Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong việc phân tích thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Qua chặng đường hơn 10 năm phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã bước đầu có những thành công đáng khích lệ và thu hút ngày càng nhiều những nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong đó, số lượng nhà đầu tư, nhân viên, chuyên viên sử dụng các phương pháp phân tích đầu tư cổ phiếu để tiến hành giao dịch cũng ngày một tăng lên.

Phương pháp phân tích kỹ thuật cùng với phương pháp phân tích cơ bản là những phương pháp phân tích đầu tư chứng khoán phổ biến trên các thị trường chứng khoán từ hàng thế kỷ nay. Cả hai trường phái phân tích này đều đang được các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam sử dụng. Bên cạnh đó, phương pháp phân tích kỹ thuật ngày càng được ứng dụng một cách rộng rãi.

Tuy nhiên, tính hiệu quả và tính đúng đắn khi ứng dụng phương pháp phân tích kỹ thuật trong phân tích đầu tư chứng khoán hiện còn là vấn đề được giới học giả, các chuyên gia và nhà đầu tư bàn luận. Vì thế, phương pháp phân tích kỹ thuật cần phải được ứng dụng và nghiên cứu một cách cụ thể nhằm xác định tính hiệu quả của nó khi sử dụng trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tìm ra những ưu điểm và nhược điểm của nó. Qua đó,  nhà đầu tư, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý có thể nhìn nhận đúng hơn về phương pháp này, về thị trường chứng khoán Việt Nam và đưa ra những quyết định chính xác hơn.

Và cũng chính vì những lý do đó mà em đã chọn đề tài: “Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong việc phân tích thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam” nhằm xác định tính hiệu quả của phương pháp phân tích kỹ thuật và đề ra biện pháp nâng cao tính hiệu quả của phương pháp này.

2. Mục đích nghiên cứu

Với lý do đó, bài khóa luận tập hướng đến đánh giá tính hiệu quả của phân tích kỹ thuật khi ứng dụng nó với dữ liệu thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tìm ra những nhược điểm của phân tích kỹ thuật sau khi ứng dụng, từ đó đề ra biện pháp khắc phục các nhược điểm và bổ sung về mặt lý luận cho phương pháp này.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu tính hiệu quả của việc ứng dụng phương pháp phân tích kỹ thuật trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Có 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đưa ra. Thứ nhất, khái quát đặc điểm của thị trường chứng khoán Việt Nam qua chặng đường 10 năm phát triển. Thứ hai, khái quát các quan điểm ủng hộ và phản đối phân tích kỹ thuật. Thứ ba, xây dựng cách thức ứng dụng phân tích kỹ thuật để phân tích trong bài khóa luận. Thứ tư, ứng dụng phân tích kỹ thuật phân tích thông tin tài chính trên thị trường một cách khách quan. Thứ năm, đánh giá tính hiệu quả, ưu điểm, nhược điểm của phân tích kỹ thuật. Và cuối cùng, đề xuất biện pháp khắc phục những nhược điểm của phân tích kỹ thuật

4. Đối tượng nghiên cứu Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

Đối tượng nghiên cứu vì thế là đặc điểm của thị trường chứng khoán Việt Nam và chỉ số VN-Index thông qua các dữ liệu, số liệu và thông tin thu thập được.

5. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận, phân tích thực trạng, ứng dụng phân tích trên số liệu thực tế, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp phân tích kỹ thuật.

Về thời gian: Bài khóa luận đã sử dụng dữ liệu về thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2025 để phân tích thực trạng thị trường; dữ liệu về thị trường chứng khoán thế giới và trong khu vực từ 2023-2025 để so sánh tương quan với thị trường chứng khoán Việt Nam, dữ liệu quá khứ của chỉ số Vn-Index từ năm 2021 đến năm 2025 để làm dữ liệu phân tích của phân tích kỹ thuật.

6. Phương pháp nghiên cứu

  • Bài khóa luận chủ yếu sử dụng 3 phương pháp sau:

Phương pháp thống kê: thu thập số liệu từ các Sở Giao dịch chứng khoán trong và ngoài nước, Quỹ tiền tệ quốc tế, Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, Tổng Cục Thống Kê và trình bày số liệu.

Phương pháp so sánh: so sánh giữa thị trường chứng khoán Việt Nam với các thị trường chứng khoán trong khu vực và trên thế giới, so sánh các quan điểm của trường phái phân tích kỹ thuật, trường phái phân tích cơ bản và trường phái thị trường hiệu quả, so sánh các công cụ khác nhau của phân tích kỹ thuật và so sánh phương pháp sử dụng phân tích kỹ thuật với phương pháp mua và nắm giữ.

Phương pháp phân tích: phân tích các số liệu về thị trường chứng khoán Việt Nam, về tình hình ứng dụng phân tích kỹ thuật trên thế giới, sử dụng phân tích kỹ thuật để phân tích dữ liệu quá khứ của chỉ số VN-Index.

7. Bố cục bài khóa luận Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

Ngoài phần mở đầu, danh mục bảng biểu, danh mục các chữ viết tắt, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận có kết cấu gồm 3 chương:

  • Chương I: Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam và phương pháp phân tích kỹ thuật
  • Chương II: Ứng dụng phân tích kỹ thuật phân tích thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam
  • Chương III: Biện pháp nâng cao tính hiệu quả của phương pháp phân tích kỹ thuật

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn: ThS. Lê Thành Công đã chỉ bảo và giúp đỡ em rất nhiệt tình trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp. Dù đã cố gắng rất nhiều, song bài khóa luận vẫn không tránh khỏi nhiều sai sót. Kính mong các thầy cô giáo xem xét và góp ý để bài luận văn được hoàn thiện hơn.

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT

I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

1. Định nghĩa thị trường chứng khoán

Trên thế giới, Thị trường chứng khoán đã hình thành từ thế kỷ 15 và đã trải qua một chặng đường dài phát triển. Hầu hết các quốc gia phát triển và đang phát triển đều có các Thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính. Hiện nay có nhiều định nghĩa về thị trường tài chính, nhưng các quan điểm về thị trường tài chính đều thống nhất rằng “Thị trường tài chính là thị trường mà ở đó diễn ra sự di chuyển vốn từ người có thừa vốn đến người thiếu vốn”. [16, tr.3] Nếu dựa vào đối tượng được giao dịch, thị trường tài chính lại chia thành các thị trường nhỏ hơn như thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường hợp đồng tương lai, thị trường hợp đồng quyền chọn.

