Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế vào năm 1986 cho đến nay, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng và đầy triển vọng. GDP không ngừng được cải thiện, đời sống của người dân ngày càng nâng cao hơn, và trên hết vị thế về kinh tế, chính trị của Việt Nam đã được biết đến và khẳng định trong mắt các nước ở khu vực và trên thế giới. Trong bước chuyển mình và phát triển đó, thì sự đóng góp của Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp Nhà nước và các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất đáng kể. Đặc biệt là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, với sự năng động, hoạt động trong nhiều lĩnh vực, và số lượng đông đảo của mình đã góp phần quan trọng vào việc tăng thu nhập quốc dân (GDP), giảm lạm phát, giải quyết vấn đề việc làm, giúp thực hiện điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô,… Mặc dù vậy, trong điều kiện nền kinh tế thực hiện hội nhập hóa và toàn cầu hóa một cách toàn diện như hiện nay, thì các Doanh nghiệp ở Việt Nam đã phải đối diện với những thách thức, khó khăn vô cùng lớn. Đó là sự thiếu hụt về vốn, sự lạc hậu về công nghệ, sự kém cạnh tranh trong mẫu mã, chất lượng sản phẩm, và sự thiếu linh hoạt, chất lượng lao động còn thấp.

Nhận thấy nhu cầu vay vốn từ các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn, Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội đã có những chiến lược nhằm thu hút và đẩy mạnh hoạt động cho vay với đối tượng này. Tuy nhiên, quá trình cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là chất lượng của hoạt động cho vay còn chưa cao. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng cho vay đối với loại hình Doanh nghiệp này là điều cần thiết để qua đó ngân hàng có thể mở rộng tổng dư nợ cho vay và Doanh nghiệp có thể có những khoản vốn cần thiết để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Từ những vai trò và yêu cầu cấp thiết nói trên, em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội” để làm để tài cho khóa luận tốt nghiệp.

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động cho vay và thực trạng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội để từ đó đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu là hoạt động cho vay của ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong năm 2024 và năm 2025.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được dựa trên phương pháp thống kê mô tả, so sánh đối chiếu và kết hợp dùng số liệu phân tích. Khóa luận đã đánh giá một cách tổng quát về hoạt động và thực trạng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thông qua các chỉ tiêu kinh tế nhằm tìm ra những vấn đề có liên quan đến chất lượng cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, từ đó có thể đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng.

5. Kết cấu khóa luận gồm

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của đoạn văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Tổng quan về hoạt động cho vay và chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
  • Chương 2: Thực trạng về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Bắc Hà Nội – Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam.
  • Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Bắc Hà Nội – Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của Doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.1 Khái niệm và phân loại Doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Theo Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29-11-2018, tại Việt Nam là “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.” Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay ở các nước trên thế giới chỉ mang tính chất tương đối về thời gian lẫn không gian. Quy mô Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước thì khác nhau và có thể, quy mô Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Mỹ, Nhật Bản, Pháp lớn hơn quy mô Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, và quy mô Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một nước tại thời điểm hiện tại có thể lớn hơn quy mô của Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại nước đó vào thời kì trước đó.

Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2022 NĐ – CP ngày 30/06/2022 của Chính phủ Về trợ giúp phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ thì Doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa là: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. (Các tiêu chí về tổng tài sản và số lao động bình quân của Doanh nghiệp vừa và nhỏ được thể hiện cụ thể trong bảng 1.1)

Ở Malaysia, công ty phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMIDEC) – một cơ quan trực thuộc Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế đã đưa ra một định nghĩa về Doanh nghiệp vừa và nhỏ, dần dần được chấp nhận một cách rộng rãi. Theo đó, Doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa là một công ty, một xí nghiệp hay một DN có doanh thu hàng năm vào khoảng 25 triệu Ringit (tương đương 6,6 triệu USD) và không có quá 150 công nhân làm việc cả ngày.

Như vậy trong khóa luận này nói đến Doanh nghiệp vừa và nhỏ là ta đang nói đến các DN được phân loại theo tiêu thức quy mô DN.

1.1.1.2 Phân loại Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (World Bank) và Công ty tài chính Quốc tế (IFC) năm 2016, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ được phân chia theo quy mô như sau:

Doanh nghiệp vô cùng nhỏ (Micro – enterprise): Có đến 10 lao động, tổng tài sản không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100.000 USD.

Doanh nghiệp nhỏ (Small – enterprise): Có không quá 50 lao động, tổng tài sản có giá trị không quá 3.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3.000.000 USD. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Doanh nghiệp vừa (Medium – enterprise): Có không quá 300 lao động, tổng tài sản có giá trị không quá 15.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15.000.000 USD.

Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ, người ta có những tiêu chí để phân loại và xác đinh Doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau.

Ở Việt Nam, Doanh nghiệp vừa và nhỏ được chia theo tiêu chí vốn sản xuất và lao động. Cụ thể:

  • Bảng 1.1: Tiêu chí xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

1.1.2 Các đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ

DNVVN chiếm số lượng đông đảo, rất đa dạng về ngành nghề và quy mô, tuy nhiên, có thể kể ra một số đặc điểm nổi bật dễ nhận thấy của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ:

  • Thứ nhất, Doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn và năng lực tài chính thấp.

Đây là đặc điểm nổi bật nhất của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn ban đầu thấp cho nên khả năng huy động vốn theo đó cũng sẽ không được cao, gây khó khăn trong việc tiếp cận với tín dụng ngân hàng. Từ vốn ban đầu thấp ảnh hưởng tới quy mô đầu tư trang thiết bị của doanh nghiệp, khả năng đầu tư chiều sâu,..và nhiều yếu tố khác.

  • Thứ hai, Doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng những công nghệ và thiết bị lạc hậu.

Đặc điểm trên cũng xuất phát từ quy mô vốn thấp của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc đầu tư công nghệ và thiết bị hiện đại cần sử dụng số vốn lớn. Việc đầu tư nâng cấp các thiết bị máy móc đã lỗi thời cũng cần có khả năng tài chính tốt, cho phép đầu tư lâu dài. Trong khi đó ở Việt Nam, nguồn vốn đầu tư vào các công nghệ là nguồn vốn mà các Doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có khả năng tiếp cận được. Ngoài ra, để có thể thành công trong một nền kinh tế cạnh tranh cao độ như hiện nay, các DN phải thường xuyên thay đổi công nghệ, máy móc, thiết bị, các phương pháp, bí quyết sản xuất. Thế nhưng hầu hết công nghệ đang được sử dụng trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện được đánh giá là lạc hậu, do không có kiến thức trong lựa chọn, mau và chuyển giao công nghệ. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

  • Thứ ba, trình độ quản lý còn thấp.

