Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam – Chi nhánh Quang Trung này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH QUANG TRUNG
1. Vài nét về Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam (NHĐT&PT Việt nam) có tên giao dịch quốc tế là Bank for Investment and Development of VietNam (gọi tắt là BIDV bank), được thành lập ngày 26/4/1957 với tên gọi là Ngân hàng Kiến thiết Việt nam Sau hai lần đổi tên, đến ngày 14/11/2008 được chuyển thành Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam như hiện nay. Trụ sở chính của ngân hàng được đặt tại Tháp A, tòa nhà Vincom, 191 Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Là một trong những ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất trên toàn quốc, NHĐT&PT Việt nam được thành lập theo mô hình Tổng công ty Nhà nước theo Quyết định số 186/TTg ngày 28/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, nhiệm vụ của ngân hàng là kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực về tài chính tiền tệ, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật, không ngừng nâng cao lợi nhuận của ngân hàng, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế đất nước.
NHĐT&PT có tổng tài sản năm 2025 đạt 204.992 tỷ đồng tăng 26,7% so với năm 2024, đạt hệ số an toàn vốn cao nhất (trên 8% theo tiêu chuẩn của BIS) so với các NHTM Việt nam. Tổng dư nợ tín dụng của NHĐT&PT tăng 25,4% và thu dịch vụ ròng tăng 59,3%, có tốc độ tăng trưởng dư nợ ngày càng cao, tổng lợi nhuận trước thuế đạt 2112 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 600 tỷ đồng, chỉ số ROE đạt 13,5%; ROA đạt 0,88% và hệ số an toàn vốn (CAR) đạt 11% khá cao so với yêu cầu 8% của NHNN. Bên cạnh đó, BIDV là ngân hàng lớn thứ hai trên thị trường về thị phần tín dụng và huy động vốn, là doanh nghiệp Việt nam đầu tiên thuê tổ chức định hạng tín nhiệm uy tín quốc tế Moodys thực hiện xếp hạng tín nhiệm với kết quả đạt trần tín nhiệm quốc gia.. Ngân hàng đã thiết lập quan hệ với nhiều tổ chức tài chính lớn như: Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Hiệp hội tín dụng Châu á Thái Bình Dương (APRACA). Có quan hệ đại lý với trên 500 ngân hàng nước ngoài, đã thiết lập quan hệ tín dụng với 22 ngân hàng nước ngoài và 20 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt nam. Với lợi thế và uy tín của mình, NHĐT&PT Việt nam đang trên đà phát triển và ngày càng lớn mạnh, thực sự là người bạn đáng tin cậy của mọi khách hàng, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.
2. Giới thiệu chung Ngân hàng Đầu tư & phát triển – Chi nhánh Quang Trung
2.1 Quá trình hình thành và phát triển Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
NHĐT&PT chi nhánh Quang Trung được tách ra từ SGD Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam đi vào hoạt động từ ngày 1/4/2023 và đặt trụ sở tại 53, Quang Trung, Hà nội. Chi nhánh Quang Trung là đại diện có ủy quyền, hạch toán phu thuộc, có con dấu, có bảng cân đối tài sản, hoạt động theo pháp lệnh Ngân hàng – các Tổ chức tín dụng và công ty Tài chính, điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động của NHĐT&PT Việt nam.
Khi mới thành lập, tổng tài sản ban đầu của Chi nhánh là 2.136 tỷ đồng với 85 người thì đến nay tổng tài sản lên đến 3.106 tỷ đồng. Năm 2024, đã nâng cấp phòng Giao dịch Ngọc Khánh thành chi nhánh cấp II, và thực hiện chỉ đạo của Tổng Giám đốc về kế hoạch phát triển mạng lưới trong năm 2024. Chi nhánh đã nâng cấp các Quỹ tiết kiệm lên Phòng giao dịch, nâng cấp và mới mở thêm phòng Giao dịch tại khu vực Liễu Giai – Đội Cấn, Nguyễn Du – Quang Trung. NHĐT&PT Quang Trung đã và đang khẳng định vị thế của một ngân hàng chi nhánh cấp một của một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất tại Việt nam.
2.2 Cơ cấu tổ chức
- Sơ đồ 1: Khái quát bộ máy tổ chức của Chi nhánh Quang Trung
2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển chi nhánh Quang Trung
- Hoạt động huy động vốn
Sau khi được tách ra từ SGD I, chi nhánh Quang Trung đã được thừa kế một số khách hàng quen thuộc của SGD. Trên cơ sở đó, chi nhánh Quang Trung tiếp tục duy trì các mối quan hệ cũ đồng thời không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng hoạt động để thu hút thêm nhiều khách hàng mới. Về hoạt động vốn, chi nhánh Quang Trung chủ động cơ cấu lại nguồn huy động vốn và sử dụng vốn, đảm bảo cơ cấu tài sản hợp lý, giảm chi phí hoạt động, đảm bảo mức chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra tại Chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Với phương châm “đi vay để cho vay” ngân hàng phải tăng trưởng mạnh mẽ về nguồn vốn nhằm chủ động vốn cho hoạt động tín dụng, các hoạt động kinh doanh khác của mình và cho toàn bộ hệ thống của mình. Chính vì vậy, công tác huy động vốn được ngân hàng chú trọng phát triển. Các hình thức huy động vốn được đa dạng hóa, việc điều hành lãi suất được thực hiện một cách năng động theo tín hiệu thị trường, cơ chế vốn tập trung được củng cố và phát huy hiệu quả, công tác quản trị thanh khoản được nâng cao và được quán triệt trong toàn hệ thống. Đồng thời Chi nhánh Quang Trung luôn chú trọng không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Sau hơn 2 năm hoạt động, hoạt động huy động vốn đạt được kết quả sau:
- Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động tại chi nhánh NHĐT&PT Quang Trung giai đoạn 2023 – 2025
Tính đến thời điểm 31/12/2025, sau gần 3 năm hoạt động, tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng 4,232 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 487,6%. Nhìn biểu đồ có thể thấy, từ năm 2024 đến năm 2025, vốn huy động của chi nhánh tăng vượt bậc là 2,19 tỷ đồng tăng đến 75,3%. Nguyên nhân là do tình hình hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng vào cuối năm 2025 phát triển mạnh do ảnh hưởng của sự kiện Việt nam gia nhập WTO làm tăng nguồn vốn đầu tư vào Việt nam, hơn nữa, nền kinh tế Việt nam có rất nhiều khởi sắc đặc biệt là lĩnh vực tài chính – ngân hàng.
Nhìn chung, trong khoảng hai năm 2024, 2025, Chi nhánh đã giữ vững và tăng trưởng tốt nguồn vốn huy động mặc dù trong năm 2024, chi nhánh đã thanh toán khoảng 150 tỷ trái phiếu BIDV 5 năm và 250 tỷ tiền gửi chứng chỉ của tổ chức tiền gửi nhưng nguồn vốn huy động của Chi nhánh vẫn đạt được những kết quả khả quan. Trong thời gian qua, chi nhánh đã thực hiện tốt các đợt chỉ đạo huy động vốn của Trung ương, đặt quan hệ với nhiều khách hàng có khả năng về tiền gửi như: tổng công ty Viettel, tổng công ty điện lực, công ty tài chính bưu điện, Lilama… Bên cạnh đó, ngân hàng cũng không ngừng đổi mới, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, có những biện pháp điều chỉnh lãi suất huy động vốn thích hợp… Chính vì vậy, nguồn vốn chi nhánh hoạt động không ngừng tăng lên, chủ yếu là nguồn vốn huy động, không có vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác. Công tác nguồn vốn trong hợt động ngân hàng là then chốt, và luôn được đảm bảo cho hoạt động kinh doanh ngân hàng được tự chủ.
- Hoạt động sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Về cơ bản, trong giai đoạn 2023 – 2025, chi nhánh đã thực hiện được các công việc được giao theo kế hoạch.
- Bảng 2: Tình hình cho vay qua các năm
Chi nhánh Quang Trung cho vay nhiều đối tượng khách hàng từ các doanh nghiệp cho đến dân cư. Về chất lượng tín dụng: qua gần 3 năm hoạt động đã có sự chuyển biến mạnh mẽ cả về số lượng chất lượng. Cụ thể, năm 2025, tổng dư nợ đạt 1223 tỷ đồng, tăng 423 tỷ đồng so với năm 2024, đạt 100% giới hạn tín dụng được giao. Có được kết quả trên là do chi nhánh đã áp dụng mô hình tín dụng hiện đại. Việc xét duyệt chấp nhận cho vay được tiến hành qua ba cấp: Nhân viên tín dụng, trưởng phòng tín dụng, ban tín dụng. Riêng bộ phận thẩm định tín dụng được tách phòng riêng biệt vì vậy mà chất lượng tín dụng được nâng cao rõ rệt, hạn chế rủi ro. Tính đến cuối năm 2025, tại chi nhánh đã không để xảy ra tình trạng nợ quá hạn hay nợ xấu – một điều mà rất ít ngân hàng trên địa bàn làm được. Bên cạnh đó, đối với cá nhân, Chi nhánh cũng đưa ra nhiều loại hình cho vay như: cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô, cho vay hỗ trợ du học, cho vay cổ phần hóa… điều này đã lấp được chỗ trống về sản phầm của Chi nhánh khi mới thành lập và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và tăng tính cạnh tranh so với các ngân hàng trong khu vực.