Trên thế giới tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về Thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, quan điểm đầy đủ và rõ ràng, phù hợp với sự phát triển chung của thị trường chứng khoán hiện nay được viết trong Giáo trình Thị trường chứng khoán của trường Đại học Kinh tế Quốc dân là: “thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán”. Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập hoặc tài sản của tổ chức phát hành hay quyền sở hữu.

Ngoài giao dịch cổ phiếu và trái phiếu, đa số các Thị trường chứng khoán trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á đều cung cấp các dịch vụ chứng khoán phái sinh và thực hiện trao đổi các loại giấy tờ có giá khác. Thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong những Thị trường chứng khoán ra đời muộn nhất. Hiện nay, Thị trường chứng khoán Việt Nam đã thực hiện các giao dịch cổ phiếu và trái phiếu, nhưng các giao dịch chứng khoán phái sinh chưa phát triển. Trong đó, Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện các giao dịch cổ phiếu đã niêm yết và trái phiếu doanh nghiệp. Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và sàn UPCOM thực hiện giao dịch các cổ phiếu đã niêm yết, cổ phiếu đăng ký và trái phiếu Chính Phủ. Bên cạnh đó, Thị trường chứng khoán phi tập trung bao gồm cả thị trường OTC thực hiện giao dịch cổ phiếu niêm yết, chưa niêm yết, trái phiếu và các chứng khoán khác. Tuy nhiên, các công cụ phái sinh chưa phát triển như ở trên thế giới. Hiện nay, cả nước chỉ có một số sàn giao dịch kỳ hạn như sàn giao dịch cà phê kỳ hạn, sàn vàng, sàn giao dịch gạo.

2. Vai trò của thị trường chứng khoán Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

TTCK đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển và thịnh vượng của bất kì một quốc gia nào. Theo Eugene Fama – người có công đầu trong việc xây dựng lý thuyết thị trường hiệu quả thì “vai trò quan trọng nhất của thị trường vốn là sự phân bổ sự sở hữu những cổ phiếu trong nền kinh tế. Nói một cách chung nhất là, thị trường lý tưởng là nơi mà giá cả cung cấp những tín hiệu chính xác để phân bổ nguồn lực: doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết định đầu tư sản xuất và nhà đầu tư có thể lựa chọn giữa những cổ phiếu phản ánh sự sở hữu đối với một doanh nghiệp”.[11]

Đối với từng đối tượng tham gia thị trường, Thị trường chứng khoán lại có các vai trò khác nhau. Nhìn chung, Thị trường chứng khoán đóng vai trò là kênh huy động vốn trực tiếp của các doanh nghiệp, là môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư, là nơi mà chính phủ căn cứ để đưa ra các chính sách, và là phong vũ biểu của nền kinh tế.

Do đó, Thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Những hoạt động trên Thị trường chứng khoán có ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản của nhà đầu tư, hành vi của người tiêu dùng, hành vi của các doanh nghiệp và các hoạt động mang tính chu kỳ của nền kinh tế.[16, tr.4]

3. Lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

3.1. Sự ra đời của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

Quá trình phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bởi sự thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vào ngày 28/11/1996 theo Nghị định số 75/CP của Chính Phủ. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là đơn vị có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của một cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán.Việc thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là điều cần thiết đối với hoạt động của các Thị trường chứng khoán. Trên thế giới, các Ủy ban Chứng khoán đều đóng vai trò quản lý và điều hành Thị trường chứng khoán mặc dù cơ cấu tổ chức và cách quản lý ở các quốc gia có thể khác nhau. Đó là Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ, Cơ quan dịch vụ Tài chính Anh, Ủy ban Chứng khoán Malaysia, Ủy ban Chứng khoán và Sàn chứng khoán Philipines và trên góc độ quốc tế có Ủy ban của tổ chức quốc tế về Chứng khoán (IOSCO).

Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 127/2013/QĐ-TTg ngày 11/07/2013 và chính thức thực hiện phiên giao dịch đầu tiên và ngày 28/07/2015. Sau đó, trung tâm được đổi tên là Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) theo Quyết định 599/QĐ-TTg ngày 11/05/2022 của Thủ tướng Chính phủ. Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 01/2024/QĐ-Ttg ngày 2/1/2024 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở chuyển đổi, tổ chức lại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội sau 4 năm hoạt động. Cả hai Sở đều là pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nước, được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng; được mở tài khoản bằng Việt Nam đồng và ngoại tệ tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước; là đơn vị hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, thực hiện chế độ tài chính, chế độ báo cáo thống kê, kế toán, kiểm toán và có nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật; hoạt động theo Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Điều lệ của Sở Giao dịch chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan. [7], [8]

  • Bảng 1:  Năm thành lập, tên quốc tế và tên viết tắt của  HOSE VÀ HNX
  • Bảng 2: Năm thành lập và hình thức sở hữu của một số sàn chứng khoán trên thế giới và khu vực Đông Nam Á

3.2. Sự phát triển về số loại cổ phiếu niêm yết, số loại trái phiếu, số công ty chứng khoán và số lượng tài khoản nhà đầu tư

3.2.1. Số loại cổ phiếu niêm yết Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

Qua quá trình phát triển hơn 10 năm, số loại cổ phiếu niêm yết ngày càng tăng lên. Theo Báo cáo thường niên năm 2024 của HOSE, tính đến thời điểm cuối các năm 2022, 2023 và 2024, sàn HOSE có lần lượt 138, 170 và 196 loại cổ phiếu niêm yết. [3, tr. 23] Nhưng chỉ sau đó một năm, tức là năm 2025, con số trên đã tăng lên đến 284 loại cổ phiếu. [7] Từ đó có thể thấy, số loại cổ phiếu đã tăng đột biến trong năm 2025 (Biểu đồ 1). Nếu tính tỉ lệ giữa tổng số loại cổ phiếu niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam  năm 2024 (gồm 196 cổ phiếu tại sàn HOSE và 300 cổ phiếu tại sàn HNX) so với tổng số 205620 doanh nghiệp Việt Nam (số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động) tại thời điểm cuối năm 2024 thì có thể thấy, tỉ lệ trên chỉ vào khoảng 0,24%. Do đó, tiềm năng phát triển về mặt số loại cổ phiếu niêm yết là khá lớn.[4, tr.9]

So với thế giới, số loại cổ phiếu niêm yết trên HOSE và HNX còn ở mức khá khiêm tốn so với các sàn khác trong khu vực trên thế giới. Số liệu về số loại cổ phiếu niêm yết của HOSE, SET và Burse Malaysia (Bảng 3) cho thấy số loại cổ phiếu niêm yết ở sàn HOSE vẫn ít hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Mặt khác, HOSE và HNX mới chỉ có cổ phiếu của các công ty Việt Nam niêm yết, trong khi đó, các sàn mạnh thường niêm yết cả cổ phiếu của các công ty nước ngoài và thường có các chi nhánh của sàn trên nhiều quốc gia khác nhau.