Các nhà quản lý Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chưa được đào tạo bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu hiểu biết đầy đủ về quản trị doanh nghiệp dẫn đến nhiều giám đốc DN không thể lập được kế hoạch tài chính, không xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh khả thi.

Ngoài ra, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có nguồn lao động chất lượng được đánh giá là thấp và ít. Nguyên nhân là do các Doanh nghiệp vừa và nhỏ không có khả năng thu hút các nhân lực có chất lượng cao do điều kiện làm việc và chế độ làm việc ở các Doanh nghiệp vừa và nhỏ không đáp ứng được mức lương thưởng như tại các DN lớn.

  • Thứ tư, khả năng tiếp cận thông tin kém.

Việc thiếu những thông tin về nhu cầu thị trường, về thiết bị, nguyên vật liệu…đã khiến cho sức cạnh tranh của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ yếu đi. Hơn nữa, hoạt động thiếu thông tin khiến cho quá trình sản xuất kinh doanh không mang tính định hướng chính xác.

  • Thứ năm, cơ cấu tổ chức đơn giản, bộ máy tổ chức gọn nhẹ, số lượng nhân viên ít.

Phần lớn các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam là các công ty gia đình, hoạt động theo mô hình tự quản, các cấp quản lý từ giám đốc tới kế toán trưởng và trưởng phòng các ban (nếu có) là một người nào đó có mối quan hệ trong gia đình, chưa qua trường lớp đào tạo cơ bản về kĩ năng quản lý và cả kinh doanh, chỉ điều hành DN theo kinh nghiệm, lao động làm việc trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là các lao động thủ công, tay nghề thấp. Do đó, thường các Doanh nghiệp vừa và nhỏ hay xảy ra những sự kiện đáng tiếc như vi phạm quy định nhà nước và các thông lệ quốc tế một cách không cố ý, hoạt động kinh doanh không hiệu quả dẫn đến phá sản. Lợi thế mang lại của đặc điểm này đó là Doanh nghiệp vừa và nhỏ linh hoạt, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường.

1.1.3 Vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

DNVVN chiếm đông đảo trong hệ thống các DN hoạt động theo pháp luật. Và tại mỗi nền kinh tế, quốc gia hay vùng lãnh thổ, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ vai trò ở những mức độ khác nhau nhưng tựu chung lại đều có những vai trò tương đồng sau:

DNVVN giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế: Giúp ổn định nền kinh tế, ổn định các vấn đề vĩ mô như: thất nghiệp, lạm phát, đóng góp vào GDP, tăng trưởng kinh tế,… Doanh nghiệp vừa và nhỏ làm cho nền kinh tế năng động hơn, do có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thực hiện chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết của một sản phẩm hoàn chỉnh, góp phần tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng, tạo thêm nhiều hàng hóa, dịch vụ, góp phần phát triển nền kinh tế của đất nước.

Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo khu vực và thành phần kinh tế, để có thể tạo ra được một cơ cấu kinh tế có tính đổi mới hơn và thích ứng cao hơn. Do Doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau, khi trao đổi buôn bán sẽ tạo ra được sự chuyển dịch về vốn, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Hoạt động của Doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp làm tăng tỷ trọng đóng góp của các ngành thương mại, dịch vụ, chuyển dịch nền kinh tế theo hướng công nghiệp phát triển. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp đáng kể vào việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống, sản xuất ra được các sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc.

Đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt ở nhiều địa phương, là nơi sẵn có các nguồn nguyên liệu như: nông sản, dược liệu, lợi thế về các ngành nghề thủ công truyền thống… đã tạo được số lượng hàng hóa lớn, đa dạng, nhiều chủng loại, không những đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu được. Doanh nghiệp vừa và nhỏ vừa trực tiếp thu mua nguyên liệu, sản xuất, vừa liên kết với các DN khác, tạo nên vòng lưu thông hàng hóa khép kín, vừa có đầu vào sản xuất, vừa có đầu ra tiêu thụ. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Phát triển gắn bó chặt chẽ với các DN có quy mô hoạt động lớn, tạo mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ lẫn nhau. Nền kinh tế của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới hiện nay, sự cạnh tranh giữa các DN đang chuyển dần từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về công nghệ và chất lượng. Những loại hàng hóa có chất lượng cao, mang tính sáng tạo, phong phú, đa dạng về kiểu dáng sẽ chiếm ưu thế trên thị trường. Theo đó, sự phát triển của hoạt động chuyên môn hóa và hợp tác hóa đã cho thấy việc áp dụng mô hình sản xuất kiểu vệ tinh là phù hợp với điều kiện và khả năng phát triển của mỗi nước. Trong nền kinh tế các Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là vệ tinh của các DN lớn để có thể gắn bó chặt chẽ và thúc đẩy sự phát triển của từng loại hình DN này. Do vậy, trong một nền kinh tế hiện đại, Doanh nghiệp vừa và nhỏ không những không thể hòa tan trong các tập đoàn lớn mà khả năng phát triển, hợp tác để mở rộng ngày càng được củng cố.

DNVVN giúp khai thác tiềm năng phong phú về vốn trong dân cư để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Việc ngày càng xuất hiện nhiều Doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng với khả năng hoạt động tốt, lành mạnh đã tạo dần nếp suy nghĩ cho người dân nên đầu tư vào sản xuất kinh doanh thay vì trước đây tiền nhàn rỗi chỉ biết giữ và gửi tiết kiệm hoặc mua vàng cất trữ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là trụ cột của nền kinh tế địa phương, do các DN lớn thường đặt tại các trung tâm kinh tế, còn Doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt ở hầu hết các địa bàn, giúp giải quyết nhanh chóng việc làm cho lao động địa phương, yếu tố sản xuất tại cơ sở.

Khi nền kinh tế gặp khó khăn, khủng hoảng, Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò kích cầu nền kinh tế một cách mạnh mẽ (vì các DN này thường ít bị ảnh hưởng mạnh khi nền kinh tế có biến động mạnh), bằng những đóng góp vào GDP, chi tiêu cho sản xuất kinh doanh, kích thích tiêu dùng trong nước và xuất khẩu thông qua việc bán các sản phẩm của mình.

