Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX Hà Nội này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

Xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế đã mở ra cho nhân loại cánh cửa giao lưu đầy triển vọng. Lịch sử đã chứng minh rằng không một quốc gia nào có thể phát triển trong sự tách biệt với thế giới bên ngoài, các nước đang xích lại gần nhau thông qua chiếc cầu nối thương mại quốc tế. Theo dự báo của Ngân hàng tái thiết và phát triển Quốc tế (International Bank of Restructuring and Developing – IBRD) trong vòng 10 năm tới, thương mại quốc tế sẽ gia tăng 6% so với 4% trong 10 năm qua.

Vượt qua không gian và thời gian, những luồng chu chuyển hàng hoá, dịch vụ và tiền tệ đã tạo ra sự gắn kết vững bền giữa cung và cầu ở những nước có trình độ kinh tế khác nhau và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng kéo theo sự phức tạp ngày càng lớn trong mắt xích cuối cùng của quá trình trao đổi – thanh toán quốc tế. Được xem là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế, hoạt động thanh toán quốc tế đã không ngừng được đổi mới và hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu an toàn, thuận tiện và nhanh chóng của các giao dịch thương mại.

Cùng với xu hướng hội nhập ngày càng tăng, các quan hệ giao lưu thương mại cũng ngày càng được mở rộng. Điều đó đặt ra cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu những thời cơ và thách thức mới. Để có thể vượt qua được những khó khăn thách thức đó, các doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng đang phải từng bước tái cơ cấu, mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao năng lực quản lý điều hành và hiệu quả kinh doanh của mình. Một trong những giải pháp góp phần tích cực nâng cao hiệu quả kinh doanh đó là hoàn thiện hoạt động thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu tại doanh nghiệp mình.

Giải quyết tốt hoạt động thanh toán quốc tế sẽ góp phần quan trọng, thiết thực, tạo tiền đề thuận lợi trong việc thương thảo và thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy, các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tại Việt Nam còn rất nhiều lúng túng trong việc lựa chọn các điều kiện thanh toán quốc tế khi ký kết hợp đồng. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình. Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

Trên cơ sở kiến thức lý luận và thực tiễn cùng những phân tích, dẫn chứng cụ thể, người viết hy vọng khóa luận vừa đảm bảo tính xác thực, vừa mang tính hữu ích khả thi.

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kết cấu của khóa luận gồm 3 chương:

  • Chương I: Khái quát những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh toán quốc tế tại doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
  • Chương II: Thực trạng hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Hà Nội.
  • Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của công ty trong thời gian tới.

Hoàn thành khóa luận này em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới cô giáo PGS -TS Nguyễn Thị Quy đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em trong quá trình viết khóa luận. Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế Ngoại Thương – trường Đại học Ngoại Thương đã dạy dỗ và giúp đỡ em trong những năm học tập vừa qua.

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU.

I/ Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế trong hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.

1/ Khái niệm về thanh toán quốc tế (TTQT):

Lịch sử và thực tiễn phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh rằng kinh tế của một quốc gia không thể phát triển với một chính sách “đóng cửa”, chỉ trông vào tích lũy và trao đổi trong phạm vi nước đó mà phải biết phát huy mặt mạnh trong nước, tận dụng khả năng có lợi từ bên ngoài, biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong hợp tác kinh tế, giao lưu buôn bán, nghĩa là phải có giao dịch và quan hệ với nước khác. Mối quan hệ kinh tế lẫn nhau giữa các nước chính là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.

Mối quan hệ này bao gồm nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, hợp tác khoa học kỹ thuật… trong đó quan hệ về kinh tế chiếm vị trí quan trọng, nó là cơ sở cho các mối quan hệ quốc tế khác. Quá trình tiến hành các hoạt động này đều liên quan tới tài chính, tất yếu làm nảy sinh những nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau. Từ đó cũng làm xuất hiện nhu cầu thực hiện các hoạt động thanh toán quốc tế.

Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa các quốc gia, chính phủ với các tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

Hiểu theo nghĩa rộng, khi có sự di chuyển các yếu tố đầu vào như nhập khẩu, nhận đầu tư của nước ngoài, nhận các khoản nợ gốc và lãi đến hạn, dịch vụ thu ngoại tệ, nhận tín dụng của nước ngoài và các yếu tố đầu ra như xuất khẩu, đầu tư ra nước ngoài hoặc cho vay, trả vốn và lãi cho nước ngoài… của một nước sẽ có sự di chuyển ngược lại của các hướng tiền tệ. Việc thanh toán các hướng tiền tệ như vậy giữa người cư trú và những người phi cư trú mà kết quả của nó sẽ làm tăng hoặc giảm dự trữ ngoại tệ của một nước thì được coi là hoạt động thanh toán quốc tế.

Dưới giác độ kinh tế, các quan hệ quốc tế được phân chia thành hai loại: quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch. Do đó thanh toán quốc tế cũng bao gồm hai loại: Thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch.

Thanh toán phi mậu dịch là quan hệ thanh toán không liên quan đến hàng hóa cũng như việc cung ứng lao vụ, nó không mang tính chất thương mại. Đó là những khoản thanh toán liên quan đến chi phí của các cơ quan ngoại giao, ngoại thương ở nước sở tại; các chi phí về vận chuyển, đi lại của các đoàn khách nhà nước, các tổ chức, cá nhân; các nguồn tiền, quà biếu, trợ cấp của các tổ chức, cá nhân nước ngoài cho các tổ chức, cá nhân trong nước và ngược lại…

Thanh toán mậu dịch là quan hệ thanh toán dựa trên cơ sở trao đổi hàng hóa và các dịch vụ thương mại theo giá cả quốc tế.

