Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
2.1. Tổng quan về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam
Từ Đại hội Đảng VI năm 1986, Nhà nước ta thực hiện chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại theo hướng mở cửa nền kinh tế, phù hợp với xu hướng quốc tế hóa, đẩy mạnh hội nhập khu vực và quốc tế. Trong chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại, Đảng chủ trương hướng về xuất khẩu, mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích đầu tư trong nước dưới mọi hình thức, ban hành các chính sách ưu tiên xuất nhập khẩu như: ban hành danh mục hàng hóa ưu tiên xuất nhập khẩu, thực hiện giảm thuế theo lộ trình của các hiệp ước tự do thương mại cam kết trong khu vực.
Việt Nam đã và đang không ngừng mở rộng quan hệ ngoại giao với các quốc gia trên thế giới trên cơ sở hợp tác, bình đẳng, hai bên cùng có lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau.
Hoạt động xuất nhập khẩu vì thế đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng trong các năm, cơ cấu mặt hàng và cơ cấu thị trường có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực.
Nước ta đã thực hiện chủ trương đa dạng hóa thị trường và đa phương hóa quan hệ kinh tế tương đối thành công, đổi mới cơ chế quản lý xuất nhập khẩu một cách căn bản, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong quá trình kinh doanh của mình.
- Bảng 2.1: Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025
Bảng kim ngạch xuất nhập khẩu cho thấy quy mô xuất nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ này tăng trưởng khá, thể hiện sự tiến bộ vượt bậc của Chính phủ cũng như các bộ, ngành liên quan trong việc đề ra các chính sách và thực hiện các biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời cũng thấy rõ được sự nỗ lực của cá nhân các doanh nghiệp trong việc góp phần nâng cao kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Tính đến năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 111.243,6 triệu USD (gấp 3,7 lần năm 2018), trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 48.561,4 triệu USD (gấp 3,4 lần năm 2018) và kim ngạch nhập khẩu đạt 62,682.2 triệu USD (gấp 4 lần năm 2018).
- Về xuất khẩu:
Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vẫn là những mặt hàng như dầu thô, dệt may, giày da, nông sản. thủy sản. Có thể lấy ví dụ như trong năm 2025, một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu được thể hiện trong bảng sau:
- Bảng 2.2 : Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu thời kỳ 2018 – 2025
- Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường chính thời kỳ 2018 – 2025
Thị trường xuất khẩu chính của ta có thể kể đến các nước ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Úc (chiếm trên 60% thị phần hàng năm) Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
- Về nhập khẩu:
Những mặt hàng Việt Nam thường nhập khẩu chính là những mặt hàng có giá trị tương đối cao do những mặt hàng này trong nước chưa sản xuất được. Những mặt hàng cần phải kể đến là xăng dầu, sắt thép các loại, cũng như máy vi tính, linh kiện và sản phẩm điện tử, đặc biệt là máy móc, phụ tùng và thiết bị, dụng cụ là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu cao nhất.
- Bảng 2.4: Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu thời kỳ 2018-2025
Những thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam chính là: EU, ASEAN, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc. Kim ngạch nhập khẩu từ những nước này được thể hiện trong bảng 2.5.
Tuy nhiên phải thừa nhận rằng trong thực tế, bên cạnh những thành tựu đã đạt được như trên, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế còn bộc lộ những điểm hạn chế như: sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu ở dạng thô hoặc sơ chế, bên cạnh đó những sản phẩm này lại chưa có uy tín trên thị trường thế giới nên có giá rẻ hơn những sản phẩm cùng loại của các quốc gia khác; nhập khẩu thì chưa thay đổi một cách cơ bản tình trạng lạc hậu ở một số ngành, sự hiểu biết về thị trường nước ngoài còn hạn chế, sự phối hợp giữa các định chế quản lý chưa được tốt, chưa tạo được sức mạnh tổng hợp, thiếu cán bộ quản lý có trình độ và nhiều kinh nghiệm.
- Bảng 2.5: Kim ngạch nhập khẩu tại một số thị trường chính thời kỳ 2018-2025
2.2. Tình hình rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
2.2.1. Nguy cơ rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam
Ngoài những nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh doanh thì môi trường kinh doanh quốc tế còn chứa đựng nhiều hiểm họa, nguy cơ không lường trước được có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Mối hiểm họa, nguy cơ rủi ro từ môi trường kinh doanh quốc tế chịu sự tác động của một số nhân tố sau đây:
- Gia tăng nguy cơ rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế từ môi trường tự nhiên
Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên toàn cầu, nơi chứa đựng rất nhiều hiểm họa, làm gia tăng nguy cơ rủi ro. Những bất trắc của tự nhiên có thể làm thất thu, mất mùa trong nông nghiệp, trong khai thác thủy hải sản, làm cản trở đến hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến sự hạn chế về nguồn hàng xuất khẩu, làm gia tăng chi phí kinh doanh. Bên cạnh đó, những thảm họa từ thiên nhiên như mưa bão, lốc xoáy, động đất, núi lửa… khiến cho quá trình vận chuyển hàng hóa giữa các quốc gia, đặc biệt là vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, gặp nhiều khó khăn và thiệt hại như: chậm trễ trong giao nhận hàng hóa, hàng hóa bị giảm hay mất giá trị sử dụng, người nhập khẩu bị lỡ cơ hội kinh doanh. Như vậy, môi trường tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của hoạt động mua bán hàng hóa trên thế giới trong đó không loại trừ Việt Nam.
Hiện nay, những thảm họa trên thế giới có xu hướng đang ngày càng gia tăng về cả số lượng vụ việc lẫn mức độ thiệt hại. Chính vì vậy đã làm cho rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế ngày càng gia tăng.
- Gia tăng nguy cơ rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế từ môi trường chính trị quốc tế
Có thể nói những rủi ro do bạo động, chiến tranh gây ra là những rủi ro nghiêm trọng nhất bởi hậu quả của nó không chỉ đơn thuần là những tài sản mà còn liên quan trực tiếp đến sinh mạng của nhiều người. Ngày nay nguyên nhân của những cuộc bạo động và chiến tranh trên thế giới chủ yếu xuất phát từ mâu thuẫn giữa các sắc tộc và quyền lợi của một nhóm người.
Đầu những năm 1990, sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, làm thu hẹp thị trường, mất bạn hàng truyền thống không mấy khó tính. Chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ kéo dài trong nhiều năm cũng đã ảnh hưởng nặng nề và gây tổn thất lớn cho hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Thực tế, kinh tế luôn là chiêu bài của nhiều quốc gia phát triển gây sức ép phục vụ cho mưu đồ chính trị. Sự biến động chính trị, xung đột quân sự, cấm vận kinh tế không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của cả một quốc gia. Vì vậy, chính trị có tác động mạnh mẽ đến kinh tế, mọi sự biến động về chính trị đều là nguy cơ rủi ro cho những quan hệ kinh tế thế giới hiện nay.
- Gia tăng nguy cơ rủi ro từ các cuộc khủng hoảng kinh tế
Nền kinh tế thế giới đã từng trải qua nhiều cuộc khủng hoảng mang tính chu kỳ. Cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên xảy ra vào năm 1825, sau đó xuất hiện vào các năm 1836, 1847… mà đỉnh cao vào các năm 1929 – 1933. Đặc trưng của các cuộc khủng hoảng kinh tế là biến đổi theo các chu kỳ mặc dù có thời gian dài ngắn khác nhau. Khủng hoảng kinh tế chỉ là một trong các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, nó được coi là một sự kiện tất yếu, có tính quy luật, một căn bệnh kinh niên của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Một khi khủng hoảng kinh tế xảy ra tức là nền kinh tế thế giới, khu vực hoặc quốc gia lâm vào tình trạng bất ổn: thất nghiệp gia tăng, lạm phát, giá cả tăng đột biến, tiền tệ mất giá nghiêm trọng, kinh tế suy thoái.
Sau nhiều năm phát triển với tốc độ cao nhất thế giới, khu vực Đông Nam Á được nhiều người biết đến với con mắt khâm phục. “Bất ngờ vào ngày 2/7/2015, chính phủ Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Baht, mở đầu cho cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á. Tiếp đó, ngày 11/7/2015, Philippin tuyên bố thả nổi đồng Pesô. Ngày 11/8/2015, Malaysia tuyên bố không can thiệp vào thị trường ngoại hối. Ngày 14/8/2015, Indonesia tuyên bố thả nổi đồng Rupiah. Ngày 23/12/2015, đồng Won (Hàn Quốc) xuống mức thấp nhất: 1926 won/1USD. Ngày 16/6/2016, đồng Yên (Nhật) giảm xuống mức kỷ lục trong nhiều năm: 150 yên/1USD”[10]. Đó chính là các mốc quan trọng đánh dấu cuộc khủng hoảng tiền tệ ở các nước trong khu vực kéo dài trong nhiều năm. Hậu quả của cuộc khủng hoảnh tài chính tiền tệ này là hết sức nặng nề. Thái Lan và Indonesia là hai nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng này. Tăng trưởng kinh tế của Thái Lan năm 2016 giảm 16,1% so với năm 2014 (trước năm khủng hoảng), của Indonesia năm 2016 giảm 21,2% so với năm 2014. Tốc độ phục hồi kinh tế của hai nước này cũng khá chậm chạp do dư âm của cuộc khủng hoảng kéo dài. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Việt Nam là một trong bốn nước Asean (Campuchia, Lào, Myanma, Việt Nam) ít nhạy cảm hơn với cuộc khủng hoảng tài chính –tiền tệ ở khu vực. Tuy là một thành viên của Asean nhưng Việt Nam chưa thực sự đạt tới mức nhất thể chung về kinh tế, thể hiện ở một số điểm sau: “Thứ nhất, thị trường tài chính – tiền tệ của Việt Nam chưa phát triển, kém hòa nhập với thị trường tài chính khu vực và quốc tế; thứ hai, cơ cấu luồng vốn chảy vào Việt Nam có độ an toàn cao hơn do chủ yếu là FDI và ODA”[3]. Mặt khác, nền kinh tế thị trường chưa thực sự phát triển ở Việt Nam, đồng nội tệ còn yếu, tỷ lệ tiết kiệm trong dân cư còn thấp, giới đầu cơ chưa có điều kiện thuận lợi để hoạt động, vai trò kiểm soát của chính phủ mạnh. Đó là những lý do cơ bản mà nền kinh tế Việt Nam phần nào né tránh được khủng hoảng tài chính – tiền tệ mặc dù Việt Nam nằm trong khu vực khủng hoảng.
Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, đồng tiền Việt Nam dần dần được nâng cao tính tự do chuyển đổi, nền kinh tế thị trường đang trong quá trình phát triển nên một khi có khủng hoảng kinh tế trên thế giới thì Việt Nam sẽ phải chịu những ảnh hưởng mạnh mẽ hơn so với giai đoạn trước đây.