1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

1.2.1 Khái niệm về cho vay và các nguyên tắc cho vay

  • Khái niệm về cho vay

Theo quyết định số 1627/2020/QĐ-NHNN ngày 31/12/2014 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất đinh theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây là thời hạn cho vay.

Hay theo PGS.TS Mai Văn Bạn (trong giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, năm 2024) thì khái niệm cho vay được hiểu là: Cho vay của Ngân hàng thương mại là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ Ngân hàng thương mại (người sở hữu) sang khách hàng (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại Ngân hàng thương mại với lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.

Cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ là phương thức tín dụng của ngân hàng theo tiêu thức đối tượng khách hàng. Đây là loại hình DN chiếm đa số và rất đa dạng trong các khách hàng của các Ngân hàng thương mại, do đó, các Ngân hàng thương mại cũng tập trung khai thác, tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho đối tượng khách hàng trên.

  • Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động cho vay

Để hoạt động cho vay được đảm bảo an toàn, phù hợp với lợi ích của cả bên cho vay và bên vay, hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng được thực hiện trên những nguyên tắc nhất định và các nguyên tắc này có ảnh hưởng quan trọng đến việc xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay. Các nguyên tắc đó là:

Nguyên tắc hoàn trả: cơ sở lý luận của nguyên tắc này là dựa vào đặc điểm, với tư cách là chủ thể trung gian tín dụng, Tổ chức tín dụng chủ yếu sử dụng số tiền huy động được từ các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để cho vay. Ở giai đoạn huy động vốn, Tổ chức tín dụng tham gia với tư cách là người đi vay, do vậy phải có nghĩa vụ hoàn trả cho người gửi tiền đúng hạn cả gốc và lãi, muốn thực hiện được điều này, với tư cách là chủ thể cho vay, Tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu bên đi vay hoàn trả cho mình đúng hạn cả gốc và lãi. Ngay cả chính Tổ chức tín dụng (bên cho vay) là chủ thể vi phạm hợp đồng thì bên vay vẫn phải thực hiên nghĩa vụ trả nợ. Những vi phạm của bên cho vay sẽ chịu những chế tài xử lý như phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại chứ không thể bù trừ vào số tiền bên vay phải trả.

Để đảm bảo nguyên tắc hoàn trả, pháp luật có các quy định nhằm yêu cầu Tổ chức tín dụng phải đánh giá khả năng của bên vay, xây dựng các phương án phòng ngừa rủi ro cũng như giám sát khoản vay hiệu quả. Bên cạnh đó, pháp luật cũng cho phép các bên có những thỏa thuận sửa đổi hợp đồng phù hợp như gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ để bên vay thực hiện tốt nghĩa vụ hoàn trả của mình. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Nguyên tắc tín nhiệm: tín nhiệm là nền tảng của tín dụng, tức là việc chuyển giao nguồn vốn chỉ được thực hiện khi Tổ chức tín dụng (bên cho vay) có niềm tin vào khả năng trả nợ của bên vay. Nguyên tắc tín nhiệm sẽ đảm bảo cho Tổ chức tín dụng quyết định cho vay một cách chính xác và hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của Tổ chức tín dụng đối với các khoản huy động vốn từ nhận tiền gửi và các hình thức huy động khác.

Để đảm bảo nguyên tắc tín nhiệm, pháp luật đã quy định bên vay phải thỏa mãn những điều kiện nhất định mới được quyền vay vốn. Bên cạnh đó, pháp luật cũng cho phép Tổ chức tín dụng được quyền đánh giá về khả năng tài chính của khách hàng rổi mới quyết định cho vay. Để có sự tín nhiệm của Tổ chức tín dụng, bên vay cần chứng tỏ năng lực tài chính, khả năng sử dụng vốn vay và có những cam kết chắc chắn về khả năng trả nợ. Để tăng thêm sự tín nhiệm, trong nhiều trường hợp, các bên có thể thỏa thuận về các biện pháp đảm bảo khả năng trả nợ như cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh.

Tuy nhiên, cơ sở của lòng tin (sự tín nhiệm) này không đơn thuần dựa vào ý chí chủ quan của người ra quyết định cho vay mà cần thiết phải có những tiêu chí nhất định. Những tiêu chí này pháp luật cho phép Tổ chức tín dụng được quyền quy định trong quy chế cho vay của mình. Do đó, trên thực tế có những trường hợp chủ thể có đủ điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật nhưng Tổ chức tín dụng vẫn cảm thấy có yếu tố rủi ro thì vẫn có thể bị từ chối cho vay.

1.2.2 Các phương thức cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các loại hình DN khác rất đa dạng với các tiêu chí phân loại khác nhau. Sau đây là một số phương thức cho vay cơ bản:

  • Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ, cho vay được phân loại thành:

Cho vay thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay chi vượt trội trên số tiền gửi thanh toán của mình đến một giới giạn nhất định và trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Khách hàng có thể ký séc, lập ủy nhiệm chi,… vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (trong hạn mức) và khi có tiền nhập về tài khoản tiền gửi và ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.

Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả DN lẫn cá nhân vài ngày trong tháng hay vài tháng trong năm dùng để chi lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng. Hình thức vay trên đang dần được sử dụng phổ biến hơn với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có quan hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng.

Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phổ biến nhất đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Các khách hàng này sử dụng vốn sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất của chu kì sản xuất kinh doanh. Ngân hàng sẽ dựa vào phương án sử dụng vốn vay để xác định quy mô, thời hạn, lãi suất và các điều kiện đảm bảo khác.

Mỗi món vay được tách thành các hồ sơ vay khác nhau, số lượng cho vay của mỗi khách hàng được ngân hàng xác định như sau: Số lượng cho vay = Nhu cầu cho sản xuất kinh doanh – Vốn chủ sở hữu tham gia – Các nguồn vốn khác tham gia.

Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng có thể thu hồi nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.

Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì. Đó là số dư tính tại thời điểm tính.

Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Ngân hàng ước lượng các hạn mức tín dụng đối với DN căn cứ vào phương án sản xuất kinh doanh và nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa trên tổng giá trị tài sản đảm bảo, khả năng nguồn vốn của ngân hàng.

Trong kì, khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức tín dụng cuối kì, dư nợ trong kì có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên, đến cuối kì, khách hàng phải trả nợ để giảm bớt dư nợ cuối kì không được vượt quá hạn mức.

Mỗi lần vay, khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hóa hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ. Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát được hiệu quả của từng lần vay. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện ra vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm sút.

