Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Hà Nội này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

I/ Giới thiệu tổng quan về công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Xuất nhập khẩu và đầu tư Hà Nội (UNIMEX Hà Nội).

1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty UNIMEX Hà Nội:

UNIMEX Hà Nội là đơn vị kinh tế hạch toán kinh doanh độc lập, có tư cách pháp nhân, có tài khoản tại ngân hàng ( kể cả tài khoản ngoại tệ) và sử dụng con dấu riêng theo quy định của Nhà nước.

  • Tên Công ty: Công ty Trách nhiệm hữu hạn NN một thành viên Xuất nhập khẩu và đầu tư Hà Nội
  • Tên điện tín: UNIMEX Hà Nội.
  • Trụ sở giao dịch: 41 Ngô Quyền, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, công ty UNIMEX Hà Nội đã trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển với các mốc thời gian như sau:

Ngày 04/06/1962, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 3618/TC – QĐ thành lập Công ty kinh doanh hàng xuất khẩu. Đây là đơn vị kinh doanh đầu tiên của ngành ngoại thương thành phố Hà Nội, tổ chức tiền thân của công ty Trách nhiệm hữu hạn NN một thành viên Xuất nhập khẩu & đầu tư Hà Nội. Nhiệm vụ của thành phố giao cho Công ty kinh doanh hàng xuất khẩu là: một mặt tổ chức chế biến, thu gom hàng nông sản xuất khẩu rồi giao cho các tổng công ty và các công ty trung ương xuất khẩu; mặt khác tiếp nhận hàng nhập khẩu phục vụ cho công cuộc xây dựng kinh tế Thủ Đô.

Để xây dựng và phát triển ngành ngoại thương của Thủ đô theo yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, ngày 22/5/1975, UBND Thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 476/TC-QĐ thành lập Công ty Ngoại thương Hà Nội trên cơ sở Công ty kinh doanh hàng xuất khẩu. Các trạm sản xuất, gia công hàng xuất khẩu được chuyển thành các xí nghiệp trực thuộc công ty, đồng thời công ty còn tiếp nhận thêm một số xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu của các tổng công ty Trung ương. Tại thời điểm này, công ty gồm có 7 xí nghiệp sản xuất, 2 trạm thu mua hàng nông sản tạp phẩm và 3 cửa hàng mua bán ngoại tệ.

Ngày 23/4/1980, UBND Thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 1534/TC – QĐ thành lập Liên hiệp công ty Xuất nhập khẩu Hà Nội. Giai đoạn đầu, Liên hiệp công ty Xuất nhập khẩu Hà Nội gồm 20 đơn vị trực tiếp kinh doanh trực thuộc và 13 phòng ban tham mưu giúp việc với hơn 2020 lao động.

Căn cứ vào nhu cầu kinh doanh với các cơ sở kinh tế Trung ương cũng như địa phương thông qua việc đầu tư, liên kết kinh doanh, theo đề nghị của Liên hiệp công ty Xuất nhập khẩu Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 3310/TC –QĐ ngày 16/12/2011 bổ sung thêm nhiệm vụ và đổi tên thành Liên hiệp công ty Xuất nhập khẩu và đầu tư Hà Nội .

Thực hiện nghị định số 338 – HĐBT ngày 20/11/2011 của Hội đồng bộ trưởng, theo đề nghị của Liên hiệp công ty Xuất nhập khẩu & đầu tư Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 1203/QĐ-UB ngày 24/3/2013 thành lập các công ty trực thuộc Liên hiệp công ty, trong đó phần kinh doanh của Văn phòng Liên hiệp công ty được tách thành công ty Xuất nhập khẩu và đầu tư Hà Nội (UNIMEX Hà Nội). Đến tháng 11/2025 công ty Xuất nhập khẩu và đầu tư Hà nội đã chuyển thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên xuất nhập khẩu và đầu tư Hà Nội.

Cho đến nay, Liên hiệp công ty Xuất nhập khẩu và đầu tư Hà Nội bao gồm 6 thành viên là các công ty có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh doanh độc lập:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn NN một thành viên Xuất nhập khẩu & đầu tư Hà Nội (UNIMEX Hà Nội); Công ty thương mại và dịch vụ tổng hợp Hà Nội (SERVICO Hà Nội); Công ty thương mại và Xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội (GENEXIM Hà Nội); Công ty Xuất nhập khẩu hàng tiêu dùng & thủ công mỹ nghệ Hà Nội(ARTEX HN); Công ty thương mại và đầu tư Hà Nội (TIC Hà Nội); Công ty sản xuất công nghiệp và xây lắp Hà Nội (HACIPCO).

2. Hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công ty: Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

2.1/ Chức năng và quyền hạn của công ty:

2.1.1/ Chức năng:

Xuất khẩu trực tiếp và nhận xuất khẩu ủy thác tất cả các mặt hàng bao gồm: các mặt hàng nông lâm sản, khoáng sản, hàng thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm dệt may, hàng tạp phẩm, hàng gia công chế biến và các mặt hàng công nghiệp…

Nhập khẩu trực tiếp và nhận ủy thác nhập khẩu các mặt hàng vật tư máy móc, thiết bị, nguyên liệu phục vụ sản xuất, vật liệu xây dung, các loại phương tiện vận tải, hóa chất và hàng tiêu dùng…

Hoạt động theo pháp luật hiện hành của nước CHXHCN Việt Nam và những quy định riêng của toàn Liên hiệp công ty.

2.1.2/ Quyền hạn:

Được sản xuất và gia công chế biến các mặt hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng trong nước, hàng may mặc, đồ chơi điện tử, lắp ráp xe máy, điện tử điện lạnh, hàng nông lâm, hải sản chế biến và các mặt hàng khác.

Được làm dịch vụ thương mại nhập khẩu, tái xuất, chuyển khẩu quá cảnh và môi giới thương mại.

Được quyền ký kết hợp đồng kinh tế với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, được vay vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ tại các ngân hàng nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất và kinh doanh của mình theo luật pháp và các quy định quản lý ngoại hối của Nhà Nước.

Được quyền mở đại lý, các cửa hàng buôn bán lẻ hàng Xuất nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước theo quy định hiện hành của Nhà nước, liên doanh liên kết, hợp tác đầu tư với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước ở các lĩnh vực sản xuất kinh doanh.

Được quyền cho thuê văn phòng, kinh doanh khách sạn, cho thuê kho tàng, bến bãi, nhà xưởng và các công trình phụ trợ.

2.2/ Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty: Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Ban giám đốc: Ban giám đốc của công ty UNIMEX Hà Nội gồm 1 giám đốc và 3 phó giám đốc. Giám đốc là người đứng đầu công ty, tất cả các phòng ban đều chịu sự quản lý của giám đốc. Các phó giám đốc phụ trách một số lĩnh vực công tác và chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty về lĩnh vực công tác được giao. Ban giám đốc chịu trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật về mọi hoạt động của công ty.

Phòng kế toán và tài vụ: có nhiệm vụ hạch toán kế toán, đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động kinh doanh trong từng kế hoạch ( tháng, quý, năm). Đồng thời phòng kế toán, tài vụ còn phải đảm bảo vốn phục vụ cho các hoạt động của các phòng kinh doanh trong công ty, điều tiết vốn nhằm mục tiêu kinh doanh, đảm bảo vốn được quay vòng nhanh và có hiệu quả nhất. Quyết toán tài chính với cơ quan cấp trên và các cơ quan hữu quan, tổ chức tài chính, ngân hàng hàng năm.

Phòng tổ chức cán bộ: có nhiệm vụ quản lý toàn bộ nhân lực của công ty, tham mưu cho giám đốc về sắp xếp, bố trí nhân lực hợp lý và hiệu quả nhất. Lập kế hoạch đào tạo, điều hành, bổ sung lao động nhằm phù hợp với yêu cầu kinh Ngoài ra, phòng tổ chức còn làm một số công việc khác như: bảo vệ chính trị nội bộ, thanh tra lao động tiền lương và bảo hiểm xã hội…

Phòng kế hoạch thông tin: có nhiệm vụ xây các kế hoạch của công ty trong dài hạn, ngắn hạn, thu nhập và nắm giữ toàn bộ thông tin về hoạt động kinh doanh của công ty, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu. Mặt khác, phòng kế hoạch thông tin còn phải báo cáo thông cho giám đốc một cách chính xác, kịp thời nhằm giúp cho giám đốc có quyết định đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của công ty.

Các phòng nghiệp vụ:

  • Phòng kinh doanh 1: Xuất khẩu hàng nông sản, khoáng sản.
  • Phòng kinh doanh 2: Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
  • Phòng kinh doanh 3: Xuất nhập khẩu tổng hợp.
  • Phòng kinh doanh 4: Xuất khẩu hàng máy móc, thiết bị.
  • Phòng kinh doanh 5: Xuất nhập khẩu hàng sang Nga.
  • Phòng kinh doanh 6,7,8: Xuất nhập khẩu tổng hợp. Phòng kinh doanh đầu tư xây dựng cơ bản.

Chi nhánh: Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh

  • Chi nhánh tại Hải Phòng.

Các đơn vị trực thuộc:

  • Xí nghiệp Chè Thủ đô.
  • XN sản xuất hàng xuất khẩu Phú Diễn.
  • XN Bao bì.

Liên doanh:

  • Liên doanh với công ty du lịch Hà Nội kinh doanh khách sạn Sofitel Metropol.
  • Liên doanh với Malaysia triển khai trung tâm thương mại dịch vụ Cầu Giấy.

3/ Tiềm lực về nguồn vốn và nhân lực của công ty: Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

3.1/ Tiềm lực về nguồn vốn:

Sau hơn 40 năm hình thành và phát triển, từ nguồn vốn ít ỏi ban đầu, cho đến nay công ty đã có một tiềm lực kinh tế khá vững mạnh và ổn định. Để huy động và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, công ty đã áp dụng một số biện pháp như tiết kiệm, huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ tập thể cán bộ công nhân viên toàn công ty, vay thêm vốn ở các ngân hàng và các tổ chức tín dụng, liên doanh để có thêm nguồn vốn mở rộng sản xuất kinh doanh…. Hiện nay, với tổng nguồn vốn kinh doanh trên 48 tỷ VND, công ty luôn đảm bảo duy trì và phát huy khả năng sản xuất kinh doanh, hoàn thành và vượt mức các chỉ tiêu được giao, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, qua đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống của tập thể cán bộ công nhân viên toàn công ty.