- Nguy cơ rủi ro từ chính sách quản lý kinh tế và cơ chế điều hành hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam
Phát triển kinh tế thị trường của Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý và điều hành của nhà nước thông qua hệ thống chính sách, công cụ pháp luật. Để xây dựng được một hệ thống chính sách vĩ mô, thiết lập một cơ chế điều hành kinh tế hoàn hảo cần phải có thời gian dài không ngừng nghiên cứu, hoàn thiện, thử nghiệm, áp dụng, hiệu chỉnh… Tuy vậy, hoạt động kinh doanh thường ngày không thể chờ đợi một hệ thống chính sách và cơ chế điều hành hoàn hảo được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp quy, hướng dẫn thi hành mới thực hiện. Nền kinh tế buộc phải chấp nhận một thực tế là chính sách kinh tế có thể chưa đáp ứng, chưa phù hợp với thực tiễn kinh doanh, cho nên các chính sách vừa được ban hành vừa sửa chữa gây nhiều trở ngại lớn đến hoạt động phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, các doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu luôn phải đối mặt với nguy cơ: sự bất định trong chính sách, sự phức tạp của cơ chế điều hành, chính sách không phù hợp, không theo kịp sự biến động và yêu cầu của sản xuất kinh doanh hiện nay.
- Nguy cơ rủi ro từ hoạt động tài chính
Không trực tiếp gây ra rủi ro, nhưng tài chính quốc tế và tài chính vĩ mô có ảnh hưởng lâu dài đến hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Thái Lan và khu vực cũng là một minh chứng khắc nghiệt cho rủi ro tài chính gây ra cho nền kinh tế thế giới và khu vực trong đó có Việt Nam.
Tài chính Việt Nam trong những năm gần đây, khi mà nền kinh tế quốc dân đang hội nhập với thế giới và khu vực, không tránh khỏi sự tác động của tài chính quốc tế. Sự tác động này sẽ thực sự mạnh mẽ khi tính chuyển đổi của VND đang ngày càng được nâng cao. Theo quyết định số 98/2025QĐ-TT, đến năm 2028, nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam với các mục tiêu cụ thể: tự do hóa hoàn toàn các giao dịch vãng lai, bước đầu xây dựng cơ chế để VND tham gia thanh toán xuất nhập khẩu. Điều này làm gia tăng nguy cơ rủi ro từ hoạt động tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam.
- Nguy cơ rủi ro do hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn của các nhà quản trị kinh doanh
Năng lực, trình độ chuyên môn của các nhà quản trị có ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp. Nếu nhà quản trị có năng lực, trình độ đáp ứng được yêu cầu, chức trách, nhiệm vụ được giao thì doanh nghiệp có cơ hội tốt để đạt được thành công. Ngược lại, nếu nhà quản trị thiếu năng lực, trình độ chuyên môn thì đó là nguồn rủi ro lớn nhất đối với doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thì phẩm chất của người lãnh đạo càng được đề cao bởi tính chất phức tạp, chứa nhiều rủi ro của thị trường quốc tế.
Năng lực, trình độ chuyên môn của các nhà quản trị cấp cao và quản trị doanh nghiệp được hình thành từ ba yếu tố: thứ nhất là những kiến thức được đào tạo, học tập, rèn luyện trong nhà trường; thứ hai là những kiến thức, kinh nghiệm có được trong quá trình bám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh; thứ ba là những kỹ năng do năng khiếu bẩm sinh. Nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay còn rất thiếu cả ba nhân tố này.
2.2.2. Một số rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam
Trong quá trình tham gia hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, các doanh nghiệp gặp phải rất nhiều rủi ro. Rủi ro có thể xảy ra đối với mọi doanh nghiệp, không phân biệt đó là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân… vào mọi lúc, mọi nơi. Trong phạm vi của khóa luận chỉ nghiên cứu những rủi ro mà các doanh nghiệp Việt Nam thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế trong những năm gần đây. Những rủi ro này có thể được chia thành các nhóm như sau:
Rủi ro phát sinh do sự thay đổi môi trường kinh doanh:
- Rủi ro chính trị, pháp luật Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Một khi tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thì các quốc gia đều chịu những tác động của môi trường chính trị, pháp luật thế giới. Đối với Việt Nam những tác động của môi trường chính trị, pháp luật thế giới đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được thấy rõ trong những năm 1990. Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đầu những năm 1990 gây nên sự thiếu hụt về vốn đầu tư, về thị trường tiêu thụ lại cộng thêm sự bao vây, cấm vận của Mỹ và những sai lầm trong cuộc cải cách thời kỳ trước khiến nền kinh tế nước ta trong những năm này rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở khu vực Đông Nam Á (2015-2016) đã làm cho một số ngành hàng xuất khẩu của nước ta, đặc biệt là nông sản, bị tổn thất lớn do hàng loạt đồng tiền của các nước trong khu vực bị mất giá. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản năm 2015 chỉ đạt 3,32% so với năm 2014, thấp hơn rất nhiều so với mức 33,2% của năm 2014 so với năm 2013. Năm 2016, mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng nông sản còn thấp hơn, chỉ đạt 1,9% so với năm 2015 [10]. Nguyên nhân là hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn tại thị trường Châu Á, nhất là thị trường Đông Nam Á nên khi đồng nội tệ của các quốc gia này giảm giá so với VND đã hạn chế nhập khẩu, kích thích xuất khẩu tại các thị trường này. Do đó, nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường các nước ASEAN bị giảm do giá hàng nhập khẩu vào các nước đó trở nên đắt hơn. Bên cạnh đó, khi xuất khẩu sang thị trường các nước ngoài khu vực, các mặt hàng nông sản của Việt Nam phải chịu thua thiệt so với các nước ASEAN, vốn tương đồng về cơ cấu nay lại rẻ hơn so với hàng Việt Nam. Mặt khác, tình hình chính trị tại Trung Đông diễn ra hết sức phức tạp; các cuộc chiến tranh tôn giáo, sắc tộc và khủng bố vẫn thường xuyên xảy ra… Tất cả đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế thế giới trong đó có Việt Nam.
Ví dụ 1: Cuộc chiến tranh Irap đã gây ra nhiều thiệt hại cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Công ty Xuất nhập khẩu (thuộc Tổng công ty thuốc lá Việt Nam) khi thực hiện xuất hàng sang nước này đã mất trên 30 tỷ đồng và hoàn toàn không có lợi nhuận. Đồng thời, cuộc chiến tranh cũng làm cho giá xăng dầu thế giới diễn biến rất phức tạp, thị trường trong nước trở nên căng thẳng. Ở một số địa phương đã xảy ra những cơn sốt ngắn ngày, gây tác động tiêu cực đến thị trường nội địa, buộc Nhà nước phải điều chỉnh bằng các biện pháp: giảm thuế nhập khẩu, tăng dự trữ lưu thông của các doanh nghiệp, điều chỉnh giá bán,… Bối cảnh này ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh xăng dầu. Trước hiện tượng nhiều doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu khác kinh doanh cầm chừng, Tổng Công ty xăng dầu đã vừa phải đảm bảo nguồn để ổn định thị trường, vừa phải tăng lượng nhập tối đa để tăng dự trữ theo yêu cầu của Bộ Thương mại nên phải chịu lỗ ở mức cao. Đồng thời, do nhận định giá phân bón có thể tăng 30-50% do tác động của chiến tranh nên không ít doanh nghiệp đã đua nhau nhập khẩu, đến khi cuộc chiến tranh bùng nổ, giá phân bón giảm đột ngột làm cho các doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản do thua lỗ quá nặng. Ngoài ra, chiến tranh Irap còn làm cho hoạt động vận tải trên tuyến Trung Đông bị ảnh hưởng, đặc biệt đã khiến chi phí nguyên liệu trong 7 tháng đầu năm 2021 tăng xấp xỉ 20-25% so với thời điểm cuối năm 2020 [13]. Một số loại phí khác cũng tăng như phí bảo hiểm chiến tranh, phí bảo hiểm P&I.
- Rủi ro do giá cả thị trường thay đổi Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Trên thực tế, những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nông sản, mặt hàng nhiên liệu thô trong khi sản phẩm chế biến lại rất ít, chỉ khoảng 20 – 25% trong khi tỷ lệ này tại các nước trong khối ASEAN bình quân đạt trên 50%. Khi xuất khẩu ở dạng thô thì phần giá trị gia tăng thấp nên hiệu quả xuất khẩu không cao. Thị trường nông sản thế giới lại thường xuyên không ổn định, giá cả dao động với biên độ lớn nên các doanh nghiệp rất dễ gặp phải rủi ro. Lúc giá xuống thấp nhất là lúc lượng cầu xuống thấp, cạnh tranh diễn ra hết sức quyết liệt và gây bất lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm sơ chế. Xuất khẩu của ta chịu ảnh hưởng lớn của xu hướng giá cánh kéo đang diễn ra rất mạnh trên thế giới. Có thể nghiên cứu một số mặt hàng cụ thể mà ta đang có lợi thế xuất khẩu để thấy rõ những bất lợi này:
- Mặt hàng gạo
Gạo là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong nhiều năm. Gạo xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo trong những năm qua nhưng gạo xuất khẩu chủ yếu là gạo có phẩm cấp trung bình và thấp, gạo có phẩm cấp và chất lượng cao chưa có tỷ trọng lớn trong tổng lượng xuất khẩu.
Nhìn vào bảng 7, có thể thấy giá gạo trên thị trường thế giới trong những năm qua lên xuống rất bấp bênh.
- Bảng 2.6: Giá gạo thế giới giai đoạn 1990-2024
Đặc biệt chú ý, trong tháng 3/2026 và 4/2026, giá gạo thế giới tăng đột biến làm nhiều quốc gia lo ngại. Chuyên gia giao dịch thương mại A-lan Chan (Alan Chan) của Xingapo đã đưa ra năm nguyên nhân chính để lý giải hiện tượng này.
Thứ nhất, liên tục trong một thời gian dài, việc bán gạo gặp nhiều thuận lợi cả về giá cả lẫn số lượng, thêm vào đó, các hợp đồng đặt trước ngày càng tăng khiến tình hình cung cấp gạo xuất khẩu toàn cầu trở nên căng thẳng, đẩy giá gạo trên thị trường quốc tế tăng vọt, đồng thời làm nảy sinh tâm lý lo ngại cung không đủ cầu. Trước tình hình đó, những nước xuất khẩu gạo chính ở châu Á như Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ và Cam-pu-chia đã đồng loạt áp dụng biện pháp hạn chế xuất khẩu gạo nhằm ưu tiên cho thị trường trong nước. Do đó, các giao dịch mua bán gạo trên thị trường khu vực đã giảm đi 1/3 còn giá gạo lại tăng vọt. Sự kiện này được đánh dấu bằng việc giá gạo Thái Lan – giá gạo được coi là chuẩn trên thị trường quốc tế tăng tới 30%, lên mức 760 USD/tấn vào ngày 27/3/2026 và đây cũng là mức giá cao nhất trong lịch sử.