Cho vay luân chuyển: Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa. DN khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi khách hàng bán hàng. Đầu năm hoặc quý, người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể thỏa thuận trong 1 năm hoặc vài năm, đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định cho vay nữa hay không tùy mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình tài chính của khách hàng.

Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa nên cả ngân hàng lẫn DN đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngân quỹ trong thời gian tới. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tùy theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của người vay. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọi khoản thu bán hàng đều được dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi được trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng.

Cho vay luân chuyển thường được áp dụng cho các DN thương nghiệp hoặc DN sản xuất có chu kì tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.

Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng. Thủ tục cho vay chỉ cần thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn hơn.

Hình thức cho vay như trên rất ít được sử dụng với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ngoài các phương thức cho vay phổ biến trên đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ thì còn có các phương thức cho vay mà các phương thức này ít được áp dụng ở các ngân hàng. Cụ thể:

  • Cho vay trả góp: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Hình thức cho vay này khá hợp lý đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ và thường được áp dụng kết hợp với các hình thức cho vay khác.
  • Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian, thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Hình thức vay này ít được các ngân hàng áp dụng với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
  • Căn cứ vào thời hạn cho vay, ngân hàng phân loại cho vay thành cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn. Trong đó, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu sử dụng cho vay ngắn hạn với các khoản vay dưới 12 tháng và chủ yếu sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn.

1.2.3 Vai trò của hoạt động cho vay Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng cho cả Doanh nghiệp vừa và nhỏ và cả Ngân hàng thương mại. Mỗi chủ thể khác nhau có mục đích và nhu cầu khác nhau trong các hoạt động của mình nên quá trình cho vay giúp họ đạt được những mục đích khác nhau. Cụ thể:

1.2.3.1 Đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ là có quy mô vốn nhỏ bé và để mở rộng được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần tiếp cận các nguồn vốn vay từ bên ngoài.

Hoạt động cho vay sẽ hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ tái sản xuất, mở rộng sản xuất theo cả chiều sâu và chiều rộng. Nếu chỉ dựa vào nội lực và nguồn lợi nhuận giữ lại để tái sản xuất thì sẽ không đạt hiệu quả cao nhất, không phát huy tốt tiềm lực sẵn có của DN, và mất nhiều thời gian trong việc tìm kiếm nguồn vốn huy động, làm tăng chi phí trong quá trình hoạt động dẫn đến lợi nhuận giảm, nếu kéo dài có thể dẫn đến phá sản.

Khi tiếp cận được nguồn vốn vay, Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ chớp được thời cơ để tiến hành sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, giải quyết vấn đề việc làm, tăng đóng góp vào thu nhập quốc dân, giúp thực hiện được những chính sách kinh tế vĩ mô như: giảm lạm phát, thất nghiệp,…

Giúp Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thực hiện chuyển dịch vốn đầu tư từ ngành này sang ngành khác. Việc ngân hàng, Tổ chức tín dụng cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau sẽ giúp nền kinh tế phân phối vốn vào các ngành phù hợp với yêu cầu sử dụng vốn của ngành, của nền kinh tế một cách hiệu quả, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.

Tăng sức mạnh cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhau và với các DN trong và ngoài nước khác. Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phải có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, quản lý tài chính tốt, không ngừng nâng cao chất lượng nguồn lao động, có thế mới tiếp cận và sử dụng được nguồn vốn một cách hiệu quả, tăng doanh thu, lợi nhuận giữ lại.

Việc tiếp cận được nguồn vốn vay cũng đặt ra cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn phải có trách nhiệm với từng đồng vốn vay khi chịu sự giám sát và kiểm tra của ngân hàng, Tổ chức tín dụng,… Qua đó thúc đẩy Doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh hiệu quả, lành mạnh hơn. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

1.2.3.2 Đối với ngân hàng

Hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được tốt và hiệu quả hơn.

Hoạt động cho vay có hiệu quả tức là khả năng quay vòng vốn tín dụng cao, qua đó ngân hàng có thể mở rộng các hình thức dịch vụ cung cấp cho khách hàng cũng như mở rộng quy mô vốn tín dụng cho một khách hàng. Như vậy, không những duy trì mối quan hệ với khách hàng truyền thống mà còn mở rộng, thu hút thêm khách hàng mới. Đó cũng là cách để ngân hàng mở rộng thị trường, nâng cao lợi nhuận.

Hoạt động cho vay có hiệu quả sẽ làm giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý và đặc biệt là giảm những chi phí, thiệt hại rất lớn do không thu hồi được khoản tín dụng. Như vậy, sẽ gia tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng.

1.3 Đánh giá chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

1.3.1 Quan niệm về chất lượng cho vay

Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại, do đó, chất lượng cho vay luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các ngân hàng. Hiện nay, các vị trí khác nhau thì có những quan điểm khác nhau về chất lượng cho vay.

Theo quan điểm của khách hàng, các khoản vay có chất lượng là các khoản có vốn vay phù hợp với mục đích vay vốn, có lãi suất và kì hạn hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thủ tục đơn giản, thuận tiện nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc tín dụng và quy chế cho vay.

Theo quan điểm sự phát triển kinh tế vĩ mô của nền kinh tế, chất lượng cho vay thể hiện ở hoạt động cho vay có phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa hay không, góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo được sự hài hòa giữa hoạt động cho vay với chính sách phát triển của Chính phủ…

Theo quan điểm của các Ngân hàng thương mại, chất lượng cho vay thể hiện trên hai mặt cơ bản: mức độ an toàn của khoản vay và hiệu quả kinh tế của khoản vay.

Mức độ an toàn của khoản vay: được thể hiện qua khả năng hoàn trả của khách hàng. Một khoản vay chứa đựng nhiều nguy cơ không trả được nợ thì được coi là khoản vay có chất lượng kém.

Hiệu quả kinh tế của khoản vay: đó là khả năng sinh lời mà khoản vay mang lại để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng. Thông qua hoạt động cho vay này, các DN nhận tiền vay sẽ được hỗ trợ về vốn để mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm…đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội.

Một cách khái quát, chất lượng cho vay chính là sự đáp ứng về số lượng và chất lượng đối với nhu cầu vay vốn của bên đi vay và đảm bảo các yếu tố an toàn và lợi nhuận đối với bên cho vay. Khoản vay được coi là có chất lượng tốt khi nó mang lại lợi ích kinh tế cho cả khách hàng và ngân hàng và cho cả xã hội.