Nhìn chung, các khoản cho vay nền kinh tế theo từng loại hình đều tăng. Cho vay ngắn hạn năm 2025 đạt 550 tỷ đồng (tốc độ tăng 132%) cho vay trung, dài hạn đạt 673 tỷ đồng (tốc độ tăng 175%), ta thấy tốc độ cho vay ngắn hạn tương xứng với nguồn vốn ngắn hạn cũng khá lớn. Trong năm 2024, 2025, công tác tín dụng tiến hành theo nguyên tắc thận trọng, ưu tiên cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp XNK và cho vay tiêu dùng cá nhân. Công tác rà soát đánh giá khách hàng, phát hiện các khách hàng tiềm ẩn rủi ro cao, quyết thu hồi nợ xấu. Cơ cấu cho vay được chuyển dịch theo hướng an toàn hơn. Đây là nguyên nhân chính thúc đẩy sự tăng trưởng của nợ tín dụng và không để xảy ra tình trạng nợ xấu.
- Hoạt động dịch vụ Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Bên cạnh các sản phẩm truyền thống thì ngân hàng đã chú trọng tới các hoạt động dịch vụ. Thu dịch vụ ròng qua 3 năm từ 2023 – 2025 như sau:
- Biểu đồ 3: Tốc độ tăng trưởng thu dịch vụ ròng Chi nhánh Quang Trung giai đoạn 2023 – 2025
Trong đó:
Thanh toán quốc tế: Doanh số thu dịch vụ này là 4,5 tỷ đồng tăng 105% so với năm 2024 (2,2 tỷ đồng). Chi nhánh đã thực hiện các giao dịch nhanh chóng, an toàn và chính xác, kịp thời tư vấn hỗ trợ cho doanh nghiệp khi thực hiện giao dịch TTQT tại Chi nhánh. Bên cạnh đó, Chi nhánh còn xây dựng thời gian chuẩn mực trong việc xử lý giao dịch TTQT cho từng cán bộ, biểu phí TTQT áp dụng cho Chi nhánh, và các quy trình nghiệp vụ.
Kinh doanh ngoại tệ: Thu phí từ dịch vụ kinh doanh ngoại tệ năm 2025 ước đạt 1,9 tỷ đồng, tăng 18,75% so với mức 1,6 tỷ năm 2024.; kinh doanh có lãi, đáp ứng và phục vụ kịp thời các loại ngoại tệ khác cho khách hàng đang có quan hệ tín dụng, dịch vụ có nhu cầu thanh toán ra nước ngoài với mức giá hợp lý, cạnh tranh. Hơn nữa, Chi nhánh luôn thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ theo đúng chức năng, nhiệm vụ, tích cực đẩy mạnh hoạt động mua bán ngoại tệ kinh doanh; luôn tuân thủ đúng các quy định về kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước và NHĐT&PT Trung ương.
Công tác kho quỹ: Chấp hành đúng QĐ các quy định, thực hiện đúng các quy trình nghiệp vụ thu chi tiền mặt, ngoại tệ đảm bảo an toàn chính xác, đáp ứng nhanh chóng, kịp thời nhu cầu nộp, rút tiền mặt của khách hàng. Trong năm 2024, thu chi tiền mặt các loại đạt: 4500 tỷ VNĐ, 162 triệu USD, 8 triệu EUR. Con số tương ứng cho năm 2025 là 6200 tỷ VNĐ, 200 triệu USD và 13 triệu EUR, và thu phí từ hoạt động này là 1 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Chi nhánh cũng thực hiện tốt công tác dịch vụ khách hàng như tư vấn, tiếp thị sản phẩm, tiếp cận với các khách hàng lớn, thực hiện chuyển tiền với khối lượng lớn, trả lương qua tài khoản …
- Kết quả hoạt động kinh doanh Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Kết quả hoạt động kinh doanh của NHĐT&PT Chi nhánh Quang Trung được thể hiện qua bảng sau:
- Bảng 3: Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh 2023 – 2025
Năm 2023, lãi trước thuế của Chi nhánh Quang Trung rất thấp là do Chi nhánh mới thành lập vào 1/4/2023 nên có rất nhiều chi phí phát sinh như chi phí thành lập, cho phí quảng cáo … Những chi phí này đã đẩy tổng chi phí trong 9 tháng cuối năm 2023 tăng cao. Hơn nữa, do Chi nhánh Quang Trung mới được thành lập nên số khách hàng biết đến chưa nhiều vì vậy tổng thu nhập cũng ít đạt 40 tỷ. Đến năm 2024, Chi nhánh đã bước đầu xây dựng được hình ảnh trong mắt khách hàng mới và tổng thu nhập của Chi nhánh cũng tăng lên đến 53 tỷ. Một số chi phí cũng giảm bớt làm đẩy lãi suất trước thuế của Chi nhánh tăng lên 319% tương ứng với mức lãi là 18 tỷ. Sang năm 2025, Chi nhánh đã thể hiện được vị thế của mình khi nâng tổng mức lãi trước thuế lên đến 41 tỷ tăng 128% so với năm 2024. Mức tăng trưởng này thấp hơn so với năm 2024 do Chi nhánh đã đi vào ổn định hơn sau hai năm thành lập.
II. RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG ĐT&PT – CHI NHÁNH QUANG TRUNG Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
1. Ảnh hưởng của sự biến động lãi suất tới tình hình kinh doanh của NHĐT&PT – Chi nhánh Quang Trung
Cùng với quá trình tự do hóa lãi suất, mức độ biến động của lãi suất có xu hướng gia tăng do lãi suất trên thị trường không còn chịu sự can thiệp của NHNN mà được hình thành trên cơ sở quan hệ cung – cầu về vốn trong nền kinh tế với những tác động như : tỷ lệ lạm phát, mức tăng của nền kinh tế, chính sách tài chính tiền tệ tài chính của Nhà nước và diễn biến lãi suất thị trường thế giới. Có thể nói, trong 3 năm trở lại đây, lãi suất nhìn chung tăng cao, các cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng nhằm tăng thị phần và huy động vốn cho nhu cầu tín dụng lên tục diễn ra. Lãi suất là giá cả của nhiều sản phẩm của ngân hàng nên có thể nói sự biến động của lãi suất sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh của ngân hàng từ hoạt động huy động vốn, tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác. NHĐT&PT – Chi nhánh Quang Trung cũng không phải là ngoại lệ. Để đánh giá sự ảnh hưởng của lãi suất đến tình hình kinh doanh của ngân hàng, ta có thể đánh giá thông qua ảnh hưởng của lãi suất ngắn hạn đến thu nhập lãi và chi phí trả lãi của Chi nhánh.
Sự biến động lãi suất thị trường trong thời gian qua đã gây ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn và chi phí huy động vốn của NHĐT&PT – Chi nhánh Quang Trung. Đánh giá công tác nguồn vốn của ngân hàng không chỉ riêng về quy mô tăng trưởng mà còn phải xem xét cả về hiệu quả huy động vốn thể hiện ở chi phí trả lãi suất.
- Bảng 4: Chi phí trả lãi huy động vốn của NHĐT&PT – Chi nhánh Quang Trung
Từ bảng 4 ta thấy, sang năm 2024, cả lãi suất nội tệ và ngoại tệ đều tăng nhẹ đồng thời quy mô vốn của ngân hàng cũng tăng cao làm cho tỷ lệ chi phí trả lãi suất của ngân hàng tăng lên gấp đôi. Đến năm 2025, lãi suất tăng lên đến 7,98%/năm đối với tiền gửi ngắn hạn VND và 5% đối với tiền gửi ngắn hạn USD đồng thời cơ cấu huy động vốn ngắn hạn cũng tăng cao làm cho chi phí trả lãi tăng lên 119,4 tỷ đồng so với năm 2024 và tỷ lệ chi phí trả lãi cũng tăng lên đến 3,4% tăng gần gấp đôi.
Đối với hoạt động sử dụng vốn, hoạt động quan trọng nhất là hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng 80% tổng tài sản của ngân hàng. Vì vậy, sự biến động lãi suất cho vay có tác động lớn đến tỷ lệ thu nhập lãi suất bình quân trên một đồng tài sản sinh lời của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
- Bảng 5: Thu nhập lãi từ hoạt động sử dụng vốn tại NHĐT&PT Chi nhánh Quang Trung
Bảng 5 cho thấy, từ năm 2023 đến năm 2024, tỷ lệ thu nhập lãi bình quân tăng 3,6% tương ứng với mức tăng của lãi suất cho vay ngắn hạn VND là 13,8% (tăng 2,4%) và lãi suất cho vay ngắn hạn ngoại tệ là 6,7% (tăng 0,5%). Sang năm 2025, lãi suất ngắn hạn khá ổn định nên tỷ lệ thu nhập lãi bình quân cũng chỉ tăng 1%. Sự tăng này có thể là do cơ cấu ngoại tệ giảm đi so với nội tệ. Có thể thấy, khi lãi suất ổn định, quy mô của các khoản cho vay ngắn hạn tăng lên (tăng gấp đôi) thì thu nhập lãi của các khoản cho vay cũng tăng lên nhưng tốc độ tăng không thay đổi mấy so với năm 2024 vì lãi suất năm 2025 ổn định và không tăng so với năm 2024.