Về cơ bản, thanh toán quốc tế phát sinh trên cơ sở hoạt động thương mại quốc tế, nó phản ánh sự vận động có tính chất độc lập tương đối của giá trị trong quá trình chu chuyển hàng hóa và tư bản giữa các quốc gia. Như vậy, nếu khâu thanh toán quốc tế được thực hiện nhanh chóng, an toàn và chính xác thì nó đã trực tiếp tác động vào việc rút ngắn thời gian luân chuyển vốn, giảm bớt và khắc phục những rủi ro liên quan tới sự biến động của tiền tệ, tới khả năng thanh toán của con nợ, tạo điều kiện cho việc phát triển và mở rộng hoạt động ngoại thương của mỗi nước. Do đó, thanh toán quốc tế trở thành một yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại thương.

2/ Đặc điểm của thanh toán quốc tế: Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

Khác với những hoạt động thanh toán thông thường, hoạt động thanh toán quốc tế có những đặc điểm sau đây:

  • Đồng tiền được sử dụng trong Thanh toán quốc tế có thể là đồng tiền của nước người bán, nước người mua hoặc cũng có thể là đồng tiền của nước thứ ba. Do đó, việc lựa chọn đồng tiền trong thanh toán (bao gồm đồng tiền thanh toán và đồng tiền tính toán) phải được hai bên mua, bán bàn bạc thống nhất và ghi cụ thể trong hợp đồng.
  • Khác với thanh toán nội địa, Thanh toán quốc tế nhất thiết phải thanh toán qua hệ thống ngân hàng của các nước liên quan nhằm đảm bảo yêu cầu nhanh và an toàn trong khâu thanh toán.
  • Khi tiến hành hoạt động Thanh toán quốc tế phải tuyệt đối tuân thủ luật pháp và những quy định mang tính pháp lý của nước sở tại, các thông lệ và tập quán quốc tế trong thanh toán.
  • TTQT thường sử dụng tiền tín dụng để thanh toán thông qua các phương tiện Thanh toán quốc tế là hối phiếu, séc, kỳ phiếu…
  • TTQT đòi hỏi phải ứng dụng công nghệ, kỹ thuật cao trong khâu xử lý thông tin và truyền dữ liệu. Khác với hoạt động thanh toán nội địa, mọi thông tin đều được mã hóa và được truyền tải giữa các ngân hàng dưới dạng các cơ sở dữ liệu điện tử thông qua các mạng máy tính. Do đó hoạt động thanh toán quốc tế cần phải có một hạ tầng cơ sở kỹ thuật đồng bộ, phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

3/ Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế đối với hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.

Thanh toán quốc tế là khâu kết thúc của quá trình giao dịch mua bán hàng hoá dịch vụ trong phạm vi quốc tế, là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu thụ thông qua chi trả lẫn nhau trong trao đổi quốc tế, vì vậy có thể coi thanh toán quốc tế là một mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động ngoại thương. Bản chất của thanh toán quốc tế là việc chi trả lẫn nhau giữa các công ty, tổ chức hoặc các chủ thể với nhau ở các quốc gia khác nhau để hoàn tất các khoản liên quan đến xuất, nhập khẩu. Nhờ có hoạt động thanh toán quốc tế mà các khoản tín dụng hay mọi giao dịch đối ngoại mới có thể thực hiện được.

Thanh toán quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển ngoại thương từ đó góp phần thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế trong nước với nước ngoài. Khi giữa các nước có mối quan hệ kinh tế tốt đẹp thì họ sẽ có tiếng nói chung trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hoá xã hội… Và vì vậy, quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước càng được phát triển chặt chẽ hơn nữa. Ở một khía cạnh khác, việc phát triển mối quan hệ giao lưu giữa các nước không chỉ đơn giản là gắn liền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới để không những tranh thủ lợi thế do ngoại thương mang lại mà còn thúc đẩy quá trình phát triển nền kinh tế thị trường thống nhất ở trong nước. Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thuận lợi nâng cao tốc độ chu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu, làm cho các hợp đồng trong thương mại quốc tế được thực hiện an toàn, tạo uy tín thanh toán giữa các bên và là cơ sở cho mối quan hệ làm ăn lâu dài. Khi khách hàng quốc tế thanh toán qua hệ thống ngân hàng Việt Nam, chúng ta có thể thu phí bằng ngoại tệ nhằm cải thiện cán cân thanh toán. Như vậy, có thể nói thương mại quốc tế có được mở rộng hay không một phần nhờ vào hoạt động thanh toán quốc tế.

Thanh toán quốc tế còn là một trong những yếu tố khuyến khích xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài. Bởi vì thanh toán quốc tế tốt không chỉ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh của mình mà còn có thể mở rộng phương thức mua bán với các nước. Từ đó các ngành hàng liên quan cũng có điều kiện phát triển theo.

Thanh toán quốc tế là khâu kết thúc một chu trình trong hoạt động ngoại thương, đồng thời thông qua thanh toán quốc tế, các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu nắm được các thông tin về hàng hoá, tiền tệ, thị trường tiêu thụ trong nước và ngoài nước đồng thời hiểu thêm về đối tác của mình. Nhờ nắm được nhu cầu của thị trường thế giới, trên cơ sở cân đối với khả năng của mình mà có kế hoạch kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đó một cách tốt nhất.