  • Bảng 3: Số loại cổ phiếu niêm yết của HOSE và một số sàn trong khu vực năm 2024
  • Biểu đồ 1: Số lượng cổ phiếu, trái phiếu, số CTCK và số lượng tài khoản nhà đầu tư sàn HOSE

3.2.2. Số lượng công ty chứng khoán

Số lượng công ty chứng khoán cũng tăng khá nhanh (Biểu đồ 1). Thậm chí trong giai đoạn gần đây (2022- 2025) còn tăng nhanh hơn quy mô tăng của thị trường. Nếu như cuối năm 2022 số công ty chứng khoán ở sàn HOSE là 62 công ty thì cuối năm 2024 là 99. Tốc độ tăng giữa năm 2024 và 2022 là 160%. Trong khi đó, tốc độ tăng của tổng mức vốn hóa thị trường cũng trong giai đoạn đó là 135%, từ 364425 triệu VND đến 494072 triệu VND. [3, tr.57] Thêm vào đó, mức vốn hóa toàn thị trường năm 2025 lại giảm trong khi số lượng công ty chứng khoán lại tăng lên thành 102 công ty.

3.2.3. Số loại trái phiếu Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

Từ năm 2015 đến năm 2023, số lượng trái phiếu cũng tăng lên. Trong đó thành phần trái phiếu chính phủ chiếm tỉ trọng lớn. Chính vì vậy khi tháng 5 năm 2023 theo Quyết định 352/QĐ- Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc chuyển trái phiếu chính phủ niêm yết tại HOSE giao dịch trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thì lượng trái phiếu giao dịch trên sàn HOSE giảm mạnh (Biểu đồ 1). Cho đến thời điểm đầu năm 2026, trên sàn HOSE chỉ còn 49 trái phiếu doanh nghiệp. Giống như các thị trường khác trên thế giới, quy mô thị trường trái phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam lớn hơn rất nhiều so với quy mô của thị trường cổ phiếu. [8]

3.2.4. Số lượng tài khoản nhà đầu tư chứng khoán

Tăng đáng kể nhất vẫn là số lượng tài khoản của nhà đầu tư (Biểu đồ 1). Nếu như vào năm 2015 cả nước chỉ có khoảng 3000 tài khoản nhà đầu tư thì con số này năm 2024 vào khoảng 760000 tài khoản. Trong khi năm 2024, Sàn SET của Thái Lan (thành lập từ năm 1962) mới chỉ có 570548 tài khoản (Bảng 4).

  • Bảng 4: So sánh số tài khoản đầu tư trong năm 2024 giữa HOSE và SET

Cuối năm 2025, số tài khoản nhà đầu tư chứng khoán tại Việt Nam đã vào khoảng hơn 1 triệu tài khoản (tăng 333 lần so với năm 2015). Tuy nhiên, điều cần phải bàn đến là chỉ có khoảng 20-35% số tài khoản này là tài khoản thực giao dịch. Như số liệu ở Bảng 4, sàn SET của Thái Lan cũng chỉ có 21,5% tổng số tài khoản là tài khoản thực giao dịch. Một điều đặc biệt là, tại Thị trường chứng khoán Việt Nam, mỗi nhà đầu tư chỉ được phép lập 1 tài khoản duy nhất nên nhiều người đã lách luật bằng cách mượn chứng minh thư của người thân, bạn bè để lập tài khoản. [2] Vì vậy, số lượng nhà đầu tư trên thực tế thậm chí còn ít hơn số lượng tài khoản thực giao dịch như đã thống kê.

3.3. Diễn biến chỉ số VN-Index và HNX- Index giai đoạn 2016-2025

VN-Index có những biến động tăng giảm trong hơn 10 năm qua, đặc biệt là Vn-Index có biên độ dao động mạnh trong những năm 2021, 2022 và 2023 (Biểu đồ 2). Biểu đồ thể hiện diễn biến của VN- Index có thể chia làm 4 giai đoạn chính. Giai đoạn 1 từ đầu năm 2016 đến cuối năm 2016. Đây là giai đoạn thị trường biến động theo xu hướng giảm tương đối mạnh từ 600 điểm xuống còn 250 điểm (gần 60%) chỉ trong vòng 1 năm. Tuy nhiên khối lượng giao dịch trong giai đoạn này không đáng kể.

  • Biểu đồ 2: Diễn biến chỉ số VN-Index giai đoạn  1/2016 đến 4/2026

Giai đoạn 2 từ đầu năm 2017 đến cuối năm 2020, thị trường có xu hướng tăng nhẹ. Sau 4 năm thị trường đã đạt mức 300 điểm, tăng 50% so với 4 năm trước đó. Mặc dù vậy, VN-Index chưa cho thấy sự tiến triển rõ rệt về lượng giao dịch trong thời điểm này. Đây là giai đoạn mà thị trường vừa mới được thành lập, số lượng cổ phiếu niêm yết còn chưa nhiều, chưa chất lượng và chưa đang dạng, các chuyên gia, nhân viên môi giới và cả nhà đầu tư còn chưa đủ về kiến thức và kinh nghiệm.

Tiếp theo là giai đoạn 3 bao gồm 3 năm tiếp theo (2021,2022 và 2023), giai đoạn này chứng kiến một sự dao động tăng và giảm rất mạnh của VN-Index. Từ đầu năm 2021 đến hết quý I năm 2022 thị trường gần như tăng với tốc độ chóng mặt từ 300 điểm lên đến và đạt đỉnh tại 1170,6 điểm (gấp gần 4 lần). Năm 2021, là năm mà hầu hết các Thị trường chứng khoán thế giới chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt bao gồm cả tăng chỉ số chứng khoán. Ngưỡng 1170,6 cũng là mức đỉnh của VN-Index trong hơn 10 năm. Hai quý II và III của năm 2022 VN-Index đi ngang với biên độ khá lớn. Từ quý 4 năm 2022, thị trường tụt giảm mạnh. Chỉ trong hơn một năm, đến cuối năm 2023, thị trường lại trở về thậm chí thấp hơn mức ban đầu năm 2021, vào khoảng dưới 300 điểm. Tuy nhiên, lượng giao dịch trong giai đoạn này đã tăng lên.