Như vậy, kết quả kinh doanh của Chi nhánh được thể hiện như sau:
- Bảng 6: Chênh lệch thu nhập lãi & chi phí lãi của NHĐT&PT Quang Trung
Nhìn vào bảng 6 ta thấy khi quy mô các khoản cho vay và huy động ngắn hạn tăng lên thì thu nhập lãi ròng từ các khoản này cũng tăng lên tuy nhiên tỷ suất sinh lời so với chi phí và thu nhập lại không ổn định. Từ năm 2023 đến 2024, tỷ suất sinh lời tăng rõ rệt nhất từ 5,5 % đến 59,8% và 149%. Điều này là do năm 2023 cơ cấu của các khoản ngắn hạn rất thấp, đổng thời lãi suất năm 2024 tăng rất cao (trung bình tăng 1% cho mỗi khoản vay và cho vay) so với năm 2023. Năm 2024, do tốc độ tăng của lãi suất huy động vốn (0,33% đối với VND) thấp hơn tốc độ tăng của lãi suất tín dụng (2.4% đối với VND) khiến đẩy mạnh thu nhập lãi từ khoản cho vay ngắn hạn lên cao làm tăng mức thu nhập lãi ròng của Chi nhánh. Sang năm 2025, tỷ suất sinh lời giảm do chi phí để huy động vốn thời gian này tăng cao. Mức lãi suất huy động vốn ngắn hạn tăng 0,13% đối với VND và 0,7% đối với USD; trong khi đó lãi suất cho vay hoàn toàn ổn định so với năm 2024.
Như vậy, những biến động của lãi suất thị trường trong thời gian qua hoàn toàn tác động đến hoạt động sử dụng vốn, huy động vốn của ngân hàng. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác hơn tác động của lãi suất thị trường đến kết quả kinh doanh của ngân hàng, đặc biệt là những tác động theo chiều hướng xấu cần sử dụng phương pháp và kỹ thuât phù hợp nhằm phân tích chi tiết cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ và những ảnh hưởng của sự biến động lãi suất đến các bộ phận tài sản này.
2. Đánh giá rủi ro lãi suất tại NHĐT&PT – Chi nhánh Quang Trung Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Rủi ro lãi suất là một loại rủi ro khá phổ biến trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại đặc biệt là trong điều kiện lãi suất được xác định theo cơ chế lãi suất thị trường như hiện nay. Việc lãi suất thường xuyên thay đổi và khó dự đoán đã gây ra cho các ngân hàng thương mại Việt nam không ít những thiệt hại. Tuy nhiên, hầu như các ngân hàng này đều không nhận biết được mức độ thiệt hại do sự biến động của lãi suất gây ra là bao nhiêu hay nói cách khác các ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro lãi suất ở mức độ nào? Dựa vào số liệu đã được Chi nhánh Quang Trung cung cấp và việc áp dụng cơ sở lý thuyết về rủi ro lãi suất đã nêu ở phần trên, khóa luận muốn đưa ra một đánh giá sơ bộ và tổng quan nhất về tình hình rủi ro lãi suất tại NHĐT&PT – Chi nhánh Quang Trung.
2.1 Lựa chọn mô hình đo lường rủi ro lãi suất
Kể từ khi các NHTM áp dụng cơ chế tự do hóa lãi suất, sự biến động lãi suất đã thường xuyên gây cho các ngân hàng nhiều khó khăn trong kinh doanh. Những biến động này ảnh hưởng đến lợi nhuận làm giảm giá trị tài sản và giảm vốn của ngân hàng gây ra rủi ro lãi suất. Để biết được ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro lãi suất nào, mức độ rủi ro ra sao, ta cần phải đo lường mức độ rủi ro của ngân hàng. Với điều kiện thực tế hiện nay của các NHTM Việt nam nói chung và NHĐT&PT nói riêng, phương pháp thích hợp nhất là sử dụng mô hình định giá lại.
Khi sử dụng phương pháp này, xin đưa ra một số giả định:
- Chênh lệch giữa thời hạn danh nghĩa của TSC và TSN của ngân hàng tại thời điểm tính toán bằng với chênh lệch thời hạn thực tế Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
- Khi lãi suất thị trường tăng hoặc giảm thì mức độ tăng hoặc giảm đó sẽ là mức độ thay đổi lãi suất đều cho các TSC và TSN
- Các khoản cho vay sẽ được hoàn trả một lần khi đến hạn
2.2 Sử dụng mô hình định giá lại đánh giá thực trạng rủi ro lãi suất tại NHĐT&PT – Chi nhánh Quang Trung
- Phân loại tài sản Có và tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất
Với mô hình định giá lại, tất cả TSC và TSN được phân thành 2 nhóm: nhạy cảm với lãi suất và không nhạy cảm với lãi suất. Cơ sở cho việc phân loại là mức độ biến động của thu nhập từ lãi suất (đối với TSC) và chi phí trả lãi (đối với TSN) khi lãi suất thị trường thay đổi. Do trong các báo cáo số liệu thực tế của ngân hàng hiện nay không phân nhóm TSC và TSN theo các kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng… nên kỳ hạn định giá lại được lựa chọn là một năm. Như vậy, nhóm nhạy cảm với lãi suất sẽ bao gồm các tài sản ngắn hạn hoặc dài hạn nhưng có lãi suất được điều chình phù hợp với sự biến động của lãi suất thị trường.
- Bảng 7: Bảng cân đối tài sản của NHĐT&PT – Chi nhánh Quang Trung
Như vậy, các khoản mục tài sản Có nhạy cảm với lãi suất bao gồm:
- Tiền gửi có kỳ hạn và dư nợ cho vay tại các TCTD khác: đây là những khoản vốn tạm thời dư thừa ngân hàng gửi vào các TCTD khác đễ thu lợi nhuận hoặc nhằm mục đích thanh toán. Trên thực tế, những khoản tiền gửi này được các TCTD khác trả lãi và có thời hạn ngắn trong vòng một năm nên thuộc loại tài sản Có nhạy cảm với lãi suất.
- Dư nợ cho vay tại các TCTD khác: đây là số dư những khoản tín dụng tại các TCTD khác. Do được tính theo lãi suất thả nỗi và được điều chỉnh hay định giá lại trong năm nên cũng thuộc tài sản Có nhạy cảm với lãi suất.
- Tín phiếu kho bạc, chứng khoán Chính phủ: vì kỳ hạn của Tín phiếu kho bạc và các loại chứng khoán Chính phủ chỉ dưới 12 tháng (gồm các kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng … ) nên khi đến hạn các chứng khoán loại này sẽ được định giá lại trong năm và do vậy thuộc loại tài sản Có nhạy cảm với lãi suất.
- Các khoản cho vay ngắn hạn: đây là số dư những khoản tín dụng có thời hạn đến hạn trong vòng một năm và sẽ được tái đầu tư trong năm. Vì vậy, chúng thuộc nhóm tài sản Có nhạy cảm lãi suất.
- Ðầu tư chứng khoán: vì giá của các loại chứng khoán phụ thuộc rất lớn vào lãi suất thị trường nên chúng cũng thuộc các loại tài sản Có nhạy cảm với lãi suất. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Ngoài các khoản mục tài sản trên, các khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước cũng có lãi suất, tuy nhiên, mức lãi rất thấp, lại ít thay đỗi và chỉ được tính cho số tiền gửi vượt so với tiền gửi dự trữ bắt buộc nên khoản mục tài sản này không được coi là tài sản nhạy cảm với lãi suất.
- Các khoản mục tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất bao gồm:
Những giấy tờ có giá ngắn hạn: Ðây là những khoản mà ngân hàng phải tái huy động trong vòng một năm, việc định giá lại xảy ra trong năm nên thuộc nhóm tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng (1 tháng, 3 tháng, 6 tháng … ) bằng nội tệ và ngoại tệ. Ðây là những khoản tiền gửi ngân hàng huy động của dân cư đễ sử dụng cho các hoạt động vay, đầu tư và khi đến hạn phải trả lại cho người gửi và tiếp tục huy động những khoản tiền gửi mới. Kể cả trường hợp khách hàng không rút tiền khi đến hạn thì khoản tiền gửi đó cũng được coi là gửi vào kỳ hạn mới và tính lãi theo mức mới công bố nên những khoản tiền gửi này cũng được định giá lại trong năm và thuộc nhóm tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất.
Tiền gửi và tiền vay các TCTD khác: đây là khoản tiền gửi và vay ngắn hạn nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời về khả năng thanh toán của các ngân hàng. Lãi suất của khoản vay này thay đỗi phụ thuộc vào mức lãi của thị trường tiền tệ nên khoản mục này cũng được định giá lại trong năm và thuộc nhóm tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất.
