Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần giải pháp kỹ thuật năng lượng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước nhà từ một nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang một nền kinh tế có tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ cao, dựa trên nền tảng của kinh tế tri thức và xu hướng gắn với nền kinh tế toàn cầu. Sự chuyển dịch này đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho nhiều ngành kinh tế phát triển. Song cũng đặt ra những yêu cầu và thách thức mới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự vận động, vươn lên vượt qua thử thách tránh nguy cơ bị đào thải bởi quy luật cạnh tranh khốc liệt trong nền kinh tế thị trường.
CTCP giải pháp kỹ thuật Năng lượng (viết tắt là PTS) là một doanh nghiệp được thành lập từ năm 2021. Trong quá trình hình thành và phát triển của mình công ty đã có nhiều bước tiến mạnh mẽ, không ngừng đổi mới và phát triển, dù gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động.
Sau một thời gian thực tập tại Công ty cổ phần giải pháp kỹ thuật Năng lượng, em đã nhận được sự động viên, đóng góp ý kiến và hướng dẫn của cô giáo, TS. Phạm Thị Hoa, và được sự giúp đỡ cán bộ công nhân viên trong Công ty cổ phần giải pháp kỹ thuật Năng lượng, kết hợp với những kiến thức thu thập được trong quá trình học tập tại trường. Em đã khái quát được phần nào về hoạt động kinh doanh và quản trị của công ty, đồng thời qua việc phân tích hoạt động kinh doanh của công ty em thấy mình đã được bổ xung nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Với mong muốn Công ty có hiệu quả hơn nữa trong hoạt động sản xuất kinh doanh và mở rộng quy mô sản xuất, em đã quyết định lựa chọn “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Giải pháp kỹ thuật Năng lượng” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp gồm những nội dung chính như sau:
- Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP.
- Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NĂNG LƯỢNG.
- Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NĂNG LƯỢNG.
Do trình độ và thời gian có hạn nên trong quá trình làm khóa luận khó tránh khỏi nhiều thiếu sót, em rất mong được sự chỉ bảo giúp đỡ của thầy cô và các anh chị trong công ty. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo, TS. Phạm Thị Hoa và Công ty cổ phần giải pháp kỹ thuật Năng lượng đã giúp đỡ em trong thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát chung về vốn lưu động
1.1.1. Khái niệm vốn lưu động
Trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp, nếu vốn cố định được ví như xương cốt của một cơ thể sống thì vốn lưu động ví như huyết mạch trong cơ thể đó. Cơ thể ở đây chính là doanh nghiệp bởi đặc điểm tuần hoàn liên tục của vốn gắn liền với chu kì hoạt động sản xuất kinh doanh. Với nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh té với nhiệm vụ chủ yếu là tạo ra các sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Hoạt động sản xuất kinh doanh muốn diễn ra thì doanh nghiệp phải hội tụ đủ ba yếu tố cơ bản đó là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Thứ nhất, sức lao động là khả năng lao động, là sự kết hợp của thể lực, trí lực tồn tại trong con người. Sức lao động là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất của xã hội. Ngày nay, để bắt kịp với sự phát triển như vũ bão của khoa học – công nghệ đòi hỏi sức lao động cũng theo đó không ngừng được cải thiện và nâng cao.
Thứ hai, tư liệu lao động là toàn bộ những vật có nhiệm vụ truyền dẫn tác động của con người lên đối tượng lao động nhằm biến đối tượng lao động theo mục đích của mình. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
Thứ ba, đối tượng lao động là tất cả những vật mà con người tác động vào nhằm biến đổi nó cho phù hợp với mục đích sử dụng của con người và chỉ tham gia một lần vào một chu kỳ sản xuất. Toàn bộ giá trị của nó được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm. Trong doanh nghiệp, đối tượng lao động biểu hiện dưới hình thái vật chất là tài sản lưu động, còn hình thái giá trị là vốn lưu động. Trong đó, tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn, có thời gian thu hồi vốn trong một chu kì kinh doanh nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thương và liên tục. Gồm hai bộ phận: tài sản lưu động sản xuất (một bộ phận là những vật tư dự trữ đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu, nhiên liệu… – một bộ phận là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất như sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…), tài sản lưu động lưu thông như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn trong thanh toán… Hai bộ phận này luôn thay thế cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất hoạt động thường xuyên. Mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều phải có một lượng tài sản lưu động nhất định, do đó cần một số vốn tương ứng để mua lượng tài sản đó.