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một khái niệm vừa cụ thể (thông qua các chỉ tiêu định lượng có thể tính toán được như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn,..) lại vừa trừu tượng (thể hiện ở khả năng thu hút khách hàng, đóng góp vào nền kinh tế,..). Từ đó, để đánh giá chất lượng cho vay của Ngân hàng thương mại đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, có 2 nhóm chỉ tiêu: chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng.

1.3.2.1 Nhóm các chỉ tiêu định tính

Khó có thể đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể cho các chỉ tiêu định tính. Do đó, tùy vào mỗi ngân hàng khác nhau sẽ tự xác định tiêu chí cho các chỉ tiêu định tính. Có thể kể đến vài chỉ tiêu như sau:

  • Tuân thủ theo cơ sở pháp lý, nguyên tắc và quy trình tín dụng

Hoạt động cho vay có chất lượng phải tuân thủ các quy định của pháp luật nhà nước: luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, các văn bản của Ngân hàng Nhà nước và các văn bản có liên quan.

Khi tiến hành hoạt động cho vay, phải luôn đảm bảo tuân thủ các quy trình cho vay, nguyên tắc cho vay vì nó giúp phòng ngừa rủi ro, đánh giá được chất lượng cho vay. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại dựa trên một số nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các quy định của ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng thương mại như: Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn và lãi đúng hạn, sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng chỉ được tài trợ trên các dự án có hiệu quả.

Nếu ngân hàng thực hiện đúng theo quy trình cho vay, thì ngân hàng có thể đánh giá đúng tình hình tài chính của khách hàng, từ đó, giúp đưa ra quyết định tài trợ phù hợp, đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro cho ngân hàng.

  • Chính sách quản trị điều hành đúng đắn, chiến lược phát triển phù hợp với yêu cầu cạnh tranh, phát triển kinh doanh của ngân hàng theo từng thời kì cụ thể. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Chỉ tiêu trên được thể hiện trong chính sách tín dụng của ngân hàng. Chính sách tín dụng cho ta biết về chủ trương của ngân hàng là hướng dẫn chung cho cán bộ, nhân viên ngân hàng tăng cường chuyên môn và tạo sự thống nhất. Chính sách tín dụng của một ngân hàng cũng cho biết được chiến lược phát triển tín dụng của ngân hàng đó.

  • Mức độ thỏa mãn nhu cầu tài trợ của khách hàng và chi phí cho

Chất lượng cho vay của ngân hàng với khách hàng được cho là tốt khi mà ngân hàng có khả năng đáp ứng được kịp thời và đầy đủ nhu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng. Để đảm bảo yêu cầu trên, ngân hàng cần có hệ thống đánh giá, dự báo, phân tích nhu cầu của khách hàng thật chính xác, từ đó nâng cao chất lượng cho vay. Đồng thời, việc đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý của khách hàng một cách nhanh chóng giúp làm tăng thêm uy tín của ngân hàng.

  • Đóng góp của hoạt động cho vay của ngân hàng vào sự phát triển kinh tế – xã hội.

Thông qua cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thì các ngân hàng đã đóng góp vào sự phát triển chung của kinh tế – xã hội, tăng việc làm, thúc đẩy sản xuất phát triển,… Tuy nhiên, đây là một chỉ tiêu khó có thể đánh giá chính xác. Bởi vì, sự phát triển của kinh tế – xã hội không chỉ thể hiện ở một phía là sự tăng trưởng GDP mà nó thể hiện ở tất cả các mặt trong nền kinh tế chung như giáo dục, an sinh xã hội, ổn định kinh tế, chính trị,…

1.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng

Vì các chỉ tiêu định tính rất khó xác định hiệu quả nên người ta thường sử dụng các chỉ tiêu định lượng làm các chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá chất lượng của hoạt động cho vay. Đây là các chỉ tiêu rất quan trọng với các Ngân hàng thương mại, thông qua các chỉ tiêu này, ngân hàng có thể xác định một cách tương đối chính xác về chất lượng cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng. Do đó, việc tính toán cần đảm bảo sự chính xác và đầy đủ.

  • Doanh số cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ:

Doanh số cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ thể hiện tổng lượng vốn mà ngân hàng đã cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ vay trong một thời kì cụ thể. Nó được tính bằng cách cộng dồn các khoản cho vay trong một thời kì. Con số này thể hiện xu hướng hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ là tăng hay giảm.

Ngoài sử dụng giá trị tuyệt đối để cho thấy xu hướng cho vay với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu về tỷ lệ tăng trưởng doanh số cho vay qua các năm. Tỷ lệ tăng trưởng DSCV=𝐷𝑆𝐶𝑉𝑛−𝐷𝑆𝐶𝑉𝑛−1 𝐷𝑆𝐶𝑉𝑛−1

(Trong đó: DSCV: doanh số cho vay, n: năm nay, n-1: năm trước)

  • Dư nợ cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Chỉ tiêu trên phản ánh số vốn của ngân hàng cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ vay tại một thời điểm cụ thể. Nó được tính trên số dư cuối kì trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng.

Cùng với chỉ tiêu doanh số cho vay, chỉ tiêu cũng dùng để đánh giá mức độ tăng trưởng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng. Đây là chỉ tiêu mà ngân hàng phải theo dõi thường xuyên để biết tình hình sử dụng vốn của khách hàng. Nếu dư nợ cuối kì thấp và có xu hướng giảm thì nó phản ánh chất lượng cho vay thấp. Vì hoạt động cho vay không thu hút khách hàng, không được mở rộng. Tuy nhiên, dư nợ với Doanh nghiệp vừa và nhỏ cuối kì cao cũng chưa thể đánh giá chất lượng cho vay với Doanh nghiệp vừa và nhỏ là tốt được. Chỉ tiêu này còn cần phải kết hợp với các chỉ tiêu khác để có thể đánh giá một cách toàn diện. Tỷ lệ tăng trưởng DNCV=𝐷𝑁𝐶𝑉𝑛−𝐷𝑁𝐶𝑉𝑛−1 𝐷𝑁𝐶𝑉𝑛−1

  • (Trong đó: DNCV: Dư nợ cho vay, n: năm nay, n-1: năm trước).