Tiền gửi và vay Ngân hàng Nhà nước: đây là khoản vay ngắn hạn nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời về khả năng thanh toán trong thời hạn ngắn. Lãi suất của khoản vay này thay đỗi phụ thuộc vào mức lãi của thị trường tiền tệ và chính sách tiền tệ của NHNN. Do vậy, các khoản mục này được định giá lại trong thời gian ngắn và thuộc nhóm tài sả Nợ nhạy cảm với lãi suất.
Ðối với tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng tại ngân hàng, bằng một số phương pháp như mô hình hồi quy đễ khảo sát thực tế biến động chi phí đối với loại tiền gửi này khi lãi suất thay đỗi. Qua một số khảo sát thực nghiệm có thễ kết luận là tiền gửi không kỳ hạn nhạy cảm với lãi suất. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Xác định chênh lệch (GAP) giữa TSC và TSN nhạy cảm với lãi suất Chênh lệch tài sản Có và tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất có kỳ hạn định giá lại một năm là: GAP = RSA – RSL
Từ số liệu trong Bảng 6 và kết quả phân loại tài sản đề cập ở trên, chênh lệch tài sản Có và tài sản Nợ nhạy cảm lãi suất của NHÐT&PT Quang Trung được tính toán và thễ hiện trong bảng dưới đây:
- Bảng 8: Chênh lệch TSC và TSN nhạy cảm với lãi suất tại NHÐT&PT – Chi nhánh Quang Trung
Số liệu tính toán cho thấy trong cả 3 năm, ngân hàng đều có mức chênh lệch dương, tức là tài sản Có nhạy cảm lãi suất lớn hơn tài sản Nợ nhạy cảm lãi suất. Với vị thế như vậy, ngân hàng sẽ phải đương đầu với rủi ro lãi suất khi lãi suất thị trường biến động theo chiều hướng giảm. Điều đáng lo ngại là mức chênh lệch tài sản Có và tài sản Nợ nhạy cảm lãi suất của ngân hàng khá lớn cả về số tuyệt đối và số tương đối đặc biệt Mức chênh lệch tuyệt đối năm 2023 là 1.650.619, đến năm 2024 giảm xuống còn 1914203 và năm 2025 là 2.658.826. Tỷ lệ chênh lệch GAP/A năm 2023 lên đến 65,786% và giảm dần qua các năm đến năm 2024 là 37,413% và năm 2025 là 33,993%. Tỷ lệ RSA/RSl cũng giảm dần qua các năm đến năm 2025 giảm 10,03 xuống còn 2,64. Mặc dù, mức chênh lệch tương đối và tuyệt đối có giảm dần qua các năm nhưng vần ở mức cao, nhất là tỷ lệ chênh lệch GAP/A vẫn ở mức cao (33,993%). Với mức chênh lệch cao như vậy, chỉ cần một sự giảm nhẹ lãi suất cũng dẫn đến những tổn thất to lớn cho ngân hàng.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, lãi suất nội tệ và ngoại tệ có xu hướng biến động không cùng chiều nên để đánh giá chính xác mức độ rủi ro lãi suất của ngân hàng việc tính toán rủi ro lãi suất cần được thực hiện tách riêng cho từng loại tài sản nội tệ và ngoại tệ. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
- Bảng 9: Chênh lệch TSC và TSN nhạy cảm với lãi suất tại NHĐT&PT Quang Trung theo nội tệ và ngoại tệ
Như vậy, nếu tách riêng tài sản nội tệ và tài sản ngoại tệ để xem xét thì thấy rằng, mức chênh lệch vẫn dương qua các năm và tăng dần qua các năm. Đối với mức chênh lệch tài sản Có và tài sản Nợ nội tệ nhạy cảm với lãi suất, chỉ tiêu này năm 2025 tăng 974.734 triệu đồng tương ứng với mức tăng 67%. Trong khi đó, mức chênh lệch tài sản Có và tài sản Nợ ngoại tệ năm 2025 tăng 33.473 triệu đồng tương ứng với mức tăng 16,7. Hơn nữa, giá trị chênh lệch đói với tài sản nội tệ lớn hơn ngoại tệ rất nhiều. Điều này cho thấy thiệt hại xảy ra đối với ngân hàng chủ yếu là do những biến động lãi suất của đồng tiền trong nước.
Tuy nhiên, nếu xét về tỷ lệ chênh lệch tài sản nhạy cảm lãi suất RSA/RSL thì tài sản ngoại tệ lại có hệ số lớn hơn rất nhiều, nhất là năm 2023 lên đến 39,4 lần do ngân hàng vừa mới thành lập và đang bắt đầu đi vào hoạt động. Điều này có nghĩa là chỉ những biến động nhỏ của lãi suất ngoại tệ cũng dẫn đến những rủi ro lớn cho ngân hàng.
- Xác định biến đổi thu nhập ròng từ lãi (rủi ro lãi suất) khi lãi suất thị trường biến động
Trước tiên, để xác định biến đôi thu nhập ròng từ lãi khi lãi suất thị trường biến động ta cần giả định: Khi lãi suất thị trường tăng hoặc giảm thì mức độ tăng hoặc giảm đó sẽ là mức độ lãi suất thay đổi đều cho các tài sản Có và tài sản Nợ trong bảng cân đối của các ngân hàng được xem xét. Việc tính toán sẽ theo công thức dưới đây: ∆NH = RSA x ∆i – RSL x ∆i = GAP x ∆i
Tuy nhiên, trên thực tế, diễn biến lãi suất thị trường nội tệ và ngoại tệ đôi khi không cùng chiều. Mặt khác, mức độ biến động lãi suất của hai thị trường nội tệ và ngoại tệ cũng khác nhau nên việc xác định rủi ro lãi suất của ngân hàng sẽ được xem xét riêng cho từng loại tài sản nội tệ và ngoại tệ.
Trên cơ sở tính toán chênh lệch tài sản Có và tài sản Nợ nội tệ nhạy cảm lãi suất, cùng với số liệu về tỷ lệ lãi suất thị trường nội tệ liên ngân hàng, kết quả tính toán mức độ biến động thu nhập ròng từ lãi của NHĐT&PT Quang Trung đối với bộ phận tài sản nội tệ được thể hiện trong bảng sau: Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
- Bảng 10: Mức độ biến động thu nhập ròng từ lãi của NHĐT&PT Quang Trung đối với bộ phận tài sản nội tệ
Kết quả tính toán cho thấy, mặc dù mức chênh lệch lãi suất qua các năm có xu hướng giảm nhưng biến động thu nhập ròng từ lãi cũng không giảm đều qua các năm. Năm 2024, mức chênh lệch tài sản Có và tài sản Nợ tăng nhẹ đồng thời trong năm đó, lãi suất tăng 0,23% làm cho thu nhập ròng có tăng nhưng tăng ít hơn so với năm 2023 là 38 triệu đông. Tuy nhiên, đối với mức chênh lệch TSC và TSN là 2.425.575 tương ứng với mức tăng 67,2%, năm 2025, lãi suất thị trường nội tệ tăng 0,18% tác động làm mức biến động thu nhập ròng từ lãi tăng 602 triệu so với năm 2024. Như vậy, qua 3 năm do lãi suất thị trường nội tệ liên ngân hàng có xu hướng tăng nên thu nhập ròng từ lãi của bộ phận tài sản nội tệ của NHÐT&PT Quang Trung đều tăng lên và ngân hàng chưa gặp phải rủi ro lãi suất.
Ðối với bộ phận tài sản ngoại tệ nhạy cảm lãi suất của ngân hàng chủ yếu là các khoản tiền gửi và cho vay bằng USD, nên rủi ro lãi suất đối với bộ phận tài sản này được xác định trên cơ sở sự biến động lãi suất USD trên thị trường. Trên thực tế, các NHTM Việt nam thường căn cứ vào lãi suất Libor đễ xác định lãi suất cho vay và huy động tiền gửi bằng ngoại tệ, do vậy mức độ biến động của Libor sẽ được sử dụng đễ xác định rủi ro lãi suất cho bộ phận tài sản ngoại tệ của ngân hàng từ năm 2019. Trong 3 năm 2023 – 2025, NHÐT&PT Quang Trung đều có mức chênh lệch TSC và TSN ngoại tệ nhạy cảm với lãi suất khá cao và tăng dần qua các năm. Trong khi đó, lãi suất thị trường ngoại tệ (lãi suất Libor) lại không tăng đều qua các năm. Năm 2023 và 2024, lãi suất Libor tăng 2,09% và 1,49% và mức chênh lệch tài sản ngoại tệ tương ứng là 199.778 và 290.738 làm cho thu nhập ròng từ lãi tăng lên 4.175 và 4.332 qua các năm. Tuy nhiên, đến năm 2025, lãi suất thị trường ngoại tệ giảm 0,02% cùng với mức chênh lệch là 233.251 làm thu nhập ròng từ lãi của ngân hàng sụt giảm đi 47 triệu đồng. Như vậy, trong 3 năm thì năm 2025, do lãi suất Libor giảm nhẹ dan đến thu nhập ròng từ lãi của bộ phận tài sản ngoại tệ của NHÐT&PT Quang Trung sụt giảm, hay nói cách khác ngân hàng đã chịu rủi ro lãi suất ở năm 2025 là 47 triệu đồng.