Việc so sánh mức biến động giảm của VN-Index so với các chỉ số khác trên thế giới sẽ làm rõ hơn tình trạng thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm khủng hoảng 2023 (Bảng 5). Theo đó, mức giảm của VN-Index là lớn nhất giảm 65,9%) so với tất cả các nước được so sánh thậm chí là giảm gấp khoảng 1,5 lần Mỹ- là nước khởi đầu cho cuộc đại khủng hoảng.

  • Bảng 5: Toàn cảnh các thị trường chứng khoán thế giới 2023

Giai đoạn 4 gồm năm 2024 và năm 2025 là hai năm sau khủng hoảng tài chính. Năm 2024, thị trường chứng khoán đã phục hồi và tăng trở lại, tuy nhiên tốc độ tăng của chỉ số VN-Index không mạnh như vào thời kỳ các năm 2021 và 2022. Cuối cùng, năm 2025 lại chứng kiến giai đoạn thị trường khá ổn định. Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

Chỉ số HNX-Index có xu hướng biến động khá giống với chỉ số VN-Index từ năm 2020 đến hết năm 2024 (Biểu đồ 3). Năm 2020, HNX-Index có xu hướng đi ngang và hai năm tiếp theo HNX-Index biến động tăng mạnh, rồi giảm mạnh kể từ tháng 11 năm 2022 đến cuối năm 2023. Giai đoạn này, HNX-Index đạt đỉnh vào khoảng 455 điểm vào tháng 3 năm 2022. Năm 2024, tương tự như Vn-Index, HNX-Index đi lên nhẹ. Tuy nhiên, khác với diễn biến của VN-Index, HNX-Index có xu hướng giảm nhẹ trong năm 2025.

  • Biểu đồ 3: Diễn biến chỉ số HNX-Index (2020-2025)

3.4.  Giá trị vốn hóa thị trường

3.4.1. Giá trị vốn hóa thị trường của công ty

Giá trị vốn hoá thị trường là thước đo qui mô của một công ty, là tổng giá trị thị trường của một công ty, được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại toàn bộ công ty này trong điều kiện hiện tại. (Nguồn)

Đa số các công ty niêm yết trên thị trường Việt Nam chưa có giá trị vốn hóa cao. Trong năm 2024, sàn HOSE có 91 công ty trên tổng số 196 công ty niêm yết có mức vốn hóa dưới 500 tỷ đồng, trong khi chỉ có 16 công ty có mức vốn hóa trên 10000 tỷ đồng.

3.4.2. Tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường

Tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường là tổng các mức giá trị vốn hóa của tất cả các công ty niêm yết trên thị trường đó. Để đánh giá một thị trường chứng khoán, giá trị vốn hóa thị trường là một yếu tố không thể bỏ qua bởi nó cho biết tình hình hoạt động của thị trường thông qua hai yếu tố giá cổ phiếu và lượng cổ phiếu đang lưu hành.

Đặc điểm nối bật của tổng mức vốn hóa thị trường tại thị trường chứng khoán Việt Nam là đi theo xu hướng tăng qua hầu hết các năm nhưng độ lớn của nó chưa đạt mức trung bình của thế giới (Biểu đồ 4). Có thể nói, năm chứng kiến sự nhảy vọt về vốn hóa thị trường là năm 2021. Mức giá trị năm 2021 đạt 147967 tỷ VND gấp 20 lần giá trị ấy của năm 2020, trong khi đó, giá trị niêm yết năm 2021 chỉ bằng khoảng 7 lần so với năm 2020.  Góp phần vào sự tăng thần kì đó là sự tăng mạnh của chỉ số VN-Index (tăng 140%) và sự gia tăng số lượng cổ phiếu niêm yết. Năm 2022, do biến động của chỉ số chứng khoán, giá trị vốn hóa thị trường của tổng cổ phiếu trên sàn HOSE lại chứng kiến một sự tăng mạnh bằng 247% giá trị của năm trước (từ 147967 tỷ VND (2021) đến 364425 tỷ VND (2022)). Năm 2023 kết thúc với một sự giảm mạnh về mức tổng vốn hóa và năm 2024 giá trị này lại tăng lên. Nhìn chung, tổng mức vốn hóa thị trường trên sàn HNX cũng có xu hướng giống như sàn HOSE.

Tổng giá trị vốn hóa của toàn bộ Thị trường chứng khoán Việt Nam ở mức nhỏ so với mức trung bình của thế giới và trong khu vực (Bảng 6). Nhưng nếu so sánh tỷ lệ tổng mức vốn hóa thị trường trên GDP thì, khoảng cách trên đã được thu hẹp lại. Tổng giá trị vốn hóa thị trường của toàn bộ Thị trường chứng khoán Việt Nam (gồm HOSE và HNX) năm 2024 đạt 28000 tỷ đồng tương đương 34,58 tỷ USD chỉ bằng 0,22% của Mỹ. Trong khi đó, nếu tính tỷ lệ tổng giá vốn hóa thị trường trên GDP thì tỷ lệ đó của Thị trường chứng khoán Việt Nam vào khoảng 38% (2024) và Thị trường chứng khoán Hoa Kỳ vào khoảng 106,8% (2024). So với các sàn của các nước trong khu vực, tổng giá trị vốn hóa của sàn HOSE vẫn ở mức thấp.