3.2/ Nguồn nhân lực:

Hiện nay, tổng số lao động của công ty là 120 người (không kể chi nhánh và các xí nghiệp thành viên), trong đó có trên 85 % có trình độ đại học và trên đại học, trên 70% tổng số cán bộ có độ tuổi trên 40. Đội ngũ cán bộ cũng thường xuyên được công ty tạo điều kiện đi học, chuyên tu thêm để nâng cao trình độ chuyên môn, chính trị cho phù hợp với nhu cầu kinh doanh hiện tại của công ty, qua đó đã góp phần nâng cao hiệu quả công việc của người lao động.

Hàng năm, công ty luôn tổ chức khám sức khoẻ, tham quan nghỉ mát cho toàn thể cán bộ công nhân viên trong các dịp hè, lễ tết; thực hiện chính sách đối với cán bộ công nhân viên là thương binh bộ đội xuất ngũ… Qua đó công ty đã góp phần động viên tinh thần hăng say thi đua sản xuất của tập thể cán bộ công nhân viên toàn công ty.

Hiện nay, thu nhập của cán bộ, công nhân viên của công ty tương đối ổn định. Tiền lương bình quân là 1,915,259 VND người/ tháng, còn thu nhập bình quân là 2,428,686 VND người/tháng.

4/ Đặc điểm về phương thức kinh doanh xuất nhập khẩu:

4.1/ Đặc điểm về phương thức tổ chức quản lý: Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Đối với các phòng kinh doanh nghiệp vụ (các phòng kinh doanh 1-8), công ty tiến hành giao chỉ tiêu, nhiệm vụ (theo tháng, quý, năm) cho từng phòng theo kế hoạch để thực hiện và giao nộp theo đúng kỳ. Mức lương, thưởng của các phòng được hưởng sẽ phụ thuộc vào mức độ hoàn thành kế hoạch và tổng doanh thu thực hiện.

Đối với cán bộ làm công tác quản lý, công ty tiến hành thực hiện quản lý theo cơ chế “ một thủ trưởng”. Tuy nhiên công ty luôn đề cao tính năng động, chủ động và sáng tạo trong công việc của từng cán bộ công nhân viên (CNV) trong công ty.

Đối với các chi nhánh và các xí nghiệp sản xuất trực thuộc, công ty tiến hành áp dụng chế độ hạch toán nội bộ.

Công ty cũng thường xuyên áp dụng chế độ khen thưởng, chăm lo đời sống vật chất cũng như tinh thần tới từng cán bộ Công nhân viên trong công ty, thực hiện chế độ thưởng phạt phân minh; qua đó đã góp phần tạo bầu không khí hăng say, thi đua trong công việc; thực hiện theo khẩu hiệu “công việc luôn gắn liền với hiệu quả”.

4.2/ Đặc điểm về phương thức kinh doanh xuất nhập khẩu:

Công ty UNIMEX Hà Nội là doanh nghiệp thương mại chuyên về Xuất nhập khẩu, đầu tư và dịch vụ. Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh của mình, công ty tập trung chủ yếu vào lĩnh vực xuất nhập khẩu. Công ty thường áp dụng một cách linh hoạt các phương thức kinh doanh để gia tăng hiệu quả Xuất nhập khẩu, nhưng tựu trung lại, công ty thường sử dụng ba phương thức kinh doanh chính là:

  • Xuất nhập khẩu trực tiếp.
  • Xuất nhập khẩu uỷ thác.
  • Gia công hàng xuất khẩu.

Ngoài ra, trong những năm gần đây, công ty cũng thực hiện phương thức hàng đổi hàng và tạm nhập tái xuất, tuy nhiên kim ngạch và tỉ trọng của hai phương thức này vẫn còn nhỏ trên tổng số chung.

Về cách thức tiến hành kinh doanh tại công ty, phòng kinh doanh nghiệp vụ có trách nhiệm lên phương án kinh doanh xuất khẩu (nhập khẩu). Phương án kinh doanh cần phải bao gồm các thông tin sau:

  • Điện ngoại xác nhận mua bán ( nếu có).
  • Dự thảo hợp đồng liên quan tới phương án kinh
  • Giấy phép ngành hàng kinh doanh của đối tác ( đối với khách hàng lần đầu).
  • Báo cáo quyết toán tài chính hai niên độ liền kề tính tới thời điểm lập phương án kinh doanh, giao kết hợp đồng.
  • Các tài liệu có liên quan khác do ngân hàng cung cấp tín dụng hoặc tính chất đặc thù của từng thương vụ yêu cầu.
  • Khả năng thanh toán của đối tác (trên cơ sở phân tích báo cáo tài chính), khả năng thanh toán của người mua hàng xuất khẩu. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.
  • Uy tín của đối tác trên thị trường, thông tin về đối tác từ phía ngân hàng.
  • Chỉ tiêu hiệu quả của phương án kinh Phương án kinh doanh khả thi được đánh giá trên hiệu quả của các chỉ tiêu: Doanh số, lợi nhuận trước thuế, khả năng quay vòng vốn và thu hồi vốn…

Phương án kinh doanh sau khi được đơn vị trực tiếp kinh doanh hoàn thiện được chuyển qua bộ phận quản lý và Phòng kế toán tài vụ (KT-TV), phòng KT-TV có trách nhiệm kiểm tra các số liệu tính toán trong phương án kinh doanh, các thông điệp dữ liệu từ các tài liệu đi kèm, đồng thời phải kiểm tra sự phù hợp giữa phương án kinh doanh và hợp đồng kinh tế đi kèm, đề xuất thực hiện hoặc không thực hiện phương án kinh doanh (thời gian luân chuyển tại bộ phận quản lý không quá 3 ngày làm việc đối với hàng nhập khẩu, và không quá 1 ngầy đối với hàng xuất khẩu).

Sau đó phương án kinh doanh sẽ được chuyển qua ban giám đốc công ty. Giám đốc và phó giám đốc phụ trách đơn vị kinh doanh đánh giá, xem xét duyệt phương án kinh doanh theo đề xuất của phòng KT-TV hoặc trao đổi với các đơn vị liên quan để hoàn thiện bổ sung trước khi duyệt phương án kinh doanh.

Phòng KT-TV trên cơ sở phương án kinh doanh và hợp đồng kinh tế đã được duyệt, ký và các tài liệu liên quan tiến hành làm các thủ tục tiếp theo thực hiện phương án kinh doanh.

5/ Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty thời kỳ 2021 – 2025:

Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp, giá một số vật tư, hàng hoá nhập khẩu quan trọng biến động bất thường. Trong hoàn cảnh cạnh tranh gay gắt về thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước, công ty UNIMEX Hà Nội lại trong thời kỳ sáp nhập, giải thể theo quyết định 86/ TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản cụ thể của UBND Thành phố Hà Nội, một loạt các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các phòng, ban quản lý, kinh doanh phải sắp xếp lại… Các công tác này đã được tiến hành thận trọng song vẫn có những tác động tư tưởng bất lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ của từng công ty nói riêng và Liên hiệp công ty nói chung. Đây là thời kỳ hết sức khó khăn đối với công ty. Tuy vậy, bằng sự chỉ đạo sát sao của ban giám đốc công ty và sự nỗ lực của toàn thể công nhân viên, trong những năm qua, công ty UNIMEX Hà Nội vẫn luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao và thu được những kết quả đáng khích lệ.

Nhìn vào bản báo cáo kết quả kinh doanh trong 5 năm ( xem bảng 1), ta thấy doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2022 và 2023 đều có bước nhảy vọt cả so với kế hoạch và thực hiện của năm 2021, mức tăng này bình quân từ 158- 318%, chỉ tính riêng tổng doanh thu của công ty năm 2024 đã đạt 1,087.410 tỷ đồng. Đối với hoạt động đầu tư tài chính thì mức tăng trưởng về thu nhập cũng rất cao, và đạt mức tăng trưởng gần 200% liên tục trong 2 năm liên tiếp 2022 và 2023. Thu nhập từ hoạt động bất thường còn có mức tăng trưởng kì diệu hơn rất nhiều: gần 5 lần so với năm 2021. Nếu nói về doanh thu thì đây quả là những con số tăng trưởng rất ấn tượng, đặc biệt là trong hoàn cảnh công ty vừa trải qua năm 2021, một năm đầy sóng gió và công ty đã phải hứng chịu nhiều tác động nặng nề có chiều hướng tiêu cực của thị trường quốc tế. Mức tăng trưởng ấy đã phản ánh những nỗ lực đáng khâm phục của cán bộ Công nhân viên toàn công ty trong việc nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, nhu cầu của khách hàng và những biến động của mọi nhân tố ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của công ty. Từ đó, tìm ra được những giải pháp đúng đắn để giúp công ty dần khôi phục và phát triển hoạt động kinh doanh của mình.

  • Biểu đồ số 1: TỔNG DOANH THU CỦA CÔNG TY THỜI KỲ 2021 – 2025.
  • BẢNG SỐ 1: KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY THỜI KỲ 2021-2025

II/ Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại công ty UNIMEX Hà Nội: Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

1/ Khái quát hoạt động Xuất nhập khẩu của công ty trong thời gian qua:

Hoạt động Xuất nhập khẩu của công ty trong những năm qua đều có mức tăng trưởng khá, mức tăng trưởng hàng năm đều vượt kế hoạch, năm sau cao hơn năm trước. Mức tăng trưởng kim ngạch Xuất nhập khẩu bình quân của thời kỳ 2021-2025 hàng năm vào khoảng trên 60%. Riêng năm 2023, tổng kim ngạch Xuất nhập khẩu của công ty có mức tăng trưởng đột biến: kim ngạch xuất khẩu đạt 21,191,072 USD tăng 104% so với kế hoạch và 527% so với cùng kì năm trước, kim ngạch nhập khẩu cũng đạt thành tích cao với 18,137,700 USD, xấp xỉ 130% so với kế hoạch và bằng 318% so với năm 2022. Năm 2024 và năm 2025, tổng kim ngạch Xuất nhập khẩu của công ty vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định và đạt tổng trị giá trên 40 triệu USD. Hàng năm, tổng kim ngạch của công ty luôn chiếm trên 50% kim ngạch xuất nhập khẩu của toàn Liên hiệp công ty Xuất nhập khẩu và đầu tư Hà Nội.