- Bảng 11: Mức độ biến động thu nhập ròng từ lãi của NHÐT&PT Quang Trung đối với bộ phận tài sản ngoại tệ
Có thễ thấy, bằng mô hình định giá lại, ta có thễ khảo sát và đo lường được mức độ rủi ro lãi suất tại NHÐT&PT Chi nhánh Quang Trung khi lãi suất thị trường thay đỗi. Vì là một chi nhánh mới thành lập, nên mức chênh lệch về TSC và TSN của ngân hàng ở mức khá cao. Tuy nhiên, kết quả khảo sát trên chưa hoàn toàn chính xác bởi các nguyên nhân sau: (i) việc giả định “Khi lãi suất thị trường tăng hoặc giảm thì mức độ tăng hoặc giảm đó sẽ là mức độ lãi suất thay đỗi đều cho các tài sản Có và tài sản Nợ trong bảng cân đối của các ngân hàng được xem xét” sẽ làm sai lệch kết quả tính toán. Trên thực tế, mỗi khi lãi suất thị trường thay đỗi theo một tý lệ nhất định thì không nhất thiết tất cả cá TSC và TSN đều phải biến động theo chiều thay đỗi và theo tý lệ thay đỗi của lãi suất thị trường. (ii) lãi suất của ngân hàng đôi khi biến động ngược chiều với lãi suất thị trường nên lãi suất thị trường không phản ánh hoàn toàn quan hệ cung – cầu vốn trong nền kinh tế, quan hệ sử dụng vốn lan nhau của các TCTD trên thị trường. (iii) Bản thân việc sử dụng mô hình định giá lại cũng có nghĩa là châp nhận những giả định ban đầu của mô hình này trong khi đó, những giả định này có nhiều điễm chưa phù hợp với thực tế. Tuy vậy, việc tính toán cũng cho thấy rằng trong những năm vừa qua, NHÐT&PT Quang Trung luôn trong tình trạng không cân xứng về kỳ hạn, mức chênh lệch TSC và TSN nhạy cảm với lãi suất đều ở mức cao, vì vậy, sự biến động lãi suất thị trường đã mang lại không ít rủi ro cho ngân hàng.
III. THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NHĐT&PT CHI NHÁNH QUANG TRUNG Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
1. Các văn bản pháp lý liên quan
Hiện tại, so với thông lệ quốc tế, hệ thống văn bản pháp lý về quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng chưa được hoàn thiện. Trong các văn bản pháp quy chủ yếu mới chỉ tập trung vào vấn đề quản lý rủi ro tín dụng mà chưa có quy định cụ thể về tổ chức quản lý, nhận biết, định lượng và kiểm soát rủi ro lãi suất. Liên quan đến công tác quản lý rủi ro lãi suất tại các NHTM, đến nay NHNN Việt nam đã ban hành một số văn bản pháp lý như sau:
Quyết định số 62/2024/OĐ – NHNN ban hành Quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất giữa các ngân hàng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các NHTM trong việc triển khai các biện pháp phòng ngừa rủi ro lãi suất cho ngân hàng cũng như cung cấp các phương tiện phòng ngừa rủi ro cho các khách hàng của ngân hàng. Theo đó, việc hoán đổi lãi suất sẽ được thực hiện giữa các ngân hàng thương mại với các doanh nghiệp được thành lập, hoạt động theo pháp luật; giữa các ngân hàng với nhau; giữa ngân hàng với các tô chức tín dụng. Các ngân hàng thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất phải đáp ứng được một số điều kiện nhất định như vốn tự có từ 1000 tỷ đồng hoặc giá trị tương đương trở lên, bảo đảm các tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động kinh doanh theo quy định của NHNN, có tổng lãi suất ròng các giao dịch hoán đổi lãi suất là số dương … Quy chế quy định về thời hạn của hợp đồng hoán đổi lãi suất phải phù hợp với thời hạn của các khoản vay gốc nhưng tối đa là 5 năm kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực. Số vốn gốc của giao dịch hoán đổi lãi suất đối với một doanh nghiệp không vượt quá 30% vốn tự có của doanh nghiệp. Trong Quy chế còn có các điều quy định về hợp đồng lãi suất, hạch toán kế toán và dự phòng rủi ro.
Quyết định số 457/2023/QĐ – NHNN về việc ban hành quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng và quyết định số 03/2025/QĐ – NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điều của quyết định số 457/2023/QĐ – NHNN. Cụ thể, quy chế quy định chi tiết tỷ lệ quy đổi rủi ro cho các cam kết ngoại biên thuộc về giao dịch phái sinh lãi suất để tính toán tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cho các tổ chức tín dụng. Cụ thể, về hệ số chuyển đổi các hoạt động giao dịch lãi suất có kỳ hạn ban đầu dưới 1 năm là 0,5%; từ 1 năm đến 2 năm là 5%; hai năm trở lên thì 1% cho phần kỳ hạn dưới 2 năm cộng thêm 1% cho mỗi năm tiếp theo. Hệ số rủi ro đối với giá trị các hợp đồng giao dịch lãi suất sau khi chuyển đổi là 100%.
Như vậy, hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật về quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro lãi suất nói riêng còn rất nghèo nàn và hoàn toàn không bắt kịp với tình hình rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thương mại. Các văn bản pháp luật quy định về tổ chức quản lý và đo lường rủi ro lãi suất vẫn chưa được xây dựng. Các văn bản pháp lý về các nghiệp vụ phái sinh cũng chưa được hoàn thiện. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến cho hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại NHĐT&PT Quang Trung nói riêng và các ngân hàng thương mại Việt nam nói chung chưa được phát triển.
2. Quản trị rủi ro lãi suất Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro lãi suất suất nói riêng là một nghiệp vụ đòi hỏi phải có sự tổng hợp và phân tích dựa trên các báo cáo tài chính và các chinh sách kinh doanh của ngân hàng. Thực tế tại các ngân hàng thương mại Việt nam hiện nay cho thấy, công tác quản trị rủi ro còn chưa phát triển và mới chỉ thực hiện tại các ngân hàng có quy mô lớn hay tại Hội sở chính của ngân hàng. Chính vì vậy, công tác quản trị rủi ro của Chi nhánh Quang Trung còn phụ thuộc vào NHĐT&PT Việt nam và chưa thực sự là một trong những nghiệp vụ chính của ngân hàng.
2.1 Công tác tổ chức quản lý rủi ro lãi suất
Trong xu thế hội nhập kinh tế tài chính quốc tế, các NHTM Việt nam trong đó có NHĐT&PT Việt nam nói chung và Chi nhánh Quang Trung ngày càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của công tác quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, quản lý rủi ro lãi suất hiện đang còn là vấn đề khá mới mẻ đối với ngân hàng. Trong một thời gian dài các ngân hàng hầu như không quan tâm đến vấn đề này vì với cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất trên thị trường tương đối ổn định, ít có sự biến động và ít gây tác động đến ngân hàng. Gần đây, khi lãi suất thị trường có nhiều biến động, các ngân hàng mới nhận thấy mình đang đứng trước nguy cơ rủi ro và bước đầu thực hiện các hoạt động quản trị rủi ro lãi suất.
Xuất phát từ tình hình thực tế những năm gần đây tại Việt nam, kể từ khi NHNN từng bước nới lỏng sự can thiệp trực tiếp vào mức lãi suất thị trường, tiến tới tự do hóa lãi suất, thì lãi suất trên thị trường, cả lãi suất huy động tiền gửi và lãi suất cho vay, cả lãi suất nội tệ ,ngoại tệ đã có nhiều biến động hơn so với trước. Cũng như các NHTM khác, NHĐT&PT Quang Trung hiện đã có nhận thức về những tổn thất ngân hàng có thể phải gánh chịu trước những thay đổi của lãi suất thị trường và bước đầu có triển khai những biện pháp để quản lý loại rủi ro này. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Có thể nói hệ thống quản trị rủi ro của Chi nhánh Quang Trung mặc dù chưa hoàn thiện theo thông lệ nhưng đã có những tiến bộ đáng kể qua các năm. Công tác điều hành và quản trị ngân hàng bước đầu đã có những đổi mới mạnh dạn lựa chọn và áp dụng các thông lệ quản trị ngân hàng quốc tế hiệu quả phù hợp. Về cơ bản, BIDV Quang Trung đã chủ động nhận biết và kiểm soát được rủi ro, không xảy ra các sự cố rủi ro lớn. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc có phân cấp ủy quyền cho từng hoạt động nghiệp vụ, từng đơn vị kinh doanh và từng cấp quản lý. Vì vậy, trách nhiêm quyền hạn trong hoạt động quản lý kinh doanh là khá rõ ràng và đầy đủ. Hệ thống quản lý thông tin tập trung hiện đại, một công cụ quan trọng cho quá trình quản lý kinh doanh, quản lý rủi ro đã được triển khai khá sớm và đang phát huy hiệu quả tích cực.