II/ Tổ chức hoạt động thanh toán quốc tế tại doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

1/ Cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế:

Nghiên cứu cơ sở pháp lý có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế bởi đây là cơ sở và là nền tảng cho mọi hoạt động thanh toán quốc tế. Các văn bản luật này được ban hành và áp dụng trong việc điều chỉnh lưu thông các phương tiện Thanh toán quốc tế và phương thức thanh toán quốc tế. Sau đây là một số văn bản luật tiêu biểu:

1.1 Các nguồn luật và tập quán, thông lệ quốc tế

1.1.1/ Các nguồn luật điều chỉnh Hối phiếu trong Thanh toán quốc tế:

Hối phiếu là một thương phiếu, một phương tiện thanh toán khá thông dụng trong thương mại quốc tế. Các nguồn luật điều chỉnh việc sử dụng và lưu thông hối phiếu bao gồm:

  • Luật thống nhất về Hối phiếu ULB 1930 theo Công ước GENEVE năm 1930 (Uniform Law for Bill of Exchange). Nhiều quốc gia trên thế giới đã tham gia ký kết và tuân thủ luật này, trong đó chủ yếu là nhóm quốc gia thuộc khối châu Âu.
  • Công ước Liên Hiệp Quốc về Hối phiếu và Lệnh phiếu Quốc tế năm 1980 (International Bill of Exchange and Promissory Note- UN convention 1980). Công ước được xây dựng trên cơ sở kết hợp những nội dung cơ bản của hệ thống luật Anh, Mỹ về hối phiếu và công ước ULB 1930.
  • Ngoài ra, một hối phiếu khi lưu thông trên thị trường quốc tế còn chịu sự chi phối và điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp quốc gia về hối phiếu, nơi mà hối phiếu được lưu hành.

1.1.2/ Các nguồn luật điều chỉnh Séc trong Thanh toán quốc tế.

Séc là phương tiện thanh toán được sử dụng phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong Thanh toán quốc tế, có hai nguồn luật điều chỉnh Séc là: Luật thống nhất về Séc năm 1931 (Uniform Law for Cheque – ULC) và Công ước Liên Hiệp Quốc về Séc Quốc tế (United Nation Convention on International Cheque).

Luật thống nhất về Séc ULC 1931 được ký kết tại hội nghị quốc tế tại Geneve năm 1931 do các nước Đức, Pháp, Đan Mạch, Hà Lan, Thuỵ Sỹ ký kết nhằm thống nhất các quan hệ liên quan tới việc phát hành và sử dụng Séc. Hiện nay, hầu hết các quốc gia sử dụng Séc đều áp dụng ULC 1931. Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

Công ước Liên Hiệp Quốc về Séc Quốc Tế do Uỷ Ban Luật Thương mại quốc tế của Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1982, hiện taị thì công ước này chưa được áp dụng phổ biến trong hoạt động thương mại quốc tế.

1.1.3/ Quy tắc thống nhất về nhờ thu quốc tế (Uniform Rules for Collection – URC).

Để tạo thuận lợi cho việc thực hiện thống nhất các nguyên tắc thực hành về nghiệp vụ nhờ thu trong thương mại quốc tế, Phòng thương mại quốc ICC đã soạn thảo và ban hành văn bản: “Quy tắc thống nhất về nhờ thu” (Uniform Rules for Collection – URC).

Bản quy tắc này ra đời và có hiệu lực kể từ ngày 01.01.1979 với tên gọi: Uniform Rules for Collection 1979 Revision – ICC Publication No.322. Sau một thời gian áp dụng một số nội dung của URC 322 không còn phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của hoạt động thương mại và thực tiễn các hoạt động thanh toán quốc tế. Chính vì vậy, trên cơ sở những đóng góp và nhận định của các chuyên gia từ các phòng thương mại và các ngân hàng thương mại của các quốc gia trên thế giới, ICC đã tiến hành nghiên cứu, cập nhật và chỉnh sửa URC322 cho phù hợp với thực tiễn. ICC đã ban hành văn bản mới về quy tắc thống nhất về nhờ thu, ấn phẩm số 522 có hiệu lực từ ngày 01.01.2016 thay thế cho ấn phẩm số 322 (Uniform Rules for Collection, 2015 Revision – ICC Publication No.522 in force on Jan 1st-,2016). Bản URC 522 đã thể hiện những nét mới về nghiệp vụ nhờ thu, quy định những vấn đề có tính nguyên tắc về khái niệm, hình thức và cơ cấu của phương thức thanh toán nhờ thu, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của ngân hàng và các bên liên quan.

1.1.4/ Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits – UCP).

UCP lần đầu tiên được ICC đưa ra vào năm 1933, nhằm đáp ứng thực tiễn hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ (TDCT). Sau năm lần sửa đổi vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983 và 2013, số xuất bản số 500 (UCP 500) có hiệu lực từ ngày 01.01.2014 được coi là bản sửa đổi sâu sắc và hoàn thiện nhất và hiện đang được hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng. Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

UCP là văn bản tập hợp toàn bộ những quy tắc và định nghĩa thống nhất quốc tế, là tập quán quốc tế áp dụng toàn cầu, trong đó phân định rõ ràng quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm các bên tham gia giao dịch thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ. Khi áp dụng, các ngân hàng phải ghi dẫn chiếu UCP trong thư tín dụng.

Mới đây, nhằm đáp ứng xu thế phát triển của thương mại điện tử, ngày 01.04.2022 ICC đã ban hành bản phụ lục của UCP 500 về việc xuất trình chứng từ điện tử khi thanh toán theo phương thức Tín dụng chứng từ ( Supplement to UCP 500 for Electronic Presentation, version 1.0 first publish in Jan 2022, ICC Publication No.522, in force as of April 1.2022) gọi tắt là e.UCP. UCP 500 điều chỉnh việc xuất trình các chứng từ bằng giấy thông thường (paper documents) còn e.UCP điều chỉnh việc xuất trình các chứng từ điện tử hoặc xuất trình các chứng từ điện tử và chứng từ giấy. Một thư tín dụng dẫn chiếu e.UCP sẽ “tự động” được điều chỉnh bởi UCP, nhưng không có điều ngược lại. e.UCP cũng định nghĩa lại một số thuật ngữ trong UCP cho phù hợp với việc xuất trình chứng từ điện tử; khi có sự mâu thuẫn giữa các điều khoản của UCP và e.UCP thì sẽ áp dụng điều khoản của e.UCP. Hiện nay, e.UCP chưa được sử dụng rộng rãi, nó mới chỉ được một số ngân hàng Châu Âu áp dụng trên cơ sở rất thận trọng.

