Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Ứng dụng phân tích kỹ thuật phân tích thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

Qua những đặc điểm của Thị trường chứng khoán Việt Nam và đặc điểm về Phân tích kỹ thuật, tình hình ứng dụng Phân tích kỹ thuật trên thế giới đã được trình bày ở chương I, một kết luận đã được rút ra là Thị trường chứng khoán Việt Nam có rất nhiều đặc điểm phù hợp cho việc sử dụng Phân tích kỹ thuật. Chương II sẽ trình bày về những điểm phù hợp đó. Tuy nhiên, đó chỉ là những kết luận mang tính định tính. Quá trình ứng dụng Phân tích kỹ thuật với các thông tin tài chính thực trên Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ góp phần làm rõ thêm sự phù hợp đó. Nhưng vấn đề đặt ra là sẽ ứng dụng Phân tích kỹ thuật như thế nào? Trên thực tế, mỗi nhà đầu tư lại ứng dụng Phân tích kỹ thuật theo một cách riêng. Chính vì thế, chương II sẽ đi sâu mô tả cách thức mà Phân tích kỹ thuật được sử dụng để phân tích trong bài khóa luận này với mục tiêu loại bỏ tất cả những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả của việc ứng dụng Phân tích kỹ thuật. Phần cuối của chương II là kết quả phân tích sau khi sử dụng Phân tích kỹ thuật theo phương pháp đã đưa ra.

I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM PHÙ HỢP VỚI VIỆC SỬ DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT

1. Những bất lợi khi sử dụng phương pháp phân tích cơ bản và lý thuyết thị trường hiệu quả

  • Nhiều nhà đầu tư không đủ kiến thức và kinh nghiệm để định giá dựa vào các mô hình Phân tích cơ bản

Như đã phân tích ở chương I, những người theo trường phái Phân tích cơ bản lập luận rằng: “những người thiếu kiến thức và kinh nghiệm để có thể sử dụng các mô hình Phân tích cơ bản mới phải ứng dụng Phân tích kỹ thuật”. [15] Lukas Menkhoff đã chứng minh rằng lập luận trên là sai và những nhà Phân tích kỹ thuật là những người có kiến thức và kinh nghiệm. Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận là chỉ có những người có kiến thức và kinh nghiệm mới sử dụng được  Phân tích cơ bản. Trên thực tế, Thị trường chứng khoán Việt Nam thiếu đội ngũ cán bộ, nhân viên, chuyên viên và nhà đầu tư có chuyên môn và kinh nghiệm. Vì thế, nhà đầu tư thường có xu hướng đầu tư theo cảm tính hay tâm lý –đối tượng mà Phân tích kỹ thuật nghiên cứu hơn.

Trong khi đối tượng phân tích của Phân tích cơ bản là các “thông tin cơ bản”, và trường phái lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng “mọi thông tin” được phản ánh ngay trong giá thì tính minh bạch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam lại thấp và rủi ro thông tin lại cao Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán.

Đối tượng phân tích của Phân tích cơ bản như đã nói ở chương I là các thông tin vĩ mô, thông tin ngành, thông tin về công ty và thông tin về cổ phiếu. Do đó, chất lượng của các thông tin này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của Phân tích cơ bản. Tuy nhiên, thực tế là tính minh bạch của Thị trường chứng khoán Việt Nam lại chưa cao, lịch trình công bố thông tin không rõ rang. Thị trường còn tiềm tàng nhiều rủi ro thông tin và rủi ro chính sách. Vì vậy, sẽ rất nguy hiểm nếu những thông tin sai lệch được đưa vào phân tích. Điều này sẽ dẫn đến tình trạng định giá sai. Đồng thời, việc thông tin không minh bạch và rủi ro thông tin cao đã đi ngược với giả thuyết của lý thuyết thị trường hiệu quả là thông tin được phản ánh ngay lập tức trong giá.

Việc xác định chính xác tỷ lệ chiết khấu (lợi suất kỳ vọng) là khó đồng thời nhiều cuộc nghiên cứu đã chứng minh rằng giá trong thực tế biến động mạnh hơn giá dự đoán bởi các mô hình Phân tích cơ bản sử dụng lợi suất kỳ vọng.