Tuy nhiên, công tác tổ chức quản lý rủi ro của Chi nhánh Quang Trung vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Hiện nay, NHĐT&PT Việt nam đã thành lập Hội đồng ALCO và Ban quản lý rủi ro nhưng tại Chi nhánh Quang Trung vẫn chưa có một bộ phận chức năng chuyên trách về thực hiện nhiệm vụ quản lý rủi ro. Công tác quản trị rủi ro mặc dù đã được thực hiện nhưng mới chỉ tập trung nhiều vào khía cạnh quản lý rủi ro tín dụng và chủ yếu thiên về biện pháp xử lý rủi ro, chưa có các giải pháp nhằm đo lường, dự báo và phòng ngừa rủi ro tổng thể cũng như cho từng loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mặt khác, trong xu thế hội nhập cùng quá trình tự do hóa tài chính thì ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro như rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro ngoại bảng … nên có thể thấy mô hình tổ chức quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro lãi suất nói riêng thì vấn chưa phù hợp và chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý rủi ro trong kinh doanh.
Việc thành lập Hội đồng quản lý tài sản Có và tài sản Nợ gần đây là bước đi rất quan trọng của NHĐT&PT Việt nam nói chung và NHĐT&PT Quang Trung nói riêng trong việc đổi mới nội dung và phương pháp quản lý kinh doanh và quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Tuy nhiên, do Hội đồng quản lý tài sản Có và tài sản Nợ còn thiếu kinh nghiệm nên hiện tại công tác quản lý rủi ro tại NHĐT&PT Việt nam chưa toàn diện. Tuy nhiên, với sự giúp đỡ của các chuyên gia trong khuôn khổ dự án TA2, cấu phần quản lý rủi ro đã được ban lãnh đạo Chi nhánh Quang Trung đặc biệt chú trọng chỉ đạo quyết liệt và thu được những kết quả quan trọng. Trong đó quan trọng nhất là khái niệm và những yêu cầu cung về quản lý rủi ro, trách nhiệm của từng mảng kinh doanh, của từng cán bộ trong quản lý rủi ro đã được nhận thức khá đầy đủ. Trên cơ sở đó những khuyến nghị về mô hình quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh đã được nghiên cứu, lập đề án cho việc chuyển đổi trong thời gian tới. Đây là một yếu tố quan trọng làm cơ sở cho quá trình hoàn thiện mô hình chức năng của quản lý rủi ro theo thông lệ quốc tế.
2.2 Công tác dự báo, nhận biết và đo lường rủi ro lãi suất Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Như đã phân tích ở trên, công tác quản lý rủi ro lãi suất của NHĐT&PT Quang Trung nói riêng cũng như các NHTM khác trong nước chưa thực sự phù hợp và toàn diện. Đánh giá một cách đầy đủ, quản lý rủi ro lãi suất là việc ngân hàng tổ chức một bộ phận nhằm nhận biết, định lượng những tổn thất đang và sẽ gây ra từ rủi ro lãi suất để từ đó cso thể giám sát và kiểm soát rủi ro lãi suất thông qua việc lập nên những chính sách, chiến lược sử dụng những công cụ phòng ngừa và hạn chế rủi ro lãi suất từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cách toàn diện, đầy đủ và liên tục. Trong khi đó, cũng như tại các NHTM khác, cho đến nay NHĐT&PT Quang Trung chưa có những quy định cụ thể về vấn đề nhận biết, dự báo và lượng hóa rủi ro lãi suất. Vì vậy, việc trả lời các câu hỏi như : (i) sự biến động lãi suất năm vừa qua gây thiệt hại bao nhiêu cho ngân hàng? (ii) nếu trong một tháng tới, 3 tháng tới, 6 tháng tới … lãi suất thị trường tăng giảm 1% thì sẽ gây thiệt hại về thu nhập hoặc làm giảm giá trị tài sản của ngân hàng là bao nhiêu?… sẽ không thực sự chính xác. Chắc chắn, ngân hàng sẽ phải gánh chịu tổn thất từ loại rủi ro này.
2.3 Các biện pháp được sử dụng để phòng ngừa rủi ro lãi suất
Xét về các biện pháp được ngân hàng sử dụng để phòng ngừa rủi ro lãi suất, hiện tại biện pháp phòng ngừa nội bảng được sử dụng phổ biến nhất là việc quy định lãi suất thả nổi, được điêu chỉnh trong vòng 6 tháng hoặc mỗi khi lãi suất thị trường biến động trong các hợp đồng cho vay trung và dài hạn. Biện pháp này xuất phát từ thực tế hoạt động kinh doanh của ngân hàng là phải sử dụng một lượng không nhỏ nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Nếu ngân hàng áp dụng lãi suất cho vay cố định trong các hợp đồng cho vay trung dài hạn, khi lãi suất thị trường tăng trong ngắn hạn, chi phí huy động của các khoản tiền gửi mới để duy trì các khoản cho vay trung dài hạn sẽ tăng lên và gây nên sự suy giảm thu nhập lãi ròng từ hoạt động cho vay. Việc áp dụng các điều khoản lãi suất thả nổi có điều chỉnh trong các hợp đồng cho vay trung dài hạn sẽ giúp ngân hàng hạn chế được phần nào rủi ro lãi suất. Ngoài ra, ngân hàng cũng đã tích cực duy trì sự cân xứng về kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ. Điều này được thể hiện ở việc ngân hàng chấp hành quy định của NHNN về giới hạn tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung – dài hạn, một số hạn chế rủi ro thanh khoản, mặt khác duy trì tương đối sự cân xứng về kỳ hạn của ngân hàng nhằm hạn ché rủi ro lãi suất.
Về việc phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các biện pháp ngoại bảng, sử dụng các công cụ tài chính phái sinh, nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng các công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các NHTM, đặc biệt trong điều kiện tự do hóa lãi suất tại Việt nam hiện nay, cả Ngân hàng Nhà nước Việt nam với tư cách là cơ quan quản lý cũng như các NHTM Việt nam đều đã có những việc làm cụ thể để triển khai nghiệp vụ này. Trong khối các NHTM trong nước, BIDV là ngân hàng đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và cung cấp các sản phẩm giao dịch tài chính phái sinh tới khách hàng. Có thề điểm qua các hợp đồng phái sinh mà BIDV đã cung cấp như: Hợp đồng hoán đổi lãi suất một đồng tiền với các doanh nghiệp trong nước; hợp đồng hoán đổi lãi suất hai đồng tiền với ngân hàng đối tác Standard Chartered Bank tại London cho cặp đồng tiền EUR/USD; ký kết hợp đồng khung ISDA để chuẩn hóa các giao dịch phái sinh với ngân hàng HSBC; hợp đồng tương lai cà phê với công ty Natexis Commodity Markets (Singapore)… Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Trong khi đó, về các nghiệp vụ phái sinh, vì chỉ là một chi nhánh nhỏ do chưa được chuẩn bị về nguồn vốn, về nghiệp vụ cũng như về nhân sự nên NHĐT&PT Chi nhánh Quang Trung vẫn chưa thực hiện được một hợp đồng phái sinh nào. Tuy nhiên, với sự đầu tư thích đáng của NHĐT&PT Trung ương, trong thời gian tới các Chi nhánh nói chung và Chi nhánh Quang Trung nói riêng có thể tự cung cấp các sản phẩm phái sinh đến khách hàng.
IV. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NHĐT&PT CHI NHÁNH QUANG TRUNG
1. Kết quả đạt được
Trong thời gian qua, việc NHNN Việt Nam nới lỏng dần sự kiểm soát lãi suất đòi hỏi các NHTM phải quan tâm hơn đến công tác quản lý rủi ro lãi suất. Trong công tác này, tuy chưa nhiều nhưng NHĐT&PT Quang Trung đã đạt được một số kết quả nhất định đáng ghi nhận.
Một là, NHĐT&PT Quang Trung đã có nhận thức rõ ràng về nguy cơ rủi ro lãi suất, đã nhận ra thực tế là ngân hàng có thể phải gánh chịu những tổn thất trước những thay đổi của lãi suất thị trường. Nhận thức này là rất quan trọng, tạo cơ sở để ngân hàng có định hướng đúng trong công tác quản lý rủi ro, không chỉ tập trung vào việc quản lý rủi ro tín dụng mà còn cần phải quan tâm quản lý các loại rủi ro khác có khả năng gây thiệt hại cho ngân hàng.
Hai là, NHĐT&PT Quang Trung đã có những bước triển khai đầu tiên thực hiện biện pháp để phòng ngừa rủi ro lãi suất, thể hiện ở sự chỉ đạo của Tổng giám đốc ngân hàng Trung ương đối với công tác điều hành lãi suất kinh doanh trong toàn hệ thống, từ trụ sở chính đến các chi nhánh. Đó chính là việc quản lý lãi suất tập trung tại trụ sở chính, đồng thời Tổng giám đốc ngân hàng có xem xét ủy quyền cho các Giám đốc đơn vị thành viên quyết định lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay tối thiểu trên địa bàn thành phố, thị xã và những nơi có cạnh tranh. Trên cơ sở đó, ngân hàng đã tự chủ trong việc áp dụng chính sách lãi suất cho vay thỏa thuận thay đổi theo thời gian đối với các khoản vay trung dài hạn để hạn chế rủi ro về lãi suất.
2. Hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
2.1 Hạn chế
Đối với các NHTM Việt Nam, quản lý rủi ro lãi suất còn là vấn đề khá mới mẻ. Chính vì vậy, mặc dù NHĐT&PT Quang Trung đã có quan điểm triển khai một số biện pháp phòng ngừa rủi ro lãi suất nhưng trong công tác quản lý rủi ro vẫn còn những mặt hạn chế cơ bản như sau:
Một là, trong nhận thức về rủi ro lãi suất NHĐT&PT Quang Trung mới chỉ dừng lại ở nhận định là ngân hàng có rủi ro lãi suất khi lãi suất thị trường thay đổi, nhưng chưa đo lường, đánh giá cụ thể mức độ rủi ro là bao nhiêu, lãi suất biến động theo chiều hướng nào sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng … Hiện tại, các NHTM tại nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng nhiều phương pháp và mô hình khác nhau để lượng hóa rủi ro lãi suất phù hợp với trình độ của từng ngân hàng và quy định của cơ quan quản lý ở từng nước. Mặc dù mỗi mô hình đo lường rủi ro lãi suất đều có những hạn chế nhất định nhưng việc sử dụng những mô hình này có thể giúp các NHTM xác định một cách cụ thể những thiệt hại cả trong quá khứ, hiện tại và thiệt hại dự tính trong tương lai mỗi khi lãi suất thị trường biến động. Những tính toán này sẽ là cơ sở cần thiết để ngân hàng áp dụng các biện pháp khác nhau nhằm hạn chế thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra. Tuy nhiên, do chưa thực hiện việc lượng hóa rủi ro lãi suất do chưa có đủ điều kiện cần thiết nên các biện pháp mà NHĐT&PT Quang Trung đã sử dụng để kiểm soát rủi ro này mới chỉ dựa trên cảm tính và chưa hiệu quả.
Hai là, NHĐT&PT Quang Trung chưa thực hiện một cách toàn diện những biện pháp cần thiết để phòng ngừa rủi ro lãi suất. Cụ thể, về các biện pháp nội bảng, chủ yếu ngân hàng mới dừng lại ở việc áp dụng những chính sách lãi suất thả nổi trong cho vay trung dài hạn mà chưa có những biện pháp tích cực để duy trì sự cân xứng về kì hạn của tài sản có và tài sản nợ. Hơn nữa, NHĐT&PT Quang Trung là một trong số các ngân hàng có tỷ lệ dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm một tỷ trọng lớn hơn trong tỷ trọng dư nợ so với các chi nhánh khác và các NHTM khác. Trong khi đó, các khoản vốn huy động của ngân hàng chủ yếu lại là ngắn hạn chưa cân xứng với kỳ hạn của các khoản cho vay. Về biện pháp ngoại bảng, BIDV Quang Trung chưa thực hiện được biện pháp phái sinh nào để phòng ngừa các rủi ro lãi suất và các loại rủi ro khác.
2.2 Nguyên nhân
- Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Tại NHĐT&PT Quang Trung chưa có những cán bộ ngân hàng am hiểu một cách toàn diện về rủi ro lãi suất. Hiện nay, vấn đề rủi ro lãi suất còn khá mới mẻ với cán bộ nhân viên NHĐT&PT Quang Trung, từ cán bộ chuyên môn đến cán bộ làm công tác quản lý.
Vì vậy mà việc nhận biết rủi ro, xác định đánh giá rủi ro của các cán bộ nhân viên ngân hàng còn hạn chế. Do còn hạn chế về sự hiểu biết và nghiên cứu về rủi ro lãi suất nên các ngân hàng thường bỏ ngỏ những bước quan trọng. Trên thực tế, muốn biết được mức độ tổn thất của rủi ro lãi suất để có biện pháp phòng chống thì các ngân hàng cần phả tính toán được các rủi ro lãi suất tác động như thế nào đến thu nhập ròng cũng như giá trị tài sản của ngân hàng. Để xác định một cách chính xác những tác động này đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải thực sự am hiểu về quản lý tài sản nợ – tài sản có của ngân hàng, đồng thời có những kiến thức nhất định về tài chính để nắm vững những kĩ thuật đo lường rủi rỏ lãi suất bằng việc sử dụng các mô hình. Đối với NHĐT&PT Quang Trung đây là vấn đề tương đối mới nên phần lớn cán bộ nhân viên ngân hàng đều chưa được trang bị những kiến thức này.
Bên cạnh đó, trình độ hiểu biết của cán bộ nhân viên ngân hàng về các nghiệp vụ phái sinh như giao dịch kì hạn, hoán đổi, quyền chọn, vẫn còn hạn chế. Ngân hàng chưa có đội ngũ nhân viên am hiểu những kiến thức về tài chính, pháp lý, về thị trường giao dịch, đặc biệt là kĩ thuật định giá và giao dịch các công cụ tài chính phái sinh, và đây chính là một trong những nguyên nhân gây trở ngại trong việc triển khai các nghiệp vụ phái sinh phòng ngừa rủi ro lãi suất tại ngân hàng.
- Hệ thống kế toán thống kê tại ngân hàng chưa cung cấp đầy đủ những số liệu cần thiết cho việc tính toán, lượng hóa rủi ro lãi suất
Để tính toán đo lường rủi ro lãi suất cần phải có các số liệu thống kê về các tài sản trong ngân hàng một cách chính xác nhưng hiện nay tại NHĐT&PT Quang Trung nói riêng cũng như tại các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung chưa thống kê được các số liệu này. Chẳng hạn, hiện nay các ngân hàng có các số liệu thống kê về thời gian còn lại của các khoản cho vay, các tài sản đầu tư cũng như thời hạn còn lại của các nguồn vốn huy động và vốn vay. Đối với các khoản mục tài sản được thanh toán theo nhiều kì hạn, ví dụ: cho vay tiêu dùng trả góp, cho vay trung dài hạn, các ngân hàng cũng chưa có số liệu tổng hợp về giá trị của các nguồn thanh toán ứng với từng kì hạn. Chính hạn chế này sẽ gây trở ngại rất lớn cho các ngân hàng trong việc lượng hóa và quản lý rủi ro lãi suất một cách hữu hiệu. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
- Chưa có bộ phận chuyên trách thực hiện việc đo lường rủi ro lãi suất
Đo lường, đánh giá rủi ro lãi suất của các ngân hàng thương mại là công việc tương đối khó và đòi hỏi những kĩ thuật khá phức tạp. Công việc này có một vị trí quan trọng trong quá trình quản lý rủi ro lãi suất của mỗi ngân hàng nên thường do một bộ phận chuyên trách thực hiện. Tuy nhiên, hiện tại NHĐT&PT Quang Trung chưa thành lập bộ phận chuyên trách này. Nguyên nhân chủ yếu là do hiện nay ngân hàng chưa quan tâm đến việc đo lường đánh giá rủi ro lãi suất nên công việc này chưa được phân công cụ thể cho bộ phận nào trong ngân hàng nghiên cứu thực hiện.
- Hệ thống thông tin, trình độ công nghệ của ngân hàng còn yếu chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng trong xu thế hội nhập quốc tế
Hoạt động kinh doanh ngân hàng trong xu thế hội nhập quốc tế đòi hỏi ngân hàng phải có hệ thống thông tin thông suốt và cập nhật từng phút đối với các biến động của thị trường tiền tệ quốc tế cũng như từng hoạt động của bản thân hệ thống ngân hàng mình là vấn đề thiết yếu. Hiện tại, các mạng thông tin quốc tế như Reuters, Dowjones … đã giúp các ngân hàn thương mại nắm bắt kịp thời biến động của thị trường tiền tệ quốc tế. Tuy nhiên, các vấn đề bất cập lại nằm ngay trong bản thân từng ngân hàng. Một số ngân hàng với nhiều chi nhánh hiện vẫn chưa có khả năng kiểm soát trạng thái kỳ hạn còn lại của các khoản mục TSC và TSN hàng ngày của hệ thống theo phương pháp chuẩn quốc tế.
Bên cạnh đó việc xác định một cách chính xác mức lãi suất trong tương lai là rất khó khăn đối với một ngân hàng. Thay vào đó, ngân hàng chỉ có thể phản ứng và điều chỉnh hoạt động của mình theo xu hướng vận động của lãi suất. Chính vì vậy, những thông tin về thị trường là rất quan trọng đối với ngân hàng trong việc dự đoán xu hướng biến động của lãi suất. Qua phân tích đó để thấy rằng, từ khi NHNN Việt Nam bắt đầu quá trình tự do hóa lãi suất, lãi suất thị trường trong nước cả nội tệ và ngoại tệ đều có nhiều sự biến động do chịu sự tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài. Tuy nhiên, khả năng nhận biết và dự báo xu hướng biến động lãi suất của các NHTM trong đó có NHĐT&PT Quang Trung còn có nhiều hạn chế.