  • Biểu đồ 4: Tổng giá trị vốn hóa thị trường của HOSE  giai đoạn 2015-2024
  • Bảng 6: Tổng giá trị vốn hóa thị trường của một số Thị trường chứng khoán trên thế giới năm 2024
  • Bảng 7: So sánh tổng giá trị vốn hóa thị trường của HOSE và một số sàn chứng khoán trong khu vực Đông Nam Á năm 2024 Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

3.5. Quy mô giao dịch

3.5.1. Khối lượng giao dịch

Từ năm 2015 đến năm 2025, khối lượng giao dịch tăng qua các năm (trừ năm 2018), khối lượng giao dịch bắt đầu tăng mạnh từ năm 2021 trở đi, trong đó phương thức giao dịch khớp lệnh chiếm tỉ trọng chủ yếu từ 83% đến 95%. (Bảng 9) Nếu như trong giai đoạn 2015 – 2020, khối lượng giao dịch chỉ trung bình vào khoảng 3,6 triệu đơn vị và dao động trong khoảng 3,6 triệu đơn vị đến 84,5 triệu đơn vị thì giai đoạn 2021-2025 chứng kiến sự tăng mạnh và tăng liên tục của khối lượng giao dịch của cả phương thức giao dịch khớp lệnh và thỏa thuận. Trong đó, phương thức khớp lệnh vẫn giữ vai trò chủ đạo. Kết thúc năm 2025, khối lượng giao dịch vào khoảng 11642,5 triệu đơn vị với khối lượng giao dịch của phương thức khớp lệnh khoảng 10486 triệu đơn vị.

Nếu xét về tốc độ tăng khối lượng giao dịch của năm sau so với năm liền trước thì năm 2016, 2021, 2022 và 2024 chứng kiến sự tăng mạnh nhất về tốc độ tăng khối lượng giao dịch, tăng gấp 350% đến 637% năm liền trước nó.

3.5.2. Giá trị giao dịch

Giá trị giao dịch tăng nhẹ từ năm 2015 đến năm 2020, tăng rất mạnh vào năm 2021 và biến động tăng và giảm mạnh trong giai đoạn 2022 đến 2025.(Bảng 10) Trong 5 năm đầu tiên, giống như hầu hết các yếu tố khác, giá trị giao dịch cũng tăng nhưng đạt giá trị nhỏ. Năm 2021 diễn ra sự tăng đột biến của giá trị giao dịch, tăng từ 35,3 nghìn tỷ năm 2020 lên 200,5 nghìn tỷ năm 2021 gấp 13,07 (1307%) lần so với năm 2020, do cả giá năm 2021 và lượng 2021 đều tăng đáng kể.

Mặc dù khối lượng giao dịch tăng mạnh và tăng liên tục trong giai đoạn 2021 cho đến năm 2025 nhưng do giá giảm mạnh vào năm 2023 và giảm vào năm 2025 nên khiến cho giá trị giao dịch cũng giảm tương ứng bất chấp sự tăng đáng kể của lượng giao dịch. Đồng thời giá trị giao dịch năm 2022 và 2024 đều tăng là do tác động của cả việc chỉ số VN-Index tăng. Năm 2024, giá trị giao dịch đạt mức cao nhất ở 422,5 nghìn tỷ VND (tương đương 19 tỷ USD). Tuy nhiên, giá trị này vẫn là thấp so với các sàn chứng khoán khác trong khu vực và trên thế giới. (Bảng 8)

  • Bảng 8: Tổng giá trị giao dịch của HOSE so với một số sàn chứng khoán trong khu vực Đông Nam Á năm 2024

Tỉ trọng của tổng giá trị giao dịch theo phương thức khớp lệnh vẫn cao, chiếm 80%-98% tổng giá trị giao dịch. Qua đó, có thể thấy, giao dịch khớp lệnh vẫn là phương thức giao dịch được sử dụng nhiều nhất ở thị trường chứng khoán Việt Nam.

  • Bảng 9: Tổng khối lượng giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2015-2025
  • Bảng 10: Tổng giá trị giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2015-2025

3.6. Những thử thách đối với thị trường chứng khoán Việt Nam

Ngoài những yếu tố trên, một thị trường chứng khoán non trẻ như Thị trường chứng khoán Việt Nam còn có nhiều bất cập phải kể đến. Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

3.6.1. Thiếu tính minh bạch

Ở Việt Nam, tình trạng tùy tiện công bố thông tin của các doanh nghiệp, thông tin công bố không có lịch trình công bố rõ ràng. Khác với ở thị trường Mỹ và một số thị trường các quốc gia phát triển, thông tin được bố cáo một cách có lịch trình và rộng rãi. Thậm chí những thông tin được coi là thông tin mật lại xuất hiện ở nơi công cộng và được rao bán một cách tùy tiện. Điều này sẽ gây thiệt hại cho nhiều nhà đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu tư nhỏ lẻ.

3.6.2. Rủi ro chính sách

Các chính sách ở Việt Nam thường xuyên thay đổi và rất khó dự đoán. Điều này gây không ít khó khăn cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp. Mặc dù luật chứng khoán ra đời góp phần thúc đẩy thị trường phát triển một cách lành mạnh hơn. Nhưng khung pháp lý điều chỉnh thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung còn chưa hoàn thiện.

3.6.3.Tình trạng “làm giá”

Thị trường chứng khoán Việt Nam có nhiều lỗ hổng để cho một số người lợi dụng “làm giá”. Một trong số những nguyên nhân là phương thức khớp lệnh định kỳ và việc thông tin phải chuyển qua sở giao dịch trước khi công bố rộng rãi ra công chúng. Hơn nữa, một số cổ phiếu có vốn hóa lớn chiếm một tỉ lệ quan trọng trong tổng vốn hóa thị trường khiến cho việc giá những cổ phiếu này thay đổi sẽ tác động lớn đến chỉ số chung. Đã xảy ra nhiều trường hợp, một loại cổ phiếu tăng giá đột ngột rồi lại bất chợt giảm mạnh khiến cho nhiều nhà đầu tư chót mua cổ phiếu này bị thua lỗ nặng.

3.6.4. Rủi ro hệ thống

Khi thị trường phát triển nóng, nhiều người thậm chí không hề có kiến thức kinh tế và tài chính cũng tham gia đầu tư. Ở thị trường chứng khoán Việt Nam, tâm lý đám đông thể hiện khá rõ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân tại sao thị trường chứng khoán Việt Nam tăng nhanh hơn các Thị trường chứng khoán khác khi thị trường toàn cầu đi lên và giảm nhanh hơn các Thị trường chứng khoán khác khi thị trường toàn cầu đi xuống. Mặt khác, lãi suất ở Việt Nam khá cao so với mức trung bình của thế giới và rủi ro lãi suất khá cao, lãi suất thường xuyên thay đổi trong năm, đặc biệt trong những năm gần đây đã tác động tiêu cực đến Thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, rủi ro lạm phát cũng đặt áp lực lên thị trường này, khi mà lạm phát ở Việt Nam gần đây liên tục ở mức cao. Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