- Thứ hai, trong mấy năm qua, do giá thành chi phí bảo quản, dự trữ gạo trong kho ngày một tăng cao và thị trường quốc tế thường xảy ra tình trạng cung không đủ cầu nên các nước liên tiếp cắt giảm lượng gạo tồn kho, khiến lượng gạo dự trữ trên toàn thế giới giảm. Hiện nay, lượng gạo dự trữ toàn cầu khoảng 75 triệu tấn, bằng 1/2 lượng dự trữ năm 2018 và là mức thấp nhất kể từ năm 1976 đến nay [16]. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
- Thứ ba, một số công ty thương mại đã tranh thủ đầu cơ, tích trữ gạo để đợi tăng giá và việc đồng Bạt của Thái Lan liên tục giữ giá so với đồng USD đã tác động mạnh đến giá gạo trong các giao dịch quốc tế.
- Thứ tư, sự nổi lên của hai nước đang phát triển đông dân nhất thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ làm nhu cầu tiêu thụ gạo tăng cao; quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa khiến diện tích đất trồng lúa ngày một thu hẹp.
- Thứ năm, thời tiết khắc nghiệt, tuyết rơi dày ở Trung Quốc, rét hại và nạn sâu bệnh ở Việt Nam làm giảm sản lượng lúa…cũng được coi là các nguyên nhân khiến giá gạo tăng cao.
Giá gạo tăng cao khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo dễ bị thua lỗ do phải mua nguyên liệu đầu vào để thực hiện các hợp đồng đã ký với giá cao trong khi giá xuất khẩu lại là giá đã được hai bên mua bán thỏa thuận.
- Mặt hàng dầu thô
Việt Nam có tiềm năng về dầu mỏ, sản lượng khai thác và xuất khẩu lên tới hàng chục triệu tấn mỗi năm, đóng góp một phần không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là trong những năm gần đây. Tuy nhiên, sản phẩm xuất khẩu của ta chỉ là dầu thô chưa qua chế biến nên giá cả còn thấp. Thêm vào đó, giá cả của mặt hàng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là tình hình chính trị giữa các nước trên thế giới nên chứa đựng nguy cơ rủi ro cao.
Nhìn vào bảng 8 ta có thể thấy trong những năm qua, giá dầu thô liên tục tăng.
- Bảng 2.7: Giá dầu thô trên thế giới giai đoạn 2013-2026
Đặc biệt trong tháng 4/2026, giá dầu thô đã đạt mức kỷ lục 110,16 USD/thùng. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do chiến tranh và biến động chính trị xảy ra tại một số quốc gia xuất khẩu dầu mỏ lớn trên thế giới như Iran, Irap,…Thêm vào đó là sự sụt giảm giá trị của đồng USD trong thời gian qua cũng là nguyên nhân khiến giá dầu thô tăng cao trong đầu năm 2026.
Giá dầu thô tăng cao liên tục như vậy trong khi nước ta lại là nước xuất khẩu dầu thì rủi ro các doanh nghiệp gặp phải là không nhỏ, vì thời gian từ khi ký kết hợp đồng đến khi giao hàng, giá đã thay đổi, và doanh nghiệp phải chịu rủi ro mà ta gọi là hiện tượng “trượt giá”. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Trên đây là biến động giá của một số mặt hàng trên thị trường thế giới. Đây là một vấn đề hết sức nhạy cảm, đòi hỏi doanh nghiệp phải cẩn trọng trong việc ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Ví dụ 2: Một công ty xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam có ký một hợp đồng xuất khẩu lạc nhân với số lượng 20.000 MT cho một công ty ở Đài Loan. Điều khoản thanh toán trong hợp đồng theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ (D/A, trả chậm sau 60 ngày kể từ ngày giao hàng). Hàng được xuất khẩu theo điều kiện CIF Kaohsung, Taiwan – Incoterms 2018. Khi hàng được đưa đến cảng đến, giá thị trường đã giảm 30% so với quy định trong hợp đồng. Vì vậy người mua đã lấy lý do hàng không đúng chất lượng để từ chối nhận hàng nhưng người bán không thể kiện người mua vì trong hợp đồng đã ký thì điều kiện chất lượng chỉ ghi là: “Đậu phộng nhân loại một được sự đồng ý của hai bên” [12].
Trong trường hợp trên, nếu công ty của Việt Nam thỏa thuận và ghi rõ điều khoản về chất lượng của lạc nhân thì công ty Đài Loan sẽ không thể từ chối nhận hàng và tất nhiên phía Việt Nam không phải chịu rủi ro do giá cả hàng hóa giảm.
Như vậy, có thể thấy khi giá cả hàng hóa trên thị trường thay đổi, nếu doanh nghiệp không cẩn thận trong quá trình kinh doanh thì sẽ gặp phải những rủi ro không lường trước được dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng.
- Rủi ro do tỷ giá hối đoái thay đổi
Doanh nghiệp dễ gặp phải nhóm rủi ro này khi kinh doanh sử dụng nhiều loại tiền tệ khác nhau mà những đồng tiền này lại có tỷ giá thay đổi thường xuyên như nhập khẩu bằng USD nhưng lại bán hàng bằng VND hoặc tính giá xuất khẩu bằng USD nhưng lại thanh toán cho nhà cung cấp hàng bằng VND hoặc đồng tiền khác không phải USD… Đặc biệt khoảng thời gian kể từ khi ký kết hợp đồng đến khi giao hàng và thanh toán càng dài thì doanh nghiệp càng phải chú ý vì tỷ giá hối đoái rất dễ thay đổi.
Tỷ giá VND/USD trong những năm qua tương đối ổn định, thời gian cuối năm 2025, đầu năm 2026, tỷ giá này có xu hướng giảm nhẹ do biến động tình hình thị trường tài chính tại Mỹ. Tuy nhiên trên thị trường thế giới, tỷ giá giữa các đồng ngoại tệ mạnh biến động liên tục theo diễn biến tình hình thế giới, ảnh hưởng đến thanh toán hợp đồng ngoại thương của các doanh nghiệp, trong thời gian gần đây có thể thấy rõ nhất là sự xuống giá của đồng USD so với đồng EUR
Ví dụ 3: Cuối năm 2025, USD đã mất giá mạnh so với đồng EUR . Các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa từ EU chưa thanh toán hết bằng EUR đã lâm vào tình trạng mất cả lãi và thâm hụt vốn bởi giá EUR tăng cao so với thời điểm khi các doanh nghiệp này lựa chọn EUR làm đồng tiền thanh toán với đối tác. Đồng thời, các doanh nghiệp xuất khẩu còn bị nợ tiền bằng USD cũng bị thiệt hại rất lớn [14]. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp vẫn tự tính toán để phòng ngừa rủi ro này chứ chưa sử dụng đến bất kỳ một công cụ chuyên nghiệp nào của thị trường tiền tệ do hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có giám đốc tài chính như thông lệ trên thế giới, tức là chưa có người chuyên tính toán và dự báo biến động của thị trường, lãi suất, tỷ giá và giá cả để xử lý, chuyên lo về tài chính trong hoạt động kinh doanh. Bản thân hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam cũng chưa cung cấp đủ dịch vụ trong lĩnh vực này hoặc mới triển khai và tiếp cận nên chưa tư vấn và thuyết phục được các doanh nghiệp sử dụng các công cụ nghiệp vụ.
- Rủi ro do chính sách ngoại thương thay đổi
Đó là những rủi ro do các quy định về hạn ngạch, giấy phép, thuế xuất nhập khẩu, thủ tục hải quan, các hàng rào phi thuế quan, các chính sách về quản lý xuất nhập khẩu và các quy định hành chính khác. Đây là mối quan tâm lớn của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vì các doanh nghiệp này không chỉ chịu tác động của sự thay đổi chính sách ngoại thương trong nước mà còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự thay đổi chính sách ngoại thương của các nước khác. Sự thay đổi thường xuyên các định chế này ở trong nước và của các nước đối tác sẽ gây ra các rủi ro cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
Trong quá trình hội nhập, để mở cửa thị trường, thực hiện tự do hóa thương mại, các nước đều phải dần dần loại bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và phải thuế hóa những rào cản phi thuế quan truyền thống như hạn ngạch, cấm xuất nhập khẩu, giấy phép xuất nhập khẩu, quyền kinh doanh xuất nhập khẩu và đầu mối kinh doanh… Do mở cửa thị trường đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mua bán hàng hóa quốc tế và số lượng hàng hóa nhập khẩu vào thị trường của các quốc gia có thể tăng lên một cách nhanh chóng nên để bảo hộ cho sản xuất trong nước, các quốc gia đã tìm mọi cách để thiết lập nên những rào cản thương mại mới, đặc biệt là những rào cản phi thuế của các nước phát triển. Các nhà quan sát kinh tế thế giới ước tính sơ bộ hiện nay có khoảng hơn 50 rào cản phi thuế với nhiều dạng thức khác nhau. Đầu thế kỷ XXI, ước tính khoảng 19,4% hàng nhập khẩu vào EU, 16,8% hàng nhập khẩu vào Mỹ và 10,7% hàng nhập khẩu vào Nhật Bản bị điều chỉnh bởi các rào cản này. Nhưng việc thiết lập nên những rào cản phi thuế mới sẽ trái với nguyên tắc tự do hóa thương mại trong thương mại quốc tế mà các quốc gia đã thỏa thuận. Để hợp thức hóa, nó được trá hình dưới nhiều biện pháp và hình thức khác nhau. Hàng hóa của các nước đang và chậm phát triển rất dễ vấp phải các rào cản của các nước phát triển, nhất là khi lượng hàng nhập khẩu tăng lên một cách nhanh chóng. Khi vấp phải các rào cản thì rủi ro xảy ra thường rất lớn, thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển của cả một ngành kinh tế của một đất nước. Trong những năm vừa qua, một số rào cản phi thuế thường được áp dụng và đã gây ra nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, điển hình là:
- Thuế chống bán phá giá Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Khi một hàng hóa bị xem là bán phá giá vào thị trường một nước gây thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại hay tổn thương vật chất đối với ngành công nghiệp nội địa sản xuất những mặt hàng tương tự sẽ phải chịu một mức thuế chống bán phá giá hoặc bị áp dụng hạn ngạch. Nhìn chung đó là những biện pháp làm cho hàng hóa đó không còn hoặc còn ít khả năng cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu. Ví dụ như một sản phẩm của một công ty bị xem là bán phá giá vào thị trường Mỹ khi có đơn kiện của ngành công nghiệp trong nước hoặc đại diện cho ngành công nghiệp trong nước sản xuất, kinh doanh các sản phẩm tương tự và được cơ quan có thẩm quyền, thường là Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ điều tra và tìm ra được sản phẩm đó được bán với giá thấp hơn “giá trị hợp lý” vào thị trường Hoa Kỳ và tính được biên độ phá giá. Để xác định xem hàng hóa có bán thấp hơn “giá trị hợp lý” hay không, tùy vào từng điều kiện cụ thể mà người ta có thể so sánh với giá hàng hóa cùng loại hoặc tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu hoặc giá so sánh của hàng hóa tương tự khi xuất khẩu sang nước thứ ba hoặc giá rút gọn được tính trên chi phí về nguyên liệu, lao động, chi phí gián tiếp, lợi nhuận… Hoặc giá của hàng hóa tương tự được sản xuất ở một nước thứ ba. Các nhà sản xuất và kinh doanh Hoa Kỳ thường viện dẫn Luật Thương mại Hoa Kỳ để có được sự bảo hộ chống những việc nhập khẩu mà họ cho rằng “không được công bằng”. Điều luật thường được dùng phổ biến nhất là luật chống phá giá để tạo rào cản bảo hộ sản xuất trong nước. Theo luật này, khi hàng hóa của một công ty nước ngoài được bán phá giá vào thị trường Mỹ sẽ làm bóp méo cạnh tranh và là hoạt động thương mại “bất công bằng”.