Ngoài các nguồn luật và quy tắc trên, hoạt động thanh toán quốc tế cũng chịu sự điều chỉnh của một số nguồn luật, quy tắc và thông lệ khác: Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ theo phương thức tín dụng chứng từ – ISBP ( International standard banking practise for examination of the documents under documents credit), Quy tắc thực hành tín dụng thư dự phòng (The international standby practise – ISP 98), Các điều kiện thương mại quốc tế ( Incoterms)…

1.2/ Nguồn luật quốc gia: Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

Chính sách quản lý ngoại hối: Chính sách quản lý ngoại hối là những quy định pháp lý, những thể lệ của Nhà nước trong vấn đề quản lý ngoại tệ, quản lý vàng bạc, đá quý và các chứng từ có giá trị ngoại tệ, cũng như việc trao đổi sử dụng mua bán ngoại tệ trên thị trường nội địa và quan hệ thanh toán, tín dụng với nước ngoài.

Chế độ quản lý ngoại hối tự do tại các nước tư bản phát triển nh Anh, Pháp, Mỹ…cho phép các đồng tiền quốc gia được tự do tham gia vào thị trường quốc tế, tự do chuyển đổi ra tiền tệ nước ngoài. Việc xuất nhập khẩu tư bản cũng như việc lưu thông ngoại tệ trên thị trường nội địa là hoàn toàn tự do. Các chủ thể kinh tế được tự do mở tài khoản ở nước ngoài. Tại các nước này, các luồng ngoại tệ không chịu sự kiểm soát của nhà nước.

Còn các nước đang phát triển hoặc kém phát triển lại áp dụng chế độ quản lý thắt chặt, nhà nước quản lý chặt các luồng vận động của ngoại tệ. Trong phạm vi quốc gia, các chủ thể kinh tế không được phép thanh toán với nhau bằng ngoại tệ, trừ một số trường hợp được phép. Người cư trú và không cư trú không được tự do chuyển ngoại tệ ra nước ngoài. Việc chuyển ngoại tệ vốn ra nước ngoài phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ quản lý ngoại hối. Những trường hợp đặc biệt phải xin phép ngân hàng nhà nước. Chế độ này thường được áp dụng đối với những nền kinh tế chưa phát triển cao hoặc kém phát triển.

  • Về tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một số đơn vị tiền tệ của nước kia, là hệ số quy đổi của đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác, được xác định bởi mối quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ.

Sau khi chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ năm 1971, quan hệ tiền tệ giữa các nước được “thả nổi”, trong đó, điển hình nhất là cơ chế “tỷ giá thả nổi” của các đồng tiền quốc gia tư bản chủ nghĩa. Với cơ chế này, tỷ giá hối đoái của các nước biến động hàng ngày, hàng giờ phụ thuộc vào các nhân tố: mức chênh lệch lạm phát, cung và cầu ngoại hối trên thị trường, mức chênh lệch lãi suất giữa các nước.

Còn đối với hầu hết các nước đang phát triển và chậm phát triển, tỷ giá không được “thả nổi” một cách tự do mà luôn có sự điều chỉnh của Nhà nước. Các biện pháp chủ yếu để điều chỉnh tỷ giá hối đoái là: chính sách chiết khấu, chính sách hối đoái, lập quỹ bình ổn hối đoái, vay nợ, phá giá, nâng giá tiền tệ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái.

2/ Những điều kiện thanh toán quốc tế quy định trong hợp đồng mua bán ngoại thương:

Dưới giác độ kinh tế, Thanh toán quốc tế là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện thanh toán quốc tế trong quan hệ thanh toán giữa các nước. Trong quan hệ đó, các vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ mà các bên phải đề ra để giải quyết và thực hiện được quy định lại thành những điều kiện gọi là các điều kiện thanh toán quốc tế sau:

2.1/ Điều kiện tiền tệ: Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

Trong Thanh toán quốc tế, các bên phải sử dụng đơn vị tiền tệ nhất định của một nước nào đó, vì vậy trong các hiệp định và hợp đồng đều có quy định điều kiện tiền tệ. Điều kiện tiền tệ lưu ý người mua và người bán nên chọn đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh, có ít biến động về tỷ giá trong các hợp đồng và hiệp định ký kết giữa các nước để giảm bớt độ rủi ro và tăng độ an toàn cho trị giá của hợp đồng. Đồng thời điều kiện tiền tệ còn quy định cách xử lý khi giá trị đồng tiền biến động. Vì vậy, để tránh những tổn thất không đáng có, trong hợp đồng mua bán, hai bên cần quy định rõ những điều kiện đảm bảo giá trị của hợp đồng trong trường hợp có sự biến động sức mua của đồng tiền. Thông thường các điều kiện hay được áp dụng là: điều kiện đảm bảo ngoại hối và điều kiện đảm theo “rổ” tiền tệ.

  • Điều kiện đảm bảo ngoại hối:

Hai bên tham gia ký kết hợp đồng lựa chọn một đồng tiền tương đối ổn định, xác định mối quan hệ tỷ giá với đồng tiền thanh toán để đảm bảo giá trị của tiền tệ thanh toán là điều kiện đảm bảo ngoại hối. Điều kiện đảm bảo ngoại hối có 2 cách quy định sau:

Trong hợp đồng quy định đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán là một loại tiền, và xác định tỷ giá giữa đồng tiền đó với một đồng tiền khác (thường là đồng tiền tương đối ổn định). Đến khi trả tiền, nếu tỷ giá đó thay đổi thì giá cả hàng hóa và tổng trị giá hợp đồng phải được điều chỉnh lại một cách tương ứng.