Đó là các cuộc nghiên cứu của Stephen F. LeRoy và Richard D. Porter đã tìm ra rằng thị trường có sự “biến động mạnh hơn” là được dự đoán trong các mô hình vào năm 1981. Năm 2017, Robert J. Shiller một lần nữa tiến hành thí nghiệm với chỉ số S&P 500 (từ năm 1981 đến năm 2017) và chỉ ra rằng kết quả mà LeRoy và Porter đã tìm ra vào năm 1981 cũng đúng cho giai đoạn sau đó. Vì vậy việc sử dụng mô hình Phân tích cơ bản theo những học giả này là không thể dự đoán được giá trị thực tế của cổ phiếu.

Thêm vào đó, việc xác định “lợi suất kỳ vọng” lại phụ thuộc vào từng nhà đầu tư và phụ thuộc vào lãi suất cơ bản trên thị trường. Trong những năm gần đây, lãi suất cơ bản trên thị trường Việt Nam thường xuyên thay đổi khiến cho việc xác định lợi suất kỳ vọng là tương đối khó khăn.

2. Những điểm thuận lợi cho việc ứng dụng phương pháp phân tích kỹ thuật

Trong khi Phân tích kỹ thuật phù hợp với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn các doanh nghiệp lớn thì đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Theo Báo cáo “Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21” của Tổng Cục Thống Kê thì trong năm 2023 có khoảng 61,8% – 86,4% doanh nghiệp Việt Nam thực tế đang hoạt động (không tính đến số doanh nghiệp đã phá sản hoặc thôi không hoạt động) là doanh nghiệp vừa và nhỏ.[4, tr.34,35] Ở Việt Nam doanh nghiệp có quy mô lớn khi có vốn điều lệ vào khoảng 100 tỷ VND (tương đương 5 triệu USD). Tuy nhiên, mức 5 triệu USD vẫn là mức nhỏ trong nghiên cứu của Lukas Menkhoff về tình hình sử dụng Phân tích kỹ thuật. Trong nghiên cứu của mình, Lukas Menkhoff cho rằng: doanh nghiệp có tổng tài sản là 10 tỷ USD vẫn là doanh nghiệp nhỏ. [15]

Theo đó, Công ty chứng khoán Sài Gòn, công ty chứng khoán lớn nhất Việt Nam cũng chỉ có mức tổng tài sản tại thời điểm 31/12/2025 là 8793 tỷ VND tương đương 418,7 triệu USD. [1] Vì đa số các doanh nghiệp Việt Nam và các CTCK Việt Nam có quy mô nhỏ nên những công ty này sẽ có xu hướng sử dụng Phân tích kỹ thuật nhiều hơn.

  • Nhà đầu tư Việt Nam thường có xu hướng đầu tư ngắn và trung hạn

Khác với ở các quốc gia khác trên thế giới. Nhà đầu tư Việt Nam thường có xu hướng đầu tư trong ngắn hạn và trung hạn. Trong khi đó, Phân tích kỹ thuật đòi hỏi lượng thời gian cho phân tích ít hơn và là phương pháp phân tích cổ phiếu quan trọng nhất nếu khung thời gian phân tích là ngắn. [15] Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán.

  • Tâm lý nhà đầu tư Việt Nam trở thành yếu tố quan trọng tác động đến giá chứng khoán

Một câu hỏi cần đặt ra là liệu các “thông tin cơ bản” có thể khiến cho Thị trường chứng khoán Việt Nam tăng mạnh như năm 2021, 2022, rồi lại giảm mạnh như năm 2023? Một trong những nguyên nhân của những hiện tượng trên là yếu tố tâm lý. Trong giai đoạn phát triển nóng ở Thị trường chứng khoán Việt Nam, nhiều người tham gia đầu cơ trong khi không có kiến thức về chứng khoán là do yếu tố tâm lý. Đồng thời, tâm lý hoang mang lo sợ khi khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra cũng góp phần đáng kể vào sự lao dốc của VN-Index năm 2023. Thị trường chứng khoán Việt Nam tăng thì tăng mạnh hơn Thị trường chứng khoán thế giới (năm 2021) và giảm cũng giảm mạnh hơn Thị trường chứng khoán thế giới (năm 2023) cũng một phần là do yếu tố tâm lý. Đồng thời việc nhiều nhà đầu tư Việt Nam thiếu kiến thức và kinh nghiệm cũng khiến cho quyết định đầu tư của họ bị ảnh hưởng bởi “yếu tố tâm lý” nhiều hơn.