Trong những giai đoạn đầu của quá trình hội nhập quốc tế, là một quốc gia đang phát triển có nhiều lợi thế về mặt tự nhiên, giá nhân công rẻ lại được nhà nước khuyến khích xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam rất cần thị trường để xuất khẩu và giá cả là yếu tố cạnh tranh hữu hiệu nhất. Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp sẵn sàng hạ giá đến mức thấp nhất để chiếm lĩnh thị trường và bằng mọi cách để xuất khẩu được với số lượng hàng lớn nhất mà ít chú ý tới các yếu tố về pháp luật và môi trường nên rất dễ vấp phải những rào cản này. Sau khi ký Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, hai bên cùng thỏa thuận áp dụng mức thuế suất tối huệ quốc, hàng hóa của Việt Nam đã có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để thâm nhập thị trường Mỹ, do vậy hàng hóa xuất khẩu vào đây đã tăng mạnh. Cùng với sự tăng trưởng nhanh của một số mặt hàng xuất khẩu vào Mỹ và với ưu thế giá rẻ, không ít lần các doanh nghiệp Việt Nam đã vấp phải rào cản phi thuế này và bị kiện vì bán phá giá. Qua thống kê, từ năm 2012 đến nay, Việt Nam đã tham gia hơn 20 vụ kiện chống bán phá giá, trong đó vụ kiện về cá da trơn (cá tra, cá basa) và tôm là hai vụ có quy mô lớn và phức tạp nhất. Những thị trường mà các doanh nghiệp Việt Nam bị khởi kiện đó là EU, Mỹ, Canada, Ba Lan, Peru, Thổ Nhĩ Kỳ … Những mặt hàng bị kiện chủ yếu là thủy hải sản, nông sản thực phẩm và một số mặt hàng khác như: vòng khuyên kim loại, oxit kẽm, xe đạp, đèn huỳnh quang, ống thép, bật lửa,… Các nước khi điều tra bán phá giá, do không công nhận nước ta có nền kinh tế thị trường, đã áp dụng cách so sánh giá xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam với giá của sản phẩm xuất khẩu cùng loại của một nước thứ ba. Colombia khi điều tra đã lấy giá gạo của Thái Lan so với giá gạo Việt Nam xuất sang thị trường này, Mỹ lấy giá của cá da trơn Banglades còn Canada thì lấy giá tỏi của Mexico …Sự so sánh tương đối này rõ ràng là điều bất lợi cho nhiều hàng hóa của Việt Nam, dẫn tới hậu quả là Việt Nam thua kiện và bị áp thuế chống bán phá giá.
Trước đây những mặt hàng mà Việt Nam bị đánh thuế bán phá giá đều rơi vào những mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu thấp và không phải là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực nên mức độ ảnh hưởng đến cán cân thương mại Việt Nam chưa lớn nhưng những mặt hàng xuất khẩu chủ lực như cá tra, cá basa, tôm bị thua kiện đã gây thiệt hại lớn đối với nền kinh tế.
Khi cá tra, cá basa Việt Nam được người tiêu dùng Mỹ chấp nhận và sản lượng xuất khẩu vào thị trường Mỹ ngày càng tăng, Hiệp hội các chủ cá nheo Mỹ (CFA) đã vận động Chính phủ và Quốc hội Mỹ áp dụng luật chống bán phá giá đối với cá tra, cá basa của Việt Nam. Vụ kiện được CFA xúc tiến với mục đích cáo buộc Việt Nam đã bán cá với giá thấp hơn giá thành (có thể là do có sự hỗ trợ bù giá của Nhà nước) làm cơ sở cho Chính phủ Mỹ áp dụng mức thuế chống bán phá giá đối với cá nhập khẩu từ Việt Nam. Phía Hoa Kỳ cũng không công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, vì vậy đã dùng một nước thứ ba để tính biên độ phá giá. Ngày 24/07/2021, ITC đã công nhận cá tra, cá basa Việt Nam có khả năng gây thiệt hại cho ngành công nghiệp cá da trơn của Hoa Kỳ. Quyết định của DOC về áp thuế chống bán phá giá đối với các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu mặt hàng này đã có hiệu lực. Các công ty tham gia vụ kiện và 7 công ty nhỏ khác phải chịu mức thuế từ 36,84% – 53,68%. Các công ty không tham gia chịu mức thuế là 63,88%. Điều này đã làm ảnh hưởng và gây tổn thất không nhỏ cho các doanh nghiệp nuôi trồng và xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam. Cũng tương tự như vậy, việc áp thuế chống bán phá giá (mức thuế từ 4,13% đến 25,76%) đối với mặt hàng tôm đã làm cho sản lượng tôm của Việt Nam xuất vào Mỹ giảm đi một cách nhanh chóng, cụ thể là vào năm 2022, sau vụ kiện bán phá giá, sản lượng xuất khẩu tôm của Việt Nam vào thị trường Mỹ chỉ đạt 13.509 tấn, giảm 23,6% so với năm 2021. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Do Việt Nam chưa được công nhận là một quốc gia có nền kinh tế thị trường nên khi có đơn kiện bán phá giá, việc xác định hàng hóa có bán phá giá hay không là một ranh giới rất mong manh.
- Tiêu chuẩn kỹ thuật và biện pháp vệ sinh dịch tễ
Trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, một số quốc gia phát triển, lấy lý do để đảm bảo sức khỏe, an toàn cho con người và môi trường đã đơn phương dựng nên những tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc đối với các sản phẩm và các biện pháp vệ sinh dịch tễ đối với các mặt hàng nông nghiệp. Việc áp dụng một cách thích hợp các tiêu chuẩn kỹ thuật và biện pháp vệ sinh dịch tễ là phù hợp với hệ thống thông lệ và luật pháp quốc tế nhưng đơn phương áp đặt cao quá mức cần thiết sẽ trái với thông lệ quốc tế và là rào cản thương mại nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước. Những tiêu chuẩn này được đặt ra chủ yếu nhằm vào các quốc gia đang phát triển. Nhiều tiêu chuẩn rất khó để có thể đạt được, ví dụ như quy định không được phép tồn dư bất kỳ lượng kháng sinh nào trong các sản phẩm tôm. Điều này đã gây ra sự bất bình cũng như gây tổn hại và không ít khó khăn cho các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam. Nông sản, mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, rất dễ mắc phải rào cản này. Nhiều lô hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam đã vi phạm các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn của nước nhập khẩu như tạp chất, nấm mốc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật và còn để tồn dư lượng thuốc kháng sinh, hóa chất trên các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, đặc biệt là mặt hàng thủy hải sản. Trong số các thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam thì thị trường Mỹ là thị trường có nhiều quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ, các doanh nghiệp Việt Nam nếu mới tham gia thị trường này thì rất thiếu thông tin và hiểu biết về các quy định đó. Một khi hàng hóa của Việt Nam được xuất khẩu vào thị trường này mà vi phạm các quy định thì sẽ bị trả lại hoặc bị tiêu hủy, đồng thời Chính phủ Mỹ sẽ khuyến cáo áp dụng các biện pháp kiểm tra nghiêm ngặt hoặc ra lệnh cấm nhập khẩu. Các lô hàng bị trả lại hoặc bị tiêu hủy không những gây tổn thất cho các doanh nghiệp mà quan trọng hơn, các thông tin này được thông báo rộng rãi trên toàn cầu, làm suy giảm nghiêm trọng uy tín cũng như khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.
Ví dụ 4: Trong năm 2023, khoảng 100 tấn cá tra, cá basa Việt Nam, tại bang Alabama của Mỹ đã bị hủy do phát hiện thấy dư lượng Fluoroquinolones và ghi nhãn hàng sai. Theo kết quả kiểm tra của Bang này, trong 21 mẫu cá tra,cá basa đông lạnh của Việt Nam, có tới 19 mẫu có chứa kháng sinh Fluoroquinolones. Thêm vào đó, có 3 mẫu chứa kháng sinh Green Malachite. Một kết quả xét nghiệm khác tiến hành trên 13 mẫu cá đang được bày bán trên thị trường cũng cho thấy, có tới 3 mẫu có chứa kháng sinh Fluoroquinolones. Ngoài ra, nhãn một số thùng cá có nội dung “cá tự nhiên”, nhưng thực tế khi kiểm tra, bên trong lại là cá da trơn được nuôi tại Việt Nam. Các kho hàng tại Mỹ phải tự tiêu hủy. Theo ước tính, tổng số thiệt hại của các doanh nghiệp Việt Nam vào khoảng 300.000 USD. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Ngày 04/10/2023, cao ủy Nông nghiệp Bang Alabama của Mỹ, ông Ron Sparks, thông báo, sẽ vẫn tiếp tục duy trì lệnh cấm nhập khẩu cá tra, cá basa Việt Nam sau khi có kết quả kiểm tra dư lượng kháng sinh Fluoroquinolones. Lệnh cấm này được đưa ra từ 12/08/2023 tại các bang Lousiana, Alabama, và Mississippi, cộng với đó là việc tạm giữ hơn 340 ngàn tấn hàng để tiến hành xét nghiệm. Điều này đã gây ra những thiệt hại vô cùng to lớn cho ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam [15].