Trong hợp đồng quy định đồng tiền tính toán là một đồng tiền (thường là đồng tiền tương đối ổn định) và thanh toán bằng đồng tiền khác. Khi trả tiền căn cứ vào tỷ giá giữa đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán để tính ra số tiền phải trả là bao nhiêu.

  • Điều kiện đảm bảo theo “rổ” tiền tệ:

Khi áp dụng đảm bảo hối đoái theo “rổ” tiền tệ, các bên phải thống nhất lựa chọn số lượng ngoại tệ đưa vào “rổ” và cách lấy tỷ giá hối đoái của các ngoại tệ đó so với đồng tiền được đảm bảo vào lúc ký kết hợp đồng và lúc thanh toán, để điều chỉnh tổng giá trị của hợp đồng đó. Có thể được thực hiện bằng 2 cách:

  • Tổng trị giá hợp đồng được điều chỉnh căn cứ vào mức bình quân tỷ lệ biến động của tỷ giá hối đoái cả “rổ” tiền tệ.
  • Tổng trị giá hợp đồng được điều chỉnh căn cứ vào tỷ lệ biến động của bình quân tỷ giá hối đoái của cả “rổ” tiền tệ vào lúc thanh toán so với lúc ký kết hợp đồng. Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

2.2/ Điều kiện địa điểm thanh toán:

Trong thanh toán quốc tế giữa các nước, bên nào cũng muốn trả tiền tại nước mình, lấy nước mình làm địa điểm thanh toán vì có những điều lợi sau đây: Thứ nhất, có thể đến ngày trả tiền mới phải chi tiền ra, không bị đọng vốn nếu là người nhập khẩu hoặc có thể thu tiền về nhanh chóng nên luân chuyển vốn nhanh nếu là người xuất khẩu. Thứ hai, Ngân hàng nước mình thu được thủ tục phí nghiệp vụ. Thứ ba, có thể tạo điều kiện nâng cao địa vị của thị trường tiền tệ nước mình trên thế giới.

Trong thanh toán hàng hóa Xuất nhập khẩu, địa điểm thanh toán có thể ở nước người xuất khẩu, ở nước người nhập khẩu hay ở nước thứ ba. Nhưng trong thực tế, việc xác định địa điểm thanh toán là do sự so sánh lực lượng giữa hai bên quyết định, đồng thời cũng còn thấy rằng dùng đồng tiền thanh toán của nước nào thì địa điểm thanh toán thường là ở nước ấy.

2.3/ Điều kiện thời gian thanh toán:

Điều kiện thời gian thanh toán có quan hệ chặt chẽ với việc luân chuyển vốn, lợi tức, khả năng có thể tránh được những biến động về tiền tệ thanh toán, vì vậy, đây là điều kiện quan trọng và thường xuyên xảy ra trong tranh chấp giữa các bên, trong đàm phán và ký kết hợp đồng. Thường có 4 cách quy định về thời gian thanh toán như sau:

  • a/ Thời gian thanh toán trả tiền trước:

Trả tiền trước là sau khi ký hợp đồng hoặc sau khi bên xuất khẩu chấp nhận đơn đặt hàng của bên nhập khẩu, nhưng trước khi giao hàng thì bên nhập khẩu đã trả cho bên xuất khẩu toàn bộ hay một phần số tiền hàng.

Trả tiền trước có thể là với mục đích của người nhập khẩu cấp tín dụng ngắn hạn cho người xuất khẩu. Song cũng có loại trả tiền trước với mục đích nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng của người nhập khẩu.

  • Có hai loại trả tiền trước: Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

Loại 1: Người mua trả tiền trước cho người bán X ngày kể từ sau ngày ký hợp đồng hoặc sau ngày hợp đồng có hiệu lực.

  • Mục đích của loại trả tiền trước này là cấp tín dụng xuất khẩu.
  • Thời gian trả trước được quy định thường là một số ngày nhất định sau ngày ký hợp đồng hoặc sau ngày hợp đồng có hiệu lực.
  • Cần phân tích thời gian trả trước và thời gian cấp tín dụng ứng trước này. Thời gian cấp tín dụng tính từ ngày bắt đầu ứng trước tiền đến ngày người bán hoàn trả tiền ứng trước đó.
  • Số tiền trả trước lớn hay nhỏ phụ thuộc vào nhu cầu vay của người bán và khả năng cấp tín dụng của người mua.
  • Giá hàng hợp đồng này nhỏ hơn giá hàng trả tiền ngay. Phần chênh lệch này là tiền lãi phát sinh của số tiền ứng trước tạo ra mà người bán giảm giá cho người mua.

Loại 2: Người mua trả tiền trước cho người bán X ngày trước ngày giao hàng. Ngày giao hàng này thường được hiểu là ngày giao hàng chuyến đầu tiên quy định trong hợp đồng.

  • Mục đích của loại trả trước này là nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
  • Thời gian trả tiền trước này thường là rất ngắn (10 ngày, 15 ngày).

Người bán chỉ giao hàng khi nhận được báo Có số tiền ứng trước.

  • Có thể và thông thường là không tính lãi số tiền ứng trước. b/ Thời gian thanh toán trả tiền ngay: Được chia làm 5 loại:

Loại 1: Người mua trả tiền cho người bán ngay sau khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi giao hàng chỉ định. Gọi tắt loại trả tiền ngay này là C.O.D ( Cash On Delivery).

Nơi giao hàng chỉ định được hiểu là giao hàng theo các điều kiện cơ sở giao hàng sau: “Giao tại xưởng”- EXW, “Giao dọc mạn tàu”- FAS, “Giao tại biên giới”- DAF, “Giao cho người vận tải”- FCA.