  • Biểu đồ số 2: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG Xuất nhập khẩu CỦA CÔNG TY THỜI KỲ 2021 – 2025
  • Bảng số 2: CƠ CẤU MỘT SỐ MẶT HÀNG XK TIÊU BIỂU CỦA CÔNG TY.

Như vậy, đối với một số mặt hàng xuất khẩu truyền thống của công ty như: hạt tiêu, quế, hàng mỹ nghệ, mây tre đan… vẫn luôn giữ được mức tăng trưởng khá ổn định. Đối với hàng may mặc, mặc dù mới trở lại nhưng đã bắt đầu có những bước tiến đáng kể. Tuy mức tăng trưởng của hàng may mặc là rất cao (298%) nhưng kim ngạch vẫn còn rất thấp và chưa tương xứng với tiềm năng vốn có.

Hai mặt hàng hải sản và lương thực thực phẩm cũng có mức tăng trưởng bình quân cao, và đều có bước nhảy vọt trong năm 2024, với kim ngạch xuất khẩu đều trên mức 2 triệu USD. Riêng mặt hàng hải sản, trong năm 2023 có mức tăng đột biến với kim ngạch xuất khẩu trên 19 triệu USD. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Về nhập khẩu: Các mặt hàng nhập khẩu của công ty cũng tương đối đa dạng, bao gồm: ôtô, xe máy, xe lu, máy xúc, các máy công nghiệp, hàng điện tử điện máy, hóa chất, gỗ, bột giấy, dây điện, sắt, thép các loại, hàng tạp phẩm, hàng tiêu dùng… Cơ cấu hàng nhập khẩu của công ty được chia làm năm nhóm hàng sau: máy móc thiết bị và phụ tùng; ôtô, xe máy các loại; nguyên vật liệu phục vụ sản xuất; hàng phục cụ xuất khẩu tại chỗ; hàng tiêu dùng.

  • Bảng số 3: CƠ CẤU MỘT SỐ MẶT HÀNG NK TIÊU BIỂU CỦA CÔNG TY

Về cơ bản, công ty chủ yếu nhập khẩu các mặt hàng máy móc thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Hai mặt hàng này chiếm tỷ trọng lớn trên tổng giá trị nhập khẩu của công ty. Nguyên vật liệu là nhóm hàng có kim ngạch cao nhất và thường chiếm 50-60% tổng giá trị, tiếp đến là nhóm mặt hàng máy móc thiết bị chiếm 15-30%. Kim ngạch của các nhóm mặt hàng còn lại đều chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu của công ty, đó là mặt hàng ôtô, xe máy các loại (2-8%), nhóm hàng tiêu dùng (1-3%). Hàng phục vụ xuất khẩu tại chỗ chiếm tỷ trọng không đáng kể. Tuy nhiên, trong năm 2024, kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng này có mức tăng trưởng đột biến đạt mức 989,046 USD và chiếm tới 17,5% trên tổng kim ngạch nhập khẩu của công ty.

Trong lĩnh vực sản xuất, công ty sản xuất gia công chế biến hàng hóa xuất khẩu và hàng tiêu dùng trong nước, hàng may mặc, đồ chơi điện tử, hàng điện tử, điện lạnh, hàng nông lâm hải sản và dược liệu. Xí nghiệp sản xuất xuất khẩu Phú Diễn và Xí nghiệp Chè Thủ Đô trực thuộc công ty trong những năm gần đây đã và đang được tập trung nâng cấp cơ sở vật chất cả về nhà xưởng, trang thiết bị và tổ chức sản xuất nhằm mở rộng mặt hàng và chủ động nguồn hàng xuất khẩu cho công ty. Từ tháng 10-2023, sản phẩm của xí nghiệp Chè Thủ Đô đã được xuất khẩu sang một số nước, bước đầu sản phẩm chè xanh, chè đen của công ty đã được một số bạn hàng chấp nhận và đánh giá cao.

  • Thị trường xuất nhập khẩu: Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Công ty UNIMEX Hà Nội hoạt động kinh doanh ở cả trong và ngoài nước. Hiện tại, công ty có quan hệ làm ăn với khoảng hơn 40 nước trên thế giới. Tuy nhiên, Châu Á vẫn là thị trường hoạt động chủ yếu của công ty, với các bạn hàng truyền thống là Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Philippin…

Trong thời gian qua, hoạt động xúc tiến thương mại của công ty đã được đẩy mạnh dưới nhiều hình thức như: tham gia các hội chợ triển lãm xúc tiến thương mại ở cả trong và ngoài nước, tiến hành quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, quan hệ chặt chẽ với các tham tán ở nước ngoài… Chính vì vậy thị trường xuất khẩu của công ty trong những năm gần đây ngày càng được mở rộng, công ty đã từng bước thâm nhập vào được một số thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ, Canada… Bước đầu tạo dựng được hình ảnh và vị trí trên thị trường. Ngoài các bạn hàng truyền thống thì kim ngạch xuất khẩu của công ty vào các thị trường này đều có những bước tăng trưởng đáng khích lệ. So với năm 2021 thì kim ngạch xuất khẩu của công ty vào thị trường Mỹ luôn có mức tăng trưởng rất cao, liên tục từ 340-360%.

Kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường khác như Ấn Độ, Nga, Trung Quốc đều có mức tăng trưởng cao và ổn định. Điều này được thể hiện qua bảng số liệu dưới đây. (bảng 4)

  • Bảng số 4: CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY

Về thị trường nhập khẩu, công ty thường nhập khẩu hàng hóa với kim ngạch lớn chủ yếu từ các nước Châu Á như Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore… Trong đó, Trung Quốc, Nhật Bản và Nga (Châu Âu) là những thị trường nhập khẩu chính cuả công ty. Trong một vài năm trở lại đây, công ty đã chuyển hướng và nhập khẩu nhiều hơn từ các nước EU và Bắc Mỹ. Từ năm 2022, kim ngạch nhập khẩu của công ty từ các thị trường này khá lớn và có mức tăng trưởng tương đối cao và ổn định. Đặc biệt là thị trường EU, kim ngạch nhập khẩu đã có bước tăng trưởng bình quân đạt mức 4,080,784 USD. (Xem bảng 5)

  • Bảng số 5: CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY.
  • Biểu đồ số 3: CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG Xuất nhập khẩu CỦA CÔNG TY NĂM 2025

Nhìn chung, mặc dù đã có những bước tiến đáng kể nhưng cơ cấu thị trường của công ty vẫn chậm được cải thiện. Thị trường Châu Á vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trên 40% kim ngạch xuất nhập khẩu của toàn công ty. Những thị trường lớn như: Mỹ, EU và Đông Âu vẫn giữ tỉ lệ khiêm tốn và chưa thực sự tương xứng với tiềm năng.

2/ Phân tích thực trạng hoạt động thanh toán Xuất nhập khẩu của công ty. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

2.1/ Thực trạng ký kết và thực hiện điều khoản Thanh toán quốc tế trong hoạt động Xuất nhập khẩu của công ty:

2.1.1/ Điều kiện tiền tệ:

Trong giai đoạn hiện nay, các đồng tiền trên thế giới thường xuyên biến động sụt giá hoặc tăng giá do ảnh hưởng của khủng hoảng thu chi quốc tế. Để tránh những tổn thất có thể xảy ra, các đồng tiền được công ty sử dụng trong thanh toán quốc tế chủ yếu là các ngoại tệ mạnh như: USD, EUR, JPY… Trên thực tế, công ty thường sử dụng đồng đô la Mỹ vì đây là một đồng tiền mạnh trên thế giới và là đồng tiền tương đối an toàn, có độ rủi ro thấp và ít chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác. Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây, do đồng USD gặp nhiều biến động, tỷ giá tăng giảm bất thường, vì vậy nên công ty đã chuyển hướng sử dụng đồng EUR đóng vai trò là đồng tiền thanh toán nhiều hơn, điều này cũng tạo thuận lợi cho công ty trong quá trình thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu, đặc biệt là với một số nước thuộc liên minh Châu Âu. Mặc dù vậy nhưng đồng USD vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn, chiếm đến 90% tổng giá trị các hợp đồng xuất khẩu, và chiếm tới 85,1% tổng giá trị các hợp đồng nhập khẩu. Hiện tại, các hợp đồng sử dụng đồng EUR làm đồng tiền thanh toán chủ yếu là các hợp đồng xuất hàng đi Châu Âu và nhập hàng từ Châu Âu về Việt Nam.

Trong thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu, công ty hầu như không sử dụng tiền mặt mà chủ yếu chỉ sử dụng tiền tín dụng. Tiền tín dụng là tiền tài khoản, tiền ghi sổ. Các phương tiện thanh toán quốc tế là hình thức tồn tại của tiền tín dụng mà công ty hay sử dụng trong thanh toán là: hối phiếu, séc và điện chuyển tiền. Cơ cấu sử dụng các đồng tiền thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu tại công ty tính trung bình trong thời kỳ 2021 –2025 được dẫn ra qua biểu đồ sau:

  • Biểu đồ số 4: CƠ CẤU TIỀN TỆ SỬ DỤNG TRONG THANH TOÁN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU

2.1.2/ Điều kiện về thời gian thanh toán: Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Điều kiện về thời gian thanh toán được công ty áp dụng khá linh hoạt trong quá trình thanh toán. Tuỳ theo từng bạn hàng và các phương thức thanh toán sử dụng, công ty lựa chọn điều kiện về thời gian thanh toán: trả tiền trước, trả tiền ngay và trả tiền sau.

Trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá, công ty chủ yếu áp dụng hình thức trả tiền ngay và trả tiền sau. Thông thường, thời hạn trả tiền sau thường không quá 60 ngày kể từ ngày công ty hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, còn thời gian từ lúc bạn hàng chấp nhận hối phiếu đến lúc tiến hành thanh toán tiền hàng vào khoảng 15 – 45 ngày.

Cũng như hoạt động xuất khẩu, trong hoạt động thanh toán tiền hàng nhập khẩu, công ty thường áp dụng hình thức thức: trả tiền ngay và trả tiền sau. Thông thường, khi người bán lập bộ chứng từ gửi hàng và chuyển đến ngân hàng Vietcombank (hoặc ngân hàng nông nghiệp), công ty sẽ tiến hành trả tiền ngay sau khi nhận chứng từ trong vòng từ 5 đến 7 ngày. Việc trả tiền ngay có thể được công ty tiến hành bằng cách trả toàn bộ tiền hàng ngay một lúc hoặc bằng cách trả từng phần tuỳ theo sự thoả thuận của hai bên trong hợp đồng.

Việc trả toàn bộ tiền hàng ngay một lúc đòi hỏi công ty phải trả toàn bộ giá trị hàng hoá khi nhận được toàn bộ chứng từ quy định trong hợp đồng, đối với một số bạn hàng thân thuộc thì công ty có thể thanh toán toàn bộ số tiền sau một số ngày hoặc một số giờ ưu huệ nhất định kể từ khi nhận được toàn bộ chứng từ quy định.

Việc trả ngay từng phần đòi hỏi công ty phải trả ngay tiền hàng trong một số đợt được thoả thuận trong hợp đồng, căn cứ vào các điều kiện giao hàng hoặc vào mức độ sẵn sàng của hàng hoá. Thông thường, công ty phải trả cho người bán một phần chủ yếu (80- 95%) của tiền hàng khi người bán đã gửi hàng hoặc đã gửi chứng từ hàng hoá, phần còn lại (5- 20%) sẽ được trả khi người mua đã nhận hàng hoặc khi chấm dứt thời gian bảo hành.

2.1.3/ Điều kiện về địa điểm thanh toán:

Để thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu, công ty thường thực hiện thanh toán qua ba ngân hàng lớn là: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam (Vietnam Eximbank) và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (VBARD). Trong đó công ty chủ yếu thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua ngân hàng Vietcombank. Tổng trị giá thanh toán qua Vietcombank thường chiếm khoảng trên 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty, tiếp sau là ngân hàng Eximbank với 5% và VBARD vào khoảng 3%, tổng trị giá thanh toán qua các ngân hàng khác chiếm tỷ trọng không đáng kể. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Đối với hàng nhập khẩu, công ty thường mở L/C tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tổng trị giá thanh toán qua Ngân hàng nông nghiệp chiếm tới 46% tổng kim ngạch nhập khẩu của công ty, tiếp sau là đến Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam với 34%, và ngân hàng Eximbank là 15%, còn lại các ngân hàng khác chỉ chiếm vào khoảng 5% tổng kim ngạch nhập khẩu của công ty. Hiện nay, công ty có cả tài khoản ngoại tệ và đồng Việt Nam tại cả ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam và Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

  • Biểu đồ số 5: THỊ PHẦN Thanh toán quốc tế CỦA CÔNG TY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

2.1.4/ Điều kiện về phương thức thanh toán:

Tùy theo đặc điểm cụ thể của từng mặt hàng, của từng thị trường xuất khẩu, thị trường nhập khẩu và các thông tin về bạn hàng mà công ty tiến hành lựa chọn và áp dụng các phương thức thanh toán cho phù hợp.

Trong hoạt động thanh toán hàng hóa xuất khẩu cũng như nhập khẩu, công ty thường chỉ sử dụng ba phương thức thanh toán chính là: phương thức thanh toán chuyển tiền (chuyển tiền bằng điện T/T), phương thức thanh toán nhờ thu (nhờ thu đổi chứng từ D/P) và phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (chủ yếu là tín dụng chứng từ không hủy ngang). Trong ba phương thức thanh toán này, phương thức tín dụng chứng từ chiếm tỷ trọng lớn hơn cả trong các hợp đồng xuất nhập khẩu bởi đối với người xuất khẩu thì phương thức thanh toán này ít rủi ro trong thanh toán. Hai phương thức nhờ thu đổi chứng từ và phương thức chuyển tiền ít được sử dụng hơn do kém an toàn và hay gặp rủi ro. Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu tại công ty thời kỳ 2021-2025 được dẫn ra qua bảng số liệu sau:

  • Bảng số 6: TỶ LỆ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG THỨC TRONG THANH TOÁN XK CỦA CÔNG TY TỪ NĂM 2021-2025.
  • Bảng số 7: TỶ LỆ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG THỨC TRONG THANH TOÁN NK CỦA CÔNG TY TỪ NĂM 2021-2025.

Phương thức chuyển tiền:

Với phương thức thanh toán chuyển tiền, trong hoạt động xuất khẩu cũng như nhập khẩu, công ty chỉ áp dụng với những bạn hàng có uy tín và đã làm ăn lâu dài, ít áp dụng với các bạn hàng mới. Công ty hay áp dụng phương thức này đối với hoạt động xuất khẩu theo hình thức gia công hàng hoá do đặc thù của hoạt động gia công, đó là do có sự gối đầu của những lần giao hàng và thanh toán tiền hàng. Điều này đảm bảo cho công ty thu hồi được đầy đủ tổng số tiền khi đã giao hàng. Đối với hoạt động nhập khẩu, những hợp đồng có trị giá nhỏ như hàng tiêu dùng và thường được ký kết với những bạn hàng Châu Á, thuận lợi về quan hệ chính trị và vị trí địa lý. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Các hợp đồng xuất nhập khẩu sử dụng phương thức thanh toán chuyển tiền thường có tổng trị giá nhỏ và nằm trong khoảng từ 15,000 USD đến 30,000 USD. Hàng hoá xuất, nhập khẩu bằng phương thức chuyển tiền có kim ngạch thấp, mỗi năm chỉ chiếm khoảng trên dưới 10% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty.

So với hai phương thức thanh toán còn lại, phương thức chuyển tiền có chi phí thấp nhất và thời gian nhận được tiền hàng nhanh nhất. Đối với hoạt động thanh toán hàng hoá xuất khẩu, phí chuyển tiền mà công ty phải trả cho ngân hàng thường là 0.05% tổng trị giá số tiền chuyển ( tối thiểu là 2 USD và tối đa là 150 USD).

Thời gian thanh toán hàng hoá xuất khẩu của công ty nếu sử dụng phương thức chuyển tiền là vào khoảng 7-15 ngày làm việc. Cách thức thanh toán có thể chia làm một hay nhiều đợt. Thông thường, công ty yêu cầu bạn hàng chuyển một phần (khoảng từ 10-30%) trong tổng trị giá hợp đồng trước thời gian giao hàng khoảng 1-2 tuần, phần còn lại sẽ được chuyển nốt sau khi công ty tiến hành giao hàng hoặc hàng đã được bốc lên tàu. Nhìn chung, nếu thanh toán theo phương thức chuyển tiền, việc thu hồi tiền hàng của công ty nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí của người nhập khẩu.

  • Bảng số 8: Tình hình sử dụng phương thức thanh toán chuyển tiền.
  • Biểu đồ số 6: BIỂU ĐỒ KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC T/T

Phương thức nhờ thu:

Trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa, công ty sử dụng phương thức này sẽ không tốn kém, đồng thời công ty còn được ngân hàng giúp khống chế và kiểm soát được chứng từ vận tải cho đến khi đảm bảo thanh toán. Còn trong hoạt động nhập khẩu, khi công ty đóng vai trò là người mua thì công ty sẽ không có trách nhiệm phải trả tiền nếu chưa được kiểm tra các chứng từ trong một số trường hợp kể cả hàng hoá.

Tuy nhiên, đối với hoạt động xuất khẩu sẽ có những rủi ro như người nhập khẩu không chấp nhận hàng được gửi bằng cách không nhận chứng từ; rủi ro tín dụng của người nhập khẩu, rủi ro chính trị ở nước người nhập khẩu và rủi ro hàng hoá có thể bị hải quan giữ. Việc trả tiền quá chậm, từ lúc giao hàng đến lúc nhận tiền có khi kéo dài vài tháng đến một năm. Người nhập khẩu chỉ chịu một rủi ro trong thanh toán nhờ thu đổi chứng từ là hàng được gửi có thể không giống như đã ghi trên hoá đơn và vận đơn. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Trong đàm phán, nhờ thu chứng từ có thể coi là sự lựa chọn trung gian có lợi. Nếu xét về các ưu điểm tương đối với người bán và người mua, nó nằm giữa bán hàng trả chậm (lợi cho người mua) và thư tín dụng (lợi cho người bán). Do đó, người bán thường thích nhờ thu chứng từ hơn bán hàng trả chậm mà người mua đề nghị.

Qua số liệu của công ty cho thấy, phương thức nhờ thu cũng là một phương thức thanh toán mà công ty thường xuyên áp dụng đối với những khách hàng quen biết và có quan hệ làm ăn tốt. Phương thức thanh toán này hay được công ty sử dụng đối với bạn hàng ở các nước Trung Đông như: Iran, Arab Saudi, Pakistan… Tính an toàn của phương thức này mặc dù cao hơn phương thức chuyển tiền nhưng tính chất rủi ro vẫn còn không ít. Do vậy, tỷ lệ sử dụng phương thức nhờ thu trong hoạt động xuất khẩu của công ty cũng không cao. Với phương thức thanh toán nhờ thu, công ty chủ yếu áp dụng phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ là nhờ thu đổi chứng từ (D/P-Documentary against payment), các loại nhờ thu khác như: nhờ thu phiếu trơn (clean collection), nhờ thu chấp nhận trả tiền đổi chứng từ (D/A)… hầu như không được sử dụng.

  • Bảng số 9: Tình hình sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu

Các hợp đồng xuất nhập khẩu của công ty thanh toán bằng phương thức nhờ thu thường có trị giá không cao. Tổng giá trị của mỗi hợp đồng này thường rơi vào khoảng 35,000 USD đến 40,000 USD. Nếu xét trên tổng số kim ngạch xuất nhập khẩu thì tổng giá trị của các hợp đồng thanh toán bằng phương thức D/P chỉ chiếm khoảng từ 15% đến 19% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của toàn công ty.

  • Biểu đồ số 7: BIỂU ĐỒ KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC D/P.

Thông thường thời gian thanh toán cho một lô hàng xuất nhập khẩu của công ty bằng phương thức nhờ thu vào khoảng từ 15-30 ngày làm việc. Đối với thanh toán nhờ thu, việc thu hồi tiền hàng của công ty nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào khả năng và thiện chí của người nhập khẩu.

Các chi phí mà công ty thường phải trả trong hoạt động thanh toán hàng hóa xuất khẩu bằng phương thức nhờ thu bao gồm:

  • Séc: 2 USD/tờ
  • Bộ chứng từ: 5

Chi phí phải trả ngân hàng khi nhận tiền từ nước ngoài:

  • Một tờ séc: 25% trị giá ( tối thiểu là 5 USD và tối đa là 150 USD)
  • Bộ chứng từ: 2% trị giá (tối thiểu là 10 USD và tối đa là 150 USD)

Phương thức tín dụng chứng từ (TDCT): Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Phương thức thanh toán thư tín dụng được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay trong thanh toán xuất nhập khẩu vì nó đảm bảo quyền lợi cho người mua và người bán ở mức độ cao nhất, đặc biệt là đối với người bán. Phương thức này vẫn có những nhược điểm như: phí mở thư tín dụng, tỷ lệ ký quỹ cao; trong thanh toán người mua thường gặp rủi ro là hàng hoá không đúng theo hợp đồng ký kết hoặc người bán giao hàng chậm; người bán có thể gặp rủi ro khi ngân hàng mở thư tín dụng không có khả năng thanh toán. Nhưng thực tế những rủi ro này ít xảy ra và đã được các bên xem xét kỹ trước khi ký kết hợp đồng. Nói chung, đây vẫn là phương thức thanh toán hoàn hảo nhất hiện nay. Vì vậy, so với hai phương thức thanh toán trước thì phương thức tín dụng chứng từ được công ty sử dụng nhiều hơn cả. Với phương thức này, khả năng thu hồi tiền của công ty sẽ cao hơn rất nhiều bởi nó ràng buộc được nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của cả ngân hàng trả tiền (ngân hàng phát hành thư tín dụng) và nhà nhập khẩu. Nhìn chung, công ty thường sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cho các hợp đồng có giá trị lớn hoặc áp dụng thanh toán với các bạn hàng mới, quan hệ làm ăn chưa đảm bảo. Điều này được minh chứng cụ thể qua bảng số liệu sau:

  • Bảng số 10: Tình hình sử dụng phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ

Như vậy, tổng số hợp đồng thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ thường chiếm trên 50% tổng số hợp đồng xuất nhập khẩu và chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty. Song trên thực tế, khi thanh toán hàng hóa Xuất nhập khẩu bằng phương thức này, công ty vẫn gặp phải những rủi ro như: khách hàng ngoại cố tình không mở L/C khi thị trường có biến động. Tình huống như thế này đã xảy ra đối với công ty trong quá trình thanh toán tiền hàng xuất khẩu. Trong những tình huống như thế này, công ty tìm mọi giải pháp để có thể giải phóng nhanh lô hàng xuất khẩu như: tiến hành đàm phán với nhà nhập khẩu, xúc tiến tìm bạn hàng mới cho lô hàng, bán lại lô hàng đó cho khách nội…

  • Biểu đồ số 8: TỶ TRỌNG KIM NGẠCH Xuất nhập khẩu THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.

2.2/ Quy trình thanh toán xuất nhập khẩu tại công ty Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

2.2.1/ Quy trình thực hiện hoạt động thanh toán xuất khẩu:

  • QUY TRÌNH THANH TOÁN XUẤT KHẨU TẠI NỘI BỘ CÔNG TY UNIMEX HÀ NỘI

Phương thức thanh toán chuyển tiền:

Sau khi hợp đồng ngoại được ký kết, phòng Kế toán – tài vụ sẽ đại diện cho công ty tiến hành giao dịch thanh toán với ngân hàng.

Sơ đồ thanh toán theo phương thức chuyển tiền: Hoạt động xuất khẩu:

  • Bước 1: Công ty thực hiện việc thu gom hàng hoá và giao cho nhà nhập khẩu.
  • Bước 2: Nhà nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ của lô hàng, viết lệnh yêu cầu chuyển tiền trả cho công ty và gửi tới ngân hàng phục vụ mình.
  • Bước 3: Sau khi kiểm tra, nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng của người nhập khẩu (ngân hàng NK) sẽ trích tài khoản của người NK để trả tiền.
  • Bước 4: Ngân hàng NK ra lệnh bằng điện cho ngân hàng đại lý của mình hoặc ngân hàng mà UNIMEX Hà Nội chỉ định (thường là ngân hàng Vietcombank) để trả tiền cho công ty.
  • Bước 5: Vietcombank thực hiện trả tiền cho UNIMEX Hà Nội.

Đối với phương thức thanh toán nhờ thu:

Với phương thức thanh toán nhờ thu, công ty chủ yếu áp dụng phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ là nhờ thu đổi chứng từ, quy trình nghiệp vụ được tiến hành theo sơ đồ sau:

  • Bước 1: Công ty UNIMEX Hà Nội tiến hành giao hàng cho người nhập khẩu.
  • Bước 2: Đồng thời với việc giao hàng, công ty lập bộ chứng từ và ký phát hối phiếu gửi đến ngân hàng Vietcombank nhờ thu hộ tiền người nhập khẩu. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.
  • Bước 3: Vietcombank gửi thư ủy nhiệm kèm theo hối phiếu và toàn bộ bộ chứng từ về lô hàng đại lý của mình ở nước người nhập khẩu nhờ thu hộ tiền của người nhập khẩu.
  • Bước 4: Ngân hàng đại lý sau khi kiểm tra thì lưu giữ lại bộ chứng từ và gửi hối phiếu cho người nhập khẩu.
  • Bước 5: Người nhập khẩu tiến hành trả tiền thì mới được ngân hàng trao cho bộ chứng từ để đi nhận hàng.
  • Bước 6: Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho Vietcombank.
  • Bước 7: Vietcombank chuyển trả tiền lô hang cho công ty.

Đối với phương thức tín dụng chứng từ:

  • Quy trình nghiệp vụ thanh toán hàng xuất bằng phương thức tín dụng chứng từ được công ty tiến hành như sau:

Bước 1: Người nhập khẩu làm đơn yêu cầu ngân hàng của mình mở một L/C cho người xuất khẩu hưởng.

Bước 2: Theo đơn xin mở L/C, ngân hàng phục vụ người nhập khẩu sẽ lập một L/C và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở Việt Nam hoặc là ngân hàng do người xuất khẩu chỉ định (thường là Vietcombank) thông báo việc mở L/C và chuyển L/C đến UNIMEX Hà Nội.

Bước 3: Ngân hàng thông báo (Vietcombank) khi nhận được L/C gốc sẽ xác thực L/C và chuyển ngay cho UNIMEX Hà Nội.

Bước 4: UNIMEX Hà Nội nếu chấp nhận L/C thì giao hàng cho người nhập khẩu, nếu không chấp nhận thì đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng.

Bước 5: UNIMEX Hà Nội lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C xuất trình qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở L/C xin thanh toán.

Bước 6: Vietcombank nhận bộ chứng từ, kiểm tra, nếu phù hợp thì thanh toán cho người xuất khẩu, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả toàn bộ chứng từ cho UNIMEX Hà Nội.

Bước 7: Ngân hàng mở L/C thông báo cho người nhập khẩu đã thanh toán cho người xuất khẩu, đồng thời yêu cầu người nhập khẩu hoàn lại số tiền đã thanh toán để nhận chứng từ.

Bước 8: Người nhập khẩu nhận được bộ chứng từ, kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thì trả tiền hoặc chấp nhận trả riền, nếu không phù hợp có quyền từ chối trả tiền.

2.2.2/ Quy trình thực hiện hoạt động thanh toán nhập khẩu:

Lúc này, UNIMEX Hà Nội đóng vai trò là người nhập khẩu, các quy trình nghiệp vụ được tiến hành ngược lại như sau:

  • QUY TRÌNH THANH TOÁN XUẤT KHẨU TẠI NỘI BỘ CÔNG TY UNIMEX HÀ NỘI

Đối với phương thức thanh toán chuyển tiền:

  • Bước 1: Giao dịch thương mại.
  • Bước 2: UNIMEX Hà Nội viết đơn (bằng thư hoặc bằng điện) cùng ủy nhiệm chi ( nếu có tài khoản mở tại ngân hàng) yêu cầu ngân hàng Vietcombank chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi ở nước ngoài.
  • Bước 3: Ngân hàng chuyển tiền Vietcombank nhận thực hiện yêu cầu của người chuyển tiền, làm thủ tục chuyển tiền ra nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.
  • Bước 4: Ngân hàng đại lý hoặc ngân hàng của người xuất khẩu sau khi đã nhận được tiền chuyển đến, thực hiện trả tiền cho người hưởng lợi.

Đối với phương thức thanh toán nhờ thu:

Bước 1: Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ cho người mua lập một hối phiếu đòi tiền người mua và uỷ thác cho ngân hàng của mình đòi tiền thu hộ bằng chỉ thị nhờ thu.

Bước 2: Ngân hàng phục vụ bên bán gửi chỉ thị nhờ thu kèm hối phiếu cho ngân hàng đại lý của mình ở nước người nhập khẩu hoặc ngân hàng của UNIMEX Hà Nội là Vietcombank nhờ thu hộ tiền.

Bước 3: Vietcombank yêu cầu UNIMEX trả tiền hối phiếu (nếu trả tiền ngay) hoặc chấp nhận trả tiền (nếu mua chịu).

Bước 4: Ngân hàng sẽ chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán.

  • Đối với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ:

Bước 1: UNIMEX Hà nội làm đơn yêu cầu ngân hàng Vietcombank mở một L/C cho người xuất khẩu hưởng.

Bước 2: Theo đơn xin mở L/C, ngân hàng Vietcombank sẽ lập một L/C và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu thông báo việc mở L/C và chuyển L/C đến người xuất khẩu.

Bước 3: Ngân hàng thông báo khi nhận được L/C gốc sẽ xác thực L/C và chuyển ngay cho người xuất khẩu.

Bước 4: Người xuất khẩu nếu chấp nhận L/C thì giao hàng cho UNIMEX Hà Nội, nếu không chấp nhận thì đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng.

Bước 5: Người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C xuất trình qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng Vietcombank xin thanh toán.

Bước 6: Ngân hàng thông báo nhận bộ chứng từ, kiểm tra, nếu phù hợp thì thanh toán cho người xuất khẩu, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu.

Bước 7: Vietcombank thông báo cho UNIMEX Hà Nội đã thanh toán cho người xuất khẩu, đồng thời yêu cầu UNIMEX Hà Nội hoàn lại số tiền đã thanh toán để nhận chứng từ. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Bước 8: UNIMEX Hà Nội nhận được bộ chứng từ, kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thì trả tiền hoặc chấp nhận trả riền, nếu không phù hợp có quyền từ chối trả tiền.