Rủi ro phát sinh từ quá trình thực hiện các nghiệp vụ mua bán hàng hóa quốc tế
- Rủi ro trong đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Có nhiều nguyên nhân khác nhau có thể dẫn đến rủi ro khi doanh nghiệp tiến hành đàm phán, soạn thảo cũng như ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Sau đây là một số nguyên nhân chủ yếu:
- Do thiếu thông tin, nguồn thông tin thu thập không đáng tin cậy hoặc có thông tin nhưng không được xử lý và sử dụng được
Với sự bùng nổ thông tin như hiện nay, đặc biệt là cuộc cách mạng tin học, sự ra đời của các mạng thông tin vệ tinh như Internet, Extranet… đã tạo điều kiện cho hoạt động giao dịch, thông tin kinh doanh trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn. Đây là công cụ hữu hiệu thúc đẩy quá trình hội nhập và tạo nên thành công của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, nếu doanh nghiệp không tìm hiểu kỹ đối tác thì rất dễ gặp phải rủi ro. Rủi ro có liên quan đến đối tác trong quá trình giao dịch là những rủi ro rất nghiêm trọng, khi những rủi ro nàu xảy ra thì rất khó khiếu nại và gây nên những tổn thất rất nặng nề mà doanh nghiệp phải đặc biệt chú ý khi bước vào giao dịch. Có thể xảy ra các trường hợp như sau:
- ? Doanh nghiệp đã không tìm hiểu kỹ đối tác trong quá trình chuẩn bị ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Ví dụ 5: Trong năm 2024, một công ty Việt Nam đã bị mất trắng gần 15 tỷ đồng trong một thương vụ mua bán qua mạng Internet được gài bẫy rất tinh 2022. Đây là lỗi hết sức “cổ điển” mà một doanh nghiệp Việt Nam đã từng phải trả giá gần 400 triệu đồng vào năm 2022. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Đầu năm 2024, thông qua công ty môi giới, một doanh nghiệp tư nhân Việt Nam (tạm gọi là công ty X) đã ký hợp đồng mua nguyên liệu (đã qua sử dụng) của một công ty nước ngoài với giá rất hời. Phía môi giới cho biết đã gặp người bán nhiều lần và khẳng định đó là một công ty có tên tuổi và làm ăn đứng đắn.
Theo hợp đồng quy định, người bán sẽ có một chứng thư bảo lãnh thực hiện (performance bond) với trị giá 2% do ngân hàng hàng đầu của họ cấp.
Phía môi giới cam kết họ sẽ chịu trách nhiệm về việc này và thậm chí sẽ bay sang nước người bán để kiểm tra hàng trước khi tàu chờ hàng về Việt Nam. Tin lời, doanh nghiệp X vội vàng cho mở L/C để triển khai ngay thương vụ.
Tới thời hạn giao hàng, bên X càng yên tâm khi được người bán thông báo những chi tiết đầy đủ như: tên hàng, số lượng, tên tàu và hãng tàu, tên đại diện hãng tàu tại cảng đến để chuẩn bị tiếp nhận con tàu, ngày dự kiến tàu ra khơi tại cảng giao hàng, ngày dự kiến tàu đến cảng giao hàng…
Đồng thời, họ nhận được của bên bán một bộ chứng từ hoàn hảo gồm hóa đơn, vận đơn, biên bản giám định của SGS tại cảng đi, bản sao điện thông báo giao hàng, bản sao hóa đơn của công ty chuyển phát nhanh xác nhận bên bán có gửi một bộ chứng từ cho người mua để chuẩn bị làm việc với ngân hàng của mình và nhận bộ chứng từ gốc đi lấy hàng khi tàu cập cảng… Trong khi đó, ngân hàng người bán cũng chuyển bộ chứng từ gốc cho ngân hàng người mua để yêu cầu chuyển tiền thanh toán.
Nhận được bộ chứng từ gốc, ngân hàng thấy không có sai sót gì so với điều kiện L/C đã mở. Để chắc chắn, ngân hàng có hỏi ý kiến của người mua và được người mua chấp nhận thanh toán. Gần 1 triệu USD (tương đương gần 15 tỷ đồng) theo đó được chuyển cho người bán với một thủ tục chặt chẽ.
Nhưng tiền đã trao mà đến hạn chẳng thấy tăm hơi hàng đâu cả. Người mua sốt ruột gọi điện hỏi hãng tàu ở cảng về thì được biết đại diện hãng tàu ở cảng đi thông báo là tàu hỏng máy nên chậm ra khơi. Vài ngày sau, đại diện hãng tàu lại thông báo tiếp là tàu đã ra khơi nhưng điện thoại của thuyền trưởng bị hỏng, chưa liên lạc được. Rồi lại nhận được thông báo rằng khi tàu đến tọa độ gần một hòn đảo lớn của Việt Nam thì tàu bị hỏng máy và có điện xin vào sửa chữa, cảng vụ ở đây cũng nhận được điện này nhưng không thấy tàu vào… Chuyến hàng biệt tăm từ đó.
Cả người mua lẫn đại diện hãng tàu lúc này cuống cuồng liên hệ với người bán và đại diện hãng tàu tại cảng đi theo số điện thoại bàn, cầm tay, mail, fax đã được cho trong giao dịch và đã từng giao dịch nhưng tất cả đều tắt ngóm.
Khi vụ việc vỡ lở, người môi giới mới thú nhận rằng họ tìm được người bán và liên lạc với người bán chỉ thông quan mạng Alibaba.cm. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Qua vụ việc trên cho thấy sự bất cẩn của doanh nghiệp đã dẫn đến doanh nghiệp phải trả giá bằng một tài sản không hề nhỏ. Đây là một bài học mà các doanh nghiệp chào bán hàng qua mạng cần chú ý để không mắc phải những sai lầm tương tự như vậy.[5]
Đây là bài học cho những doanh nghiệp còn thiếu cập nhật những thông tin cần thiết cho hoạt động kinh doanh của mình cũng như bài học về những thương vụ mua bán qua người môi giới.
? Đối tác không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng, không có khả năng giao hàng, không có khả năng thanh toán tiền hàng, đang trong giai đoạn phá sản hoặc tài khoản bị phong tỏa.
Ví dụ 6: Một doanh nghiệp Hà Nội ký hợp đồng số 2009/95 ngày 20/09/2013 mua của một công ty Ấn Độ 20.000 MT xi măng Kumgang với giá 54 USD/MT CNF.F.O cảng Quy Nhơn Incoterms 1990, giao hàng tháng 11/2013, thanh toán bằng L/C không hủy ngang, trả tiền ngay, L/C phải được mở trước ngày 30/09/2013. Thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp Hà Nội đã mở L/C cho công ty Ấn Độ hưởng lợi ngày 25/09/2013. Sau đó ngày 28/09/2013, doanh nghiệp Hà Nội ký hợp đồng bán lại số ximăng này cho một doanh nghiệp B miền Trung, Việt Nam, thời hạn giao hàng theo hợp đồng số 2009/95 ngày 20/09/2013 và doanh nghiệp B này đã chuyển vào tài khoản của doanh nghiệp Hà Nội tiền đặt cọc. Tuy nhiên đến 15/12/2013, công ty Ấn Độ vẫn không giao hàng, do đó doanh nghiệp Hà Nội không có hàng giao cho doanh nghiệp B và đã phải trả cho doanh nghiệp B toàn bộ số tiền doanh nghiệp này đã đặt cọc cộng thêm lãi suất và tiền phạt theo quy định của hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Tổng số tiền mà doanh nghiệp này phải trả cho doanh nghiệp B là 146.645 USD. Doanh nghiệp Hà Nội đã kiện công ty Ấn Độ ra trọng tài nhưng chỉ nhận được 126.700 USD tiền bồi thường.[6]
Vụ việc này cho ta thấy các doanh nghiệp khi chuẩn bị ký kết các hợp đồng mua bán cần xem xét kỹ hết các khả năng có thể xảy ra, sau đó mới đi đến ký kết hợp đồng, có như vậy doanh nghiệp có thể hạn chế được những rủi ro mà mình có thể gặp phải.
- Do trình độ nghiệp vụ mua bán hàng hóa quốc tế còn hạn chế
Thiếu thông tin có thể dẫn đến nhiều rủi ro nhưng năng lực cán bộ đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng bị hạn chế còn đưa đến những rủi ro với mức độ tổn thất lớn hơn rất nhiều. Trình độ hạn chế thể hiện ở nhiều mặt: yếu về chuyên môn, ngoại ngữ, không có kiến thức về hàng hóa hoặc khả năng giao tiếp kém… Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Trong đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cán bộ đàm phán, ký kết đóng vai trò quyết định đến sự thành bại của toàn bộ quá trình giao dịch. Nếu người này được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên môn về ngoại thương, có sự hiểu biết về hàng hóa mà doanh nghiệp mình giao dịch thì sẽ không gây ra những rủi ro, tổn thất lớn. Nếu cán bộ đàm phán không hiểu biết cặn kẽ về hàng hóa thì khi đàm phán các điều khoản chất lượng, quy cách, bao bì đóng gói, bảo hành sẽ rất dễ mắc phải sai sót, gây tổn thất cho doanh nghiệp. Ngoài những kỹ năng này, một người làm hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế không thể không biết ngoại ngữ và thiếu kỹ năng đàm phán cũng như giao tiếp.
Trong đàm phán hợp đồng mua bán ngoại thương hầu hết phải sử dụng ngoại ngữ, chủ yếu là tiếng Anh. Nếu trình độ của cán bộ đàm phán yếu thì sẽ dẫn đến hiểu nhầm, hiểu sai. Khi đàm phán trực tiếp, nếu không giỏi ngoại ngữ thì người đàm phán sẽ lúng túng khi không hiểu hết những vấn đề mà khách hàng của mình trình bày. Hoặc có trường hợp, khi hai bên đã đạt được một số thỏa thuận nhưng đến khi nhận được bản hợp đồng fax sang mới biết mình nhầm hoặc cho rằng khách hàng làm sai với thỏa thuận, điều này sẽ kéo dài thời gian đàm phán, làm lỡ phương án, cơ hội kinh doanh và còn có thể mất uy tín với khách hàng. Hiện nay, trong các doanh nghiệp Việt Nam, tình trạng đọc viết được tiếng Anh nhưng nghe nói còn yếu ở đội ngũ cán bộ xuất nhập khẩu là khá phổ biến. Tình trạng này làm cho người đàm phán thiếu tự tin, mất thế chủ động, làm cả bản thân và khách hàng rất khó trình bày và nghiêm trọng hơn sẽ làm mất cơ hội kinh doanh vì không hiểu hoặc không trình bày hết lý lẽ để giải quyết những khúc mắc giữa hai bên. Đặc biệt với những khách hàng mới rất hay xảy ra vướng mắc, tranh cãi về các điều kiện thanh toán, giao nhận hàng, thưởng phạt,… chỉ vì hai bên không hiểu nhau. Khi soạn thảo, ký kết hợp đồng, ngoại ngữ kém còn gây ra nhiều hậu quả nặng nề hơn. Do nước ta mở cửa nền kinh tế muộn, chưa có nhiều kinh nghiệm trên thương trường nên hợp đồng ngoại thương thường do nước ngoài soạn thảo, hoặc nếu bên Việt Nam soạn thảo thì cũng dựa trên mẫu hợp đồng nước ngoài, vì vậy hợp đồng có thể có những nội dung bất lợi cho bên Việt Nam.