3. Những vấn đề nan giải khi ứng dụng phương pháp phân tích kỹ thuật

John Marnard Keynes khuyên rằng hãy học cách ra quyết định trong một tương lại không chắc chắn và đừng đi tìm một công cụ phân tích nào, kể cả phân tích kỹ thuật để có thể biết mọi chuyện trong tương lai. Trên thực tế, Phân tích kỹ thuật cũng không phải là một phương pháp hoàn hảo. Việc sử dụng Phân tích kỹ thuật có hai vấn đề nan giải.

Tại nhiều thời điểm đồ thị cho thấy những tín hiệu mua và bán chính xác nhưng nhiều khi lại đưa ra những dấu hiệu sai lầm, gây tổn thất cho nhà đầu tư.

Để phân biệt được đâu là dấu hiệu đúng, đâu là dấu hiệu sai lầm là một điều khó với mọi nhà phân tích kỹ thuật. Tất cả các phương pháp của Phân tích kỹ thuật như chỉ báo, xu thế, hỗ trợ, kháng cự, dãy số Fibonacci và các phương pháp khác đều có thể đưa ra các tín hiệu sai, gây tổn thất cho nhà đầu tư. Ví dụ như 2 đỉnh của mô hình “2 đỉnh” (double top) trong các mô hình đảo ngược không thực sự bằng nhau như đỉnh thứ 2 cao hơn đỉnh thứ 1 một ít chẳng hạn. Lúc đó có 2 khả năng xảy ra, hoặc xu thế tăng giá tiếp tục (do đỉnh sau cao hơn đỉnh trước) hoặc xu thế đảo ngược diễn ra (mô hình 2 đỉnh). Trong thực tế, các nhà Phân tích kỹ thuật thường sử dụng “bộ lọc giá –price filter” trong những trường hợp này để đo lường xem mức độ vi phạm xu thế có đáng kể hay không. Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán.

Một ví dụ điển hình của tín hiệu Phân tích kỹ thuật sai xuất hiện ở đồ thị biểu diễn giá trị VN-Index từ đầu năm đến cuối năm 2022 (Biểu đồ 7). Ba đỉnh trong mô hình không đều nhau, và có độ dốc ngược lại độ dốc của giai đoạn trước đó. Mô hình này rất giống mô hình cờ hình chữ nhật. Chỉ khác ở chỗ mô hình cờ hình chữ nhật thì thường xảy ra ở xu thế ngắn và trung hạn trong khi mô hình này diễn ra trong giai đoạn khá dài (gần một năm). Nếu đây là mô hình 3 đỉnh thì theo Phân tích kỹ thuật xu thế đảo ngược sẽ diễn ra, nếu đây là mô hình cờ hình chữ nhật thì xu thế tiếp diễn sẽ tiếp tục. Trong những trường hợp này nhà đầu tư rất khó xác định liệu đây là mô hình cờ hình chữ nhật hay là mô hình 3 đỉnh để đưa ra quyết định.

Trên thực tế, theo quan điểm Phân tích kỹ thuật tại điểm B đã là điểm nhà đầu tư có thể bán cổ phiếu rồi (giá thất bại trong việc vượt ngưỡng giá trị của đỉnh ngay trước và đi xuống phía dưới của đáy ngay trước). Nhà đầu tư cẩn thận hơn sẽ đợi giá xuống phía dưới B một đoạn quá 3% (giá trị vi phạm xuống dưới đáy ngay trước một đoạn quá 3% giá trị của toàn bộ sự di chuyển trước đó- đoạn EF được coi là vi phạm đáng kể, xác nhận xu hướng đảo ngược diễn ra). Tuy đoạn BC có giá trị lớn hơn 3% của toàn bộ giá trị sự di chuyển trước đó (EF) nhưng tại C giá không giảm mà lại quay trở lại xu hướng tăng và còn bất ngờ vượt đỉnh G đằng trước. Đấy chính là dấu hiệu sai mà Phân tích kỹ thuật đưa ra. Tuy nhiên sau khi kết thúc đỉnh H, giá đã vượt đáy C ngay trước nó và giảm mạnh.