3.6.5. Sản phẩm tài chính nghèo nàn

Tính riêng thị trường cổ phiếu, Việt Nam mới chỉ có 2 chỉ số duy nhất là chỉ số VN-Index và HNX- Index trong khi các quốc gia khác có rất nhiều chỉ số. Như Mỹ có Chỉ số công nghiệp Dow Jones, chỉ số đường sắt Dow Jones, chỉ số S&P 500, chỉ số S&P 100, chỉ số NasDaq-100 Index

3.6.6. Trình độ chuyên môn và nhận thức của các bên liên quan chưa cao

TTCK Việt Nam mới ra đời và cần có thời gian để đào tạo kiến thức cho nhân viên sở giao dịch, môi giới và cả nhà đầu tư. Tuy nhiên, vấn đề cần đặt ra ở đây là nhận thức của các đối tượng tham gia thị trường chưa cao. Nhiều nhân viên vi phạm đạo đức nghề nghiệp đơn cử như ưu tiên nhập lệnh cho người quen của mình trước, nhiều nhà đầu tư chưa ý thức được rủi ro khi tham gia Thị trường chứng khoán, nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức được nghĩa vụ phải công bố thông tin của mình.

Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài, các dịch vụ chứng khoán được thực hiện một cách chuyên môn hơn. Một điểm cần lưu ý nữa về Thị trường chứng khoán Việt Nam là việc hạn chế về biên độ và hạn chế thời gian giao dịch.

II: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

Phân tích kỹ thuật cùng với phân tích cơ bản là những phương pháp phân tích chứng khoán được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới từ hàng thế kỷ nay. Tìm hiểu những lý luận xung quanh trường phái Phân tích kỹ thuật sẽ tạo tiền đề cho việc ứng dụng phương pháp Phân tích kỹ thuật một cách chính xác hơn.

1. Định nghĩa

“PTKT là việc nghiên cứu các hoạt động thị trường (market action), chủ yếu thông qua việc sử dụng đồ thị, nhằm mục đích dự đoán xu hướng giá trong tương lai.” Các hoạt động thị trường bao gồm giá chứng khoán, lượng chứng khoán và số lượng hợp đồng tương lai đang lưu hành (open interest). Theo đó, phân tích kỹ thuật là sự kết hợp của kinh tế hành vi (bao gồm cả tài chính hành vi) và phân tích định lượng. [17, tr.1]

2. So sánh quan điểm của các trường phái phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và lý thuyết thị trường hiệu quả

Có 3 trường phái lý thuyết phổ biến xung quanh vấn đề “dự đoán giá tương lai của chứng khoán” là trường phái lý thuyết thị trường hiệu quả, trường phái phân tích cơ bản và trường phái phân tích kỹ thuật. Mặc dù 3 học thuyết trên thể hiện các quan điểm đối lập nhau nhưng lại cùng song song tồn tại. Hiện nay, vấn đề học thuyết nào đúng, học thuyết nào sai vẫn là đang được các học giả bàn luận và phân tích. Cả ba thuyết trên đều có giai đoạn phát triển khá dài và là sự kế thừa của nhiều cuộc thí nghiệm và học thuyết của hàng thế kỷ trước. Ngoài 3 trường phái trên, phương pháp phân tích dòng tiền (Order Flow) cũng được các nhà đầu tư sử dụng. Đây là phương pháp phân tích sử dụng dòng tiền do các lệnh mua và bán để dự đoán biến động giá trong tương lai. Tuy nhiên, phương pháp này chưa được sử dụng rộng rãi như Phân tích cơ bản và Phân tích kỹ thuật nên không được phân tích ở đây. Các trường phái có một số quan điểm khác nhau.

2.1. Quan điểm xung quanh đối tượng phản ánh của giá chứng khoán

Trong khi lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng “mọi thông tin” đều được phản ánh trong giá thì Phân tích cơ bản đề cập đến việc cổ phiếu luôn có một “giá trị cơ bản”, còn Phân tích kỹ thuật thì cho rằng giá phản ánh “mọi tác nhân” ảnh hưởng đến nó. Người có công đầu trong việc xây dựng lý thuyết thị trường hiệu quả là Eugene F. Fama. Vào năm 1970, Fama đã lần đầu tiên định nghĩa về “thị trường hiệu quả” trên tạp chí Journal of Finance: “Một thị trường mà ở đó giá luôn luôn “phản ánh đầy đủ” mọi thông tin hiện có là thị trường hiệu quả”. [11] Trong khi đó, trường phái Phân tích cơ bản lại cho rằng bản thân mỗi cổ phiếu có một “giá trị cơ bản”. Nhà đầu tư cố gắng tìm hiểu những “thông tin cơ bản”- những thông tin về kinh tế vĩ mô, thông tin ngành, thông tin về công ty và thông tin về cổ phiếu để xác định giá trị cơ bản này nhằm tìm ra những cổ phiếu đang bị định giá thấp. Phân tích kỹ thuật khẳng định rằng nhà đầu tư có xu hướng xử xự giống nhau trong những tình huống giống nhau và mọi thứ ảnh hưởng đến giá đã được phản ánh trong chính giá, vì vậy phân tích dữ liệu về giá trong quá khứ có thể dự đoán được giá cả trong tương lai. [17, tr. 5, 24, 25] Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

2.2. Quan điểm xung quanh tốc độ phản ánh thông tin của giá chứng khoán

Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng những thông tin mới sẽ ngay lập tức được phản ánh trong giá, trong khi Phân tích kỹ thuật cho rằng những thông tin này sẽ được phản ánh một cách từ từ trong giá. Theo quan điểm của lý thuyết thị trường hiệu quả, sự thay đổi giá chứng khoán là do có sự xuất hiện của những thông tin mới. Tất cả những thông tin mới này được phản ánh ngay vào trong giá, khiến giá tăng hoặc giảm. Do đó, nhà đầu tư không thể dự đoán được giá trị tương lai của giá. Theo quan điểm của lý thuyết này thì dù trong bất cứ thị trường nào Phân tích kỹ thuật cũng không thể sử dụng được. Ngược lại, những nhà Phân tích kỹ thuật lại cho rằng những thông tin mới trên sẽ được phản ánh một cách từ từ và tạo nên cái gọi là xu thế. Sự xuất hiện của xu thế trên thị trường chứng khoán chính là một bằng chứng sắc bén chống lại thuyết thị trường hiệu quả.

2.3. Quan điểm xung quanh phương pháp đầu tư

Mỗi trường phái ủng hộ một phương pháp đầu tư khác nhau. Trường phái theo lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nhà đầu tư không thể dự đoán được xu hướng tiếp theo của thị trường và họ cho rằng danh mục cổ phiếu với dự đa dạng hóa tối đa là phương pháp tối ưu. Nhiệm vụ của nhà đầu tư theo trường phái này đơn giản chỉ là chọn danh mục cổ phiếu, mua và nắm giữ. Đây là phương pháp đơn giản và được coi là phương pháp đầu tư bị động vì không có sự lựa chọn cổ phiếu một cách kỹ lưỡng.

Trong khi đó, trường phái Phân tích cơ bản trở nên chủ động hơn khi những nhà đầu tư theo trường phái này lựa chọn những cổ phiếu mà họ cho là đang được định giá thấp. Họ thường xuyên rà soát lại danh mục của mình và loại bỏ những cổ phiếu mà họ xác định là đang được định giá cao ra khỏi danh mục, đồng thời họ sẽ mua vào những cố phiếu đang được định giá thấp. Mặc dù vậy, phương thức mua và nắm giữ bị động theo trường phái lý thuyết thị trường hiệu quả không phải là phương pháp sai hoàn toàn. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, dường như danh mục hình thành theo cách này sẽ chắc chắn thu được lợi nhuận trong khi danh mục chủ động của trường phái Phân tích cơ bản chỉ thu được lãi khi nào họ xác định đúng cổ phiếu đó là cổ phiếu được định giá thấp mà thôi. Nếu nhà đầu tư Phân tích cơ bản định giá sai, họ sẽ phải gánh chịu những khoản lỗ.

Còn lại, những nhà Phân tích kỹ thuật sẽ dựa vào các phân tích và tín hiệu mua và tín hiệu bán từ đồ thị đưa ra để tiến hành giao dịch. Phương pháp này có thể giúp dự đoán giá trong tương lai cũng như xác định thời điểm vào và ra khỏi thị trường. Phân tích kỹ thuật dựa vào phân tích dữ liệu quá khứ (giá, lượng và open interest) của đối tượng sử dụng các ứng dụng kỹ thuật như chỉ báo kỹ thuật, xu hướng, hỗ trợ và kháng cự, các mô hình đảo chiều và tiếp diễn, Fibonacci và các ứng dụng khác nhằm đưa ra các dấu hiệu mua và bán.

  • Bảng 11: So sánh phương pháp phân tích cơ bản và phương pháp phân tích kỹ thuật

2.4. Quan điểm xung quanh khả năng dự đoán giá tương lai của chứng khoán

Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng giá đi theo những “bước đi ngẫu nhiên” do đó không thể dự đoán được giá tương lai của chứng khoán nhưng Phân tích cơ bản và Phân tích kỹ thuật đều cho rằng giá là có thể dự đoán được. Vào năm 1905, Karl Pearson là người giới thiệu thuật ngữ “ bước đi ngẫu nhiên”, sau Karl có nhiều cuộc nghiên cứu với lập luận ủng hộ thuyết này. Năm đánh dấu sự phát triển của thuyết thị trường hiệu quả là năm 1965 khi Eugene Fama lần đầu tiên định nghĩa nó, phân tích thực nghiệm giá cổ phiếu và đưa ra kết luận là giá chứng khoán tuân theo “bước đi ngẫu nhiên”. Tuy nhiên, chính Fama cũng đưa ra kết luận rằng lợi tức của cổ phiếu có một sự phụ thuộc nhỏ nào đó chứ không hoàn toàn độc lập. Chính vì thế, có thể khẳng định rằng ngay từ lúc xây dựng lý thuyết này, những người sáng lập cũng thừa nhận bản thân lý thuyết tỏ ra không chính xác ở một số điểm. [11]

Ngược lại, cũng có nhiều nghiên cứu của học giả theo trường phái tài chính hành vi đã phản đối thuyết thị trường hiệu quả. Điển hình là John Maynard Keynes, ông đã khẳng định rằng hầu hết những quyết định của nhà đầu tư là kết quả của “những tinh thần động vật –animal spirits” (yếu tố tâm lý). Sau đó nhiều cuộc nghiên cứu của các học giả như Alfred Cowles, Edward Jones, Benoit Mandelbrot, Samuelson, Robert J. Shiller, Stephen F. LeRoy đã chứng minh rằng giá không hoàn toàn ngẫu nhiên và có thể dự đoán được. [13], [18]

3. Học thuyết Dow Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

Hầu hết các chuyên gia phân tích kỹ thuật đều đồng ý rằng “phân tích kỹ thuật” xuất phát trước tiên từ ý tưởng của Charles Dow, được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Wall Street Journal vào những năm 90 của thế kỷ 19. Sau đó, ý tưởng đã được nhiều người phát triển và đặt tên là Lý thuyết Dow (Dow Theory). Lý thuyết này có một số quan điểm chính như sau:

  • Chỉ số phản ánh mọi thứ (The averages discount everything)

Charles Dow cho rằng giá chứng khoán đã thể hiện mọi yếu tố có thể ảnh hưởng đến nó. Vì vậy, với việc nghiên cứu biểu đồ giá qua một chuỗi thời gian cụ thể, nhà đầu tư có thể dự đoán được xu hướng giá trong giai đoạn sau, chứ không nhất thiết phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của giá. Thực chất, nguyên nhân đó đã được thể hiện trong giá.

+) Thị trường có 3 xu thế chính

  • Xu thế tăng: những đỉnh và đáy sau cao hơn đỉnh và đáy trước
  • Xu thế giảm: các đỉnh và đáy sau thấp hơn đỉnh và đáy trước
  • Xu thế ngang: các đỉnh sau tương đương với đỉnh trước và các đáy cũng vậy

Tiếp theo, một xu thế lại chia ra làm ba loại: dài hạn (thường khoảng 1 đến vài năm), trung hạn (khoảng 3 tuần đến 3 tháng), ngắn hạn (dưới 3 tuần). Trong đó, các xu thế ngắn hạn kết hợp tạo thành xu thế trung hạn và xu thế dài hạn cũng được tạo thành bởi các xu thế trung hạn.