Hơn nữa, để đàm phán thành công, cán bộ đàm phán phải có nghệ thuật đàm phán và kỹ năng giao tiếp tốt. Nếu không khéo léo, mềm dẻo thì dễ mất khách hàng, ngược lại nếu không vững vàng thì lại dễ bị khách hàng ép ký những hợp đồng chứa đựng những điều khoản bất lợi.
Qua ví dụ sau đây ta có thể thấy được thiệt hại do sự yếu kém về năng lực của cán bộ làm xuất nhập khẩu gây ra.
Ví dụ 7: Tháng 8/2017, một công ty xuất nhập khẩu lương thực của Việt Nam ký hợp đồng bán 5.000 MT gạo 5% tấm, độ xay xát tốt cho công ty L của Pháp, trong đó có điều khoản cho phép người đại diện của người mua giám định chất lượng gạo. Khi có thông báo tàu đến lấy hàng, công ty L tiến hành cho giám định gạo. Mặc dù công ty giám định quốc tế Omic đã kiểm tra và xác nhận đúng là gạo 5% tấm, độ xay xát tốt nhưng đại diện của công ty L vẫn không chịu, dẫn đến đôi bên tranh cãi. Công ty L đòi hủy hợp đồng. Cuối cùng, công ty Việt Nam đành chịu thiệt, chấp nhận tái chế gạo. Tổng số thiệt hại lên đến gần 60.000 USD (bao gồm tiền công tái chế, phạt neo tàu trễ, phí vận chuyển bốc xếp phục vụ cho việc tái chế). [8]
Rủi ro trong quá trình tổ chức thực hiện các hợp đồng xuất nhập khẩu Nhóm rủi ro này có thể được chia thành những rủi ro đối với người bán và những rủi ro đối với người mua. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
- Rủi ro thường gặp khi các doanh nghiệp Việt Nam là người bán Đó là những rủi ro như:
? Khi ký kết các hợp đồng mà quy định các điều khoản không cụ thể, không rõ ràng cũng dễ dàng gây nên các rủi ro cho người bán, đặc biệt là nếu không quy định kết quả giám định chất lượng hàng hóa ở cảng đi hay cảng đến có giá trị cuối cùng thì người bán rất dễ gặp phải rủi ro liên quan đến việc giao hàng không đúng phẩm chất như đã ký kết trong hợp đồng.
Ví dụ 8: Công ty A&J Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu lạc nhân với Liên đoàn xuất nhập khẩu Selsko của Nga với số lượng là 1.200 MT lạc nhân (FOB Hải Phòng, thanh toán bằng phương thức nhờ thu). Trong điều khoản chất lượng không ghi rõ kết quả giám định phẩm chất ở cảng đi có giá trị cuối cùng nên khi tàu cập cảng Vladivostok, Selsko giám định thấy trọng lượng thiếu và lạc bị mốc 40%. Căn cứ giám định này, Selsko bắt lỗi công ty A&J và buộc công ty phải đền bù số lạc thiếu và mốc đó.[12]
? Người bán đã giao hàng theo đúng nghĩa vụ quy định trong hợp đồng nhưng không nhận được tiền thanh toán hoặc nhận được thanh toán chậm.
- Có thể thấy rủi ro này qua ví dụ sau:
Ví dụ 9: Một doanh nghiệp Việt Nam ký 2 hợp đồng mua bán số 24-X2 ngày 08/07/2017 và số 29-X2 ngày 29/07/2017 với công ty X của Mỹ, theo đó công ty X sẽ mua 44 MT hạt tiêu đen theo điều kiện FOB cảng Thành phố Hồ Chí Minh, thanh toán bằng D/P.
Thực hiện hợp đồng 24-X2, doanh nghiệp đã giao 14 MT hạt tiêu đen. Doanh nghiệp lập bộ chứng từ nhờ ngân hàng A ở Tiền Giang thu hộ 61.230 USD. Ngân hàng A đồng ý thu hộ và gửi bộ chứng từ tới ngân hàng North Banc (Mỹ) nhờ ngân hàng này thu tiền theo D/P. Sau đó, ngân hàng A và doanh nghiệp đã nhiều lần đòi tiền ngân hàng North Banc và công ty X mà không được trả.
Thực hiện hợp đồng 29-X2, doanh nghiệp tiếp tục giao cho công ty X 30 MT hạt tiêu đen còn lại và lập bộ chứng từ nhờ ngân hàng Việt Nam B ở Hậu Giang thu hộ 134.150 USD theo D/P. Ngân hàng B đồng ý và đã gửi bộ chứng từ cho ngân hàng North Banc nhờ thu tiền theo D/P. Tiếp theo, ngân hàng B cùng doanh nghiệp nhiều lần đòi tiền từ ngân hàng North Banc và công ty X nhưng vẫn không thu được tiền. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Mặc dù chưa thanh toán nhưng theo thông báo của hãng tàu, công ty X đã nhận cả hai lô hàng trên bằng vận đơn gốc do hãng tàu ký phát, chuyến cuối cùng nhận ngày 10/09/2017. Sau ngày này, doanh nghiệp tiếp tục đòi công ty X trả tiền nhưng vẫn không được. Ngân hàng A và B gửi thư, điện, fax đòi ngân hàng North Banc trả tiền hoặc trả lại bộ chứng từ nhưng ngân hàng này không trả lời gì.
Ngày 14/12/2017, công ty X đã fax yêu cầu doanh nghiệp kéo dài thêm một thời gian nữa cho việc thanh toán 61.230 USD và 134.150 USD tiền hàng và sẵn sàng trả mức lãi suất 9%/năm. Doanh nghiệp không chấp nhận đề nghị này và tuyên bố: đến ngày 20/12/2017 mà công ty X. vẫn chưa trả tiền hàng thì sẽ bị kiện theo quy định trong hợp đồng. Hết ngày 30/12/2017, doanh nghiệp vẫn không nhận được tiền hàng nên bắt buộc phải khởi kiện công ty X ra trọng tài. Cuối cùng doanh nghiệp đã nhận được 195.380 USD tiền hàng và hưởng lãi suất 5% (theo mức lãi suất tiền vay trung bình do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố vào thời gian đó) nhưng cũng đã mất rất nhiều thời gian theo kiện.[6]
? Khi ký vận dụng các điều kiện cơ sở giao hàng trong thực tế mua bán hàng hóa, người bán còn phải chịu những rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa. Ngay cả trong trường hợp xuất FOB nhưng khi giao hàng vẫn tiếp tục tham gia giúp đỡ chuyển tải thì người bán cũng có thể gặp rủi ro.
Ví dụ 10: Ngày 28/07/2013, một doanh nghiệp của Việt Nam ký hợp đồng mua bán số 28795/FIT với đối tác nước ngoài, theo đó doanh nghiệp bán 10.000 MT±5% gạo 10% tấm mùa mới Việt Nam với đơn giá 310USD/MT FOB cảng Thành phố Hồ Chí Minh – Incoterms 1990. Người mua ủy nhiệm cho công ty giao nhận A ký hợp đồng thuê tàu chở lô gạo. Theo chỉ định của công ty A, doanh nghiệp giao hàng lên tàu FUGODEN và nhận vận đơn hoàn hảo do thuyền trưởng cấp. Nhưng sau đó, tàu FUGODEN đã bị tạm giữ theo lệnh của Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh. Người mua yêu cầu chuyển tải sang tàu TAI YAN và đề nghị đổi lại 50% lô gạo có thể bị hư hỏng (tương đương 4.871 MT). Doanh nghiệp đã chuyển tải với chi phí là 6585,45 USD phí giám định hầm tàu và 424.266.000 VND các khoản còn lại. Tuy nhiên, đến khi đòi người mua chi phí này thì người mua không thanh toán vì lỗi thuê tàu thuộc công ty A. Hơn nữa, khi doanh nghiệp nhận thấy 4.871 MT gạo không đạt phẩm chất quy định đã tự động giảm 33.000 USD để bán hàng nhằm tránh gạo bị mất chất lượng. Hành động này không được người mua yêu cầu nên người bán Việt Nam phải chịu toàn bộ khoản giảm giá đó. Rõ ràng, trong trường hợp này, nếu doanh nghiệp chỉ giao hàng đúng theo điều kiện FOB thì sẽ không gặp phải những rủi ro nêu trên.[6] Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
? Khi sử dụng các phương thức thanh toán như chuyển tiền, nhờ thu, hoặc L/C nhưng lại chuẩn bị chứng từ có nhiều sai lệch, người bán khó có thể thu được tiền. Trong đó đặc biệt lưu ý phương thức thanh toán bằng thư tín dụng là phương thức được lựa chọn nhiều nhất vì đây là phương thức an toàn nhất và tương đối tin cậy trong buôn bán quốc tế (chiếm tới 70%), được coi là sự lựa chọn đương nhiên trong các quan hệ giao dịch buôn bán giữa các doanh nghiệp.
Thư tín dụng là văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C. Thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng, tức là phải căn cứ vào nội dung và yêu cầu của hợp đồng để bên khẩu làm đơn yêu cầu mở L/C; sau khi được mở L/C tồn tại độc lập với hợp đồng mua bán hàng hóa, có nghĩa là khi thanh toán, ngân hàng mở L/C sẽ chỉ căn cứ vào L/C. Khi người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán thì ngân hàng chỉ kiểm tra sự hợp lệ của chứng từ, xem có hợp lệ với L/C hay không. Nếu người bán không căn cứ vào hợp đồng để kiểm tra L/C hoặc kiểm tra không cẩn thận thì đôi khi chỉ mắc phải một sai sót nhỏ cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu khi xuất trình chứng từ để nhận tiền thanh toán.
Những tiêu chuẩn của một bộ chứng từ thanh toán trong phương thức thanh toán L/C là:
- Chứng từ đầy đủ: Tùy theo quy định trong L/C mà yêu cầu loại chứng từ và số lượng chứng từ phải nộp cho ngân hàng khi thanh toán là khác
- Hoàn chỉnh về mặt hình thức bề ngoài: Bộ chứng từ cần phải đáp ứng được những yêu cầu nêu trong L/C, từ mô tả đặc điểm của hàng hóa đến mô tả chất lượng, phương thức vận tải, giao nhận,…
- Sự nghiêm ngặt về mặt chứng từ: Vì ngân hàng thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu dựa vào bộ chứng từ chứ không dựa vào hàng hóa hay hợp đồng mua bán hàng hóa nên ngân hàng giám sát rất chặt chẽ nội dung của từng loại chứng từ có phù hợp với quy định của L/C hay không. Ngân hàng thanh toán có quyền từ chối thanh toán bộ chứng từ nếu có bất kỳ một sai sót nhỏ nào. Ví dụ như ngân hàng có thể từ chối thanh toán với bộ chứng từ đề điều kiện giao hàng là CFR hoặc CF nếu trong L/C quy định là C&F.
- Không mâu thuẫn: Nội dung các chứng từ xuất trình không được mâu thuẫn nhau. Các nhà xuất khẩu Việt Nam thường hay mắc phải lỗi này, chủ yếu liên quan đến mô tả hàng hóa, ngày tháng lập chứng từ.