  • Biểu đồ 7: Tín hiệu sai của phương pháp phân tích kỹ thuật

Cùng một mô hình, dấu hiệu mà phần mềm đã đưa ra nhưng những nhà đầu tư khác nhau lại suy luận vấn đề một cách khác nhau và lại có những chiến thuật đầu tư khác nhau

Mỗi nhà đầu tư khác nhau lại giải thích cùng một tín hiệu, một mô hình mà đồ thị đưa ra một cách khác nhau dẫn đến họ giao dịch theo những chiến thuật khác nhau. Kết quả là có người thu được lợi nhuận lại có người chịu lỗ. Như ở ví dụ trên, có nhà đầu tư bán ngay cổ phiếu tại B, nhưng có người cẩn thận hơn lại chờ đáy A bị vi phạm quá 3%.

Tại cùng một thời điểm, các công cụ khác nhau của Phân tích kỹ thuật thường không cho cùng một tín hiệu bán hay tín hiệu mua.

Do các công cụ như xu thế, chỉ báo, hỗ trợ, kháng cự, mô hình đảo ngược, tiếp diễn không đưa ra cùng một loại tín hiệu cùng lúc và mỗi nhà đầu tư lại dùng một loại công cụ khác nhau và có chiến thuật đầu tư khác nhau. Đó chính là nguyên nhân mà tại một thời điểm xác định, việc chọn loại công cụ Phân tích kỹ thuật nào để áp dụng là một điều quan trọng. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của nhà đầu tư.

II: PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG PHÂN TÍCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán.

1. Mục đích phân tích

PTKT đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, các nhà đầu tư và các công ty chứng khoán cũng coi Phân tích kỹ thuật là một phương pháp phân tích quan trọng. Vấn đề đặt ra là cần phải có những nghiên cứu sâu rộng hơn về việc ứng dụng Phân tích kỹ thuật trên Thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên những số liệu thực tế. Từ đó, nhà đầu tư, công ty chứng khoán và các bên liên quan có thể có được cách nhìn nhận đúng đắn hơn về phương pháp này. Mục đích của việc phân tích là:

  • Ứng dụng Phân tích kỹ thuật phân tích dữ liệu về chỉ VN-Index một cách khách quan
  • Đánh giá tính hiệu quả của phương pháp Phân tích kỹ thuật khi ứng dụng trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
  • Tìm ra những ưu điểm, nhược điểm của phương pháp Phân tích kỹ thuật và nguyên nhân của những ưu điểm, nhược điểm đó
  • Đề xuất cách khắc phục những nhược điểm và xây dựng một phương pháp sử dụng Phân tích kỹ thuật hiệu quả hơn

2. Đối tượng phân tích

Đối tượng phân tích của bài khóa luận là chỉ số VN-Index với giả sử là nhà đầu tư sẽ đầu tư một danh mục cổ phiếu có số loại cổ phiếu và trọng số mỗi loại cổ phiếu tương tự như rổ cổ phiếu tính chỉ số VN-Index.

Lý do đầu tiên để sử dụng VN-Index là ở Việt Nam đây là chỉ số tiêu biểu nhất trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, với hầu hết các công ty lớn niêm yết niêm yết trên HOSE. Các báo cáo của Việt Nam và các tổ chức như IMF, World Bank, VCCI đều lấy VN-Index đại diện cho Thị trường chứng khoán Việt Nam.

Thứ hai, chỉ số HNX-Index có diễn biến khá tương tự với diễn biến của Vn-Index (như đã phân tích ở chương I) nên chỉ số VN-Index mang tính khái quát cho tình hình chung của Thị trường chứng khoán Việt Nam.

Lý do thứ ba là, Vn-Index đã được điều chỉnh sao cho phản ánh đúng sự tăng giá giá cổ phiếu loại trừ các yếu tố như tách, gộp cổ phiếu, và các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến giá.

Thứ tư, việc sử dụng danh mục cổ phiếu tương tự rổ cổ phiếu tính chỉ số VN-Index sẽ loại trừ ảnh hưởng của yếu tố “chất lượng cổ phiếu” đến sự tăng giá của cổ phiếu. Nếu chọn những cổ phiếu riêng rẽ hoặc chọn riêng một danh mục nào đó chứa những cổ phiếu nhất định thì kết quả của phân tích lại phụ thuộc vào bản thân cổ phiếu, danh mục đó. Do đó, kết quả sử dụng phương pháp Phân tích kỹ thuật sẽ khác nhau với mỗi loại cổ phiếu khác nhau. Việc đó sẽ làm giảm tính khách quan của phân tích.