2.2.3/ Thực trạng về những rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế:

Đặc trưng của hợp đồng mua bán ngoại thương là đồng tiền tính giá hoặc đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với ít nhất một trong các bên trong hợp đồng. Việc thanh toán giữa người mua và người bán thường qua trung gian là ngân hàng. Thời điểm thanh toán và thời điểm giao hàng thường khác nhau. Do đó, rủi ro thường xuyên xuất hiện trong khâu thanh toán.

Đứng từ phía người XK, biểu hiện rõ rệt nhất của rủi ro trong thanh toán là người bán đã giao hàng nhưng không nhận được tiền hàng. Trong một số phương thức thanh toán như ghi sổ (open account), chuyển tiền (remittance), nhờ thu (collection), nếu người bán không có các biện pháp đảm bảo thì khả năng không nhận được tiền là rất lớn.

Thanh toán bằng ghi sổ và chuyển tiền hoàn toàn dựa trên uy tín và quan hệ tốt đẹp giữa các bên. Nếu người mua không có thiện chí, sau khi nhận hàng, anh ta có thể từ chối trả tiền hoặc thậm chí từ chối thực hiện hợp đồng bằng cách không nhận hàng và không thanh toán tiền hàng.

Trong phương thức nhờ thu, có 2 loại: nhờ thu phiếu trơn (Clean Bill Collection) và nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection). Nhờ thu phiếu trơn là phương thức nhờ thu không kèm chứng từ thương mại; trong đó người bán sau khi giao hàng và giao chứng từ sẽ ký phát hối phiếu và gửi chỉ thị nhờ thu đến Ngân hàng XK, Ngân hàng XK ủy thác Ngân hàng nước ngoài (Ngân hàng NK) thu hộ tiền. Ngân hàng NK xuất trình hối phiếu đi đòi tiền người NK. Người NK sau khi kiểm tra sẽ ra quyết định có chấp nhận thanh toán hay không. Như vậy, ở phương thức này nguy cơ rủi ro rất lớn. Việc có đòi được tiền hay không, đủ hay không và kịp thời hay không hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của người mua, ngân hàng không chịu trách nhiệm. Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán chỉ giao hàng chứ không giao chứng từ kèm theo hàng. Chứng từ gửi hàng sẽ được gửi kèm với hối phiếu và chỉ thị nhờ thu. Người mua muốn lấy được chứng từ để đi nhận hàng sẽ phải thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán lên hối phiếu. Mặc dù nhờ thu kèm chứng từ có an toàn hơn nhờ thu phiếu trơn song rủi ro vẫn tồn tại khi người mua không muốn nhận hàng nên cũng không cần lấy bộ chứng từ và từ chối thanh toán.

Ngay cả ở những phương thức tưởng chừng đảm bảo an toàn như phương thức tín dụng chứng từ (L/C) và bảo lãnh thanh toán (Letter of guarantee), người XK vẫn có thể gặp phải rủi ro. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Ở phương thức tín dụng chứng từ, nếu người bán không kiểm tra kỹ L/C, không phát hiện ra những điều khác biệt so với hợp đồng gây bất lợi cho mình để yêu cầu người mua tu chỉnh L/C và vẫn tiến hành giao hàng thì phải chấp nhận những sai biệt đó và lập bộ chứng từ theo quy định của L/C. Đây chính là một rủi ro vì nó mang lại sự bất lợi cho người XK. Ngoài ra, trong quá trình lập bộ chứng từ, người bán có thể có những sai sót chẳng hạn như đáng lẽ phải ký phát hối phiếu đòi tiền ngân hàng phát hành L/C thì lại ký phát đòi tiền người NK. Kết cục là khi xuất trình, bộ chứng từ không được ngân hàng thanh toán.

Đứng từ phía người NK, rủi ro có thể gặp phải trong thanh toán là đã trả tiền nhưng không nhận được hàng. Nếu thanh toán bằng phương thức chuyển tiền trước khi nhận hàng thì có thể người bán sau khi nhận tiền lại không giao hàng. Nếu thanh toán bằng L/C, trong trường hợp người bán không thực hiện hợp đồng – không giao hàng thì người mua dù không phải trả tiền hàng song cũng phải trả chi phí mở L/C, ngoài ra còn có thể chịu chi phí gián đoạn kinh doanh, lợi nhuận mất hưởng… Trong trường hợp người bán lập bộ chứng từ khống, giả mạo, thì ngân hàng chỉ căn cứ vào sự hợp lệ trên bề mặt chứng từ để trả tiền nên người mua có thể gặp phải rủi ro là phải trả tiền hàng mà không nhận được hàng. Ngoài ra, người bán còn vi phạm nghĩa vụ giao chứng từ: không giao chứng từ cho người mua (do người bán không giao hàng), hoặc người bán giao chứng từ không phù hợp, người mua không thể nhận được hàng. Người bán lập bộ chứng từ giả để lấy tiền mà không phải giao hàng.

Một biểu hiện nữa của rủi ro trong thanh toán quốc tế là sự biến động của tỷ giá hối đoái. Xuất phát từ đặc trưng đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên trong hợp đồng, sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể làm tăng giảm hiệu quả của thương vụ. Nếu đồng tiền thanh toán giảm giá trị so với nội tệ người XK sẽ bị thiệt hại còn người NK sẽ được lợi và ngược lại. Rủi ro xảy ra đối với người này có thể trở thành may mắn với người khác. Do đó, các bên khi ký kết hợp đồng thường lựa chọn một đồng tiền ổn định làm đồng tiền tính giá và đồng tiền thanh toán để tránh rủi ro do biến động của tỷ giá khi thực hiện hợp đồng..

  • Nguyên nhân dẫn đến rủi ro điển hình trong thanh toán bằng L/C

Biểu trên cho thấy không thực hiện nghĩa vụ, sai sót trong nội dung của BCT, xuất trình chậm trễ là các nguyên nhân chủ yếu gây rủi ro trong thanh toán bằng L/C (chiếm 72,73%).

Một thực tế nữa là cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, phương thức thanh toán bằng các chứng từ điện tử đang ngày càng được ưa chuộng, đặc biệt là ở các nước phát triển. Do đó, công ty khi làm ăn với đối tác ở các nước công nghiệp phát triển sẽ phải đối mặt với không ít rủi ro phát sinh từ phương thức này do nguy cơ giả mạo, sai lệch, tiết lộ thông tin rất cao, đặc biệt khi khung pháp lý cho giao dịch điện tử ở Việt Nam được xây dựng chưa thực sự chặt chẽ, kinh nghiệm và trình độ hiểu biết của các cán bộ thanh toán trong lĩnh vực này còn khiêm tốn.

Nhìn lại những chặng đường đã qua, rủi ro trong thanh toán quốc tế nhiều khi đã đẩy công ty vào tình trạng khó khăn về tài chính, thêm vào đó, các hình thức bảo hiểm rủi ro trong thanh toán chưa phổ biến ở nước ta nên rủi ro trong thanh toán vẫn thường xuyên xảy ra gây hậu quả tương đối nặng nề. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

2.2.4/ Thực trạng giải quyết các vấn đề tranh chấp phát sinh trong quá trình thanh toán quốc tế:

Khi có tranh chấp phát sinh trong quá trình Thanh toán quốc tế, công ty thường sử dụng hình thức giải quyết đầu tiên là thương lượng thông qua thư từ, điện tín… và thương lượng bằng gặp gỡ trực tiếp. Tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của vụ tranh chấp, công ty và bạn hàng có thể lựa chọn những phương thức giải quyết thoả đáng nhất cho cả hai bên.

Ngày nay, các phương tiện thư từ và điện tín vẫn là một phương tiện chủ yếu trong quá trình giao dịch giữa công ty và đối tác trong quan hệ hợp đồng. Khi tranh chấp xảy ra, nếu hai bên không có điều kiện để gặp gỡ nhau trực tiếp thì có thể duy trì cuộc thương lượng thông qua thư, điện tín. Tất cả thư từ, điện tín, telex đều phải được trả lời một cách nhanh chóng cho dù nguyên nhân tranh chấp là do phía mình gây ra cũng cần có sự khẩn trương phúc đáp để giải quyết thoả đáng, nếu trì hoãn hoặc cố tình quên không trả lời chắc chắn sẽ gây ấn tượng xấu. Sự khẩn trương càng có ý nghĩa lớn hơn đối với bên lợi ích bị vi phạm do tranh chấp vì lâu ngày nào thiệt hại thêm ngày đó. Trong thương lượng bằng thư tín, điện tín, telex, sự kiên nhẫn là cần thiết để nhằm hiểu thấu đáo quan điểm của nhau và cùng phân tích kỹ lưỡng vấn đề bất đồng. Tuy nhiên, kiên nhẫn không có nghĩa là chậm trễ. Trong quá trình thương lượng qua thư từ, công ty thường chủ động gợi ý cách giải quyết hợp lý và cùng thảo luận để tìm ra biện pháp thoả đáng giải quyết đối với cả hai bên.

Tuy nhiên, nếu như thông qua thương lượng bằng thư từ, điện tín mà tranh chấp vẫn không giải quyết được thì việc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên để trao đổi về mọi khía cạnh của vấn đề tranh chấp là rất quan trọng, đặc biệt khi phạm vi tranh chấp phát sinh không phải chỉ ở một khâu nào đó trong hợp đồng mà có nguy cơ ảnh hưởng đến toàn bộ tiến trình thực hiện hợp đồng. Cách thức thương lượng này đẩy nhanh tốc độ giải quyết tranh chấp giữa hai bên và nhiều khi là lối thoát cho các cách thức thương lượng bằng thư tín hay điện thoại đã kéo dài qua lâu mà không có kết quả.

Thương lượng bằng cách thức này thường được áp dụng cho các vụ tranh chấp có giá trị tranh chấp lớn đòi hỏi các bên cần thiết phải gặp gỡ trực tiếp để nhanh chóng giải quyết tranh chấp hoặc đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhất nhằm giải quyết tranh chấp.