- Bộ chứng từ phải được xuất trình trong đúng thời gian quy định của L/C.
Dưới đây là một ví dụ mà một doanh nghiệp Việt Nam đã gặp phải khi thanh toán theo phương thức L/C.
Ví dụ 11: Công ty Artexport Hà Nội ký hợp đồng bán hàng cho Pierluigi E.C.SNG, Italy. L/C liên quan số 577CIM6646 quy định: “B/L issued by SM Logistics Gruppo Serra Mrzario S.P.A” – “Vận đơn do công ty SM… ký phát”, nhưng thực tế ở Việt Nam không có hãng tàu này nên việc giao hàng được thực hiện qua hãng M&S Shipping Lines (một công ty con của SM), dẫn đến ngân hàng nước ngoài bắt lỗi chứng từ vì vận đơn phát hành không đúng theo quy định trong L/C.[2]
- Rủi ro thường gặp khi doanh nghiệp Việt Nam là người mua: Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
? Đã thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu nhưng lại không nhận được hàng hoặc nhận được hàng nhưng bị thiếu, hoặc nhận được hàng nhưng không đúng hạn, không đúng chủng loại hoặc chất lượng không phù hợp.
Ví dụ 12: Ngày 08/04/2015, một doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng số 12/97 mua của một công ty Malaysia 500 MT Sodium Tripoly Phosphate, điều kiện CNF cảng Thành phố Hồ Chí Minh – Incoterms 1990, thanh toán bằng L/C trả tiền ngay.
Doanh nghiệp Việt Nam đã mở L/C cho công ty Malaysia hưởng lợi ngày 07/04/2015. Sau khi nhận được L/C, công ty Malaysia đã lần lượt giao ba chuyến hàng 200 MT, 200 MT và 100 MT vào các ngày 21/04/2015, 08/05/2015, 10/05/2015. Do nhu cầu khẩn cấp, doanh nghiệp Việt Nam không kịp giám định hàng đã đưa lô hàng thứ nhất vào sản xuất 1.500 MT bột giặt xuất khẩu. Nhưng khi kiểm tra chất lượng bột giặt xuất khẩu, Vinacontrol kết luận bột giặt không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu nên đã không cấp giấy chứng nhận chất lượng. Doanh nghiệp lúc này mới yêu cầu giám định chất lượng của Sodium Tripoly Phosphate do phía Malaysia đã giao. Các kết quả giám định đều kết luận rằng đó không phải là Sodium Tripoly Phosphate mà là Sodium Phosphate.[6]
? Trong mua bán hàng hóa quốc tế, người mua còn phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa. Điều này có thể do các lỗi tự nhiên của quá trình vận tải hoặc do phương tiện vận tải kém chất lượng, không phù hợp với hàng hóa cần vận chuyển, hoặc do người vận tải thiếu trách nhiệm hoặc có hành vi cố tình chiếm đoạt hàng hóa.
Ví dụ 13: Ngày 24/08/2018, công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội (TOCONTAP) mua 10.000 MT bột mỳ trị giá 1.755.840 USD (FOB Bombay – Ấn Độ). TOCONTAP thuê tàu Romashka của Katsan Shipping Company (Hồng Kông) để chở hàng về với giá cước 25 USD/MT.
Tàu Romaska thực chất đóng tại Ba Lan, hạ thủy năm 1970. Khi ký hợp đồng thuê tàu, người nhân danh chủ tàu cam kết: “Tàu Romashka được xếp hạng cao nhất của Loyds (đăng ký tại Anh) hoặc tương đương”. Tàu còn được Hội bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu UK London trả lời bằng văn bản xác nhận tàu đã được Hội nhận bảo hiểm.
Khi tàu bốc hàng xong và neo ở cảng Bombay chuẩn bị hành trình về Hải Phòng thì gặp một trận gió mùa mạnh. Tàu bị đứt dây neo, trôi dạt vào bờ cảng Worki và bị mắc cạn, nước biển ngập hầm hàng, làm ướt toàn bộ 9.125 MT bột mỳ đóng bao cùng 224 tấn dầu FO, gây ô nhiễm vùng biển. Chủ tàu bị truy cứu trách nhiệm trước tòa án và tàu bị phong tỏa. TOCONTAP mất đi cơ hội kinh doanh và phương án nhập bột mỳ không thực hiện được.[2]
? Nhiều hợp đồng không quy định cụ thể các điều khoản hay các điều khoản được quy định không rõ ràng, dẫn đến người bán không biết hoặc cố tình lợi dụng điều đó để không thực hiện đẩy đủ nghĩa vụ của mình còn người mua khó có thể yêu cầu người bán bồi thường thiệt hại hoặc khiếu nại người bán. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Ví dụ 14: Một công ty dệt may xuất khẩu ở Thành phố Hồ Chí Minh mua chỉ thêu của một công ty Đài Loan. Hai bên thống nhất quy định chất lượng hàng căn cứ theo tiêu chuẩn của người bán là nhà sản xuất quy định và được người mua Việt Nam chấp nhận nên trong hợp đồng không đề cập đến chi tiết về chất lượng của hàng hóa mà chỉ ghi theo lần giao dịch trước. Do sự đồng ý và tin cậy giữa hai bên nên khi mẫu hàng giao cho bên Việt Nam kiểm tra đạt chất lượng, người bán Đài Loan đã tiến hành giao hàng mà không giữ lại mẫu, không giữ lại chứng từ quy định về tiêu chuẩn chất lượng đã được hai bên thống nhất. Khi người bán thay đổi trưởng bộ phận sản xuất, do đã không lưu lại chứng từ quy định về tiêu chuẩn chất lượng đã ký kết, sản phẩm sản xuất ra có chất lượng khác với chất lượng đã được đặt hàng. Vì thực hiện nhiều thương vụ mua bán với công ty Đài Loan, tin tưởng vào chất lượng hàng hóa trong các giao dịch lần trước, công ty Việt Nam vẫn tiến hành nhập chỉ thêu này và đưa vào sản xuất bình thường. Sản phẩm của công ty bị đổi màu sau khi giặt do màu chỉ thêu lem sang. Khách hàng của công ty khiếu nại về chất lượng sản phẩm dẫn đến công ty mất uy tín. Trong hợp đồng không hề quy định điều khoản phạt nên công ty Việt Nam đành chịu thiệt.[2]
Trong trường hợp này, tuy không phải là do sự cố tình của bên bán nhưng do người nhập khẩu Việt Nam đã không cẩn trọng trong việc ký kết hợp đồng cũng như kiểm tra chất lượng của các lô hàng khi được nhập khẩu và đưa vào sản xuất dẫn đến công ty bị thiệt hại nghiêm trọng.
- Một số rủi ro khác
Ngoài những rủi ro cơ bản nêu trên, trong quá trình thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cả người bán và người mua còn có thể gặp phải một số rủi ro sau:
- ? Rủi ro khi mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu.
Các doanh nghiệp Việt Nam thường mua CIF, bán FOB nên chưa quan tâm đúng mức đến việc mua bảo hiểm và thuê tàu. Vì vậy, khi giành được quyền vận tải hoặc đảm nhận việc mua bảo hiểm cho hàng hóa, các doanh nghiệp thường lúng túng, dễ gặp phải những rủi ro như: thuê phải tàu già, mua bảo hiểm không đúng điều kiện. Việc mua bảo hiểm chủ yếu là do thư tín dụng yêu cầu chứ không phải vì lý do để hạn chế rủi ro trong xuất nhập khẩu. Đôi khi người xuất khẩu không mua đúng loại bảo hiểm mà thư tín dụng yêu cầu và không đúng doanh nghiệp bảo hiểm cần ký kết trong hợp đồng hoặc thời hạn bảo hiểm không đúng nên không được thanh toán do bộ chứng từ thanh toán không phù hợp với L/C.
Nhiều khi chúng ta mua bảo hiểm với chi phí cao nhưng khi có tổn thất xảy ra thì lại không được bồi thường do loại hình bảo hiểm không phù hợp. Chính vì vậy mà khi mua bảo hiểm, ta không những phải xem xét lựa chọn hãng bảo hiểm có năng lực tài chính và uy tín, mà còn phải xem xét đặc tính hàng hóa mà mình xuất khẩu để mua loại bảo hiểm phù hợp sao cho chi phí phải bỏ ra là thấp nhất nhưng khi gặp rủi ro tổn thất thì vẫn được bồi thường đầy đủ. Và khi mua bảo hiểm, cũng cần chú ý rằng mỗi loại hàng hóa xuất nhập khẩu có một đặc tính riêng dẫn đến những rủi ro tổn thất riêng, vì thế không nên áp dụng một cách máy móc, áp đặt một loại bảo hiểm nào đó đối với bất kỳ mặt hàng nào, người xuất khẩu cần phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi mua bảo hiểm để tránh tình trạng doanh nghiệp đã phải bỏ tiền ra để mua bảo hiểm nhưng khi có tổn thất cho hàng hóa thì doanh nghiệp lại là người phải chịu những tổn thất, thiệt hại đó. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
- Dưới đây là ví dụ minh họa:
Ví dụ 15: Ngày 20/04/2014, doanh nghiệp Y của Việt Nam ký hợp đồng bán cho một công ty của Ucraina 6.000 MT gạo 5% tấm có trị giá 1.980.000 USD theo điều kiện CIF Odessa – Incoterms 1990, thời hạn giao hàng trước ngày 05/08/2014. Người bán phải mua bảo hiểm hàng hóa theo điều kiện mọi rủi ro, người hưởng lợi là người mua.
Doanh nghiệp Y đã mua bảo hiểm của công ty bảo hiểm A cho lô hàng theo điều kiện mọi rủi ro nhưng loại trừ rủi ro do “nước vào hầm hàng qua nắp hầm tàu” mà không có sự đồng ý của công ty Ucraina.
Tàu dời cảng bốc hàng ngày 09/08/2014. Trên hành trình đi Odessa, tàu ghé vào cảng Aden – Yemen để giao hàng cho người mua Yemen. Tại đây tàu bị bắt giữ và hàng bị tổn thất 10,2% tổng giá trị do nước vào hầm hàng qua nắp hầm tàu. Công ty bảo hiểm A đã từ chối bồi thường do rủi ro này đã được loại trừ khỏi hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp Y Buộc phải bồi thường cho người mua 88.240,75 USD.[6]
Như vậy để giảm bớt một chút ít phí bảo hiểm, doanh nghiệp Y đã loại trừ bớt rủi ro, nhưng khi rủi ro đó lại gây ra tổn thất cho hàng hóa, doanh nghiệp Y bị thiệt hại nặng nề.