3. Mốc thời gian phân tích Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán.

  • Bài khóa luận chọn thời điểm từ 01/01/2021 cho đến hết 31/12/2025. Lý do chọn khung thời gian trên là:

Năm 2021 là năm đánh dấu mốc quan trọng chứng kiến một sự thay đổi lớn trong lịch sử thị Thị trường chứng khoán Việt Nam như đã phân tích ở chương I, với nhiều nhà đầu hơn, thị trường bắt đầu sôi động hơn và sự ra đời của nhiều công ty chứng khoán dẫn đến điều đặc biệt quan trọng là quy mô niêm yết và vốn hóa thị trường khá lớn tương quan với 5 năm trước đó. Ngược lại những năm trước năm 2021 thị trường có một thời gian dài không mấy biến động và số lượng cổ phiếu niêm yết lại rất ít dẫn đến quy mô niêm yết và tổng mức vốn hóa thị trường quá nhỏ tương quan với các năm từ năm 2021 đến 2025.

Giai đoạn 2021-2025, VN-Index trải qua những thời kỳ tăng mạnh, giảm mạnh, tăng nhẹ, giảm nhẹ và đi ngang.

4. Phương pháp phân tích

Bài khóa luận sẽ so sánh kết quả khi ứng dụng phương pháp Phân tích kỹ thuật và phương pháp mua và nắm giữ truyền thống vào chỉ số VN-Index.

4.1. Phương pháp mua và nắm giữ

Đây là phương pháp đơn giản theo trường phái lý thuyết thị trường hiệu quả. Như đã phân tích trong chương I, lý thuyết này cho rằng, Thị trường chứng khoán tuân theo những “bước đi ngẫu nhiên” và do thị trường ngay lập tức phản ánh mọi thông tin ảnh hưởng đến giá nên các nhà đầu tư chỉ có thể mua cổ phiếu và nắm giữ chúng. Những nhà đầu tư này chỉ có thể tránh rủi ro bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư của họ, đầu tư vào danh mục càng có nhiều cổ phiếu càng giảm thiểu được rủi ro.

  • Phương pháp này được chọn để so sánh với phương pháp Phân tích kỹ thuật vì:

Phương pháp mua và nắm giữ là khách quan với nhận thức và trình độ của các nhà đầu tư khác nhau trong trường phái lý thuyết hiệu quả. Tức là những nhà đầu tư mua và nắm giữ thì với cùng một lượng tiền bỏ ra nếu sử dụng phương pháp này, các nhà đầu tư sẽ thu được cùng một kết quả. Việc các nhà đầu tư khác nhau, trình độ, cách suy luận khác nhau không ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp này. Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán.

Nếu sử dụng phương pháp Phân tích cơ bản, mỗi nhà đầu tư lại thu thập những loại thông tin khác nhau, thậm chí cùng một thông tin nhưng mỗi người lại suy luận khác nhau và mỗi nhà đầu tư lại sử dụng những mô hình định giá khác nhau và có yêu cầu về lợi suất kỳ vọng khác nhau. Do đó, việc tìm một phương pháp Phân tích cơ bản chuẩn để so sánh với Phân tích kỹ thuật khó hơn nhiều so với việc sử dụng phương pháp mua và nắm giữ.

Vì phương pháp này đòi hỏi nhà đầu tư phải đa dạng hóa danh mục đầu tư phù hợp với mẫu phân tích đã được chọn là danh mục đầu tư có số loại cổ phiếu và tỷ trọng những loại cổ phiếu này giống như trong rổ cổ phiếu tính chỉ số VN-Index.

4.2. Phương pháp phân tích kỹ thuật

Bài khóa luận sử dụng 3 chỉ báo của Phân tích kỹ thuật là trung bình động (MA) giản đơn, chỉ báo sức mạnh tương đối (RSI) và chỉ báo Stochastic (các ứng dụng khác ngoài 3 ứng dụng trên sẽ được phân tích trong chương III). Ứng với mỗi chỉ báo, phần phân tích lại sử dụng nhiều loại chỉ báo khác nhau

Đối với MA có MA 20, MA 50, MA 100. Đối với RSI là RSI 9, RSI 14 và RSI 30. Chỉ báo cuối cùng- Stochastic cũng sử dụng Stochastics (9,3,3) và Stochastics (20,3,3). Việc sử dụng nhiều loại chỉ báo khác nhau sẽ giúp nhà đầu tư tìm ra chỉ báo nào hiệu quả nhất.