Nếu cả hai chỉ tiêu trên đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng cao và với tốc độ tăng trưởng của hai chỉ tiêu này đều cùng dương thì chứng tỏ ngân hàng đang có tăng trưởng trong cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ, sản phẩm cho vay của ngân hàng đã có uy tín và thu hút khách hàng. Qua đó, nhu cầu về vốn của Doanh nghiệp vừa và nhỏ được ngân hàng đáp ứng tốt. Mặc dù vậy, để xét xem chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thật sự tốt ta vẫn cần phải xét đến các chỉ tiêu về thu nợ khác.

  • Doanh số thu nợ với Doanh nghiệp vừa và nhỏ:

Chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn đã cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ vay và đã được hoàn trả trong một thời kì cụ thể. Nó được xác định bằng cách cộng dồn các khoản thu nợ trong một thời kì. Doanh số cho vay lớn kèm theo với doanh số thu nợ cao thì mới đảm bảo chất lượng cho vay. Nếu doanh số thu nợ thấp thể hiện dư nợ quá hạn lớn, khả năng thu hồi vốn và lãi thấp thì chất lượng tín dụng là kém. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

  • Tỷ lệ nợ quá hạn đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ gốc và lãi đã quá hạn. Một cách tiếp cận khác thì nợ quá hạn là những khoản tín dụng không được hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để gia hạn nợ. Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, theo quyết định số 18/2020QĐ-NHNN ngày 25/4/2020 về sửa đổi một số vấn đề phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng đã phân loại các khoản nợ quá hạn thành các nhóm như sau:

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý – Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày) bao gồm: Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu).

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn – Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày) bao gồm: Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2, các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ – Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày) bao gồm: Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn – Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày) bao gồm: Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn, các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.

Chỉ tiêu này phản ánh rõ nhất về chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng. Mức độ an toàn của hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng được phản ánh qua chỉ tiêu này. Do đó, đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cho vay với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của các Ngân hàng thương mại:

Tỷ lệ nợ quá hạn cao phản ánh nguy cơ mất vốn của ngân hàng, đồng thời là nguy cơ giảm thu nhập của ngân hàng, thậm chí có thể dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh khoản nếu tỷ lệ này quá cao. Vì vậy, khi ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn quá cao sẽ được đánh giá là chất lượng cho vay thấp. Tuy nhiên, khi ngân hàng có tỷ lệ này thấp thì cũng chưa thể kết luận là chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ là tốt. Ta vẫn phải kết hợp với các chỉ tiêu khác để đánh giá chất lượng cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng. Vì khi tỷ lệ này thấp, có thể ngân hàng đang theo đuổi chính sách cho vay an toàn, ít rủi ro với khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ nên không mở rộng cho vay nhiều với loại hình này nên tỷ lệ tăng trưởng dư nợ và doanh số sẽ thấp. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Nhìn chung, các nguyên nhân trên đều đánh giá được khi tỷ lệ nợ quá hạn các Doanh nghiệp vừa và nhỏ cao thì chất lượng tín dụng của ngân hàng đương nhiên là thấp.

  • Tỷ lệ nợ xấu của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ:

Nợ xấu (hay là nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi và nợ không thể đòi) là khoản nợ mang đặc trưng sau:

  • Khách hàng không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng khi các cam kết về cho vay hết hạn.
  • Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn tới có khả năng ngân hàng không thể thu hồi được cả vốn và lãi.
  • Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi.

Theo quyết định số 18/2020/QĐ-NHNN ngày 25/4/2020, nợ xấu của Tổ chức tín dụng bao gồm các nhóm nợ: Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm nợ nghi ngờ, nhóm nợ có khả năng mất vốn. Theo quy định hiện hành thì nhóm nợ này không được vượt quá 5% tổng nợ quá hạn.

  • Tỷ lệ nợ xấu so với nợ quá hạn:

Tỷ lệ này cho thấy trong tổng số nợ quá hạn của ngân hàng thì có bao nhiêu là nợ xấu không có khả năng thu hồi nợ và lãi, đồng thời cũng cho biết chất lượng cho vay của ngân hàng là tốt hay xấu. Tỷ lệ này được tính theo công thức:

Đây là một chỉ tiêu mà các Ngân hàng thương mại thường tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn cho vay và chất lượng cho vay trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Nếu vòng quay vốn càng lớn thì ngân hàng sẽ có số vốn lớn và từ đó mà thu lãi được từ vốn vay cũng cao hơn. Điều này đồng nghĩa với việc sử dụng vốn hiệu quả hơn. Khả năng quay vòng vốn của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ càng nhanh, ngân hàng càng có thể đáp ứng được nhiều và kịp thời nhu cầu cho vay với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu về vốn. Do vậy, chỉ tiêu này càng cao kết hợp với các chỉ tiêu khác dẫn đến chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ càng cao. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

  • Hiệu suất sử dụng vốn:

Hiệu suất sử dụng vốn được tính theo công thức sau:

Hiệu suất sử dụng vốn = Dư nợ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ / Tổng nguồn vốn huy động Hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ cho biết cứ một đồng vốn

huy động được, ngân hàng sẽ sử dụng bao nhiêu để cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiệu suất sử dụng vốn càng cao, thể hiện ngân hàng càng quan tâm và ưu tiên cho vay đối với đối tượng là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mặt khác, nếu tỷ lệ này quá cao thì rủi ro cho ngân hàng cũng theo đó mà tăng lên. Vì vậy, việc mở rộng dư nợ cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần có các biện pháp kiểm tra, giám sát, thẩm định, quản lý chặt chẽ, phối hợp đồng bộ giữa các phòng ban liên quan để hạn chế rủi ro cho ngân hàng, duy trì và nâng cao hiệu quả cho vay của ngân hàng.

  • Tỷ lệ lợi nhuận từ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ: được tính theo công thức sau:

Cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ Tổng dư nợ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời từ hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ, theo đó chỉ tiêu này càng cao thì Lợi nhuận từ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp vào Lợi nhuận của ngân hàng càng lớn và thể hiện hiệu quả cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ càng tốt. Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động mang lại thu nhập lớn cho ngân hàng. Do đó thông qua chỉ tiêu Lợi nhuận từ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiệu quả của hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ được đánh giá. Đây chính là một phần quan trọng của chất lượng hoạt động cho vay chung của ngân hàng.