Trong trường hợp mức độ tranh chấp của công ty và đối tác ở mức nghiêm trọng hơn, không thể giải quyết được bằng hình thức thương lượng thì công ty và đối tác thường sử dụng hình thức hoà giải. Hoà giải là một phương pháp giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự thông qua người thứ ba gọi là hoà giải viên. Hoà giải viên đóng vai trò là người trung gian, tiến hành họp kín với riêng từng bên hoặc họp chung với cả hai bên để hiểu kỹ nội dung tranh chấp, lý giải, phân tích cho các bên thấy rõ lợi ích của mình và lợi ích của bên kia nhằm giúp các bên tìm ra một giải pháp thống nhất để giải quyết tranh chấp một cách hợp lý, hợp tình. Trong tất cả các vụ tranh chấp xảy ra liên quan tới hoạt động thanh toán quốc tế thì có tới 60% được giải quyết bằng thương lượng, hoà giải. Cho thấy, việc áp dụng cách thức giải quyết này là rất phổ biến. Khi một vụ tranh chấp đã được công ty và bạn hàng giải quyết thì quyền lợi của các bên được phục hồi một cách đầy đủ hơn cả về kinh tế lẫn uy tín kinh doanh. Dưới đây là một số tình huống cụ thể: Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

  • Xuất khẩu cà phê và thanh toán bằng phương thức T/T:

Đầu năm 2020, do có sự giới thiệu của Thường vụ Việt Nam tại Inđônêsia, công ty có ký hợp đồng xuất khẩu 162 tấn cà phê trị giá 157.950 USD với công ty Federal Investment Group L.L.C (Mỹ). Do tập quán mua bán cà phê, người mua không mở L/C mà thực hiện việc thanh toán bằng cách mở tài khoản tại ngân hàng Việt Nam để thanh toán ngay cho người bán khi xếp hàng vào container tại cảng Việt Nam xong.

Cũng do tính chất của giá cà phê lên xuống hàng ngày nên đồng thời với việc giao dịch bán hàng cho khách nước ngoài, công ty cũng phải tiến hành giao dịch, ký hợp đồng thu mua hàng ở trong nước và phải ứng tiền mua để giữ hàng và tránh lên giá.

Mọi việc diễn ra thuận lợi, khách hàng đã tiến hành làm các thủ tục mở tài khoản tại ngân hàng và thông báo các yêu cầu chi tiết về bao bì và lịch tàu.

Do nắm được tin thị trường suy yếu, công ty phía Mỹ đã không chuyển tiền đến ngân hàng như quy định trong hợp đồng đã ký kết. Vì lí do này, công ty đã không thể tiến hành giao 162 tấn hàng cà phê cho khách hàng như dự kiến. Đàm phán với khách hàng ngoại không thành công, công ty đã phải giải phóng lô hàng bằng việc bán cho một số khách hàng trong nước với giá thấp.

  • Xuất khẩu hoa hồi đi Ấn Độ, thanh toán bằng phương thức D/P:

Ngày 19/10/2024, công ty có ký hợp đồng xuất khẩu một lô hàng hoa hồi trị giá 17,132.50.USD cho khách hàng PSG ENTERPRISE Ấn Độ.

Do tình hình trên thị trường hoa hồi biến động giảm giá mạnh tại Ấn Độ, khách hàng đã không ra nhận hàng, trong khi đó người môi giới là công ty DILIP PUJARA là người đã giúp công ty giao dịch bán hàng thành công những năm trước đó, lúc này không có khả năng tài chính nhận lô hàng, số tiền mà DILIP PUJARA đặt cọc để mua lô hàng đã trừ vào lô hàng hoa hồi giao trước đó một tháng nên khách mua hàng không còn ràng buộc gì với công ty để nhận lô hàng hoa hồi nói trên. Trong khi đó, tiền lưu container tại cảng đến tăng lên từng ngày. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Trước tình hình đó, công ty đã chủ động đề nghị giảm giá bán tạo điều kiện cho người mua giảm được chi phí lưu container bằng cách cho hàng vào kho ngoại quan để chờ làm thủ tục nhập khẩu trong lúc người mua chưa thanh toán nhận chứng từ giao hàng (thanh toán bằng phương thức D/P).

Mặc dù vậy, người mua vẫn không có trả lời chính thức rằng có nhận lô hàng này hay không. Do đó, công ty đã phải tìm hướng giải quyết bằng cách bán lại lô hàng này cho một bạn hàng mới và bạn hàng mới đã chấp nhận mua lô hàng này.

Mọi việc tưởng chừng kết thúc khi công ty tiến hành chuyển lô hàng cho người mua mới, nhưng đến khâu cuối cùng người nhập khẩu đầu tiên lại từ chối mặc dù trước đó họ đã chấp nhận trả lại lô hàng cho công ty. Sự việc bị bế tắc và có nguy cơ mất trắng lô hàng do tiền lưu kho lưu bãi tại cảng CALCUTTA Ấn Độ đã hơn một năm.

Trước tình hình đó, công ty đã phải quay lại đàm phán với người mua ban đầu và đề nghị họ nhận lô hàng với điều kiện đặt cọc 3000 USD để lấy chứng từ giao hàng. Trên thực tế, từ khi nhận hàng cho đến nay, khách hàng cũng không hồi âm lại và cũng không trả nốt số tiền 14,132.50.USD còn lại.

Như vậy, qua hai sự việc trên, chúng ta thấy rằng ngoài rủi ro vốn có của phương thức thanh toán nhờ thu thì lý do chính phát sinh những rủi ro không đáng có đối với công ty đó là trong khâu đàm phán và ký kết hợp đồng. Hợp đồng được công ty soạn thảo không đủ chặt chẽ để ràng buộc hai bên. Vì vậy, đến khi có tranh chấp phát sinh, cách giải quyết chính mà công ty có thể thực hiện được đó là: cố gắng đàm phán lại với phía đối tác để họ thanh toán và nhận hàng, một mặt công ty cũng tiến hành tìm một số giải pháp khác nhằm giải phóng lô hàng sớm. Nếu người mua không có thiện chí hoặc cố tình không nhận hàng thì công ty cũng không thể làm gì hơn.

3/ Đánh giá hoạt động thanh toán hàng hóa Xuất nhập khẩu tại công ty: Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

3.1/ Những kết quả đạt được:

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động thương mại quốc tế của nước ta tăng nhanh làm tăng kim ngạch xuất nhập khẩu. Do đó nhu cầu về thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng tăng. Trong xu hướng đó, UNIMEX Hà Nội đã có những thành công đáng kể trong lĩnh vực tìm kiếm bạn hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng tăng lên. Nhìn chung, trong thời gian qua, hoạt động thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu của công ty diễn ra tương đối thuận lợi, tốc độ thanh toán tương đối ổn định. Đạt được điều này là do kết quả nỗ lực của nhân viên và ban lãnh đạo toàn công ty. Cán bộ ở đây đã không ngừng học hỏi tiếp thu kinh nghiệm và tìm tòi sáng tạo, phát huy những khả năng của công ty nhằm giao dịch với khách hàng và tìm đối tác mới có triển vọng. Hoạt động thanh toán thực sự là một trong những đòn bẩy cho hoạt động xuất nhập khẩu của công ty.

Trong những năm qua, nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu được chú trọng triển khai mạnh và phát triển nhanh trong công ty. Các phương thức thanh toán xuất nhập khẩu được áp dụng tại công ty ngày càng phong phú và đa dạng. Thanh toán bằng chuyển tiền, thanh toán bằng nhờ thu, thanh toán séc và thanh toán bằng thư tín dụng. Riêng về tình hình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ trong những năm gần đây, Unimex Hà Nội đã đạt được kết quả tốt.

Cùng với sự cố gắng phát huy tiềm năng của mình, Unimex Hà Nội còn được sự giúp đỡ của các ngân hàng thương mại về nhiều mặt, đặc biệt là về mặt nghiệp vụ, công ty không ngừng đầu tư phát triển các nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại trong đó có cả thanh toán xuất nhập khẩu. Vì vậy, các nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu ở Unimex Hà Nội đã có những bước tiến bộ về quy mô và chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc ký kết các hợp đồng có giá trị lớn.

Unimex Hà Nội đã và đang tích cực thực hiện chính sách đa dạng hoá các hình thức thanh toán, tăng cường tìm kiếm những bạn hàng có tình hình tài chính tốt. Công tác này đem lại những kết quả đáng khích lệ. Đối với hoạt động thanh toán xuất khẩu, nhìn chung công ty đều thu hồi được đầy đủ tổng số tiền hàng. Đối với hoạt động thanh toán hàng nhập khẩu thì phần lớn các thao tác nghiệp vụ thanh toán đều thông qua ngân hàng Vietcombank và ngân hàng NNo & phát triển nông thôn. Do công ty đóng vai trò là người mua nên việc thanh toán tiền hàng nhập khẩu thường ít rủi ro hơn so với thanh toán tiền hàng xuất khẩu. Với những hợp đồng thanh toán bằng phương thức chuyển tiền hoặc phương thức D/P, là người nhập khẩu nên công ty thường có lợi hơn trong các phương thức thanh toán này và ít tốn kém chi phí hơn đối với phương thức L/C. Trên thực tế, công ty thường nhập khẩu các mặt hàng máy móc, thiết bị có giá trị lớn, vì vậy phương thức thanh toán mà công ty và đối tác thường sử dụng là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, bởi nó là phương thức thanh toán an toàn nhất cho cả người mua và người bán.

3.2/ Những tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại công ty UNIMEX Hà Nội:

3.2.1/ Những tồn tại: Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Thời gian qua kết quả mà UNIMEX Hà Nội đã đạt được trong hoạt đông xuất nhập khẩu đã chứng tỏ sự nỗ lực của toàn bộ hệ thống là không uổng phí. Tuy nhiên, qua phân tích thực trạng hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại công ty UNIMEX Hà Nội, ta cũng nhận thấy rằng hoạt động này chưa được mở rộng, công ty nhiều khi còn gặp rất nhiều khó khăn và tổn thất trong hoạt động thanh toán quốc tế của mình.

