật… Thiệt hại về sản phẩm hỏng của công ty bao gồm: thiệt hại về sửa chữa sản phẩm hỏng và thiệt hại phá đi làm lại. Trong đó thiệt hại về sản phẩm hỏng nếu có chủ yếu là thiệt hại về sửa chữa sản phẩm hỏng. Hiện nay Công ty hạch toán phần thiệt hại này vào chi phí sản xuất chung làm tăng giá thành sản phẩm. Vì vậy trước khi hạch toán khoản thiệt hại này Công ty nên tìm hiểu nguyên nhân của sản phẩm hỏng để có biện pháp xử lý:

  • Nếu do lỗi bên A gây ra (Ví dụ như chủ đầu tư thay đổi thiết kế, kết cấu công trình): bên A phải bồi thường thiệt hại
  • Nếu sản phẩm hỏng là do người lao động thì tổ đội thi công phải chịu trách nhiệm, đồng thời phải theo dõi khoản thu hồi.
  • Nếu sản phẩm hỏng do lỗi kỹ thuật thì phải xử lý ngay để không làm ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất và chất lượng sản phẩm.
  • Nếu do sự kiện khách quan: Thiên tai, hoả hoạn…phải theo dõi chờ xử lý và sau đó căn cứ vào quyết định xử lý để tính vào chi phí bất thường…

Tuỳ theo mức độ mà sản phẩm hỏng được chia làm hai loại:

  • Sản phẩm hỏng không sửa chữa được: là những sản phẩm hỏng mà điều kiện kỹ thuật không cho phép sửa chữa hoặc việc sửa chữa không có lợi về mặt kinh tế.
  • Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được: là những sản phẩm hỏng mà điều kiện kỹ thuật cho phép sửa chữa và việc sửa chữa có lợi về mặt kinh tế.

3.3.6. Kiến nghị 6: Về việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sử dụng máy thi công:

Hiện tại công ty lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các công trình, hạng mục công trình là tiêu thức “giá thành dự toán”. Xuất phát từ sự đa dạng trong sản phẩm xây lắp của công ty đó là bao gồm các loại công trình từ sửa chữa, xây mới, các công trình thi công có độ khó và kỹ thuật phức tạp khác nhau…..nên mức độ và nhu cầu sử dụng máy thi công là rất khác nhau, vì vậy công ty lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các công trình, hạng mục công trình là “giá thành dự toán” là chưa hợp lý và chính xác. Theo em, công ty nên phân bổ chi phí sử dụng máy thi công theo tiêu thức số ca máy phục vụ cho từng công trình (số liệu về các ca máy phục vụ cho từng công trình sẽ được lấy từ bảng lịch trình ca máy) vì như thế mới phản ánh được chính xác chi phí máy thi công sử dụng cho từng công trình.

  • Công thức phân bổ như sau:

Với cách làm trên, công ty sẽ phản ánh được chi phí sử dụng máy thi công phân bổ cho từng công trình một cách chính xác, từ đó góp phần phản ánh chính xác hơn giá thành của mỗi công trình.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Ngành xây dựng cơ bản là một ngành đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Do tình hình đất nước có nhiều biến đổi và do yêu cầu phát triển kinh tế nên các khu công nghiệp, các khu chung cư, đường giao thông, các cầu cảng…được xây dựng ngày càng nhiều với chất lượng ngày càng cao. Điều đó thể hiện tầm quan trọng của ngành xây dựng cũng như sự lớn mạnh của nó. Do đó, kế toán trong các doanh nghiệp xây dựng cơ bản cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Qua quá trình thực tập tại công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh, em đã tìm hiểu được về thực trạng công tác kế toán của công ty và được nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tế phần hành kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty em thực sự nhận thức được rằng kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp xây dựng cơ bản. Trong nền kinh tế nhiều thành phần do cơ chế thị trường như hiện nay, việc doanh nghiệp xây dựng cơ bản hạch toán đúng chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp cho doanh nghiệp có cái nhìn đúng đắn về thực trạng khả năng của doanh nghiệp mình, từ đó có những biện pháp thúc đẩy quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đạt tới hiệu quả cao nhất. Do đó, việc thực hiện tốt công tác kế toán nói chung và kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm nói riêng trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản sẽ giúp cho công tác quản lý doanh nghiệp đơn giản hơn, giúp doanh nghiệp có sự phát triển cân đối và cạnh tranh lành mạnh.

Cuối cùng em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Ths. Phạm Văn Tưởng và các cô chú Phòng Tài chính kế toán tại công ty TNHH 1 thành viên cầu, phà Quảng Ninh đã tạo điều kiện cho em được tìm hiểu giữa lý luận và thực tế để hoàn thành bài viết này. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất tính giá thành Cty cầu đường

One thought on “Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp

  1. Pingback: Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Duyên hải

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537