Loại 2: Người mua trả tiền ngay cho người bán ngay sau khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi giao hàng quy định. Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

Giao hàng trên phương tiện vận tải biển phổ biến nhất là “giao hàng trên tàu” – FOB, “Giao hàng trên boong tàu”- FOD, “Giao hàng trên toa tầu hỏa” ga biên giới nước người bán cũng là cách giao hàng phổ biến bằng đường sắt.

Loại 3: Sau khi hoàn thành giao hàng, người bán lập bộ chứng từ gửi hàng và chuyển đến người mua, người mua trả tiền ngay sau khi nhận được bộ chứng từ.

Điều kiện nhận chứng từ: Người mua nhận chứng từ theo một trong hai điều kiện sau đây:

  • Vô điều kiện, tức là chứng từ gửi hàng được trao trực tiếp cho người mua không kèm theo điều kiện phải trả tiền. Trong trường hợp này, vận tải đơn phải là loại đích danh người mua.
  • Có điều kiện, tức là người chuyển chứng từ chỉ trao chứng từ cho người mua sau khi người mua đã trả tiền.

Loại 4: Loại trả tiền ngay này giống loại trả tiêng ngay thứ 3, song chỉ khác là người mua trả tiền sau khi nhận chứng từ trong vòng từ 5 đến 7 ngày. Ngân hàng trao chứng từ hàng hóa (trừ vận tải đơn) để người mua kiểm tra trong vòng từ 5 đến 7 ngày. Người mua trả tiền thì Ngân hàng mới kí hậu vận đơn cho người mua hưởng.

Loại này thường áp dụng cho việc thanh toán các mặt hàng phức tạp về quy cách phẩm chất, chủng loại, đơn giá như hàng linh kiện điện điện tử, hóa chất, thuốc bắc…

Loại 5: Người mua trả tiền ngay cho người bán sau khi nhận xong hàng hóa tại nơi quy định hoặc tại cảng đến. Gọi tắt loại trả tiền ngay này là C.O.R (Cash On Receipt).

c/ Thời gian thanh toán trả tiền sau: Có 4 loại, vì nó lấy 4 loại trả tiền ngay làm mốc mà việc trả tiền xảy ra sau đó X ngày:

  • Loại 1: Trả tiền sau X ngày kể từ ngày nhận được thông báo của người bán đã hoàn thành giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi giao hàng quy định.
  • Loại 2: Trả tiền sau X ngày kể từ ngày người bán đã hoàn thành giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi giao hàng quy định.
  • Loại 3: Trả tiền sau X ngày kể từ ngày nhận được chứng từ hàng hóa.
  • Loại 4: Trả tiền sau X ngày kể từ ngày nhận được xong hàng hóa. d/ Thời gian thanh toán hỗn hợp:

Tùy theo tính chất của hợp đồng, tính chất của loại hàng hóa mà điều kiện thời gian thanh toán có thể vận dụng một trong các cách trên hoặc vận dụng tổng hợp các cách. Ví dụ:

  • …X ngày sau ngày hợp đồng có hiệu lực, trả 2% tiền hàng.
  • …X ngày trước ngày giao hàng chuyến đầu tiên, trả 5% tiền hàng.
  • Ngay sau chuyến giao hàng đầu tiên, trả 5% tiền hàng.
  • Ngay sau chuyến giao hàng cuối cùng, trả 7% tiền hàng.
  • Lưu giữ 10% của mỗi lần thanh toán, giải tỏa 30 ngày sau ngày hết thời hạn bảo hành.
  • Số tiền còn lại trả trong vòng 5 năm, mỗi năm bằng

Thời hạn trả tiền được minh họa qua vectơ thời gian sau:

2.4/ Điều kiện phương thức thanh toán:

Phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng bậc nhất trong các điều kiện Thanh toán quốc tế. Phương thức thanh toán tức là chỉ người bán dùng cách nào để thu tiền về, người mua dùng cách nào để trả tiền. Trong buôn bán, người ta có thể dùng nhiều phương thức thanh toán khác nhau để thu tiền hoặc trả tiền, nhưng xét cho cùng, việc lựa chọn phương thức nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu của người bán là thu tiền nhanh, đầy đủ, đúng và từ yêu cầu của người mua là nhập hàng hóa đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn. Các phương thức Thanh toán quốc tế dùng trong ngoại thương gồm có: Phương thức chuyển tiền, phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ. Việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là tùy thuộc vào mục tiêu và khả năng thương lượng của mỗi bên.

3/ Quy trình thực hiện hoạt động thanh toán Xuất nhập khẩu tại doanh nghiệp: Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

3.1/ Chủ thể tham gia hoạt động Thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp.

Mỗi mô hình tổ chức và quản lý doanh nghiệp sẽ có những cách tổ chức và thực hiện hoạt động Thanh toán quốc tế khác nhau. Nhưng tựu trung lại, trong doanh nghiệp, các bộ phận tham gia hoạt động thanh toán quốc tế bao gồm: ban giám đốc, phòng kế toán tài vụ (bộ phận thanh toán quốc tế), các phòng kinh doanh…

Ban giám đốc và giám đốc là người chịu trách nhiệm cao nhất về mọi hoạt động của công ty. Thông thường, giám đốc và phó giám đốc phụ trách đơn vị kinh doanh có trách nhiệm đánh giá, xem xét và duyệt phương án kinh doanh theo đề xuất của phòng kế toán tài vụ và phòng kinh doanh xuất nhập khẩu, trao đổi với các đơn vị có liên quan để hoàn thiện phương án xuất khẩu, nhập khẩu ( bao gồm cả hoạt động thanh toán). Ban giám đốc là bộ phận nắm quyền cao nhất, là người chịu trách nhiệm cao nhất về mọi hoạt động liên quan đến việc ký kết hợp đồng, tạo lập các phương tiện Thanh toán quốc tế, thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng…

Phòng kế toán tài vụ: Là bộ phận đóng vai trò chính trong hoạt động Thanh toán quốc tế. Trên cơ sở phương án kinh doanh, hợp đồng kinh tế đã được duyệt (ký) và các tài liệu liên quan, phòng kế toán tài vụ tiến hành thực hiện các hoạt động tiếp theo để thực hiện phương án kinh doanh và tiến hành các hoạt động nhằm nhanh chóng thu hồi tiền hàng đối với hoạt động xuất khẩu, trả tiền đúng hạn đối với hoạt động nhập khẩu.