Thứ nhất, về trình độ chuyên môn của các cán bộ nghiệp vụ, qua các năm công tác, trách nhiệm và trình độ của các cán bộ làm nghiệp vụ thanh toán ngày càng được nâng cao song thực sự vẫn chưa đạt yêu cầu. Nghiệp vụ kiểm tra chứng từ chưa cao, còn lúng túng nhiều trong khâu thực hiện. Tuy không gây sai sót gì lớn trong thanh toán nhưng lại kéo dài thời gian xử lý bộ hồ sơ, chứng từ, vì vậy lập được bộ hồ sơ lại mất nhiều thời gian. Phần lớn cán bộ thanh toán trình độ ngoại ngữ còn hạn chế, các nghiệp vụ thanh toán quốc tế không được đào tạo chính quy, thiếu kinh nghiệm, kiến thức mặc dù có được bồi dưỡng nhưng chưa được cập nhật thường xuyên và có hệ thống. Vì vậy công tác đào tạo và đào tạo lại là hết sức cần thiết nhưng hiện nay các công tác này lại chưa được quan tâm đúng mức. Số cán bộ hiểu cặn kẽ nghiệp vụ ngoại thương, nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu chưa nhiều, thường chỉ chuyên môn tiến hành một mảng công việc nào đó, khi chuyển sang làm mảng công việc khác thì rất lúng túng. Cần phải nói thêm là sự hiểu biết của các cán bộ thanh toán về lĩnh vực khác chưa rộng, chưa sâu dẫn tới việc khó nắm bắt được tình huống phức tạp khi gặp phải.

Thứ hai, trong khâu đàm phán và ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu, nhiều khi công ty không tìm hiểu kỹ đối tác của mình, không nắm đủ thông tin để lựa chọn đối tác có uy tín trên thương trường, không cân nhắc, xem xét và tìm hiểu thật kỹ các thương vụ ký kết dẫn đến trường hợp bị lừa đảo, gian lận trong thanh toán, thậm chí trong một số thương vụ công ty đã bị mất trắng. Đặc biệt là với các đối tác nước ngoài khôn ngoan và nhiều thủ đoạn, hợp đồng được công ty soạn thảo nhiều khi không đủ chặt chẽ để ràng buộc hai bên. Vì vậy, khi có tranh chấp phát sinh, việc doanh nghiệp bị tổn thất và thiệt hại là rất lớn. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị thua kiện trong các vụ tranh chấp quốc tế một phần là do trình độ và kinh nghiệm non yếu của chúng ta trong khâu đàm phán và ký kết hợp đồng. Thông thường, các tranh chấp đó rất phức tạp, vì vậy đòi hỏi công ty phải tỉnh táo và thận trọng trong khi đàm phán và ký kết, đồng thời phải nắm vững những quy định của các nguồn luật quốc gia có liên quan và am hiểu thủ tục khiếu nại, tố tụng để khiếu nại kịp thời, đúng chỗ.

Thứ ba, về tổ chức bộ máy của công ty, hiện tại bộ máy thanh toán nói chung và thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu nói riêng còn tương đối cồng kềnh, lắm khâu và nhiều cửa. Điều đó khiến cho hoạt động thanh toán quốc tế gặp nhiều khó khăn do phải trải qua nhiều khâu rườm rà không cần thiết dẫn tới kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng. Bộ máy thanh toán quốc tế tại công ty hiện nay chưa được tái cơ cấu theo hướng tinh giảm biên chế, vì vậy chưa có được một đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác, hiện nay công ty vẫn chưa quy định một cách cụ thể về quyền hạn cũng như nghĩa vụ của từng bộ phận tham gia quá trình thanh toán dẫn tới tốc độ luân chuyển chứng từ và tốc độ thanh toán còn chậm.

3.2.2/ Nguyên nhân:

3.2.2.1 Nguyên nhân khách quan: Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

  • Một là: Sự hạn chế của các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động Thanh toán quốc tế của nước ta.

Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung đổi mới tư duy xây dựng chiến lược và các chính sách phát triển kinh tế. Khung pháp lý cho cơ chế mới đã được hình thành và tiếp tục hoàn thiện tạo ra môi trường phù hợp để thúc đẩy và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh tế. Trong bối cảnh đó, khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động thanh toán quốc tế của đất nước không thể tránh khỏi những bất cập cần được bổ sung hoàn thiện.

Hầu hết các nước đều thừa nhận các quy chuẩn trong hoạt động thanh toán quốc tế như: các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ bản số 500, các quy tắc hoàn tiền giữa các ngân hàng, quy tắc thống nhất về nhờ thu bản số 522, luật về hối phiếu, luật về séc… Nhưng đây chỉ là các quy chuẩn không mang tính bắt buộc. Hiện nay các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như các ngân hàng thương mại Việt Nam tham gia hoạt động thanh toán quốc tế đều thừa nhận và tuân theo các quy chuẩn do Phòng thương mại quốc tế Paris ban hành. Tuy nhiên đứng về giác độ quản lý Nhà nước thì cho tới nay vẫn chưa có một văn bản nào thừa nhận việc áp dụng các quy chuẩn trên trong hoạt động thanh toán quốc tế của quốc gia.

Trong hoạt động kinh doanh đối ngoại nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng còn những bất đồng giữa thông lệ quốc tế và tập quán quốc gia. Trong những trường hợp như vậy các văn bản pháp lý quốc gia vẫn được tôn trọng. Do đó cần có những văn bản mang tính tập quán quốc gia để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động Thanh toán quốc tế được tiến hành một cách trôi chảy và thuận lợi.

  • Hai là : Thị trường ngoại hối chưa phát triển, tỷ giá USD không ổn định, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á.

Hiện nay, Việt Nam chưa có một thị trường ngoại hối hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó mà mới chỉ ở dạng sơ khai là thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ song thị trường ngoại tệ liên ngân hàng vẫn bộc lộ những hạn chế. Đó là trong những thời điểm có biến động tỷ giá hoặc có tập trung nhiều nghĩa vụ thanh toán với nước ngoài thì nguồn ngoại tệ liên ngân hàng cung cấp cho những hoạt động thanh toán quốc tế bị hạn chế. Hơn nữa, có những thời điểm tỷ giá USD tăng lên, đồng tiền Việt Nam bị mất giá làm cho giá hàng hóa nhập khẩu khi quy đổi ra VNĐ tăng, hạn chế hoạt động thanh toán nhập khẩu.

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đã làm cho đồng tiền hàng loạt nước trong khu vực Đông Nam Á liên tiếp phá giá. Xu hướng sụt giảm tăng trưởng tốc độ xuất khẩu chủ yếu là do tác động của suy thoái kinh tế khu vực Châu Á (thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam). Cuộc khủng hoảng này đã làm giảm đáng kể nhu cầu nhập khẩu hàng hóa và cũng là nguyên nhân của sự sụt giá nói chung của hàng xuất khẩu. Song những năm gần đây đang có dấu hiệu phục hồi và tăng trưởng.

  • Ba là: Công nghệ ngân hàng vẫn còn nhiều hạn chế. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

Mặc dù các ngân hàng tại Việt Nam đã được trang bị máy móc hiện đại phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng, nhưng cho đến nay các chương trình phần mềm áp dụng cho thanh toán quốc tế còn nhiều hạn chế, việc đưa thông tin cần thiết cập nhật phục vụ cho công tác thanh toán quốc tế và việc nối mạng máy tính trong nội bộ các ngân hàng chưa được thực hiện. Điều này không tận dụng hết được công dụng của máy móc, không đảm bảo được cho công việc thanh toán được trôi chảy, không rút ngắn được thời gian thanh toán cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Vì vậy, trong những năm gần đây, công ty thường thực hiện hoạt động Thanh toán quốc tế tại các ngân hàng lớn của nước ta như Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. Đặc biệt, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện nay là ngân hàng đứng đầu trong lĩnh vực thanh toán quốc tế do không ngừng đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại hóa. Với nhận thức về vai trò của công nghệ ngân hàng thời kỳ mới, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã triển khai từ năm 2017 nhiều chương trình tin học trong hoạt động ngân hàng. Việc áp dụng công nghệ mới này đã làm thay đổi tập quán khai thác nghiệp vụ từ thủ công sang thực hiện thao tác bằng máy. Nhờ đó đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động Thanh toán quốc tế cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

3.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan:

Công ty chưa chú trọng thường xuyên công tác đào tạo và đào tạo lại trình độ nghiệp vụ thanh toán quốc tế toàn diện cho đội ngũ cán bộ thanh toán quốc tế của công ty.

Thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ phức tạp, đòi hỏi cán bộ thực hiện không những phải giỏi nghiệp vụ ngân hàng mà còn phải có kiến thức về ngoại thương, thông thạo ngoại ngữ, nhất là Anh văn, nắm vững các quy định của chế độ quản lý ngoại hối cũng như các quy định về quản lý xuất nhập khẩu hiện hành của Nhà nước. Song, thực tế cho thấy, các cán bộ thanh toán của công ty đôi lúc còn ỷ lại cho các cán bộ của ngân hàng, cho rằng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế là công việc của các ngân hàng.

Các cán bộ nghiệp vụ thanh toán quốc tế là nhân tố quyết định sự trôi chảy của các hoạt động thanh toán quốc tế nhưng các cán bộ của UNIMEX Hà Nội được huy động từ các phòng ban khác về, trình độ ngoại ngữ còn hạn chế, các nghiệp vụ thanh toán quốc tế không được đào tạo chính quy, thiếu kinh nghiệm, kiến thức mặc dù có được bồi dưỡng nhưng chưa được cập nhật thường xuyên và có hệ thống. Vì vậy công tác đào tạo và đào tạo lại là hết sức cần thiết nhưng hiện nay các công tác này lại chưa được quan tâm đúng mức.

Mặc dù các cán bộ nghiệp vụ thanh toán quốc tế có tinh thần tự học hỏi và tự bổ túc kiến thức cho mình nhưng thực tiễn thanh toán quốc tế rất phong phú và đa dạng, nhiều vụ việc phát sinh ngoài thông lệ.

Thực tế là hiện nay Việt Nam đang áp dụng chế độ ngoại hối hạn chế nên hoạt động thanh toán quốc tế của công ty có liên quan nhiều đến các cơ quan hữu quan như Bộ Thương mại, Hải quan… kéo theo hoạt động thanh toán quốc tế của công ty cần phải được cập nhật các văn bản có liên quan đến việc quản lý hoạt động xuất nhập khẩu bằng con đường chính thức, có hệ thống từ cơ quan cấp trên để tuân thủ chế độ quản lý ngoại hối và thực hiện đúng chức năng cửa khẩu ngoại tệ ra vào của đất nước. Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX

One thought on “Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX

  1. Pingback: Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537