Ngân hàng còn bị bất ngờ trước sự biến động của lãi suất ngoại tệ do không dự đoán chính xác được sự biến động của lãi suất trên thị trường quốc tế. Điều này là do ngân hàng thiếu thông tin về tình hình kinh tế các nước trên thế giới, tình hình kinh tế toàn cầu, thiếu thông tin về hoạt động của các ngành kinh tế quốc dân, những dự báo kinh tế, các thông tin có liên quan đến tình hình cung cấp vốn trên thị trường trong nước và quốc tế. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
- Hoạt động kiểm toán nội bộ của ngân hàng còn nhiều hạn chế
Kiểm toán được coi là một phương tiện thông tin quan trọng cho chủ ngân hàng bởi mục tiêu chủ yếu của nhiệm vụ kiểm toán là chứng nhận rằng các tài khoản hàng năm là đều đặn và chân thực và cho một hình ảnh trung thực về kết quả của những hoạt động trong tài khóa đã qua, cũng như tình hình tài chính và tổng thể tài sản ở cuối tài khóa đó. Nhiệm vụ thường xuyên của kiểm toán là kiểm tra các giá trị và các tài liệu kế toán và kiểm tra sự phù hợp của kế toán với các quy tắc (thể lệ) hiện hành, kiểm tra sự chân thực và khớp nhau giữa các tài khoản hàng năm với các thông tin được đưa ra trong các báo cáo về quản lý.
Đối với NHĐT&PT Quang Trung việc thực hiện kiểm toán hiện nay mới thực hiện được một phần việc kiểm tra tính tuân thủ, còn việc kiểm tra, xác định tính chính xác của những con số về tài sản có, tài sản nợ cũng như lợi tức và chi tiêu của ngân hàng, việc kiểm toán về mức độ tin cậy của các hệ thống thông tin chưa được phản ánh một cách rõ ràng hay việc tư vấn nâng cao hiệu quả hoạt động cũng chưa được phát huy trong quá trình hoạt động.
Nguyên nhân khách quan:
- Chưa có cơ quan dự báo sự thay đổi của lãi suất
Ý nghĩa của việc đo lường rủi ro lãi suất không chỉ là đánh giá những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu trong quá khứ trong điều kiện lãi suất thị trường biến động mà quan trọng hơn là giúp các ngân hàng dự tính được những thiệt hại có thể phát sinh trong tương lai, qua đó giúp ngân hàng lựa chọn những giải pháp phòng ngừa một cách có hiệu quả những rủi ro này. Để dự tính được chính xác mức độ thiệt hại của ngân hàng khi lãi suất thị trường biến động thì một trong những vấn đề quan trọng là phải dự báo chính xác mức độ biến động của lãi suất trong tương lai. Cho đến nay, tại Việt Nam chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm thực hiện dự báo xu hướng biến động của những biến số vĩ mô quan trọng, trong đó có lãi suất. Đây cũng là một trở ngại không nhỏ đối với các ngân hàng trong việc lượng hóa rủi ro lãi suất một cách chính xác.
- Chưa có quy định trong các văn bản pháp lý về việc đo lường và quản lý rủi ro lãi suất tại các NHTM
Cho đến nay trong các văn bản pháp luật về hoạt động ngân hàng chưa có văn bản nào quy định về việc quản lý, đo lường rủi ro lãi suất tại các NHTM, kể cả trong Quy chế giám sát thanh tra NHNN cũng chưa có quy định nội dung giám sát này. Một khi cơ quan quản lý chưa có yêu cầu cụ thể thì các NHTM chưa thể nhận thức đầy đủ sự cần thiết cũng như cách thức thực hiện việc quản lý rủi ro lãi suất và đây cũng là một điểm hạn chế cho việc lượng hóa rủi ro lãi suất tại các NHTM.
Mặt khác, các văn bản pháp lý về nghiệp vụ phái sinh cũng chưa được hoàn thiện. Hiện tại, NHNN mới chỉ ban hành các văn bản quy định về nghiệp vụ phái sinh ngoại tệ: giao dịch kì hạn, giao dịch hoán đổi, đối với nghiệp vụ phái sinh lãi suất mới chỉ có giao dịch hoán đổi lãi suất, chưa có văn bản pháp lý nào được ban hành để quy định hướng dẫn các NHTM thực hiện các nghiệp vụ phái sinh về lãi suất khác như kì hạn tiền gửi (FDD), kì hạn lãi suất (FRA), các nghiệp vụ quyền chọn như: CAP, FLOORS, COLLAR. Đối với các giao dịch phái sinh về chứng khoán như giao dịch kì hạn, quyền chọn trái phiếu, cổ phiếu cũng chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện tại Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
- Thị trường tài chính – tiền tệ chưa phát triển
Hiện nay, thị trường tài chính – tiền tệ của Việt Nam còn rất hạn chế. Xét về độ sâu tài chính, mức độ tiền tệ hóa nền kinh tế, thị trường tài chính Việt Nam vẫn còn hết sức kém phát triển và lạc hậu so với các nước trong khu vực.
Sự nông cạn của thị trường sẽ làm cho các công cụ thị trường kém phát huy tác dụng của lãi suất. Sự yếu kém của thị trường tài chính Việt Nam được phản ánh qua các chỉ số cơ bản đo độ sâu tài chính của một quốc gia như: M2/GDP, tiền gửi/GDP, đều ở mức thấp so với chỉ số của một số quốc gia khác.
Sự lạc hậu, sơ khai của thị trường tài chính Việt Nam còn được thể hiện qua việc thị trường tiền tệ với sự hoạt động của thị trường mở, thị trường liên ngân hàng còn ít sôi động. Các giao dịch trên thị trường này còn mang tính một chiều, tức là một số ngân hàng luôn là người cung ứng vốn còn một số ngân hàng luôn có nhu cầu vay vốn. Chính vì vậy mà thị trường tiền tệ hoạt động còn rất nhiều hạn chế, chưa thực sự thành trung gian điều tiết vốn trên thị trường. Thị trường tiền tệ cung cấp những thông tin quan trọng về mức lãi suất ngắn hạn để có thể hình thành được đường con lãi suất, làm cơ sở cho việc dự báo lãi suất thị trường cũng như việc định giá các trái phiếu có lãi suất cố định và các hợp đồng phái sinh.
- Kiến thức hiểu biết của nhiều doanh nghiệp về các giao dịch phái sinh và vấn đề phòng chống rủi ro còn quá thấp
Phần lớn nguồn vốn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp là nguồn vay nợ từ bên ngoài, đặc biệt từ ngân hàng. Đối với các doanh nghiệp có các hợp đồng tín dụng trung dài hạn với giá trị lớn với lãi suất cố định cũng như các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu thường xuyên ở vào các vị thế mở về ngoại tệ (trường hoặc đoản) luôn phải đối mặt với nguy cơ rủi ro thị trường rất lớn như rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái. Tuy nhiên, hiện tại các doanh nghiệp Việt Nam rất ít nhận thức về vấn đề này. Những hiểu biết về các kỹ thuật phòng chống rủi ro lãi suất bằng các giao dịch phái sinh lại càng xa lạ. Chính vì vậy, các doanh nghiệp không sẵn sàng tham gia phòng ngừa rủi ro bằng các hợp đồng phái sinh dẫn đến những khó khăn cho các NHTM trong việc phát triển các nghiệp vụ này. Điều này cũng cho thấy rằng tại các NHTM Việt Nam công tác Marketing ngân hàng với các hoạt động tuyên truyền, tư vấn cho khách hàng về các sản phẩm dịch vụ mới còn có nhiều hạn chế.
- Hạn chế trong hoạt động thanh tra giám sát của NHNN Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
Mục tiêu chính của hoạt động thanh tra giám sát NHNN đối với các NHTM là nhằm ngăn ngừa và phát hiện kịp thời những vi phạm, duy trì sự an toàn lành mạnh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, trên cơ sở đó bảo đảm sự an toàn và ổn định của hệ thống, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Cùng với hoạt động thanh tra tại chỗ, công tác giám sát từ xa của Thanh tra NHNN được hình thành từ đầu năm 2010 và cho đến nay, trải qua hoan 15 năm thực hiện đã đạt được những kết quả nhất định, về cơ bản đã kiểm soát được hoạt động của các TCTD, không để xảy ra tình trạng đổ vỡ tín dụng như thời gian trước, xử lý khắc phục được các sai phạm và hạn chế nguy cơ rủi ro có thể xảy ra. Tuy nhiên, hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng cũng bộc lộ không ít những mặt hạn chế, thể hiện ở một số nét chính như sau:
- Nội dung giám sát còn nặng về số liệu thống kê, chưa xây dựng được các chỉ tiêu đánh giá, xếp loại ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt là chưa xây dựng các chỉ tiêu đánh giá độ nhạy cảm của các NHTM trước những rủi ro thị trường như: rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất.
- Hoạt động thanh tra chủ yếu mang tính kiểm tra, xử lý những sai phạm quy chế, mang tính chất vụ việc, nội dung chưa đạt được mức độ thanh tra giám sát các nghiệp vụ kinh doanh của các NHTM, đặc biệt chưa quy định cụ thể nội dung giám sát rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu là do những hạn chế về nghiệp vụ ngân hàng của các cán bộ thanh tra. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV.
- Chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ.
- Hạn chế trong ứng dụng công nghệ thông.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng BIDV