- ? Rủi ro về thương hiệu
Thương hiệu là một vấn đề rất đáng quan tâm đối với các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng vì thương hiệu không những là biểu tượng hay hình ảnh mà còn là uy tín, là tài sản của doanh nghiệp, là vũ khí cạnh tranh rất sắc bén. Rủi ro về thương hiệu gắn liền với cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Nếu bị đánh cắp thương hiệu, doanh nghiệp sẽ gặp những tổn thất khó có thể lường trước được về mặt kinh tế, bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh, hạn chế sự phát triển, quảng bá và thâm nhập thị trường xuất khẩu mới của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đã gặp phải những rủi ro loại này, trong đó phải kể đến hãng cà phê Trung Nguyên, thuốc lá Vinataba, Petro Vietnam, bia Sài Gòn, kẹo dừa Bến Tre, …
- Dưới đây là trường hợp của hãng cà phê Trung Nguyên.
Ví dụ 16: Cà phê Trung Nguyên khi đăng ký thương hiệu tại Mỹ thì phát hiện có một công ty của Mỹ đã nộp đơn đăng ký thương hiệu này và đang trong giai đoạn chờ cấp phép. Sau khi tìm hiểu thì biết đó là một công ty phân phối hàng thực phẩm nông nghiệp tại Mỹ, công ty đó đăng ký tên Trung Nguyên với mục đích giành độc quyền phân phối sản phẩm tại nước này. Qua nhiều lần đàm phán trao đổi, công ty đó đã đồng ý rút hồ sơ với điều kiện Trung Nguyên đồng ý cho họ là nhà phân phối của hãng tại thị trường Mỹ trong thời gian hai năm. Ngoài ra, tên miền trungnguyen.cm cũng bị một Việt kiều ở Tiệp Khắc đăng ký trước với mục đích đầu cơ và rao bán với giá rất cao. Theo bà Võ Thị Hà Giang, phụ trách Quan hệ cộng đồng và Quảng cáo của hãng cà phê Trung Nguyên, việc nhận thức thấp về thương hiệu sẽ khiến doanh nghiệp phải trả giá cao.[6]
- ? Rủi ro do trường hợp bất khả kháng Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Ngoài các rủi ro kể trên, chúng ta còn gặp phải các rủi ro do trường hợp bất khả kháng như: thiên tai, hạn hán, lũ lụt, động đất, dịch bệnh… Theo tập quán mua bán hàng hóa quốc tế, khi xảy ra trường hợp bất khả kháng thì bên đương sự có quyền hoãn thực hiện hợp đồng trong một khoảng thời gian xác định. Do đó khi một trong hai bên gặp trường hợp bất khả kháng thì cả hai bên đều phải chịu rủi ro. Ngoài ra, khi trường hợp bất khả kháng xảy ra thì nó khiến cho doanh nghiệp không thực hiện được những hợp đồng đã ký đồng thời còn khiến cho doanh nghiệp không có khả năng ký kết các hợp đồng mới do không có hàng hóa, hàng hóa kém chất lượng, hàng hóa bị tẩy chay hoặc bị cấm… Có thể lấy ví dụ như cơn bão số 5 năm 2019 đã tàn phá ngư trường xuất khẩu chính của nước ta, làm cho các doanh nghiệp thủy hải sản điêu đứng; hay hạn hán năm 2017 làm chết nhiều gốc tiêu, cà phê; trong năm 2023, cơn bão số 7 đã làm cho 223.300 ha lúa bị hư hại, trên 21.000 ha thủy sản bị mất trắng và gần đây là đợt rét đậm, rét hại kéo dài đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất nông ngư nghiệp …dẫn đến giá thành xuất khẩu của sản phẩm Việt Nam cao hơn so với các nước khác. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều khi đối tác không muốn thực hiện hợp đồng do giá cả hàng hóa trên thị trường thay đổi hoặc thực hiện hợp đồng không mang lại lợi nhuận cho đối tác…các đối tác đã tạo ra những trường hợp bất khả kháng giả. Điều này thường xảy ra khi trong hợp đồng điều khoản bất khả kháng không được quy định chặt chẽ. Tất nhiên, khi các trường hợp bất khả kháng xảy ra thì không thể có các biện pháp khắc phục.
2.3. Hoạt động quản trị rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế tại các doanh nghiệp Việt Nam Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
2.3.1. Nhận thức của các doanh nghiệp về rủi ro
Rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế đang có xu hướng ngày càng gia tăng về số lượng cũng như mức độ nghiêm trọng. Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự nhận thức đầy đủ về tính chất nghiêm trọng cũng như sự cần thiết phải có các biện pháp phòng ngừa, né tránh những rủi ro có thể xảy ra cho doanh nghiệp mình.
Trước những rủi ro mang tính vĩ mô, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn tỏ ra còn thụ động. Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chưa cập nhật, tìm hiểu các văn bản pháp lý cũng như quan tâm đến hoạt động tư vấn pháp lý. Hiện nay, hầu như tất cả các công ty liên doanh hoặc công ty 100% vốn nước ngoài đều có bộ phận hoặc nhân viên đảm trách việc liên quan đến chính sách, pháp luật với chức năng là cầu nối của doanh nghiệp phối hợp với các cơ quan chức năng của Nhà nước giải quyết những sự vụ cụ thể liên quan đến công ty về mặt hành chính. Ngoài ra, bộ phận này còn chịu trách nhiệm cập nhật mọi thông tin liên quan đến các văn bản pháp luật và đưa đến các phòng ban khác trong công ty. Nhưng với các công ty lớn của Việt Nam, sự đảm trách nhiệm vụ này chưa được phân quyền, phân trách nhiệm cụ thể cho một bộ phận hoặc một cá nhân nào. Các phòng ban thường tự thu thập và cập nhật thông tin theo năng lực của mình, chưa mang tính chuyên nghiệp cao. Còn tại các công ty nhỏ, công việc này thường dựa vào năng lực của lãnh đạo công ty, các phòng ban thường bỏ qua việc này và chỉ tập trung vào chuyên môn.
Thêm vào đó, các doanh nghiệp cũng chưa quen sử dụng hoặc khó tiếp cận với một số dịch vụ phòng ngừa, hạn chế rủi ro. Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam khi đến kỳ hạn thanh toán thì liên hệ trực tiếp với ngân hàng mua ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay. Đồng tiền thanh toán chủ yếu vẫn là USD và tỷ giá được Nhà nước điều chỉnh khá ổn định. Tuy nhiên, dù lựa chọn đồng tiền thanh toán nào thì vẫn tiềm ẩn những rủi ro về tỷ giá nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn tự phỏng đoán và tự tính mà không sử dụng các công cụ chuyên nghiệp trên thị trường tiền tệ. Trong thực tế, chỉ có một vài doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tư vấn nghiệp vụ hoán đổi tỷ giá, và gần đây mới bắt đầu có sử dụng nghiệp vụ quyền chọn.
2.3.2. Thực trạng các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Trước những rủi ro đang diễn ra trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, những biện pháp cơ bản đang được áp dụng tại Việt Nam nhằm hạn chế những rủi ro này bao gồm:
- Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
Nếu so với thế giới thì lịch sử bảo hiểm của Việt Nam còn khá non trẻ. Trước năm 1954, hàng hóa xuất nhập khẩu tham gia hệ thống bảo hiểm của Pháp. Từ năm 1954 đến năm 1965, miền Bắc Việt Nam vẫn chưa có hệ thống, quy tắc bảo hiểm riêng mà chỉ làm đại lý cho bảo hiểm hàng hải Trung Quốc với ba loại hình bảo hiểm: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, tái bảo hiểm và bảo hiểm thân tàu. Từ tháng 12/1965, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam được thành lập (viết tắt là Bảo Việt) đã xây dựng và tiếp nhận dịch vụ bảo hiểm dưới ba loại hình như đại lý bảo hiểm cho Trung Quốc. Sau khi hòa bình, thống nhất cả nước, nhất là sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, bảo hiểm Việt Nam trong đó có bảo hiểm hàng hải phát triển nhanh chóng. Sau đó, một loạt công ty bảo hiểm hàng đầu trên thế giới đã có mặt tại thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhiều công ty bảo hiểm được thành lập để thực hiện kinh doanh bảo hiểm.
Thị trường bảo hiểm phát triển nhanh chóng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập của mình. Trong những năm gần đây, số phí bảo hiểm mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu mua tại Việt Nam và chuyển ra nước ngoài tăng đáng kể, bình quân khoảng trên 30 triệu USD/năm. Điều này cho thấy ngày càng nhiều doanh nghiệp ý thức được tầm quan trọng của việc mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, thực tế cũng có doanh nghiệp chỉ mua bảo hiểm cho đúng nghĩa vụ quy định trong hợp đồng mà không biết lựa chọn loại hình bảo hiểm phù hợp với loại hàng hóa, với phương thức chuyên chở. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng thường nhập CIF, bán FOB để hạn chế thấp nhất những rủi ro trong quá trình giao nhận khi chưa thực sự am hiểu về các quy tắc quốc tế.
- Quản trị rủi ro hối đoái
Như đã phân tích trong mục 2.2.2.1.c, hiện nay tại các doanh nghiệp Việt Nam việc thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối để hạn chế những rủi ro do sự thay đổi tỷ giá hối đoái gây nên còn hạn chế, nguyên nhân một phần là do nhận thức cũng như chuyên môn của những cán bộ tham gia hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế còn hạn chế, một phần là do thị trường hối đoái tại Việt Nam chưa thực sự phát triển, các ngân hàng thương mại chưa cung cấp và tư vấn các dịch vụ liên quan đến việc hạn chế những rủi ro này.
- Một số biện pháp khác Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng đã áp dụng một số biện pháp nhằm đảm bảo an toàn trong khâu sản xuất, phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra trong khâu này (những rủi ro mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể chủ động phòng tránh). Những biện pháp có thể kể đến như áp dụng các tiêu chuẩn về an toàn hệ thống trong thiết kế, xây dựng và vận hành các khu nhà xưởng sản xuất; ban hành các quy định về an toàn trong phòng chống cháy nổ, trong khâu vận chuyển, trong quá trình sản xuất cũng như những quy định an toàn về vệ sinh môi trường.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng đã quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ ngoại thương cũng như người lao động. Có như vậy doanh nghiệp mới có thể chủ động phòng chống cũng như hạn chế được những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình kinh doanh của mình.
Qua nghiên cứu hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam cũng như những rủi ro mà các doanh nghiệp Việt Nam thường gặp phải khi tiến hành xuất nhập khẩu hàng hóa, có thể rút ra kết luận: hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam trong những năm gần đây phát triển nhanh chóng, giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân tuy vậy hoạt động này cũng chứa đựng không ít rủi ro. Trong khi đó, những biện pháp các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro chưa thực sự phát huy hiệu quả cũng như các biện pháp hiệu quả chưa được áp dụng rộng rãi nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra. Do vậy, nhà nước cũng như các doanh nghiệp phải quan tâm hơn nữa đến hoạt động quản trị rủi ro nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hạn chế rủi ro về mua bán hàng hóa quốc tế


Pingback: Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế