Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất – Thực trạng và giải pháp tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển chi nhánh Quang Trung này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM) trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn rủi ro, gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh và uy tín của chính ngân hàng và có tính lây chuyền, ảnh hưởng rất mạnh đến toàn bộ kinh tế, chính trị, đời sống của một quốc gia. Vì vậy, để hoạt động ngân hàng phát triển vững chắc, an toàn và hiệu quả, cần phải kiểm soát và hạn chế được rủi ro thông qua công tác quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng.

Trong xu thế hội nhập tài chính khu vực và thế giới, đồng thời trong bối cảnh Việt nam đã gia nhập WTO, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt nam phải đối mặt với nguy cơ cạnh tranh ngày càng khốc liệt do sự xâm nhập của các TCTD nước ngoài. Điều đó buộc các NHTM Việt nam nếu muốn tồn tại phải thiết lập được cơ chế quản lý rủi ro kinh doanh hiệu quả, phù hợp với thông lệ quốc tế vì đây là điều kiện quan trọng, quyết định sự thành công trong cạnh tranh của các NHTM. Trên thực tế, quản lý rủi ro đã giành được sự quan tâm chú ý của các NHTM Việt nam, tuy nhiên chưa toàn diện. Hầu như các NHTM chỉ chú trọng tới quản lý rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản mà chưa đi sâu nghiên cứu biện pháp quản lý các loại rủi ro đặc thù khác của NHTM như: rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái …

Trong xu thế tự do hóa tài chính hiện nay, việc điều hành chính sách lãi suất của NHNN đã có nhiều thay đổi: từ việc quy định khung lãi suất, trần lãi suất, áp dụng lãi suất cơ bản, rồi áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận và gần đây nhất ngày 17/5/2026, NHNN đã quyết định áp dụng cơ chế lãi suất cơ bản làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. Xu thế này tất yếu dẫn tới những biến động thường xuyên của lãi suất do những yếu tố tác động đến cung cầu vốn trong nền kinh tế. Như vậy các NHTM đang đứng trước nguy cơ rủi ro lãi suất nhiều hơn đòi hỏi cần có sự quan tâm thích đáng của các nhà quản lý điều hành ngân hàng nhằm đảm bảo duy trì sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM cũng như sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia. Xuất phát từ thực tế đó, việc đi sâu nghiên cứu về rủi ro lãi suất nhằm tìm kiếm các giải pháp quản lý phù hợp là rất cần thiết và quan trọng với mỗi ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Với những suy nghĩ trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài ” Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất – Thực trạng và giải pháp tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển chi nhánh Quang Trung” cho khóa luận tốt nghiệp của mình với mong muốn thể hiện một số quan điểm về vấn đề này đối với những người quan tâm.

2. Mục đích nghiên cứu đề tài

Khóa luận nghiên cứu lý luận cơ bản về rủi ro lãi suất và hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Trên cơ sở thực trạng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam – Chi nhánh Quang Trung, khóa luận phân tích, đánh giá những kết quả, hạn chế của công tác phòng ngừa rủi ro, tìm ra nguyên nhân làm hạn chế công tác phòng ngừa rủi ro lãi suất; từ đó nhằm đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đầu tư và phát triển chi nhánh Quang Trung.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển – Chi nhánh Quang Trung.

Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Đầu tư và phát triển – Chi nhánh Quang Trung, thời gian từ năm 2023 đến năm 2025.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu, khóa luận đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp thống kê, phương pháp tư duy logic, phân tích kinh tế, tổng hợp, so sánh số liệu, khái quát hoá vấn đề … để đạt mục tiêu của khóa luận.

5. Kết cấu khóa luận

Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận được chia thành 3 chương:

  • Chương I: Tổng quan về hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các Ngân hàng thương mại
  • Chương II: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam – Chi nhánh Quang Trung
  • Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam – Chi nhánh Quang Trung Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I. RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1. Rủi ro và quản trị rủi ro

Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong các hoạt động kinh tế, con người luôn phải đối mặt với các rủi ro. Rủi ro là điều không thể tránh khỏi và con người chỉ còn cách chấp nhận rủi ro. Có khá nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro và các quan niệm này không hoàn toàn thống nhất với nhau.

Một trong những quan điểm đầu tiên được ra bởi Allan H.Willett. Ông cho rằng “rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất” và quan điểm này được nhiều các học giả như Hardy, Blanchard. Crobough và Redding, Kulp, Anghell ủng hộ.

Trong khi đó, một số học giả như Jonh Haynes, Irving Pfeffer lại cho rằng “rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất”. Quan điểm này sau đó cũng được sử dụng trong khá nhiều tài liệu về rủi ro.

Khác với các học giả trên, trong “Risk Management in banking‖, Joel Bessis lại cho rằng “Rủi ro là những điều không chắc chắn dẫn đến sự biến đổi bất lợi về lợi nhuận hay dẫn đến thua lỗ” hay như Peter S.Rose quan niệm “rủi ro là mức độ không chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện”. Theo đó, không phải cứ rủi ro là thua lỗ là tổn thất mà chỉ phát sinh khi có sự không chắc chắn về những điều xảy ra, và khi xác suất là 0 hoặc là 1 thì không có rủi ro.

Đặc biệt, Frank H.Knight lại có một quan điểm hoàn toàn khác về rủi ro khi coi “rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được”. Trong cuốn từ điển Kinh tế học hiện đại do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành, rủi ro cũng được định nghĩa khá giống với quan điểm trên ““Rủi ro là hoàn cảnh trong đó có một sự kiện xảy ra với một số xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện đã có một phân phối xác suất”. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Ở Việt nam, PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân trong cuốn Quản trị rủi ro và khủng hoảng cho rằng “rủi ro là những tác hại bất thường xảy ra mà các hệ thống không thể lường trước nhưng phải chấp nhận để xử lý”.

Phân tích các định nghĩa cho thấy, tuy có sự khác biệt nhưng các định nghĩa này đều đề cập tới hai thuộc tính cơ bản của rủi ro, đó là:

Kết quả không thể xác định chắc chắn: một khi tồn tại rủi ro trong một sự kiện hay hành động, sẽ phải có ít nhất hai kết quả có khả năng xảy ra. Nếu một sự kiện hay hành động mà kết quả của nó được biết chắc chắn thì sẽ không thể có rủi ro gắn với sự kiện hay hành động đó. Chẳng hạn việc đầu tư vào các tài sản hữu hình như máy móc, thiết bị … sẽ phải đối mặt với những tổn thất do hao mòn hữu hình và vô hình gây Kết quả này người đầu tư hoàn toàn biết trước nên việc phải gánh chịu những tổn thất nói trên không được coi là rủi ro. Như vậy, rủi ro chỉ phát sinh khi có sự không chắc chắn xảy ra, theo đó nếu xác suất là 0 hoặc 1 thì sẽ không có rủi ro.

Kết quả không mong muốn: trong các kết quả có thể xảy ra, ít nhất có một kết quả là không mong muốn. Kết quả không mong muốn thường được hiểu là một tổn thất hay thiệt hại về của cải hoặc con người.

Trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng … việc nắm bắt và đo lường rủi ro hay nói cách khác là hoạt động quản trị rủi ro đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.

  • Vậy hoạt động quản trị rủi ro là gì?

Cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về quản trị rủi ro. Có nhiều trường phái nghiên cứu về rủi ro và quản trị rủi ro đưa ra những khái niệm về quản trị rủi ro rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn trái ngược nhau.

Có những tác giả cho rằng quản trị rủi ro đồng nghĩa với mua bảo hiểm. Hay quản trị rủi ro chỉ quản trị những rủi ro thuần tuý, những rủi ro có thể phân tán, những “ rủi ro có thể mua bảo hiểm”.

Ngược lại, trường phái mới cho rằng cần quản trị tất cả mọi loại rủi ro của tổ chức một cách toàn diện. Tán đồng quan điểm “quản trị rủi ro toàn diện” của H.Fleix Klorman, PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân cho rằng: ”Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu tổn thất, mất mát và những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro”.

Trong kinh doanh ngân hàng, việc đương đầu với rủi ro là điều không thể tránh khỏi được. Việc thừa nhận một tỷ lệ rủi ro tự nhiên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là yêu cầu khách quan hợp lý. Vấn đề là làm thế nào để hạn chế rủi ro này ở một tỷ lệ thấp nhất có thể chấp nhận được. Hiện nay, một chương trình quản tri rủi ro hoàn thiện bao gồm 4 yếu tố: xác định hạn mức hạn mức rủi ro (đưa ra mức rủi ro chấp nhận được), đánh giá rủi ro, theo dõi tổng thể rủi ro và quá trình quản trị rủi ro. Quy trình đánh giá rủi ro cũng bao gồm 4 yếu tố: nhận biết rủi ro, định lượng rủi ro, theo dõi rủi ro và kiểm soát rủi ro. Việc thực hiện quy trình quản trị rủi ro một cách hợp lý và hiệu quả sẽ giúp các doanh nghiệp có thể giữ rủi ro ở mức có thể chấp nhận được trong nỗ lực để có được lợi nhuận, trên cơ sở sẵn sàng chịu đựng rủi ro và sức mạnh tài chính của ngân hàng.

2. Các loại rủi ro và quản trị rủi ro trong Ngân hàng thương mại Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Các NHTM không chỉ làm cầu nối trung gian tài chính thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng mà còn là trung tâm biến đổi và tiếp nhận rủi ro trong nền kinh tế. Chính vì vậy, các NHTM luôn phải đối đầu với mọi loại rủi ro trong hầu hết các hoạt động kinh doanh của mình như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro hoạt động … và nhiều loại rủi ro khác nữa. Mỗi loại rủi ro đều có những đặc điểm riêng, quản trị mỗi loại rủi ro đó cũng cần phải áp dụng những phương pháp riêng. Vì vậy, muốn nâng cao năng lực quản trị rủi ro đó của các NHTM Việt nam cần phải nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc bản chất của mỗi loại rủi ro, những biện pháp chủ yếu cần áp dụng để phòng ngừa, hạn chế rủi ro và giảm thấp những tổn thất và thiệt hại do rủi ro gây ra.

2.1 Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng

A.Saunders và H.Lange đã định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự định mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể thực hiện được đầy đủ cả về số lượng và thời hạn”. Như vậy, rủi ro tín dụng là những thiệt hai kinh tế mà ngân hàng thương mại phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợ lãi hoặc không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng do các nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan.

Rủi ro tín dụng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước tiên, rủi ro trong hoạt động tín dụng phát sinh từ phía hai bên tham gia tín dụng là ngân hàng cho vay và người đi vay như: đánh giá sai năng lực tài chính và sản xuất kinh doanh của người cho vay; không chú trọng đến chất lượng và an toàn vốn vay, trình độ của đội ngũ cán bộ tín dụng còn non kém; các khách hàng sử dụng vốn vay không hiệu quả , sai mục đích, không có thiện chí trả nợ; tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch … . Ngoài ra, rủi ro còn phát sinh do sự biến động của môi trường kinh tế trong và ngoài nước; quá trình hội nhập, tự do hóa tài chính; môi trường pháp lý chưa hoàn thiện; hệ thống thông tin và các tiêu chuẩn tín dụng còn nhiều bất cập v.v …

Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Vì vậy, các NHTM phải có chính sách quản trị rủi ro hợp lý và hiệu quả. Để đạt được điều này, các nhà quản trị ngân hàng cần vận dụng một cách hiệu quả các mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng như: mô hình chất lượng, mô hình Moody’s và Standard & Poor’s, mô hình điểm số Z và mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng. Các mô hình này như là các công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản trị ngân hàng có những quyết định đúng đắn trước khi cấp tín dụng. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng phải có các biện pháp hỗ trợ như xây dựng cho mình các chính sách tín dụng phù hợp; xây dựng các mối quan hệ dài lâu gắn bó với khách hàng; sử dụng các công cụ bảo đảm tiền vay; mua bảo hiểm cho các khoản tín dụng; thiết lập quỹ dự phòng đối với các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi; nâng cao chất lượng công tác kiểm toán nội bộ đối với các hoạt động tín dụng; tham gia trung tâm thông tin tín dụng; dự đoán yếu tố môi trường kinh tế xã hội ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh …

2.2 Rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không có được đủ vốn khả dụng (cung thanh khoản) với chi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần để đáp ứng cầu thanh khoản. Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản là sự không cân xứng về kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ của NHTM, sự nhạy cảm của tài sản chính với những thay đổi của lãi suất và ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo.

Quản trị rủi ro thanh khoản bao gồm 4 nội dung chính: tổ chức quản trị rủi ro thanh khoản, nhận biết rủi ro thanh khoản, đo lường rủi ro thanh khoản, đề ra biện pháp quản trị rủi ro thanh khoản.Việc phòng ngừa rủi ro thanh khoản cớ thể thông qua 3 biện pháp cụ thể là quản trị tài sản Có, quản trị tài sản Nợ, quản trị thanh khoản kết hợp. Quản trị tài sản Nợ và việc đa dạng hóa nguồn vốn, tăng cường các nguồn vốn dài hạn. Trong khi đó, đối với tài sản Có, các nhà quản trị ngân hàng cần xác định nhu cầu thanh khoản và có phương án quản lý quý đảm bảo thanh toán. Ngoài ra, các NHTM cần phải chú trọng và đảm bảo các quy tắc của BIS nhằm xây dựng cho mình một chương trình quản trị rủi ro thanh khoản hiệu quả và phù hợp với thông lệ, tiêu chuẩn quốc tế.

2.3 Rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất

Lãi suất là giá cả của phần lớn các sản phẩm của ngân hàng nên nó có thể tác động trực tiếp đến tài sản Có và tài sản Nợ của ngân hàng. Mọi sự thay đổi của lãi suất đều có thể tác động đến việc tăng hay giảm chi phí và thu nhập của ngân hàng. Vì vậy, rủi ro lãi suất là nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng khi lãi suất thị trường có sự biến động. Các nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất là sự biến động lãi suất thị trường trái với dự kiến và sự không cân xứng về kỳ hạn của tài sản Nợ và tài sản Có.

Với sự biến động lớn của lãi suất trong những năm gần đây thì việc quản trị rủi ro lãi suất ngày càng trở nên quan trọng. Để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro do biến động của lãi suất, các ngân hàng cần phải tăng cường áp dụng các phương pháp hiện đại để đo lường, đánh giá ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đến hoạt động kinh doanh. Việc đo lường mức độ rủi ro lãi suất có thể thông qua các mô hình kỳ hạn, mô hình định giá lại và mô hình thời lượng. Ngoài ra, ngân hàng cần phải có các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro lãi suất như sử dụng hợp đồng phái sinh như hợp đồng lãi suất kỳ hạn, hợp đồng lãi suất tương lai, hợp đồng quyền chọn lãi suất, hợp đồng hoán đổi lãi suất; điều chỉnh cơ cấu kỳ hạn Bảng cân đối tài sản, áp dụng chính sách lãi suất thả nổi … Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

2.4 Rủi ro hối đoái và quản trị rủi ro hối đoái

Trên thị trường ngoại hối nói riêng và thị trường tiền tệ nói chung, các NHTM luôn đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nhà môi giới, nhà chấp nhận giá, nhà đầu cơ và nhà bảo hiểm rủi ro ngoại hối. Do đó, trong cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ của nhiều ngân hàng thì ngoại tệ chiếm một tỷ trọng đáng kể. Khi tỷ giá hối đoái trên thị trường thay đổi thì giá trị tài sản Có và tài sản Nợ cũng sẽ thay đổi, ngân hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơ rủi ro hối đoái. Như vậy, rủi ro hối đoái phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại tiền tệ của các khoản ngoại hối nắm giữ, và vì thế làm cho Ngân hàng có thể phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động.

Có thể thấy, một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro ngoại hối đó là sự không cân xứng giữa tài sản Có và tài sản Nợ đối với từng loại ngoại tệ. Sự không cân xứng được biểu thị dưới hai trạng thái gọi là Trạng thái đoản (Short Position) hay trạng thái dư bán ngoại tệ và Trạng thái trường (Long Position) hay trạng thái dư mua ngoại tệ. ở trạng thái đoản (trường hợp một ngoại tệ có nguồn ra lớn hơn nguồn vào) nếu ngoại tệ tăng giá ngân hàng sẽ bị lỗ và ở trạng thái trường (trường hợp một ngoại tệ có nguồn vào lớn hơn nguồn ra) thì ngược lại tức là nếu ngoại tệ tăng giá thì ngân hàng sẽ có lãi. Tuy nhiên, khi sự không cân xứng này được khắc phục thì rủi ro ngoại hối có thể được phòng ngừa hay không? Cần lưu ý rằng, trạng thái cân xứng giữa tài sản Có và tài sản Nợ đối với từng loại ngoại tệ cũng chỉ loại trừ được rủi ro tỷ giá, còn rủi ro lãi suất ngoại tệ vẫn phát sinh nếu các kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ bằng ngoại tệ không cân xứng nhau.

Để loại trừ và giảm bớt rủi ro hối đoái, các ngân hàng phải thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro hối đoái bao gồm: đánh giá mức độ của rủi ro hối đoái và đưa ra các biện pháp quản lý rủi ro hối đoái trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Để đo lường rủi ro hối đoái, ta cần xác định trạng thái ròng nội bảng và ngoại bảng đối với từng loại ngoại tệ để lượng hóa được quy mô tiềm ẩn rủi ro ngoại hối đồng thời cần nhận biết rõ các nhân tố gây biến động đến tỷ giá và mức độ gây biến động của các nhân tố này. Thông qua việc đánh giá mức độ rủi ro hối đoái, các nhà quản trị ngân hàng đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro hối đoái như: sử dụng các hợp đồng kỳ hạn tiền tệ, các hợp đồng tương lai tiền tệ, hợp đồng quyền chọn tiền tệ, hợp đồng hoán đổi tiền tệ, quản lý bằng công cụ hạn mức, tạo lập và sử dụng quỹ dự phòng, đa dạng hóa các loạt ngoại tệ trong kinh doanh … Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

2.5 Các loại rủi ro và quản trị rủi ro khác

Ngoài các loại rủi ro nói trên, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng còn tồn tại rất nhiều những rủi ro khác bao gồm:

  • Rủi ro hoạt động: bao gồm các rủi ro có thể phát sinh do cách thức điều hành, quản lý của một ngân hàng như tham ô, năng lực quản lý kém, không có phương án phòng, chống hạn chế thiệt hại khi rủi ro xảy ra.
  • Rủi ro công nghệ: là loại rủi ro phát sinh khi khoản đầu tư phát triển công nghệ không tạo ra khoản tiết kiệm chi phí dự kiến khi mở rộng quy mô hoạt động.
  • Rủi ro thị trường: Là loại rủi ro tổn thất tài sản, xảy ra khi có sự thay đổi của các điều kiện thị trường hay những biến động của thị trường làm ảnh hưởng đến lãi suất, tỷ giá ngoại hối, giá chứng khoán mà ngân hàng đầu tư …
  • Các loại rủi ro khác là rủi ro pháp lý, rủi ro uy tín …

Đối với những loại rủi ro này, biện pháp cơ bản để quản lý là phải tăng cường khả năng chống đỡ rủi ro của mỗi ngân hàng. Khả năng chống đỡ rủi ro thể hiện năng lực chịu đựng rủi ro ở mức độ nhất định của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh. Để duy trì và phát triển khả năng này, mỗi ngân hàng trước hết cần phải nâng cấp hệ thống thông tin khách hàng, hệ thống phòng ngừa rủi ro để hoạt động hiệu quả hơn; nâng cao các công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ; học tập các NHTM nước ngoài trong công tác quản trị rủi ro; tiến tới sử dụng hệ thống quản trị ngân hàng hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế …

3. Sự cần thiết của hoạt động quản trị rủi ro trong các NHTM trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn rủi ro, gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh và uy tín của chính ngân hàng và có tính lây chuyền, ảnh hưởng rất mạnh đến toàn bộ đời sống, kinh tế, chính trị của một quốc gia. Vì vậy, để hoạt động ngân hàng phát triển vững chắc, an toàn và hiệu quả, cần phải kiểm soát và hạn chế được rủi ro thông qua công tác quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng.

Việc thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro cho phép nhận dạng các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các lĩnh vực có vấn đề hoặc có khả năng nảy sinh vấn đề để xử lý kịp thời và đúng lúc các rủi ro phát sinh … Bên cạnh đó quản trị rủi ro còn có vai trò:

Góp phần bình ổn hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng: các NHTM không chỉ cung cấp dịch vụ cho các khách hàng cá nhân hay các doanh nghiệp mà còn thực hiện nhiều giao dịch khác với các ngân hàng khác. Điều đó tạo nên tính lan truyền trong hệ thống ngân hàng. Vì vậy, khi một ngân hàng có hoạt động quản trị rủi ro tốt sẽ có một tác động tích cực tới sự bình ổn của toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng: đây là hiệu quả rõ ràng và trực tiếp nhất mà hoạt động quản trị rủi ro mang lại. Một khi có một mô hình quản trị hiệu quả thì sẽ duy trì rủi ro ở một tỷ lệ thấp nhất có thể góp phần giảm thiểu chi phí, tăng cao lợi nhuận, đẩy mạnh thương hiệu …

Nâng cao năng lực cạnh tranh và uy tín của ngân hàng: quản trị rủi ro hiệu quả sẽ giúp cho ngân hàng giảm thiểu được chi phí, thiệt hại phát sinh thêm, nâng cao chất lượng dịch vụ tạo lợi thế cạnh tranh về giá và chất lượng sản phẩm. Hơn thế nữa, để có một chiến lược quản trị rủi ro tốt, đòi hỏi ngân hàng phải có một chính sách tài chính minh bạch, đội ngũ cán bộ và nhà quản trị chuyên nghiệp. Điều đó góp phần nâng cao uy tín,tăng sự tin tưởng của khách hàng, mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

II. RỦI RO LÃI SUẤT VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

1. Rủi ro lãi suất

1.1 Khái niệm

Lãi suất là giá cả của các khoản cho vay, tiền gửi của ngân hàng. Như nhiều giá cả của các hàng hóa khác, lãi suất thường xuyên biến động và có thể tạo ra thu nhập hoặc gây tổn thất cho ngân hàng. Như phần trên đã được đề cập tới, rủi ro lãi suất là rủi ro do sự biến động của lãi suất gây nên làm thay đổi tiền lãi và thu nhập của ngân hàng. Hay nói cách khác, rủi ro lãi suất có thể hiểu là “rủi ro đối với thu nhập lãi thuần do những thay đổi bất lợi của lãi suất”.

1.2 Phân loại

Rủi ro lãi suất có thể được phân loại thành:

  • Rủi ro về lãi suất tái tài trợ:

Ta có thể phân tích về loại rủi ro này thông qua một ví dụ sau:

Giả sử, ngân hàng đang có nhu cầu cho vay một khoản tiền có lãi suất cố định 10% và kỳ hạn là 2 năm. Ngân hàng tìm kiếm nguồn vay trên thị trường bằng một cách huy động một khoản tiền tương tự lãi suất 9% có kỳ hạn 1 năm. Ta có thể biểu diễn bằng sơ đồ trường hợp trên như sau:

Sau năm thứ nhất, bằng cách vay ngắn hạn 1 năm và cho vay dài hạn 2 năm, ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 10% – 9% = 1%. Vào thời điểm này, ngân hàng phải đi vay một khoản khác để hoàn trả vốn đi vay có kỳ hạn 1 năm. Cách tài trợ như trên được gọi là tái tài trợ: là tình trạng trong đó kì hạn của tài sản (khoản cho vay) dài hơn kỳ hạn của nguồn tiền (khoản đi vay). Như vậy, nếu lãi suất thị trường năm thứ 2 không đổi, ngân hàng có thể thu được mức lợi nhuận năm 2 bằng với năm 1 là 1%. Tuy nhiên, trên thực tế lãi suất trị trường biến đổi liên tục cho nên ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về sự thay đổi lãi suất. Giả sử, sang năm thứ hai, ngân hàng chỉ có thể huy động vốn với mức lãi suất hiện hành là 11% thì lợi nhuận mà ngân hàng thu được là 1 con số âm, tức là ngân hàng sẽ chịu thua lỗ 10% – 11% = – 1%và lợi nhuận của cả hai năm sẽ bằng 0. Thậm chí, nếu lãi suất thị trường năm 2 lớn hơn 11% ngân hàng còn chịu lỗ cả 2 năm. Kết quả là, trong mọi trường hợp nếu ngân hàng duy trì tài sản Có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản Nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản Nợ. Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn bổ sung trong những năm tiếp theo lớn hơn mức lãi suất đầu tư tín dụng dài hạn. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

  • Rủi ro lãi suất tái đầu tư:

Cũng xét một ví dụ tương tự như trên nhưng kỳ hạn của vốn huy động là 2 năm, còn kỳ hạn của khoản cho vay là 1 năm. Ta có sơ đồ sau:

Tương tự như trường hợp trên, sau năm 1 ngân hàng thu được lợi nhuận là 1%. Vì tài sản chỉ có kỳ hạn 1 năm, nên sau năm 1 ngân hàng có một khoản tiền nhàn rỗi, lúc này ngân hàng tiếp tục cho vay với lãi suất thì trường. Cách đầu tư như trên gọi là tái đầu tư: là tình trạng trong đó kỳ hạn của tài sản ngắn hơn kỳ hạn của nguồn tiền. Sang năm thứ 2, nếu lãi suất tái đầu tư của thị trường giảm xuống còn 8% thì chênh lệch lãi suất là 8% – 9% = 1%, tức là ngân hàng chịu lỗ. Sau hai năm, lợi nhuận của ngân hàng bằng 0. Kết quả là, ngân hàng gặp phải rủi ro về lãi suất tái đầu tư trong trường hợp kỳ hạn của tài sản Có ngẵn hơn kỳ hạn của tài sản Nợ.

  • Rủi ro giảm giá trị tài sản:

Như chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài sản Có hay tài sản Nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản Có và tài sản Nợ giảm xuống. Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản Có và tài sản Nợ sẽ tăng lên. Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ không cân xứng với nhau, ví dụ tài sản Có có kỳ hạn dài hơn tài sản Nợ, thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản Có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản Nợ, Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng.

1.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất

Có hai nguyên nhân chính gây ra rủi ro lãi suất:

  • Sự không cân xứng giữa các kỳ hạn của tài sản Nợ và tài sản Có

Đây là nguyên nhân chủ yếu tạo ra rủi ro lãi suất. Việc không cân xứng giữa tài sản Có và tài sản Nợ đã tạo ra 3 loại rủi ro lãi suất phổ biến của các NHTM hiện nay. Điều này đã được phân tích rõ qua các ví dụ ở phần trên.

Vậy tại sao các ngân hàng lại không phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng cách làm cho kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ cân xứng nhau? Xét về lý thuyết, đây có thể là một phương pháp tối ưu trong việc loại bỏ rủi ro lãi suất. Tuy nhiên, việc để cho hai loại tài sản này cân xứng nhau lại đối lập với chức năng tích cực chuyển hóa tài sản của ngân hàng. Nghĩa là, tại cùng một thời điểm, ngân hàng không thể vừa là người chuyển hóa tài sản lại vừa là người trực tiếp phòng ngừa rủi ro cho bảng cân đối tài sản của mình. Việc làm cho các kỳ hạn cân xứng nhau, một mặt, giảm được rủi ro lãi suất; mặt khác, lại làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng, bởi lẽ nó làm giảm các cơ hội đầu tư vào những lĩnh vực có rủi ro song khả năng sinh lời lớn.

  • Sự thay đổi của lãi suất thị trường ngoài dự kiến Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Lãi suất thị trường thường xuyên thay đổi. Điều này khiến các ngân hàng luôn nghiên cứu và dự báo lãi suất. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, ngân hàng không thể dự báo được chính xác mức độ thay đổi này.

Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương thì khi lãi suất thị trường tăng, chênh lệch lãi suất tăng và ngược lại khi lãi suất thị trường giảm chênh lệch lãi suất giảm.

Trong trường hợp ngân hàng duy trì khe hở lãi suất âm, khi lãi suất thị trường tăng, chênh lệch lãi suất giảm. Còn khi lãi suất thị trường giảm thì chênh lệch lãi suất tăng.

Hơn nữa, ngân hàng quy định hình thức lãi suất huy động vốn và hình thức lãi suất cho vay khác nhau: cho vay với lãi suất cố đinh, trong khi đó lại huy động vốn với lãi suất thả nổi. Việc thay đổi của lãi suất thị trường sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới thu nhập của ngân hàng và làm cho NHTM chịu rủi ro lãi suất. Ta có thể thấy được điều đó khi phân tích sự thay đổi của lãi suất cố định và lãi suất thả nổi ảnh hưởng thế nào tới các khoản cho vay và đi vay:

  • Bảng 1: Tác động của rủi ro lãi suất tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng

1.4 Khe hở nhạy cảm lãi suất – Thước đo khả năng xảy ra rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất được đánh giá thông qua sự không cân xứng về kỳ hạn của tài sản Có, tài sản Nợ và sự thay đổi của lãi suất thị trường. Sự không cân xứng được đo bằng khe hở nhạy cảm lãi suất:

Các tài sản và khoản nợ nhạy cảm là những tài sẳn và các khoản vốn vay có thể được định giá lại khi lãi suất thay đổi. Các loại tài sản nguồn vốn nhạy cảm là các khoản tiền gửi ngắn hạn, các khoản đi vay và cho vay trên thị trường liên ngân hàng, chứng khoán ngắn hạn của chính phủ, các khoản tiền cho vay ngắn hạn. Các khoản ít nhạy cảm thuộc về tài sản và nguồn vốn trung và dài hạn.

Khi giá trị tài sản nhạy cảm lớn hơn giá trị nợ nhạy cảm thì ngân hàng được xem là có khe hở nhạy cảm lãi suất dương hay nhạy cảm tài sản. Ví dụ, một ngân hàng có tổng tài sản nhạy cảm lãi suất trị giá 500 triệu USD và tổng giá trị nợ nhạy cảm lãi suất là 400 triệu USD. Như vậy, ngân hàng này có khe hở nhạy cảm lãi suất dương là 100 triệu USD. Nếu lãi suất tăng, các yếu tố khác không đổi thì thu nhập lãi của ngân hàng sẽ tăng. Ngược lại, nếu lãi suất giảm thì thu nhập lãi của ngân hàng sẽ giảm, Tức là, sự tăng của lãi suất tỷ lệ thuận với sự tăng thu nhập lãi của ngân hàng.

Trong trường hợp ngược lại, nếu một ngân hàng nắm giữ lượng tài sản nhạy cảm lãi suất trị giá 150 triệu USD và nợ nhạy cảm lãi suất trị giá 200 triệu USD thì ngân hàng được xem là có trạng thái nhạy cảm nợ và khe hở nhạy cảm lãi suất là âm 50 triệu USD. Hay nói cách khác, khi giá trị tài sản nhạy cảm nhỏ hơn giá trị nợ nhạy cảm, ngân hàng được xem là có khe hở nhạy cảm âm hay nhạy cảm nợ. Khi đó, sự tăng của lãi suất tỷ lệ nghịch với sự tăng thu nhập lãi của ngân hàng.

Hiện nay, quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất là một công cụ phổ biến phục vụ hoạt động quản lý rủi ro lãi suất. Kỹ thuật này tập trung vào việc bảo vệ hoặc tối đa hóa tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng – tỷ lệ giữa thu từ lãi trừ chi phí trả lãi và chia cho tổng tài sản hoặc tổng tài sản sinh lời. Các ngân hàng lớn ngày nay sử dụng máy tính để xác định giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất và giá trị nợ nhạy cảm lãi suất trong những khoảng thời gian khác nhau và quản lý mức độ nhạy cảm lãi suất dựa trên quan điểm quản lý rủi ro và dựa trên sự nhạy cảm về rủi ro của những người quản lý ngân hàng. Tuy nhiên, kỹ thuật này còn nhiều những hạn chế không nhỏ. Sự lựa chọn các khoảng thời gian để phân tích hoàn toàn tùy theo từng ngân hàng. Đồng thời, lãi suất trong hoạt động ngân hàng và lãi suất thị trường thay đổi với những tốc độ khác nhau. Hơn nữa, ta cũng thấy rằng quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất không nhằm mục đích bảo vệ giá trị tài sản và đặc biệt không bảo vệ được giá trị ròng của ngân hàng.

2. Quản trị rủi ro lãi suất Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Trong những năm gần đây, các NHTM và các cơ quan quản lý tại nhiều quốc gia trên thế giới đã giành nhiều thời gian và công sức để phát triển hệ thống giám sát và quản lý rủi ro lãi suất nhằm tách biệt danh mục tài sản Có, tài sản Nợ và lợi nhuận của ngân hàng khỏi ảnh hưởng tiêu cực của những biến động lãi suất. Dù lãi suất thay đổi, các ngân hàng luôn mong muốn đạt được thu nhập dự kiến ở mức tương đối ổn định và đây chính là mục tiêu của ngân hàng trong công tác quản lý rủi ro lãi suất.

  • Quản trị rủi ro lãi suất bao gồm các yếu tố sau:

2.1 Tổ chức hoạt động quản lý rủi ro

Một ngân hàng cần triển khai các chương trình quản lý rủi ro mà các ngân hàng có nguy cơ phải đối mặt. Có thể nói, đây là khâu chuẩn bị về kiến thức, đội ngũ, cơ sở hạ tầng, thông tin … cho một quy trình quản trị rủi ro lãi suất.

Công việc đầu tiên là các ngân hàng cần phải quyết định và xác định rõ ràng mức độ rủi ro lãi suất mà ngân hàng đó chấp nhận được. Vấn đề này phải là một trong các mục tiêu chiến lược tổng thể của ngân hàng. Phải tùy theo mô hình tổ chức và lĩnh vực hoạt động của ngân hàng để quyết định mô hình quản trị rủi ro thích hợp, từ đó xác định trách nhiệm tổng thể của các cấp trong quản lý rủi ro. Nơi tạo ra lợi nhuận cũng là nơi tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Vì thế bộ phận kiểm soát rủi ro tổn thất phải song song với bộ phận tạo ra lợi nhuận.

Trên cơ sở mức độ rủi ro mà một ngân hàng có thể chấp nhận, ngân hàng đó cần xác định rõ những sản phẩm và dịch vụ mà ngân hàng đó cung cấp. Kết hợp cùng các vấn đề tác nghiệp như liệu ngân hàng có đủ các nguồn lực cần thiết và năng lực về mặt kỹ thuật để triển khai hiệu quả sản phẩm đó, ngân hàng cũng cần phải có các cơ chế để đảm bảo rằng bất cứ một sản phẩm mới nào cũng phải trải qua một quy trình đánh giá chính thức để xem liệu sản phẩm đó có phù hợp với chiến lược và mức độ rủi ro mà ngân hàng đó chấp nhận hay không.

Bên cạnh các yếu tố trên, một ngân hàng cần đảm bảo rằng đội ngũ nhân viên của mình cần có đủ kiến thức để quản lý các sản phẩm và dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cũng như các rủi ro gắn liền với chúng. Hơn thế nữa, ngân hàng cũng cần có đầy đủ các hệ thống như hệ thống công nghệ thông tin, phương thức tổ chức hành chính … để xử lý các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng đó cung cấp và để có thể đo lường và kiểm soát các rủi ro liên quan.

2.2 Nhận biết rủi ro và dự báo lãi suất Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Lãi suất thị trường là một yếu tố luôn luôn biến động. Trong quản trị rủi ro lãi suất, việc nhận biết và dự báo lãi suất là một yếu tố không thể thiếu. Việc dự báo này giúp định hướng cho các nhà quản trị biết cần phải sử dụng những biện pháp phòng ngừa nào và sử dụng như thế nào cho hợp lý và đạt được hiệu quả cao.

Để có thể dự đoán được sự thay đổi của lãi suất thị trường, ta cần xác định các nhân tố gây nên sự biến động đó. Trên thực tế, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất thị trường mà một nhà quản trị dù có tài ba đến mấy cũng không thể lường trước được. Tuy nhiên, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cần phải xem xét một số nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới lãi suất để có thể dự đoán được phần nào sự biến động của nó. Các nhân tố chủ yếu đó bao gồm:

Cung – cầu tín dụng: Giá cả thị trường của bất cứ loại hàng hóa nào đều bị chi phối bởi quy luật cung cầu. Giá cả của các khoản tín dụng hay lãi suất được xác định tại vị trí cân bằng của cung và cầu tín dụng. Lãi suất tác động tới cung cầu quỹ cho vay, tác động đến cung và tiết chế cầu. Khi lãi suất tăng sẽ khiến cầu quỹ cho vay tăng và cung của quỹ cho vay giảm; ngược lại lãi suất giảm làm tăng cung và giảm cầu quỹ cho vay. Mặt khác, cung và cầu quỹ cho vay cũng tác động trở lại đối với lãi suất theo hướng cung tăng làm cho lãi suất giảm và ngược lại, khi cầu tăng sẽ kéo theo sự tăng lên của lãi suất.

Cung cầu tiền tệ: lãi suất được hình thành trên cơ sở quan hệ giữa cung và cầu tiền tệ. Cung tiền được tạo nên từ việc NHTW cung ứng tiền vào lưu thông bằng cách cho các TCTD, kho bạc Nhà nước, mua vàng, ngoại tệ trên thị trường ngoại hối hoặc mua chứng khoán trong nghiệp vụ thị trường mở. Khi cung tiền lớn hơn cầu tiền, lãi suất tăng và ngược lại khi cầu tiền lớn hơn cung tiền lãi suất giảm. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Lạm phát: Tỷ lệ lạm phát và lãi suất có mối quan hệ chặt chẽ và tỷ lệ thuận với nhau theo chiều hướng lãi suất tăng cao trong các thời kỳ tỷ lệ lạm phát tăng Khi lạm phát tăng cao, người ta có xu hướng găm giữ tiền lại hoặc chuyển sang thị trường tài sản hay các thị trường nước ngoài không bị lạm phát cao làm cho cung quỹ cho vay giảm và làm lãi suất tăng. Mặt khác, lạm phát tăng còn kích thích cho cầu tín dụng tăng vì có thể vay tiền để tiêu dùng hay bù đắp khoản lỗ do lạm phát khiến cho lãi suất cũng tăng. Kết hợp sự tăng cầu và giảm cung làm cho lãi suất tăng cao hơn hay nói tóm lại lạm phát tăng làm tăng lãi suất thị trường.

Thu chi ngân sách Nhà nước: Khi ngân sách Nhà nước bội chi, Chính phủ sẽ tìm nguồn chi tiêu thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ làm cầu quỹ cho vay tăng làm lãi suất tăng chưa kể nếu ngân hàng Trung ương phát hành thêm tiền sẽ làm tăng lạm phát và khiến cho lãi suất cũng tăng lên Ngược lại bội thu ngân sách sẽ khiến cho cung quỹ cho vay tăng và làm giảm lãi suất. Hay nói cách khác , lãi suất cũng chịu ảnh hưởng của thu chi ngân sách Nhà nước.

2.3 Lượng hóa rủi ro lãi suất

Lãi suất thị trường là do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định, là một yếu tố thường xuyên biến đổi và khó dự đoán, điều này khiến ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ tiềm ẩn rủi ro lãi suất. Để phòng ngừa rủi ro lãi suất đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường công tác quản lý, đặc biệt là áp dụng phương pháp hiện đại để lượng hoá rủi ro lãi suất có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh không và ảnh hưởng đến mức độ nào? Đây là một khâu quan trọng giúp các nhà quản trị ngân hàng xác định được quy mô của rủi ro từ đó có thể đưa ra được những biện pháp phòng ngừa và hạn chế tối ưu nhất đối với những rủi ro mà ngân hàng mình phải đối mặt. Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình lượng hoá rủi ro lãi suất đang được các ngân hàng hiện đại áp dụng, đó là:

  • Mô hình kỳ hạn đến hạn (the maturity model)
  • Mô hình định giá lại (the repricing model)
  • Mô hình thời lượng (the duration model)
  • Mô hình kỳ hạn đến hạn

Đây là một phương pháp khá đơn giản, trực quan để lượng hóa rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mô hình đo lường rủi ro thông qua việc xác định mức lãi suất mà tại đó chênh lệch giá trị kỳ hạn đến hạn bình quân của tài sản Có và tài sản Nợ bằng 0. Để áp dụng phương pháp này, trước hết ta cần tính kỳ hạn bình quân của một danh mục tài sản.

Gọi MA là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản Có, Ml là kỳ hạn đến hạn của danh mục tài sản Nợ, ta có:

Trong đó: Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

  • WAi là tỷ trọng, MAi là kỳ hạn đến hạn của tài sản Có i
  • WLj là tỷ trọ ng, MLj là kỳ hạn đến hạn của tài sản Nợ j
  • n, m là số loại tài sản Có và Nợ phân theo kỳ hạn

Những quy tắc chung trong việc quản lý rủi ro lãi suất đối với một danh mục tài sản, đó là:

  • Một sự tăng (giảm) lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự giảm (tăng) giá trị của danh mục tài sản
  • Khi lãi suất thị trường tăng (giảm), thì danh mục tài sản có kỳ hạn càng dài, sẽ giảm (tăng) giá càng lớn.

Đối với các NHTM hiện nay, cơ cấu kỳ hạn của bảng cân đối tài sản thường ở trạng thái MA>ML do các ngân hàng có xu hướng đầu tư vào các TSC kỳ hạn dài mà vốn huy động thì ngắn hạn. Chính vì vậy, giả sử khi lãi suất thị trường tăng, vì TSC có kỳ hạn dài hơn vốn huy động, nên thị giá TSC giảm nhiều hơn so với vốn huy động. Sự chênh lệch này chính là mức thay đổi vốn tự có là: ∆E = ∆A – ∆L. Như vậy, theo hai quy tắc trên, khi lãi suất giảm thì ∆E tăng, ngược lại khi lãi suất tăng thì ∆E giảm và khi lãi suất tăng đến mức nào đó thì ∆E sẽ bằng thậm chí nhỏ hơn 0. Vì vậy, khi giải bất phương trình E < 0 ta sẽ tìm ra được mức lãi suất mà tại đó ngân hàng mất khả năng thanh toán hoàn toàn.

Tóm lại, việc không cân xứng giữa tài sản Có và tài sản Nợ là nguyên nhân chính gây ra rủi ro lãi suất của ngân hàng, thậm chí khi lãi suất biến động đến một mức nhất định thì ngân hàng có thể rơi vào trạng thái mất khả năng thanh toán. Bởi vì mô hình kỳ hạn đến hạn đã không đề cập đến yếu tố thời lượng của các tài sản Có và tài sản Nợ, cho nên mô hình này còn khiếm khuyết nhất định. Tuy nhiên, do có ưu điểm là đơn giản và trực quan, nên đã được các ngân hàng sử dụng khá phổ biến, điều này cũng phù hợp với các ngân hàng Việt nam hiện nay đang trong quá trình chuyển đổi tiến tới hiện đại hóa.

Mô hình định giá lại: Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

  • Lượng hóa rủi ro lãi suất bằng mô hình định giá lại

Nội dung của mô hình định giá lại là việc phân tích các luồng tiền dựa trên nguyên tắc giá trị ghi sổ nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu được từ tài sản Có và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản so với mô hình kia.

Hiện nay, hầu hết các ngân hàng trên thế giới đều lập báo cáo định kỳ hàng quý chênh lệch giữa tài sản Có và tài sản Nợ với kỳ hạn đến nhỏ nhất là 1 ngày để quản trị rủi ro lãi suất. Các ngân hàng tính số chênh lệch giữa tài sản Có và tài sản Nợ đối với từng kỳ hạn và đặt chúng trong mối quan hệ với độ nhạy cảm lãi suất thị trường. Độ nhạy cảm trong trường hợp này chính là khoảng thời gian mà tài sản Có và tài sản Nợ được định giá lại. Điều đó có nghĩa là nhà quản trị ngân hàng còn phải chờ bao lâu để áp mức lãi suất mới vào từng kỳ hạn khác nhau.

Theo phương pháp này, rủi ro lãi suất được thể hiện qua sự thay đổi của thu nhập ròng mỗi khi lãi suất thay đổi. Sự thay đổi này được xác định theo công thức: ∆NHi = (GAPi) x ∆Rj = (RSAi= – RSLi) x ∆Ri

Trong đó:

  • ∆NHi: Sự thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất của nhóm i
  • GAPi = Sự chênh lệch giá trị giữa tài sản Có và tài sản Nợ (giá trị ghi sổ) của nhóm i
  • ∆Ri = Mức thay đỗi lãi suất của nhóm i
  • RSAi = Số d- ghi sỗ của tài sản Có thuộc nhóm i (Rate Sensitivity Assets)
  • RSLi = Số d- ghi sỗ của tài sản Nợ thuộc nhóm i (Rate Sensitivity Liabilities)

Theo công thức trên, ta thấy mô hình định giá lại sử dụng các giá trị của tài sản Có và tài sản Nợ theo giá trị ghi sỗ tức là giá trị lịch sử. Do đó, nếu lãi suất thay đỗi thì chỉ chịu ảnh hưởng lên thu nhập hay chi phí từ lãi suất, tức là mức thay đỗi ròng của thu nhËp tự lãi suất.

Tuy nhiên, trong trường hợp cơ chế hạch toán bảng cân đối tài sản là giá trị thị trường, ngân hàng van có thễ tính được sự chênh lệch giữa tài sản Có và tài sản Nợ theo phương pháp tích lũy của nhiều kỳ hạn khác nhau. Trong thực tế, phương pháp tích lũy được ứng dụng phổ biến nhất là đến 12 tháng. Ta có công thức: ∆NHi = CGAPi x ∆Ri

Trong đó:

  • ∆Ri là tỷ lệ thay đổi lãi suất trung bình
  • CGAPI là chênh lệch tích lũy (Cumulative Gaps)

Nhận thấy, khi CGAP < 0, R biến đổi cùng chiều với ngân hàng và ngược lại nếu CGAP > 0, R biến đổi ngược chiều với NH. Để tính độ chênh lệch tích lũy năm của bảng cân đối tài sản (CGAP) chúng ta cần xác định trong một năm tới, lãi suất thị trường thay đổi, thì những tài sản Có và tài sản Nợ nào sẽ chịu ảnh hưởng của thay đổi lãi suất. Hay nói cách khác chúng ta cần xác định trong 1 năm, những tài sản Nợ và tài sản Có nhạy cảm với lãi suất thị trường.

  • Những ưu điểm và hạn chế của mô hình định giá lại Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Mô hình định giá lại là một công cụ hữu ích, tương đối đơn giản và trực quan đối với nhà quản trị ngân hàng trong việc đo lường đánh giá mức độ rủi ro lãi suất. Mô hình này thể hiện hai ưu điểm nổi bật đó là:

  • Cung cấp thông tin về cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ sẽ được định giá lại
  • Dễ dàng xác định được sự thay đổi của thu nhập ròng về lãi suất mỗi khi lãi suất thay đổi.

Tuy nhiên, bên cạnh đó mô hình này còn bộc lộ nhiều điểm yếu sau:

  • Hiệu ứng của thị giá tài sản: Sự thay đổi của lãi suất ngoài ảnh hưởng lên thu nhập lãi suất còn ảnh hưởng đến thị giá của tài sản Có và tài sản Nợ. Mô hình định giá lại chỉ đề cập đến giá trị ghi sổ của tài sản Có và tài sản Nợ mà không đề cập đến giá trị thị trường của chúng nên chỉ phản ánh được một phần rủi ro mà thôi.
  • Vấn đề kỳ định giá tích lũy: vấn đề phân nhóm tài sản theo một khung kỳ hạn nhất định đã phản ánh sai lệch thông tin về cơ cấu các tài sản Có và tài sản Nợ trong cùng một nhóm. Để khắc phục hạn chế này, các ngân hàng lớn trên thế giới đã nối mạng nội bộ online cho phép ngân hàng có thể định giá tài sản tại bất kỳ thời điểm nào.
  • Vấn đề tài sản đến hạn: vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp tới việc phân định đâu là tài sản và vốn nhạy cảm với lãi suất. Trên thực tế, ngân hàng thường tái đầu tư những khoản tiền được trả góp định kỳ hàng tháng đối với những khoản tín dụng dài hạn có thế chấp. Chính vì thế, trong khi kỳ hạn đến hạn của tài sản Có và tài sản Nợ có thể là dài hạn, nhưng chúng vẫn phát sinh những luồng tiền trong năm và tạo ra những tài sản nhạy cảm với lãi suất.

Mô hình thời lượng:

  • Phương pháp xác định thời lượng của tài sản Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

So với hai mô hình trên, mô hình thời lượng hoàn hảo hơn nhiều trong việc đo mức độ nhạy cảm của tài sản Có và tài sản Nợ đối với lãi suất, bởi vì nó đề cập đến yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của tài sản Nợ và tài sản Có.

Trước tiên ta cần biết thời lượng là gì? Thời lượng (Ducation) của một tài sản là thước đo thời gian tồn tại luồng tiền của tài sản này, được tính trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó. Thời lượng của một khoản tín dụng có thể bằng, nhỏ hơn hoặc lớn hơn kỳ hạn của khoản tín dụng đó. Để tính toán và phòng ngừa rủi ro lãi suất thì ngân hàng cần thiết phải quản lý được chênh lệch về thời lượng hơn là chênh lệch kỳ hạn đáo hạn. Thời lượng của tài sản được tính bằng công thức:

Trong đó:

  • N là tổng số luồng tiền xảy ra
  • n là số lần luồng tiền xảy ra trong một năm
  • M: kỳ hạn của chứng khoán tính theo năm (M = N/n)
  • t là thời điểm xảy ra luồng tiền (t = 1,2,3, … ,N)
  • CFt là luồng tiền nhận được tại thời điểm cuối kỳ t (Cash Flow)
  • PVt là giá trị hiện tại của luồng tiền xảy ra tại thời điểm t (Present value)
  • R là mức lãi suất thị trường hiện hành (%/năm)
  • Mô hình thời lượng và đo lường rủi ro

Để đo mức chênh lệch về thời lượng, trước hết ta cần xác định thời lượng của tài sản Có và tài sản Nợ.

Trong đó:

  • DA, DL: Thời lượng của toàn bộ tài sản Có và tài sản Nợ
  • DAi, DLi: thời lượng của tài sản Có i và tài sản Nợ j
  • WAi, WLj: tỷ trọng của tài sản Có i và tài sản Nợ j
  • m: số loại tài sản Nợ phân theo tiêu chí kỳ hạn với WA1 + WA2 + …. + WAn = 1
  • i = 1,2,3,   ,n.
  • j = 1,2,3,  ,m

Như ta đã biết, sự thay đổi vốn tự có của ngân hàng khi lãi suất thay đổi bằng khoản chênh lệch giữa thay đổi thị giá tài sản Có và tài sản Nợ. Mối quan hệ giữa thời lượng và sự thay đổi này được thể hiện qua công thức:

Trong đó:

  • ∆E là thay đổi vốn tự có của ngân hàng
  • DA, DL là thời lượng tài sản Có, tài sản Nợ
  • k: tỷ lệ giữa vốn huy động và tài sản Có, k = L/A
  • A: Quy mô tài sản Có của ngân hàng
  • ∆R/(1 + R) : mức thay đổi lãi suất Từ công thức trên ta rút ra được 3 kết luận:
  • Chênh lệch thời lượng giữa tài sản Có và tài sản Nợ đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ đòn bẩy (DA – DL.k).Chênh lệch được tính bằng năm, phản ánh sự không cân xứng về thời lượng của hai vế bảng cân đối tài sản. Đặc biệt, nếu chênh lệch này lớn, thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao.
  • Qui mô của ngân hàng, tức tổng tài sản A: qui mô tài sản của ngân hàng lớn, thì tiềm ẩn rủi ro ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
  • Mức thay đổi lãi suất ∆R/(1+R): Mức thay đổi lãi suất càng nhiều, thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao.

Như vậy, chúng ta có thể biểu diễn rủi ro lãi suất đối với vốn tự có của ngân hàng, như sau: ∆E = – Chênh lệch thời lượng đã điều chỉnh x Qui mô tài sản x Mức thay đổi lãi suất.

2.4 Các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất

Có thể nói, việc đề ra các biện pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro lãi suất là khâu cuối cùng và cũng là khâu quan trọng nhất trong toàn bộ chiến lược quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng. Mục đích của việc ngân hàng tiến hành hoạt động phòng chống rủi ro lãi suất thường nhằm đạt 3 mục tiêu cơ bản:

  • Bảo vệ giá trị chứng khoán và các khoản tín dụng mang lãi suất cố định nhằm tránh tổn thất do lãi suất thị trường tăng
  • Hạn chế chi phí vay vốn của ngân hàng
  • Ngăn chặn khả năng lãi suất của các khoản cho vay đầu tư giảm sút trong tương lai

Nhằm đạt được 3 mục đích này, các NHTM đã sử dụng rất nhiều biện pháp để hạn chế và phòng ngừa rủi ro lãi suất.

  • Điều chỉnh cơ cấu kỳ hạn bảng cân đối tài sản

Để tránh rủi ro lãi suất có thể loại trừ yếu tố chủ yếu gây ra rủi ro đó là duy trì khe hở lãi suất càng thấp càng tốt. Nội dung chủ yếu của phương pháp này là tìm kiếm các nguồn vốn có kỳ hạn phù hợp với kỳ hạn của tài sản. Đối với các ngân hàng nhỏ, các khoản cho vay thường là ngắn hạn. Tìm kiếm các nguồn ngắn hạn cũng thuận tiện hơn nguồn trung và dài hạn. Do đó, đối với các ngân hàng sắp xếp các nguồn phù hợp với tài sản này để hạn chế rủi ro lãi suất. Tuy nhiên, phương pháp này rất khó thực hiện tại các ngân hàng lớn do nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn tại các ngân hàng này khá lớn. Hơn nữa, phương pháp này loại trừ luôn việc gia tăng khoản thu khi lãi suất thay đổi phù hợp với dự đoán của các nhà quản lý.

  • Áp dụng chính sách lãi suất thả nổi Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Khi lãi suất cố định thì thời hạn nguồn vay và tài sản là yếu tố tạo ra rủi ro lãi suất. Để hạn chế rủi ro lãi suất nhiều ngân hàng đã áp dụng chế độ thả nổi lãi suất. Phương pháp này hiện nay đang được sử dụng nhiều với các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng hoặc trong các hợp đồng ngắn hạn. Tuy nhiên, nó không thể thay thế lãi suất cố định. Phần lớn người gửi tiết kiệm hay các khách hàng đi vay đều yêu cầu lãi suất cố định để dự tính trước được hiệu quả của dự án.

  • Sử dụng các hợp đồng phái sinh

Các biện pháp phòng ngừa ngoại bảng là việc các ngân hàng sử dụng các hợp đồng phái sinh để cho giá trị của tài sản là cố định cho dù lãi suất thị trường thay đổi như thế nào. Việc sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro là một trong những biện pháp khá hiệu quả bởi nó có thể được sử dụng cho một danh mục tài sản hay được sử dụng một cách chọn lọc đối với một bộ phận tài sản nhất định. Đồng thời, một ngân hàng có thể quyết định phòng ngừa rủi ro đối với tài sản này và không phòng ngừa rủi ro đối với tài sản khác nếu ngân hàng muốn đầu cơ lãi suất.

Các ngân hàng sử dụng 4 loại hợp đồng phái sinh để hạn chế rủi ro lãi suất:

  • Hợp đồng kỳ hạn
  • Hợp đồng tương lai
  • Hợp đồng quyền chọn
  • Hợp đồng hoán đổi

Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng kỳ hạn:

Hợp đồng kỳ hạn là sự thỏa thuận giữa các bên ký hợp đồng về giao dịch hàng hóa với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với mức giá xác định vào thời điểm ký hợp đồng. Giá hàng hóa trong trường hợp này chính là lãi suất. Việc sử dụng hợp đồng kỳ hạn sẽ khiến cho một trong hai bên phải trả khoản tiền phát sinh do chênh lệch giữa lãi suất ký kết và lãi suất thị trường. Tuy nhiên dù trong trường hợp nào, việc mua hợp đồng kỳ hạn giúp ngân hàng đảm bảo được mức lãi suất ấn định. Chính vì điều này, hợp đồng kỳ hạn là một công cụ hữu hiệu trong phòng ngừa rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

  • Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai là sự thỏa thuận của các bên ký kết về những nghĩa vụ mua bán phải thực hiện theo mức giá đã được xác định cho tương lai mà không phụ thuộc vào giá cả của thị trường tại thời điểm tương lai đó. Giá trị thị trường của hợp đồng tương lai thay đổi hàng ngày bởi vì giá của chứng khoán cơ sở biến động không ngừng theo thời gian. Mục đích của việc mua bán hợp đồng tương lai là nhằm dịch chuyển rủi ro lãi suất từ nhà đầu tư không ưa thích rủi ro sang những người sẵn sàng chấp nhận rủi ro và hy vọng kiếm được lợi nhuận từ chính rủi ro này.

  • Sử dụng các nghiệp vụ để phòng ngừa rủi ro lãi suất

Nghiệp vụ phòng chống rủi ro biến động lãi suất trong tương lai đòi hỏi các ngân hàng phải thiết lập vị thế trên thị trường tương lai đối nghịch với vị trí hiện tại trên thị trường giao ngay. Chằng hạn như, một ngân hàng có kế hoạch mua trái phiếu “tạo thế trường” trên thị trường giao ngay thì cần phải ký hợp đồng bán trái phiếu trên thị trường tương lai “tạo thế đoản” để tránh rủi ro. Hợp đồng tương lai được sử dụng trong hai nghiệp vụ:

Nghiệp vụ phòng chống thế đoản: Giả sử, lãi suất suất trên thị trường được dự tính sẽ tăng lên, làm tăng chi phí huy động vốn và giảm giá trị các khoản cho vay với lãi suất cố định. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ sử dụng nghiệp vụ phòng chống thế đoản tức là sẽ tham gia hợp đồng tương lai bán chứng khoán vào khoảng thời gian mà quy mô danh mục đầu tư của ngân hàng tăng lên. Bằng cách này, các thiệt hại khi lãi suất tăng lên sẽ được hạn chế bởi các chứng khoán trong hợp đồng tương lai.

Nghiệp vụ phòng chống thế trường: Trong một số trường hợp, ngân hàng cần phải tiến hành các biện pháp bảo vệ nhằm chống lại tổn thất do lãi suất thị trường giảm, đặc biệt là khi ngân hàng đang có dự tính có một dòng tiền vào sắp xuất hiện. Nếu không có một biện pháp quản lý thích hợp, dòng tiền đó có thể đầu tư vào các khoản tín dụng và chứng khoán có tỷ suất sinh lời thấp. Để bù đắp tổn thất này, nhà quản lý có thể sử dụng nghiệp vụ phòng chống thế trường hay mua hợp đồng tương lai ngày hôm nay và sau đó bán vào thời điểm dòng tiền xuất hiện. Kết quả, hợp đồng tương lai mang lại khoản lợi nhuận nếu lãi suất giảm, bởi vì giá trị hợp đồng đã tăng lên. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Tuy nhiên, để phòng ngừa rủi ro, ngân hàng không chỉ cần xác định nên sử dụng nghiệp vụ nào mà cần phải xác định rõ số lượng hợp đồng cần thiết đồng thời tính đến các yếu tố rủi ro cơ bản nhằm đưa một phương pháp phòng ngừa tối ưu nhất. (Cụ thể xem phụ lục 1)

  • Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng hoán đổi

Hợp đồng hoán đổi lãi suất là thỏa thuận theo đó mỗi bên thanh toán cho bên kia khoản tiền lãi tính theo lãi suất thả nổi hay lãi suất cố định trên cùng một khoản nợ gốc trong cùng một khoảng thời gian.

Tính chất hoạt động và mục tiêu kinh doanh trong mỗi thời kỳ của từng ngân hàng quyết định trạng thái khe hở lãi suất. Thay đổi trạng thái này đòi hỏi phải có thời gian tương đối dài trong khi thay đổi của lãi suất thường rất nhanh. Nhiều ngân hàng thực hiện các hoán đổi lãi suất để hạn chế rủi ro lãi suất. Một ngân hàng do đặc điểm sản xuất kinh doanh buộc phải duy trì khe hở lãi suất dương để có thể hoán đổi rủi ro (hoặc sinh lời) với ngân hàng có khe hở lãi suất âm. Như vậy, hợp đồng hoán đổi xác định lại khe hở lãi suất khi lãi suất thay đổi. Khi lãi suất thay đổi, ngân hàng này có lợi thì ngân hàng kia chịu thiệt. Ngân hàng được lợi sẽ chuyển khoản thặng dư sang cho ngân hàng bị tổn thất.

Ta có thể hiểu rõ hơn về việc sử dụng hợp đồng hoán đổi lãi suất để phòng ngừa rủi ro lãi suất thông qua ví dụ sau:

  • Thị trường của hai ngân hàng A và B

Ngân hàng A: Có thể vay trung hạn với lãi suất 10%/1 năm, vay ngắn hạn lãi suất thả nổi. Ngân hàng B có thể vay trung hạn với lãi suất 12%/1 năm, vay ngắn hạn với lãi suất thả nổi +1%. Ngân hàng B được coi là ngân hàng có thứ bậc thấp hơn ngân hàng A. Nguồn của ngân hàng B đắt hơn ngân hàng A. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Huy động vốn của mỗi ngân hàng : Ngân hàng A vay trung hạn với lãi suất cố định 10%. Ngân hàng B vay ngắn hạn với lãi suất thả nổi +1%.

Hai bên ký hợp đồng đổi chéo lãi suất với nội dung: B sẽ thanh toán cho A 10% để có được nguồn lãi suất cố định (trung hạn) và A sẽ thanh toán cho B với lãi suất thả nổi -0,75% để có nguồn ngắn hạn (với cùng giá trị của nguồn trung hạn).

  • Kết quả: Bảng cân đối tài sản của hai ngân hàng không thay đổi song:

B sẽ trả lãi suất thị trường +1% để huy động vốn trên thị trường cộng thêm 10% trả cho A để có nguồn trung hạn. A trả 10% để huy động vốn trên thị trường và cộng thêm (lãi suất thị trường -0,75%) cho B để có nguồn ngắn hạn. Như vậy, B tiết kiệm được 12% -10% – (lãi suất thị trường + 1%) + (lãi suất thị trường – 0,75% = 0,25%; A tiết kiệm được 10% – 10% + lãi suất thị trường – (lãi suất thị trường – 0,75%) = 0,75%. Nếu lãi suất thay đổi, rủi ro của bên này sẽ được bù đắp bởi thu nhập của bên kia.

Hoán đổi lãi suất là kỹ thuật tương đối phức tạp, đòi hỏi ngân hàng phải nghiên cứu kĩ lưỡng xu hướng và mức độ thay đổi có thể của lãi suất. Trong nhiều trường hợp, hai ngân hàng hoán đổi phải nhờ ngân hàng trung gian sắp xếp. Chi phí hoán đổi cao hay thấp phụ thuộc vào dự tính của mỗi bên và làm tưng chi phí của ngân hàng. Nếu dự đoán của ngân hàng sai, hoán đổi lãi suất có thể gây tổn thất cho ngân hàng.

  • Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng quyền chọn

Hợp đồng quyền chọn là quyền được mua hay bán (không bắt buộc) một lượng tài sản nhất định (thông thường là chứng khoán) tại một thời điểm xác định trong tương lai với mức giá thỏa thuận trước. Để có quyền này, người mua hoặc người bán phải trả phí cho nhà cung cấp quyền. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

  • Các chiến lược cơ bản trong giao dịch quyền chọn

Mua quyền chọn mua: là chiến lược mà người mua có quyền mua chứng khoán tại một mức giá cố định đã được thỏa thuận trước (giá quyền chọn) thông qua việc trả phí cho người bán (phí chọn mua). Như thế, người mua trở thành người có tiềm năng thu lợi nhuận nếu lãi suất thị trường giảm một lượng đủ để giá trái phiếu tăng trên mức giá quyền chọn và khoản phí chọn mua. Ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu giảm sẽ khiến cho người mua phải chịu một khoản lỗ, nhưng khoản lỗ này được giới hạn bằng mức phí chọn mua.

Bán quyền chọn mua: là chiến lược mà người bán nhận được khoản phí bán quyền chọn mua và phải luôn sẵn sàng bán trái phiếu cho người mua với mức giá cố định thỏa thuận trước. Như vậy, khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu giảm, khả năng thu lợi nhuận của người bán không vượt quá phí chọn bán. Còn khi lãi suất giảm, giá trái phiếu tăng, khả năng người bán bị lỗ tăng lên. Tuy nhiên, trên thực tế, giá trái phiếu không tăng mãi mà có xu hướng hội tụ về mệnh giá của nó, nhưng khả năng lỗ vốn của người bán vãn có thể xảy ra.

Mua quyền chọn bán trái phiếu: là chiến lược người mua có quyền bán trái phiếu cho người bán quyền chọn bán với mức giá cố định đã được thỏa thuận trước. Như vậy, khi lãi suất tăng, giá trái phiếu giảm, người mua sẽ thu được một khoản lợi nhuận do mua trái phiếu với giá thấp và bán với giá cao. Ngược lại, khi lãi suất giảm, giá trái phiếu tăng thì khả năng lỗ của người mua cũng tăng, nhưng khoản lỗ tối đa mà người mua phải chịu chỉ giới hạn trong khoản phí chọn bán.

Bán quyền chọn bán trái phiếu: Là chiến lược mà người bán sau khi nhận được khoản phí bán quyền chọn bán từ người mua, phải luôn sẵn sàng mua lại trái phiếu vào bất kỳ thời điểm nào khi người mua thực hiện quyền chọn bán với mức giá đã thỏa thuận. Như vậy, khi giá trái phiếu tăng người bán thu được mức lợi nhuận được giới hạn trong mức phí chọn bán; và khi giá trái phiếu giảm thì người bán chịu lỗ do phải mua trái phiếu với mức giá đã thỏa thuận trước lớn hơn mức giá thị trường.

Khả năng nhận lãi, lỗ và lãi, lỗ đến đâu trong từng chiến lược được biểu thị qua các đồ thị dưới đây:

Biểu đồ 1: Đồ thị thu nhập của hợp đồng quyền chọn

  1. Chiến lược mua quyền chọn mua trái phiếu
  2. Chiến lược bán quyền chọn mua trái phiếu
  3. Chiến lược mua quyền chọn bán trái phiếu
  4. Chiến lược bán quyền chọn bán trái phiếu

Giao dịch Cap, Floor và Collar:

Giao dịch Cap, Floor và Collar giao dịch quyền chọn phổ biến của hợp đồng quyền chọn bởi các giao dịch này được thực hiện tại quầy, được chuẩn hoá và có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhằm giảm bớt những rủi ro về luật pháp và các rủi ro khác khi giao dịch. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Giao dịch Cap hay mua Cap là mua quyền chọn mua hoặc mua một chuỗi quyền chọn mua lãi suất. Cụ thể là nếu lãi suất thị trường tăng trên mức lãi suất giao dịch quyền chọn (lãi suất Cap), thì người bán quyền chọn mua (người bán Cap và thông thường là ngân hàng) sẽ thanh toán khoản chênh lệch lãi suất cho người mua quyền chọn mua (người mua Cap). Thông qua hợp đồng bán Cap, ngân hàng bán quyền chọn mua lãi suất thu một khoản phí từ người mua quyền chọn mua. Kết quả là, việc mua quyền chọn mua lãi suất (mua Cap) là tương tự như mua bảo hiểm đối với trường hợp khi lãi suất tăng. Ngày thực hiện quyền chọn trong hợp đồng Cap có thể là một hoặc nhiều ngày.

Giao dịch Floor hay mua Floor là mua quyền chọn bán đối với lãi suất. Nếu lãi suất thị trường giảm xuống dưới mức lãi suất giao dịch quyền chọn (lãi suất Floor), thì người bán sẽ thanh toán khoản chênh lệch lãi suất cho người mua. Thông qua việc bán hợp đồng quyền chọn bán, người bán thu được một khoản phí từ người mua. Ngày thực hiện quyền chọn đối với hợp đồng Floor có thể là một hoặc nhiều ngày.

Hợp đồng Collar xuất hiện khi ngân hàng thực hiện đồng thời cả hai giao dịch Cap và Floor, như việc đồng thời mua quyền chọn mua và bán quyền chọn bán.

Như vậy, ba công cụ giao dịch qua quầy này là những trường hợp đặc biệt của giao dịch quyền chọn. Nhà quản trị ngân hàng sử dụng chúng như là trường hợp quyền chọn trái phiếu để phòng ngừa rủi ro lãi suất đói với danh mục tài sản của ngân hàng. Nói một cách tổng quát, ngân hàng mua quyền chọn mua lãi suất (mua Cap), nếu ngân hàng dự tính phải chịu một khoản lỗ khi lãi suất thị trường tăng. Thông thường, điều này xảy ra nếu ngân hàng tài trợ cho các khoản mục tài sản Có bằng các khoản tài sản nợ có lãi suất thả nổi trong khi các khoản tài sản Có lại có mức lãi suất cố định, hoặc là trong trường hợp phòng ngừa vĩ mô nếu: DA – kDL < 0. Ngược lại, ngân hàng mua quyền chọn bán lãi suất (mua Floor) khi ngân hàng có chi phí cố định đối với TSN và TSC có lãi suất thay đổi, hoặc là DA – kDL < 0. Cuối cùng, ngân hàng mua Collar khi tài sản của họ chịu rủi ro khi lãi suất biến động mạnh và ngân hàng thực hiện hợp đồng Collar nhằm thu phí để tài trợ cho giao dịch Cap hoặc Floor. (Chi tiết về ba hợp đồng trên cũng như việc xác định phí hợp đồng xem thêm ở phụ lục 2, 3, 4)

III. KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NHTM TẠI MỘT SỐ NƯỚC Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Rủi ro lãi suất là một loại rủi ro phổ biến và không hề xa lạ đối với các NHTM của các nước trên thế giới. Chính vì vậy, công tác quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng này khá phát triển và đáng để cho chúng ta học hỏi kinh nghiệm. Việc lựa chọn nghiên cứu kinh nghiệm quản trị rủi ro lãi suất của các NHTM tại 3 nước Mỹ, Thái Lan và Trung Quốc dựa trên cơ sở: (i) Mỹ là một nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và ngành ngân hàng của Mỹ cũng là các ngân hàng hàng đầu thế giới và có công tác quản trị rủi ro lãi suất rất phát triển; (ii) Thái Lan là một nước trong cùng khu vực, có vị trí địa lý giống với Việt nam và Thái Lan cũng là nước khởi đầu cho cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á vào cuối thập kỷ 90; (iii) Trung quốc là nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường có nhiều nét tương đồng với Việt nam. Từ việc nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của 3 nước trên, khóa luận đã đúc rút những bài học kinh nghiệm đối với công tác quản trị rủi ro lãi suất tại Việt nam.

1. Kinh nghiệm của Mỹ

Trong kinh tế thị trường, chấp nhận và quản lý rủi ro là vấn đề rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng. Để đảm bảo sự an toàn của cả hệ thống, các cơ quan giám sát ngân hàng Mỹ rất chú trọng đến sự quản lý rủi ro một cách toàn diện của một định chế tài chính.

Với công tác quản lý rủi ro, các ngân hàng thường quy định rõ ràng trách nhiệm đối với các quyết định quản lý rủi ro lãi suất, thường do ủy ban quản trị tài sản Có /tài sản Nợ (ALCO) chịu trách nhiệm. Hoạt động của ALCO chịu sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị ngân hàng và ủy ban này chịu trách nhiệm về định hướng tài chính tổng thể của ngân hàng. Trong chính sách quản lý tài sản Có và tài sản Nợ có quy định về chính sách quản lý rủi ro lãi suất bao gồm những hướng dẫn cụ thể vê các giới hạn về khả năng rủi ro lãi suất cần được đề ra tương ứng với dự đoán và giả định hợp lý, các giới hạn được xác định trên cơ sở tác động tiềm ẩn của những thay đổi lãi suất đối với những thu nhập lãi ròng của ngân hàng, quy định giới hạn cho từng bộ phận trong ngân hàng có rủi ro lãi suất và quy định các giới hạn về thẩm quyền và trao đổi thông tin để thực thi quản lý các chiến lược. Bên cạnh đó, các thành viên của ALCO họp định kỳ hàng tuần với tư cách là tiểu ban lãi suất. Tại cuộc họp này, tiểu ban sẽ xem xét lại mức lãi suất tiền gửi và quyết định việc thay đổi lãi suất. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Đối với công tác đo lường rủi ro, các ngân hàng Mỹ sử dụng 3 phương pháp: sử dụng mô hình định giá lại để đo lường nhạy cảm lãi suất của thu nhập, sử dụng mô hình thời lượng dể đánh giá sự biến động của giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi và sử dụng mô hình mô phỏng.Với mô hình định giá lại, Cục dự trữ liên bang Mỹ yêu cầu các ngân hàng Mỹ phải báo cáo định kỳ hàng quý chênh lệch giữa tài sản Có và tài sản Nợ theo các kỳ hạn khác nhau: kỳ hạn đến 1 ngày, trên 1 ngày đến 1 tháng, trên 1 tháng đến 3 tháng, trên 3 tháng đến 6 tháng, trên 6 tháng đến 1 năm, trên 1 năm đến 5 năm và trên 5 năm. Trên cơ sở những báo cáo này, cơ quan thanh tra sẽ tập trung kiểm tra thực tế rủi ro lãi suất của ngân hàng có phù hợp với các chính sách đã quy định hay không?Việc xây dựng kế hoạch hàng năm được thực hiện với sự trợ giúp của một mô hình máy tính cho phép áp dụng 3 kịch bản: lãi suất tăng, giảm, không đổi và ban lãnh đạo sẽ chọn lựa kịch bản nào mà họ cho là dễ trở thành hiện thực nhất.

Trên cơ sở việc đo lường đánh giá mức độ rủi ro lãi suất và thực hiện các biện pháp điều chỉnh giá cả và cơ cấu tài sản Có, tài sản Nợ, các NHTM còn sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất. Sự gia tăng mạnh giá trị của thị trường tài chính phái sinh cho thấy càng ngày các NHTM càng coi việc sử dụng các công cụ tài chính phái sinh có một tầm quan trọng đặc biệt trong phòng ngừa rủi ro và tói đa hóa lợi nhuận của ngân hàng .

2. Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan là quốc gia khởi nguồn cho cuộc khủng hoảng tải chính tiền tệ ở Châu Á xảy ra vào cuối thập kỷ 90, mà một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng chính là “sự mất cân xứng kép” (double mismatch), tức là sự không cân xứng về kỳ hạn kết hợp với sự không cân xứng về đồng tiền giữa TSC và TSN của các tổ chức tài chính, Đó là tình trạng các ngân hàng Thái Lan vay những nguồn vốn ngắn hạn bằng ngoại tệ để đầu tư dài hạn trong nước bằng đồng nội tệ. Nhận thức rất rõ về mức độ nghiêm trọng do rủi ro thị trường gây ra nên kể từ sau khủng hoảng, Ngân hàng TW Thái Lan (BOT) đã có những biện pháp tích cực nhằm tăng cường hiệu quả thanh tra giám sát đối với công tác quản lý rủi ro thị trường, trong đó có rủi ro lãi suất tại các NHTM Thái Lan. Hàng năm, các NHTM phải gửi báo cáo chi tiết tới Vụ thanh tra của NHTW Thái Lan về kỳ hạn (tính trên thời hạn còn lại theo các định kỳ cách nhau 3 tháng) của TSC và TSN cho từng loại đồng tiền. Trên cơ sở đó, BOT xác định mức chênh lệch về kỳ hạn và đánh giá mức độ rủi ro lãi suất của toàn bộ hệ thống NHTM Thái Lan, đưa ra cảnh báo cho các ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Một biện pháp tích cực hơn nữa nhằm tăng cường quản lý rủi ro lãi suất đã được BOT thực hiện việc ban hành “Chính sách thanh tra giám sát rủi ro thị trường “bao gồm cả rủi ro lãi suất đói với các NHTM Thái Lan vào tháng 12/2021. Một năm sau đó, ngày 7/12/2022, BOT lại tiếp tục ban hành “Chính sách thanh tra giám sát rủi ro lãi suất đói với các tổ chức tài chính”. Nội dung của chính sách liên quan đến quản lý rủi ro lãi suất được xây dựng dựa trên cơ sở những hướng dẫn theo văn bản “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro lãi suất” của BIS. Chính sách quản lý rủi ro lãi suất của BOT đối với các NHTM Thái Lan sẽ có hiệu lực từ tháng 1/2024 và sẽ phải lập báo cáo gửi Vụ Thanh tra thuộc BOT bắt đầu từ cuối tháng 6/2024.

Để khuyến khích sự phát triển của thị trường các công cụ tài chính phái sinh và tăng khả năng sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các NHTM Thái Lan, BOT cũng quy định các điều kiện đối với các NHTM được phép triểm khai thực hiện nghiệp vụ phái sinh. Những diều kiện đó là NHTM phải xây dựng được chính sách quản lý rủi ro hợp lý và thiết lập được hệ thống quản lý rủi ro có hiệu quả, tuân thủ nghiêm túc các quy chế của BOT về đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Liên quan đến các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất, hiện tại các NHTM Thái Lan được phép thực hiện các giao dịch Swaps, kỳ hạn và quyền chọn.

Tại các NHTM Thái Lan, việc lập báo cáo như các các ngân hàng Mỹ vẫn thường được thực hiện để quản trị rủi ro lãi suất mặc dù NHTW Thái Lan không yêu cầu. Các NHTM tính số chênh lệch giữa TSC và TSN đối với từng kỳ hạn và đặt chúng trong mối quan hệ với độ nhạy cảm lãi suất của thị trường. Độ nhạy cảm của lãi suất trong trường hợp này chính là khoảng thời gian mà tài sản Có và tài sản Nợ được định giá lại (theo mức lãi suất thị trường). Điều đó có nghĩa là khoảng thời gian để nhà quản trị ngân hàng áp mức lãi suất mới vào từng kỳ hạn khác nhau.

3. Kinh nghiệm của Trung Quốc Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Trung Quốc là một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường nên có nhiều nét tương đồng với Việt Nam. Từ năm 2011, Trung Quốc đã bắt đầu theo đuổi việc cải cách chính sách lãi suất theo hướng dẫn từng bước tự do hoá lãi suất một cách thận trọng. Kỳ họp lần thứ 3 Quốc hội Khoá 14 năm 2011 đã quyết định “Ngân hàng Trung ương sẽ nhanh chóng điều chỉnh mức lãi suất chuẩn phù hợp với những thay đổi về cung và cầu vốn trên thị trường, và cho phép các NHTM được linh hoạt xác định lãi suất huy động và lãi suất cho vay trong phạm vi khung lãi suất quy định”. Tại kỳ họp lần thứ 5 Quốc hội Khoá 15 và kỳ họp lần thứ 3 Quốc hội Khoá 16 năm 2020 đều có những quy định về việc tiếp tục cải cách chính sách lãi suất của Trung Quốc.

Hiện tại, công cuộc cải cách chính sách lãi suất của Trung Quốc đã đạt được những kết quả nhất định trong việc nới lỏng kiểm soát lãi suất thị trường tiền tệ. Thị trường ngày càng có vai trò quan trọng trong việc xác định một số loại lãi suất như: lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất chiết khấu giấy tờ có giá, lãi suất trên thị trường sơ cấp và thứ cấp mua bán các trái phiếu chính phủ và trái phiếu do các TCTD phát hành. Bên cạnh đó, sự kiểm soát của NHTW Trung Quốc (PBC) đối với lãi suất huy động tiền gửi và lãi suất cho vay của các NHTM cũng dần được nới lỏng. Tuy nhiên, theo đánh giá của Ban lãnh đạo PBC, tiến độ cải cách chính sách lãi suất của Trung Quốc vẫn còn chậm so với yêu cầu của nền kinh tế, vẫn còn nhiều quy định ràng buộc về lãi suất huy động và cho vay của các TCTD. Hoạt động kinh doanh của các NHTM Trung Quốc đòi hỏi sự tiếp tục cải cách chính sách lãi suất hơn nữa để tạo cho các ngân hàng sự chủ động kinh doanh và quản lý rủi ro trong môi trường cạnh tranh, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế, tài chính quốc tế. Mặt khác, việc tự do hoá lãi suất còn có ý nghĩa quan trọng trong việc phân bổ hiệu quả nguồn lực trong nền kinh tế. Chính vì vậy, Trung Quốc đang quyết tâm có những cải cách xa hơn nữa chính sách lãi suất trong thời gian tới. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực của quá trình tự do hoá lãi suất, Trung Quốc cũng đã nhận thức những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn đối với các NHTM khi lãi suất hoàn toàn được xác định theo quy luật của thị trường và đã có những bước chuẩn bị cần thiết nhằm giúp các ngân hàng quản lý tốt rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh.

Một là, thực hiện những biện pháp cần thiết để dần hình thành đường cong lãi suất chuẩn nhằm giúp các NHTM có cơ sở dự báo biến động lãi suất thị trường. Một trong những điều kiện quan trọng để hình thành đường cong lãi suất là trên thị trường phải có nhiều loại công cụ nợ với kỳ hạn đa dạng. Trong thời gian gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã tăng cường việc phát huy các loại trái phiếu với nhiều kỳ hạn khác nhau. Bên cạnh đó, các Ngân hàng Chính sách cũng phát hành công cụ nợvới các kỳ hạn ngắn hạn (0.5 và 1 năm) và dài hạn (10 năm) bổ xung cho những kỳ hạn còn thiếu của Trái phiếu chính phủ.

Hai là, để đa dạng hoá các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất cho các NHTM và các nhà đầu tư, mới đây PBC đã ban hành Thông tri số 27 ngày 24 tháng 1 năm 2024 quy định về việc thực hiện thí điểm giao dịch swaps lãi suất.

Trong thông tri quý có quy định rõ những đối tượng được tham gia giao dịch swaps lãi suất, điều kiện đối với các chủ thể tham gia về hệ thống quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ… Đồng thời cũng quy định về cơ chế thực hiện giao dịch (tập trung, phi tập trung), các hình thức bảo đảm và chế độ báo cáo đối với PBC về các dao dịch này cũng như cơ chế giám sát của PBC. Trong quá trình thực hiện thí điểm, PBC sẽ tổng kết, rút kinh nghiệm để hoàn thiện quy chế và tiến tới triển khai trên diện rộng giao dịch swaps lãi suất trong thời gian tới. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.

Ba là, Uỷ ban gáim sát hoạt động ngân hàng Trung quốc đưa ra những quy định chặt chẽ về Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phù hợp với quy định trong Hiệp định tiêu chuẩn về vốn của Ủy ban Basel buộc các TCTD phải tuân thủ. Việc các NHTM tuân thủ nghiêm túc Tỷ lệ an toàn vốn sẽ hạn chế tình trạng các ngân hàng hàng cạnh tranh không lành mạnh bằng cách tăng lãi suất huy động để tăng quy mô vốn huy động, và do vậy sẽ giảm bớt dao động của lãi suâts thị trường.

4. Bài học từ kinh nghiệm của các nước đối với Việt Nam

Việc các quốc gia theo đuổi chính sách tự do hoá tài chính tiến tới xoá bỏ sự kiểm soát lãi suất sẽ dẫn đến xu thế biến động nhiều hơn của lãi suất thị trường và do vậy các NHTM sẽ phải đối mặt với nguy cơ rủi ro lãi suất. Thực tế đòi hỏi các cơ quan quản lý bao gồm NHTW và các NHTM phải có nhận thức và sự chuẩn bị đầy đủ cho công tác quản lý rủi ro lãi suất nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như duy trì sự ổn định và an toàn của cả hệ thống. Qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro lãi suất của các NHTM tại một số nước trên thế giới có thể rút ra một số bài học đối với Việt Nam như sau:

Về phía NHTW, vai trò của NHTW là hết sức quan trọng trong công tác quản lý rủi ro lãi suất tại các NHTM. Từ kinh nghiệm của các nước như Mỹ, Thái Lan, Trung Quốc; NHTW cần chú ý đến các vấn đề sau:

Một là, quan tâm đến việc thiết lập cơ sở pháp lý: ban hành các quy chế hướng dẫn công tác quản lý rủi ro lãi suất tại các NHTM, quy định về thanh tra giám sát, quy định điều kiện và hướng dẫn triển khai thực hiện nghiệp vụ phái sinh phòng ngừa rủi ro,…

Hai là, tăng cường thanh tra giám sát hoạt động rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thương mại, yêu cầu các ngân hàng thương mại thiết lập chế độ báo cáo định kỳ hàng tháng kỳ hạn TSC và TSN, đồng thời xây dựng cơ chế dự báo biến động lãi suất thị trường nhằm giúp các ngân hàng thương mại chủ động hơn trong kinh doanh…

Ba là, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để hình thành và phát triển các công cụ tài chính phái sinh nhằm giúp các ngân hàng phòng ngừa rủi ro lãi suất một cách có hiệu quả bao gồm: điều kiện về thị trường, điều kiện môi trường pháp lý; điều kiện về con người; điều kiện về công nghệ.

Về phía các NHTM, đối với công tác quản lý rủi ro lãi suất tại các NHTM cần quan tâm đến những vấn đề sau:

  • Một là, các NHTM Việt nam nhanh chóng có một nhận thức một cách toàn diện về rủi ro lãi suất
  • Hai là, phân cấp và quy định rõ ràng trách nhiệm đối với hoạt động quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro lãi suất nói riêng. Việc cần thiết trước mắt là lập một ban quản trị tài sản Có và tài sản Nợ chịu trách nhiệm đối với hoạt động quản trị rủi ro. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
  • Ba là, mặc dù NHTW chưa yêu cầu nhưng các NHTM Việt nam nên sớm lập báo cáo định kỳ hàng tháng về kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ để phục vụ cho công tác đo lường rủi ro
  • Bốn là, tăng cường phát triển các công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất và các loại rủi ro khác.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV

One thought on “Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537