Theo Charles Dow, xu thế dài hạn có 3 giai đoạn. Đầu tiên là giai đoạn tích lũy, đây là giai đoạn mà những nhà đầu tư thông minh nhất thực hiện mua cổ phiếu. Tiếp theo là giai đoạn có sự tham gia của đông đảo nhà đầu tư khi mà hầu hết những người theo trường phái Phân tích kỹ thuật đều bắt đầu tham gia giao dịch. Trong giai đoạn này báo chí bắt đầu đưa ra những thông tin kinh tế mang tính chất có lợi cho sự tăng giá. Cuối cùng, “giai đoạn phân phối” diễn ra khi mà những tờ báo bắt đầu in nhiều câu chuyện tăng giá, thông tin kinh tế trở nên tốt đẹp hơn bao giờ hết và lượng giao dịch tăng đột biến. Đây chính là giai đoạn mà những nhà đầu tư thông minh nhất bán cổ phiếu.

  • Các chỉ số cần cho cùng một dấu hiệu Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

Các chỉ số mà Dow nói đến ở đây là Chỉ số Công nghiệp Dow Jones và Chỉ số Đường sắt Dow Jones. Hai chỉ số này cần phải cùng tăng hoặc cùng giảm với một độ trễ về thời gian nhất định.

  • Lượng giao dịch cần phải xác nhận xu thế

Dow cho rằng lượng chứng khoán giao dịch chỉ là yếu tố đóng vai trò quan trọng thứ hai, song nó lại góp phần to lớn trong việc khẳng định dấu hiệu tiếp diễn hay đảo ngược cho bởi xu thế là đúng hay sai. Nếu thị trường đang có xu thế tăng (xu thế dài hạn), thì lượng giao dịch nên tăng với mỗi lúc giá lên cao và giảm khi giá xuống thấp và ngược lại đối với thị trường đang có xu thế giảm dài hạn.

  • Một xu thế được cho là sẽ tiếp tục cho đến khi nó cho dấu hiệu là nó sẽ đảo ngược

Đây chính là cơ sở cho việc phân loại mô hình đảo ngược và mô hình tiếp diễn. Quan điểm trên xuất phát từ định luật vật lý về quán tính rằng một vật trong chuyển động có xu hướng tiếp tục chuyển động theo hướng đó cho đến khi có ngoại lực tác động khiến nó thay đổi hướng chuyển động. Theo đó, rất nhiều phương pháp kỹ thuật như hỗ trợ, kháng cự, các mô hình của đồ thị giá, đường xu thế, trung bình động và các chỉ báo được xây dựng trên cơ sở của quan điểm trên. Đó là những công cụ dự đoán giá tương lai của Phân tích kỹ thuật và sẽ được phân tích cụ thể trong chương II.

4. Tình hình ứng dụng phân tích kỹ thuật trên thế giới

Cuộc nghiên cứu có quy mô đầu tiên về Phân tích kỹ thuật của Lukas Menkhoff với 692 nhà quản lý quỹ đến từ 5 quốc gia Mỹ, Đức, Thụy Điển, Thái Lan và Italia vào năm 2018 và 2019 đã chỉ ra nhiều đặc điểm về tình hình ứng dụng Phân tích kỹ thuật trên thế giới. [15] Sở dĩ những nhà quản lý quỹ được chọn là vì họ càng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thị trường tài chính hiện đại và khác với những nhà đầu tư cá nhân, họ là những người có kiến thức chuyên môn.

4.1. Phân tích kỹ thuật là phương pháp phân tích quan trọng nhất nếu khung thời gian phân tích ngắn

Đa số các nhà quản lý quỹ có sử dụng Phân tích kỹ thuật ở một mức độ nào đó. Tính trung bình trên 5 quốc gia, có khoảng 87% nhà quản lý quỹ sử dụng Phân tích kỹ thuật. Đặc biệt trong số đó có 18% thích sử dụng Phân tích kỹ thuật nhất trong 3 phương pháp Phân tích kỹ thuật, Phân tích cơ bản và phân tích dòng tiền. Tuy nhiên, Phân tích cơ bản vẫn đóng vai trò quan trọng nhất trong việc ra quyết định của các nhà quản lý quỹ. Điều đặc biệt là, nếu khung thời gian dự đoán là ngắn khoảng vài tuần thì Phân tích kỹ thuật là phương pháp quan trọng nhất. Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

  • Biểu đồ 5: Phân phối lũy kế mức độ sử dụng của phương pháp phân tích kỹ thuật
  • Biểu đồ 6:  Mức độ sử dụng Phân tích kỹ thuật, Phân tích cơ bản và phân tích dòng tiền qua trong các khung thời gian dự đoán khác nhau

4.2. Những nhà phân tích kỹ thuật là những người có kinh nghiệm, có kiến thức

Những người phản đối Phân tích kỹ thuật cho rằng chỉ có những người thiếu kiến thức, kinh nghiệm nên không thể sử dụng được Phân tích cơ bản mới dùng Phân tích kỹ thuật. Cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng điều đó là không chính xác và việc sử dụng Phân tích kỹ thuật không liên quan đến các đặc điểm cá nhân.

4.3. Công ty nhỏ có xu hướng sử dụng Phân tích kỹ thuật nhiều hơn công ty lớn

Do Phân tích cơ bản đòi hỏi nhiều chi phí hơn là Phân tích kỹ thuật, chính vì thế mà những doanh nghiệp lớn với nhiều tài sản hơn có khả năng trả cho những cuộc nghiên cứu chất lượng hơn. Những doanh nghiệp lớn hơn có xu hướng thích sử dụng Phân tích cơ bản hơn là Phân tích kỹ thuật. Những công ty lớn cũng có thể dành nhiều thời gian hơn cho Phân tích cơ bản (PTCB tốn thời gian để nghiên cứu hơn).

4.4.  Đa số các nhà quản lý quỹ cho rằng giá bị ảnh hưởng bởi tâm lý

Trong khi mô hình CAPM truyền thống đã bỏ sót một yếu tố quan trọng trong việc xác định giá – yếu tố tâm lý thì Phân tích kỹ thuật lại có thể bắt kịp được với yếu tố đó. Đa số các nhà quản lý đã đồng ý với câu nói trong phiếu điều tra rằng: “Con người không phải là một cỗ máy, do đó, giá của chứng khoán bị ảnh hưởng một cách rõ ràng bởi yếu tố tâm lý hơn là các yếu tố cơ bản”. Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Ứng dụng phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán

One thought on “Khóa luận: Phân tích thông tin tài chính ở thị trường chứng khoán

  1. Pingback: Khóa luận: Biện pháp phân tích tài chính ở thị trường chứng khoán

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537