  • Bảng 12: Định nghĩa, công thức và đặc điểm của MA, RSI và Stochastic

5. Giả thiết phân tích Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán.

Như đã phân tích ở phần những vấn đề gặp phải khi sử dụng phương pháp Phân tích kỹ thuật, Phân tích kỹ thuật không phải là một phương pháp hoàn hảo. Nhiều khi những tín hiệu mà phương pháp này đưa ra là sai lầm dẫn đến tổn thất cho nhà đầu tư; cùng một tín hiệu đưa ra những nhà đầu tư lại suy luận và có những chiến thuật đầu tư khác nhau và với khối lượng cổ phiếu khác nhau; tại mỗi thời điểm các công cụ của Phân tích kỹ thuật lại đưa ra các tín hiệu khác nhau.  Do đó, để có thể ứng dụng Phân tích kỹ thuật trong phân tích VN-Index một cách khách quan và để xác định được tính hiệu quả của phương pháp Phân tích kỹ thuật, một yêu cầu đặt ra là phải chuẩn hóa phương pháp Phân tích kỹ thuật sử dụng làm sao cho loại bỏ được yếu tố chủ quan đến từ những nhà đầu tư khác nhau. Đồng thời phải loại bỏ được những yếu tố không liên quan đến Phân tích kỹ thuật ảnh hưởng đến kết quả giao dịch như việc lệnh có được khớp không, chi phí giao dịch và các yếu tố khác. Cụ thể:

  • Nhà đầu tư đầu tư theo danh mục cổ phiếu có số loại cổ phiếu và tỷ trọng cổ phiếu tương tự như trong rổ cổ phiếu tính chỉ số VN-Index.

Như đã phân tích ở trên, bài khóa luận sử dụng danh mục cổ phiếu có thành phần như rổ cổ phiếu tính giá trị VN-Index nhằm loại bỏ yếu tố “chất lượng cổ phiếu” ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Thứ hai, chọn danh mục như vậy cũng phù hợp với yêu cầu đa dạng hóa của phương pháp mua và nắm giữ. Thứ ba, việc chọn phân tích VN-Index sẽ mang tính khái quát và đại diện cho Thị trường chứng khoán Việt Nam hơn là chọn phân tích một hoặc một nhóm cổ phiếu riêng lẻ.

  • Nhà đầu tư chỉ sử dụng một loại chỉ báo duy nhất

Nếu nhà đầu tư chọn chỉ báo MA và giao dịch theo tín hiệu mà MA đưa ra thì sẽ không sử dụng các loại chỉ báo khác nữa. Tức là nhà đầu tư chỉ sử dụng 1 loại chỉ báo duy nhất mà không sử dụng bất kỳ một chỉ báo hay công cụ nào khác của phân tích kỹ thuật hay bất kỳ một phương pháp nào khác ngoài phân tích kỹ thuật. Đối với RSI và Stochastic, phương thức mua và nắm giữ cũng vậy.

  • Một khi tín hiệu từ đồ thị Phân tích kỹ thuật được đưa ra thì nhà đầu tư hành động ngay lập tức theo tín hiệu này và giả sử lệnh được khớp ngay lập tức Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán.

Để loại bỏ yếu tố chủ quan do các nhà đầu tư khác nhau suy luận các tín hiệu khác nhau và có chiến thuật đầu tư khác nhau, giả thiết là khi tín hiệu đồ thị đưa ra thì nhà đầu tư hành động ngay lập tức theo tín hiệu này và lệnh được khớp ngay lập tức. Ví dụ như đối với RSI, mặc dù đường RSI cắt đường 70 và ở trên ngưỡng 70 trong một giai đoạn. Tuy nhiên, việc RSI đạt giá trị lớn hơn 70 trong khoảng thời gian bao lâu và tại thời điểm nào mà RSI bắt đầu giảm lại là một vấn đề không xác định được. Chính vì vậy bài khóa luận giả sử tín hiệu bán đưa ra khi đường RSI vừa cắt đường 70 và nhà đầu tư sẽ giao dịch theo tín hiệu này ngay khi có sự giao cắt diễn ra, mặc cho đường RSI còn ở trên ngưỡng 70 bao lâu nữa. Tương tự, đối với đường MA và Stochastic nhà đầu tư cũng sẽ hành động ngay khi tín hiệu được đưa ra. Chính vì giả sử nhà đầu tư sẽ hành động ngay và hành động không do dự, khi đó, dù là tín hiệu được đưa ra là sai hay đúng, nhà đầu tư vẫn sẽ giao dịch.