Tóm lại, khi đánh giá chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng, cần xét một cách tổng thể các chỉ tiêu định tính và định lượng. Các chỉ tiêu định lượng cũng cần được xem xét trong mối quan hệ mật thiết với nhau chứ không thể xét từng chỉ tiêu. Nếu ngân hàng có chất lượng cho vay tốt, các chỉ tiêu cũng sẽ đều thể hiện chất lượng vay tốt như: xu hướng tăng về dư nợ, doanh số cho vay và khả năng thu nợ tốt, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu thấp và không có, cũng như quay vòng vốn nhanh… Để có các chỉ tiêu trên, các quy trình cho vay cũng phải thực hiện chính xác. Và từ kết quả chất lượng cho vay như trên, uy tín ngân hàng cũng được nâng cao, thu hút thêm khách hàng.

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Khi nói đến chất lượng tín dụng, ngoài quan tâm đến các chỉ tiêu phản ánh chất lượng, các ngân hàng cũng rất quan tâm đến những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay. Nó sẽ cho thấy những nhân tố tác động tích cực hay tiêu cực đến chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ đó, các Ngân hàng thương mại sẽ có những biện pháp nhằm điều chỉnh, hạn chế các tác động tiêu cực, nâng cao những tác động tích cực và qua đó, nâng cao chất lượng cho vay của Ngân hàng thương mại.

Có thể chia các nhân tố tác động tới chất lượng cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thành các nhân tố khách quan và chủ quan.

1.4.1 Các nhân tố khách quan

Hoạt động của các Ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng rất lớn từ các nhân tố thuộc về môi trường khách quan như môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, chính trị – xã hội…. Hoạt động cho vay cũng chịu tác động từ các nhân tố này. Cụ thể:

  • Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế là nhân tố vĩ mô có những tác động đáng kể đến chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện cho DN phát triển tốt, tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng hoạt động, thuận lợi hơn cho hoạt động cho vay và các khoản vay sẽ có chất lượng cao hơn.

Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, mất đi sự hài hòa và ổn định sẽ gây khó khăn cho cả ngân hàng lẫn DN. Tại Việt Nam, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là các DN chịu nhiều khó khăn nhất khi nền kinh tế khủng hoảng, hoạt động kinh doanh bị thu hẹp, hoạt động cho vay vì thế sẽ gặp khó khăn. Nhu cầu vốn cho vay trong thời kì này giảm và nếu vốn tín dụng đã được thực hiện thì cũng khó có thể sử dụng cho hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng.

  • Môi trường pháp lý Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động cho vay nói chung và cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng. Chủ trương chính sách của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước về hoạt động tín dụng, hỗ trợ với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ có những tác động trực tiếp tới hiệu quả cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Có thể kể đến những quy định về đảm bảo tiền vay, tỷ lệ an toàn vốn, trích lập dự phòng… đều là các quy định nhằm hạn chế rủi ro các khoản cho vay của ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay.

Bên cạnh đó, pháp luật còn tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả cao, đồng thời cũng tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng. Nếu môi trường pháp lý được đảm bảo thì DN và ngân hàng sẽ có môi trường thuận lợi cạnh tranh và phát triển, nếu có những kẽ hở sẽ dẫn đến tình trạng DN lách luật, gây ảnh hưởng tới chất lượng cho vay.

  • Môi trường chính trị – xã hội

Môi trường chính trị – xã hội tạo nên sự ổn định cho hoạt động sản xuất – kinh doanh. Nền kinh tế cần có sự ổn định về chính trị – xã hội là nền tảng thu hút các nhà đầu tư, tạo môi trường phát triển hơn cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự bất ổn về chính trị tác động đến những khoản cho vay thông qua tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, từ đó làm cho chất lượng cho vay giảm. Ngoài ra, nền kinh tế dù có phát triển đến đâu nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro, khó lường trước được, vì vậy có thể gây ra ảnh hưởng trực tiếp tới Doanh nghiệp vừa và nhỏ và gây ảnh hưởng gián tiếp tới chất lượng cho vay và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

1.4.2 Các nhân tố chủ quan Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

1.4.2.1 Từ phía khách hàng là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nhân tố tác động từ phía khách hàng là đặc điểm chung của các khoản cho vay khi đã được cấp cho khách hàng. Tuy nhiên, ở khách hàng là Doanh nghiệp vừa và nhỏ thì các nhân tố tác động tới chất lượng cho vay này phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của bản thân Doanh nghiệp vừa và nhỏ.

  • Quy mô vốn và năng lực tài chính của Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có quy mô vốn nhỏ và năng lực tài chính không lớn nên không có nhiều khả năng tăng quy mô vốn chủ sở hữu. Cũng do sự hạn hẹp về vốn nên Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường không có sự đầu tư hợp lý, có xu hướng đầu tư vào tài sản cố định nên thiếu vốn lưu động để tiến hành sản xuất kinh doanh. Việc đánh giá khả năng tài chính đối với các DN khi cho vay là quy trình tất yếu, tuy nhiên, nó sẽ khiến các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng lực tài chính yếu kém khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn cho vay. Hay nếu ngân hàng cấp vốn thì cũng sẽ gặp nhiều rủi ro.

Tuy nhiên, việc các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô sản xuất nhỏ thường giúp các DN dễ thích nghi với những biến động thị trường hơn các DN lớn. Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thuận lợi hơn trong việc chuyển đổi sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường.

Nhìn chung, vốn chủ sở hữu và năng lực tài chính của Doanh nghiệp vừa và nhỏ đủ lớn sẽ tạo ra điều kiện chắc chắn hơn giúp các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tránh được nguy cơ phá sản do mất khả năng thanh toán các khoản nợ của ngân hàng, hạn chế mức thấp nhất tổn thất với ngân hàng khi DN không có khả năng trả nợ, góp phần nâng cao chất lượng cho vay với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.

  • Trình độ quản lý của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hoạt động quản lý và điều hành là một trong những hoạt động quyết định dẫn đến thành công của DN (dự án). Khi xem xét cho vay, ngân hàng cũng cần xem xét kỹ lưỡng về trình độ quản lý của DN. Thực tế cho thấy, ở các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, trình độ quản lý của các chủ DN còn rất thấp. Phần lớn cấp quản lý không được đào tạo bài bản và hệ thống nên luôn tiềm ẩn rủi ro khi các DN này vay vốn, làm giảm chất lượng cho vay của ngân hàng.