Phòng kinh doanh: phòng kinh doanh có trách nhiệm chuẩn bị nguồn hàng, lập bộ chứng từ thanh toán, tiến hành sửa đổi và bổ sung chứng từ, thực hiện các công việc có liên quan khác.

3.2/ Quy trình thực hiện hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu:

Thanh toán xuất nhập khẩu là một khâu quan trọng và xuyên suốt quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương. Quy trình thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế tại doanh nghiệp được mô tả qua 2 mô hình sau:

  • QUY TRÌNH THỰC HIỆN THANH TOÁN NHẬP KHẨU

Bước 1: Người xuất khẩu chuẩn bị hàng hóa để giao hàng cho người NK. Bước 2: Phòng kinh doanh (phòng đề xuất phương án kinh doanh) sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, tiến hành thu thập bộ chứng từ thanh toán. Tùy thuộc vào phương thức thanh toán mà hai bên đã lựa chọn trong hợp đồng mà bộ chứng từ thanh toán có được giao cho ngân hàng hay không. Bước 3: Phòng kế toán – tài vụ giao dịch với ngân hàng. Bước 4: Thông qua ngân hàng, người xuất khẩu sẽ nhận được tiền hàng. Bước 5: Hai bên giải quyết tranh chấp phát sinh (nếu có). Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

QUY TRÌNH THỰC HIỆN THANH TOÁN NHẬP KHẨU

  • Bước 1: Người nhập khẩu chuẩn bị thanh toán cho người xuất khẩu.
  • Bước 2: Phòng kế toán – tài vụ huy động vốn để chuẩn bị thanh toán tiền hàng nhập khẩu.
  • Bước 3: Người nhập khẩu giao dịch với ngân hàng bên mình.
  • Bước 4: Ngân hàng người nhập khẩu thanh toán tiền hàng.
  • Bước 5: Hai bên giải quyết tranh chấp phát sinh (nếu có).

III/ Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động Thanh toán quốc tế ở doanh nghiệp xuất nhập khẩu:

1/ Nhân tố khách quan:

1.1/ Chính sách kinh tế đối ngoại nói chung và chính sách ngoại thương nói riêng của một nước.

Kinh tế đối ngoại là quan hệ kinh tế của một quốc gia nhất định với các quốc gia khác trên thế giới, với các tổ chức tài chính và kinh tế quốc tế. Nó bao gồm hoạt động ngoại thương, dịch vụ quốc tế, đầu tư tài chính, chuyển giao công nghệ kỹ thuật và nhiều hoạt động kinh tế khác. Do đó, có thể coi kinh tế đối ngoại là chiếc cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới.

Chính sách ngoại thương là một hệ thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động ngoại thương của một quốc gia trong một thời gian nhất định, nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia đó. Nhiệm vụ của chính sách ngoại thương là điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Có 2 xu hướng trong chính sách ngoại thương là xu hướng bảo hộ mậu dịch và xu hướng tự do hóa mậu dịch. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước, tùy theo các điều kiện và đặc điểm cụ thể mà người ta sử dụng khéo léo kết hợp giữa hai xu hướng trên với những mức độ khác nhau ở từng lĩnh vực của hoạt động thương mại quốc tế. Trong từng giai đoạn của mỗi nước, nếu sự kết hợp này thiên về khuynh hướng hướng ngoại sẽ tạo điều kiện cho kinh tế ngoại thương phát triển, qua đó sẽ tạo nên những ảnh hưởng tích cực cho hoạt động thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Việc mở rộng và phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại có một ý nghĩa to lớn đặc biệt đối với hoạt động thanh toán quốc tế. Kinh tế đối ngoại đặc biệt là ngoại thương phát triển làm phát sinh nhiều nhu cầu thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ với các quốc gia khác. Đó chính là điều kiện thuận lợi để mở rộng và phát triển các nghiệp vụ thanh toán quốc tế. Hơn nữa, kinh tế ngoại thương phát triển sẽ yêu cầu nhiều loại hình dịch vụ thanh toán quốc tế phát triển để đáp ứng các nhu cầu thanh toán đa dạng của nó.

1.2/ Chính sách quản lý ngoại hối: Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

Chính sách quản lý ngoại hối là những quy định pháp lý, những thể lệ của Nhà nước trong vấn đề quản lý ngoại tệ, quản lý vàng bạc, đá quý và các chứng từ có giá trị ngoại tệ, cũng như việc trao đổi sử dụng mua bán ngoại tệ trên thị trường nội địa và quan hệ thanh toán, tín dụng với nước ngoài.

Nội dung của chính sách quản lý ngoại hối là quản lý và kiểm soát các luồng vận động của ngoại hối từ nước ngoài vào và từ trong nước ra, có liên quan đến quan hệ ngoại thương cũng như các quan hệ kinh tế đối ngoại khác bằng ngoại tệ. Chính sách quản lý ngoại hối cũng quản lý và kiểm soát sự lưu thông của ngoại hối. Vì vậy nó có vai trò quan trọng trong việc ổn định giá trị tiền tệ quốc gia nói riêng và ổn định nền kinh tế nói chung.