Bảng 13: Thời điểm các chỉ báo MA, RSI và Stochastic đưa ra tín hiệu mua và bán

  • Nhà đầu tư luôn giao dịch với một lượng cổ phiếu không đổi

Để loại bỏ ảnh hưởng của việc lượng cổ phiếu đầu tư khác nhau với mỗi nhà đầu tư, hay mỗi nhà đầu tư lại giao dịch một lượng cổ phiếu khác nhau tại mỗi thời điểm khác nhau đến lợi nhuận thu được của từng nhà đầu tư, bài khóa luận giả sử nhà đầu tư luôn giao dịch với một lượng cổ phiếu không đổi bằng x và lượng cổ phiếu này là giống nhau đối với hai phương pháp mua và nắm giữ và phương pháp Phân tích kỹ thuật. Lượng x cổ phiếu này có giá trị bằng 307,5 (đơn vị) tại thời điểm 01/01/2021 và bằng đúng giá trị chỉ số VN-Index tại thời điểm đó là 307,5 điểm. Ví dụ như tại ngày 15/01/2021 chỉ số VN-Index tăng đến giá trị 400 điểm, nhà đầu tư bán x cổ phiếu được một giá trị là 400 (đơn vị). Vì giả sử là lượng cổ phiếu luôn không đổi nên khi mua lần sau, nhà đầu tư vẫn phải mua một lượng x cổ phiếu tại giá trị thị trường lúc đó (bằng đúng số điểm của VN-Index tại thời điểm đó).

Vì mỗi lần mua và mỗi lần bán, nhà đầu tư đều giao dịch một lượng là x cổ phiếu, nên sau mỗi lần mua lại là một lần bán và ngược lại.

  • Không có cổ tức và chi phí giao dịch, không xét đến yếu tố giá trị thời gian của tiền tệ

Nhằm xác định tính hiệu quả của phương pháp Phân tích kỹ thuật, bài khóa luận giả sử không có việc trả cổ tức, không có chi phí giao dịch và không xét đến yếu tố giá trị thời gian của tiền tệ trong việc tính toán lợi nhuận. Đây là các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư, đa dạng và khó chuẩn hóa.

6. Dữ liệu, phần mềm và loại đồ thị sử dụng

Dữ liệu về VN-Index được lấy từ website http://www.sndc. của công ty TNHH Tư Vấn và Đầu Tư S&D. Sau đó, dữ liệu này được nhập vào phần mềm Metastock là phần mềm Phân tích kỹ thuật được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Trên cơ sở sử dụng Metastock, các loại đồ thị được sử dụng chủ yếu là biểu đồ đường và biểu đồ dạng cột.  Vì thời gian phân tích khá dài từ 2021 đến 2025 nên dạng đồ thị được sử dụng là đồ thị tuần. Theo đó, trên những đồ thị này, những tín hiệu mua và bán được đưa ra.

7. Phương pháp đánh giá Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán.

7.1. Đánh giá tính hiệu quả của phương pháp phân tích kỹ thuật

Việc đánh giá tính hiệu quả của từng phương pháp phân tích kỹ thuật và phương pháp mua và nắm giữ, cũng như hiệu quả của từng loại chỉ báo MA, RSI và Stochastic được dựa trên tổng mức lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được do phương pháp đó đem lại trong cả giai đoạn 2021-2025.

Đồng thời việc đánh giá tính hiệu quả của từng chỉ báo trong từng thời kỳ thị trường có xu hướng khác nhau như tăng giảm mạnh, tăng giảm nhẹ và đi ngang dựa vào lợi nhuận của từng phương pháp tương ứng với từng thời kỳ đó.

  • Công thức tính lợi nhuận:

Do những giả thiết như trên, lợi nhuận của nhà đầu tư đối với tất cả các phương pháp bao gồm cả phương pháp mua và nắm giữ và phương pháp Phân tích kỹ thuật là tổng chênh lệch giữa giá bán và giá mua của những lần khác nhau.