  • Phương án sản xuất kinh doanh Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Đây luôn là một trong các nhân tố đầu tiên được ngân hàng xem xét khi quyết định cho vay đối với các DN nói chung. Phương án sản xuất kinh doanh có khả thi cao thì mới có khả năng tạo ra lợi nhuận lớn, ít rủi ro và khả năng trả nợ của DN được đảm bảo. Khách hàng cần luôn đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích. Như vậy, nếu phương án vay vốn của khách hàng là khả thi và khách hàng sử dụng đúng mục đích thì chất lượng tín dụng sẽ được đảm bảo.

  • Uy tín của các khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nếu DN đã có quan hệ lâu dài và uy tín với ngân hàng thì thường được ngân hàng đánh giá là có đảm bảo hơn về việc thu hồi lãi và gốc, đảm bảo chất lượng khoản vay so với các DN khác.

Đạo đức, uy tín của khách hàng luôn có ảnh hưởng đến độ xác thực của trong thông tin cung cấp cho cán bộ thẩm định, tác động tới quyết định cho vay của ngân hàng và từ đó ảnh hưởng đến chất lượng cho vay. DN có thể lừa đảo ngân hàng thông qua gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu, mục đích sử dụng vốn vay… Tính trung thực, đạo đức của khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ quyết định nhiều đến chất lượng cho vay của ngân hàng.

Ngoài các yếu tố trên, còn nhiều nhân tố xuất phát từ các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ảnh hưởng đến chất lượng cho vay như: vị trí của DN trên thị trường, tính nghiêm túc của các DN trong việc thực hiện các chế độ kế toán hiện hành, tài sản đảm bảo cho vay có tính hợp lý,… Nhìn chung, khi đã cấp vốn vay cho DN thì việc đảm bảo an toàn của khoản vốn đó không chỉ phụ thuộc vào sự giám sát của ngân hàng mà còn phụ thuộc rất lớn vào đối tượng đi vay.

1.4.2.2. Từ phía ngân hàng

  • Chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng của ngân hàng là hệ thống quan điểm, chủ trương, định hướng, quy định đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nó phản ánh quy định trong tài trợ của ngân hàng, là hướng dẫn chung cho các cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàng, tạo sự thống nhất trong hoạt động tín dụng. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Chính sách tín dụng của ngân hàng có vai trò cân bằng giữa mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và hạn chế rủi ro, đảm bảo tăng trưởng tín dụng và đầu tư an toàn theo đúng chiến lược phát triển của ngân hàng. Do đó, việc hoạch định chính sách tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của ngân hàng. Đưa ra được chính sách tín dụng hợp lý sẽ thu hút khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động cho vay trên cơ sở phân tán rủi ro, quản lý được các hiện tượng nợ xấu, hạn chế rủi ro tín dụng góp phần nâng cao chất lượng công tác cho vay với Doanh nghiệp vừa và nhỏ.

  • Thông tin tín dụng

Thông tin tín dụng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động tín dụng. Các quá trình trong quy trình cho vay đều cần có thông tin đầy đủ, chính xác để ngân hàng có thể ra quyết định, kiểm soát hoạt động sử dụng vốn của DN. Đây chính là nguyên liệu cho quá trình cho vay bao gồm: các thông tin về hoạt động cho vay, môi trường kinh doanh, đối thủ cạnh tranh, môi trường kinh tế….

Đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguồn thông tin của các DN thường khó tiếp cận hơn đối với các DN lớn, và có tiếp cận được thì không thể đảm bảo những thông tin đó là chính xác. Vì thế, ngân hàng cần chủ động xây dựng hệ thống thông tin của riêng mình, để có những đánh giá chính xác nhất về DN. Ngân hàng có đảm bảo được thông tin để đánh giá về DN là chính xác và kịp thời thì mới có thể đảm bảo chất lượng cho vay đối với DN đó.

  • Trình độ của cán độ tín dụng

Chính sách tín dụng và quy trình tín dụng chỉ ra phương châm hoạt động và các bước hoạt động cho vay của mỗi ngân hàng. Tuy nhiên, việc thực hiện chúng lại phụ thuộc vào các cán bộ tín dụng. Do đó, trình độ của cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của hoạt động cho vay.

Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có số lượng lớn, rất đa dạng về quy mô và hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó, cán bộ tín dụng phải có đủ năng lực để phân tích đánh giá chính xác khách hàng vay vốn ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Muốn như vậy, cán bộ tín dụng phải được tuyển chọn cẩn thận, có năng lực và được đào tạo toàn diện cả về kiến thức lẫn đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Nhân viên tín dụng hoạt động có hiệu quả, đánh giá chính xác về DN, đưa ra quyết định tài trợ chính xác và giám sát chặt chẽ trong quá trình giải ngân sẽ giúp ngân hàng nâng cao chất lượng cho vay, và mang lại uy tín cho ngân hàng. Trong khi đó, nếu nhân viên tín dụng chưa đủ trình độ đánh giá khách hàng, bỏ qua những khách hàng tiềm năng hay quyết định tài trợ cho các dự án không đủ chất lượng sẽ làm suy giảm chất lượng tín dụng, gây thiệt hại về doanh thu cho ngân hàng và làm giảm uy tín của ngân hàng.

Như vậy, nhân viên tín dụng là nhân tố quan trọng và tác động trực tiếp đến chất lượng cho vay. Do đó, đội ngũ này cần được chú trọng, đầu tư và rèn luyện để nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng.

  • Chất lượng công tác thẩm định, kiểm tra và kiểm soát

Thẩm định là khâu phân tích trước khi cấp tín dụng của quy trình tín dụng. Đây là bước quan trọng nhất, quyết định chất lượng của phân tích tín dụng mà nội dung chủ yếu là thu thập và xử lý các thông tin liên quan đến khách hàng và đánh giá thông tin về khả năng hoàn trả của khách hàng, tính khả thi của dự án, thẩm định tài sản đảm bảo…. Việc thẩm định cần tiến hành đúng trình tự theo quy trình tín dụng, nếu không thì sẽ có thể gây đến các rủi ro cho ngân hàng. Nhìn chung, đây là khâu quan trọng trong việc quyết định chất lượng cho vay của khoản vay. Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank.

Kiểm tra và kiểm soát là khâu sau khi cấp tài trợ, giúp ngân hàng có những thông tin về tình hình kinh doanh, sử dụng vốn của khách hàng. Việc thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ giúp ngân hàng nhanh chóng phát hiện sai phạm của DN và đưa ra để có thể sửa chữa, từ đó tạo điều kiện nâng cao chất lượng cho vay.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank

One thought on “Khóa luận: Chất lượng cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp cho vay đối với DN vừa nhỏ tại VietinBank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537