1.3/ Sự biến động của tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một số đơn vị tiền tệ của nước kia, là hệ số quy đổi của đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác, được xác định bởi mối quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ.

Tỷ giá hối đoái là một nhân tố nhạy cảm. Sự biến động lên hay xuống của tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng nhiều đến hoạt động trong nền kinh tế, trong đó có hoạt động thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Khi đồng tiền trong nước mất giá so với ngoại tệ, giá cả hàng hóa trong nước sẽ rẻ đi một cách tương đối so với hàng hóa nước ngoài và ngược lại hàng hóa nhập khẩu vào sẽ bị đắt lên. Do đó nước có đồng tiền mất giá sẽ có điều kiện tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Đối với những nước đang và kém phát triển có nhu cầu nhập khẩu lớn máy móc thiết bị, hàng hóa tiêu dùng… sẽ bị ảnh hưởng rất lớn trong trường hợp này. Hoạt động nhập khẩu bị co hẹp nhưng hoạt động xuất khẩu không thể tăng lên một cách tương ứng do các mặt hàng xuất khẩu của các nước này chủ yếu là hàng thô, hàng sơ chế. Doanh thu xuất nhập khẩu bị giảm đi rất lớn. Do đó nó làm hạn chế hoạt động thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Khi đồng tiền trong nước đắt lên so với ngoại tệ, giá cả hàng hóa trong nước sẽ đắt lên một cách tương đối và hàng hóa nhập khẩu vào nội địa sẽ rẻ đi. Do đó, nước có đồng tiền lên giá sẽ khó khăn hơn trong việc xuất khẩu và có lợi hơn cho việc nhập khẩu. Các hoạt động nhập khẩu sẽ được tăng cường. Hoạt động thanh toán quốc tế tại các doanh nghiệp có điều kiện được mở rộng.

1.4/ Chất lượng dịch vụ của hệ thống ngân hàng:

Như đã phân tích ở trên, đặc điểm nổi bật của hoạt động Thanh toán quốc tế đó là nhất thiết phải có sự tham gia của các ngân hàng thương mại ở các nước liên quan trong quá trình thanh toán. Hoạt động thanh toán có được tiến hành nhanh và thuận lợi hay không phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống ngân hàng và các ngân hàng đại lý. Một ngân hàng lớn và có uy tín thì đương nhiên sẽ dễ dàng được ngân hàng thông báo chấp nhận L/C mà ngân hàng đó mở. Mặt khác, hoạt động chuyển tiền cũng được tiến hành nhanh hơn nếu ngân hàng chuyển tiền có ngân hàng chi nhánh ở nước người xuất khẩu.

2/ Nhân tố chủ quan: Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

  • Quy mô và uy tín của doanh nghiệp:

Quy mô của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp. Đối với hoạt động thanh toán quốc tế thì uy tín của doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng. Thông thường thì ngân hàng sẽ dễ dàng chấp nhận chiết khấu hối phiếu cho công ty có uy tín, đang kinh doanh ổn định và có lãi, ngược lại sẽ khó khăn hơn cho việc chiết khấu hối phiếu của các doanh nghiệp kinh doanh đang thua lỗ và không có uy tín trên thị trường. Quy mô của doanh nghiệp cũng có tác động rất lớn đến hoạt động thanh toán quốc tế trên phương diện tổng trị giá của hợp đồng, mặt hàng xuất khẩu……

  • Khâu tổ chức hoạt động thanh toán tại doanh nghiệp:

Hoạt động thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu của doanh nghiệp được thực hiện thông qua “bộ máy thanh toán quốc tế”. Thông thường bộ máy đó bao gồm ba bộ phận: ban giám đốc, phòng kế toán tài vụ, phòng thanh toán quốc tế và phòng kinh doanh. Để hoạt động thanh toán được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi, trong doanh nghiệp cần quy định rõ về quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của từng bộ phận có liên quan cũng như những quy định về sự phối kết hợp của tong bộ phận trong quá trình thanh toán quốc tế.

  • Trình độ chuyên môn của các cán bộ thanh toán:

Bên cạnh tất cả những điều kiện trên, hiệu quả của quá trình thanh toán còn phụ thuộc không ít vào đội ngũ thanh toán. Cán bộ thanh toán có trình độ chuyên môn giỏi, am hiểu luật lệ, nắm vững nghiệp vụ ngoại thương thì mới có thể giúp cho hoạt động thanh toán được thực hiện một cách nhanh chóng, trôi chảy và tránh được những rủi ro trong thanh toán quốc tế. Và như vậy, chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế phụ thuộc rất lớn vào trình độ nghiệp vụ và kinh nghiệm làm việc của đội ngũ cán bộ thanh toán trong doanh nghiệp.

  • Quan hệ của công ty với ngân hàng:

Có thể nói đây là nhân tố chính và ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động thanh toán quốc tế tại doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với ngân hàng, nhà xuất khẩu có thể nhận được tiền hàng nhanh hơn trên cơ sở đề nghị ngân hàng chiết khấu hối phiếu. Còn đối với nhà nhập khẩu, nếu doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với ngân hàng, ngân hàng có thể chấp nhận mở L/C nhanh hơn và yêu cầu một khoản ký quỹ thấp hơn so với quy định. Có nhiều trường hợp ngân hàng còn có thể chấp nhận một số lỗi nhỏ của bộ chứng từ thanh toán do đánh máy hoặc do sơ xuất của người lập.

Trên đây là một số ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Trên cơ sở xem xét các nhân tố đó, các doanh nghiệp cần phải có những giải pháp đề ra sao cho phù hợp để có thể hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế. Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX

One thought on “Khóa luận: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Công ty UNIMEX

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp thanh toán xuất nhập khẩu Công ty UNIMEX

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537