Vì theo như giả thiết, nhà đầu tư sẽ bán cổ phiếu sau mỗi một lần mua một lượng cổ phiếu như nhau nên lợi nhuận của lần bán và lần mua đó là: Lợi nhuận = Giá bán – Giá mua

  • Tổng lợi nhuận của các lần bán và mua khác nhau tạo thành lợi nhuận của cả phương pháp trong một giai đoạn cụ thể.

Ví dụ, giai đoạn thị trường tăng mạnh (01/01/2021-30/03/2022) có tất cả 3 lần mua và 3 lần bán. Vì nhà đầu tư sẽ mua rồi bán một cách lần lượt một lượng cổ phiếu không đổi nên sẽ có tất cả 3 lần thu được lợi nhuận. Tổng lợi nhuận tính trong cả giai đoạn thị trường tăng mạnh là tổng của cả 3 lợi nhuận đó.

Theo đó, 1 phương pháp phân tích kỹ thuật được coi là có hiệu quả khi nó đem lại mức lợi nhuận lớn hơn mức mà phương pháp mua và nắm giữ mang lại.

7.2. Đánh giá tính chính xác của tín hiệu mua bán do phương pháp phân tích kỹ thuật đưa ra

  • Tín hiệu đúng là tín hiệu mà nếu nhà đầu tư hành động theo nó, nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận. Tức là giá bán lớn hơn giá mua Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán.
  • Tín hiệu sai là tín hiệu mà nếu nhà đầu tư hành động theo nó, nhà đầu tư sẽ chịu một khoản lỗ. Cụ thể là giá mua sẽ lớn hơn giá bán.
  • Tín hiệu sớm (đối với RSI) là tín hiệu mua đưa ra rất sớm khi mà giá còn tăng cao nữa hoặc tín hiệu bán sớm khi giá còn tiếp tục giảm nữa.

7.3. Đánh giá tính mạnh, yếu của xu hướng thị trường chứng khoán

Giai đoạn 2021-2025 là giai đoạn mà thị trường vừa có những biến động tăng giảm mạnh, tăng giảm nhẹ và đi ngang. Với:

Giai đoạn thị trường tăng mạnh, giảm mạnh là giai đoạn mà đường xu thế dài hạn có độ dốc lớn hơn độ dốc của đường 45o. Đó chính là thời kỳ từ 01/01/2021 cho đến 30/07/2022 trong thời gian nghiên cứu.

Giai đoạn thị trường tăng nhẹ, giảm nhẹ là giai đoạn mà đường xu thế dài hạn có độ dốc nhỏ hơn độ dốc của đường 45o. Đó chính là thời kỳ từ 01/11/2023 cho đến 30/11/2024.

Giai đoạn thị trường đi ngang là giai đoạn mà đường xu thế dài hạn có độ dốc xấp xỉ bằng 0. Đó chính là thời kỳ 01/12/2024 cho đến 31/12/2025.

Việc chọn khung thời gian có đầy đủ những biến động tăng, giảm và đi ngang với những mức độ mạnh, nhẹ khác nhau sẽ làm tăng tính khách quan của phân tích hơn là trong những trường hợp mà thị trường chỉ tăng hoặc chỉ giảm.

  • Biểu đồ 8: Mô hình thị trường tăng mạnh, tăng yếu và đi ngang

III. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH

Sau khi đưa dữ liệu về VN-Index vào phần mềm Metastock và sử dụng 3 chỉ báo MA, RSI và Stochastic để thu được tín hiệu mua bán. Với giả sử nhà đầu tư thực hiện giao dịch ngay khi tín hiệu được đưa ra, mỗi một công cụ của Phân tích kỹ thuật lại đưa ra những mức lợi nhuận trong từng giai đoạn thị trường tăng, giảm, đi ngang khác nhau (do trong từng giai đoạn, mỗi một công cụ Phân tích kỹ thuật đưa ra số lượng tín hiệu khác nhau, tại những thời điểm khác nhau) và có tổng mức lợi nhuận của cả giai đoạn 2021-2025 khác nhau.

Dưới đây là bảng kết quả tổng hợp của tất cả 9 phương pháp trong từng giai đoạn thị trường tăng, giảm với biên độ mạnh, yếu khác nhau. Kết quả chi tiết của từng lượt mua và bán theo tín hiệu của từng chỉ báo phân tích kỹ thuật được đưa ra ở phần Phụ Lục. Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Biện pháp phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán

One thought on “Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán

  1. Pingback: Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537