Như vậy, vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần, hoạt động liên tục và hình thành một vòng tuần hoàn sau một chu kì sản xuất. Vốn lưu động là tiền đề vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất. Trong cùng một lúc, vốn lưu động được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới những hình thái khác nhau. Muốn duy trì quá trình tái sản xuất liên tục, doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Điều này sẽ giúp cho việc chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi. Ngược lại nếu như doanh nghiệp không có đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp khó khăn, quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn.
1.1.2. Đặc điểm và phân loại vốn lưu động
- Đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động, nên đặc điểm của vốn lưu động chịu sự chi phối bởi đặc điểm của tài sản lưu động. Vì vậy, vốn lưu động của các doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: sản xuất, dự trữ và lưu thông.
Các quá trình diễn ra thường xuyên, liên tục, lặp đi lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Nó được thể hiện cụ thể qua sơ đồ sau:
- Sơ đồ 1.1: Quá trình tuần hoàn của vốn lưu động
Trong giai đoạn dự trữ vật tư, vốn bằng tiền được chuyển hóa thành vốn vật tư dự trữ, đến giai đoạn sản xuất, tiếp tục từ hình thái vật tư dự trữ chuyển thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm. Sang đến giai đoạn lưu thông, vốn lưu động từ hình thái thành phẩm chuyển thành hình thái tiền tệ.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, quá trình chu chuyển của vốn lưu động được thực hiện theo công thức: T – H – sản xuất – H’ – T’. Cụ thể như sau: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
- Giai đoạn 1: T – H là giai đoạn khởi đầu của vòng tuần hoàn. Vốn lưu động dưới hình thái tiền tệ được dùng để mua sắm các đối tượng lao động nhằm dự trữ cho sản xuất. Như vậy, giai đoạn này vốn lưu động đã từ hình thái tiền chuyển sang hình thái vật tư, nguyên vật liệu, hàng hóa.
- Giai đoạn 2: H – sản xuất – H’ là giai đoạn doanh nghiệp tiến hành kết hợp các yếu tố sản xuất để chuyển hóa toàn bộ giá trị vật tư, nguyên liệu vào sản phầm hoàn thành.
- Giai đoạn 3: H’ – T’ là giai đoạn tiêu thụ sản phầm, hàng hóa và thu tiền về.
Vốn lưu động đã chuyển từ hình thái vốn thành phẩm về hình thái vốn ban đầu.
Đối với các doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động được chuyển hóa qua hai giai đoạn.
- Giai đoạn 1: Giai đoạn mua hàng, lúc này vốn lưu động sẽ chuyển từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hóa.
- Giai đoạn 2: Giai đoạn bán hàng, vốn lưu động chuyển từ hàng hóa, vật tư, nguyên vật liệu sang hình thái tiền tệ ban đầu.
Như vậy, chúng ta có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh như sau:
- VLĐ của doanh nghiệp thường xuyên chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau tạo thành sự tuần hoàn của Vốn lưu động.
- VLĐ chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất, giá trị của nó được dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ sau khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thu lại được tiền bán hàng về. Như vậy, Vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Quá trình Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên, liên tục. Các giai đoạn vận động của Vốn lưu động đan xen nhau cùng một thời điểm Vốn lưu động tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau trong khâu sản xuất và lưu thông. Số Vốn lưu động cần thiết cho doanh nghiệp phải phụ thuộc vào đặc điểm, chu kỳ kinh doanh và tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp thương mại, Vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn.
- Phân loại vốn lưu động Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
VLĐ có nhiều hình thái khác nhau cùng tham gia vào một chu kỳ Sản xuất kinh doanh, vì vậy việc quản lý Vốn lưu động luôn được xem là công tác hàng đầu. Muốn quản lý tốt cần căn cứ vào một số tiêu thức để phân loại Vốn lưu động như sau:
- Phân loại theo công dụng vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh
VLĐ trong khâu dự trữ: là bộ phận Vốn lưu động để thiết lập, dự trữ về vật tư, hàng hóa trong quá trình Sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp tiến hành sản xuất liên tục. Bao gồm các khoản vốn sau: vốn nguyên vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật liệu đóng gói và vốn công cụ, dụng cụ nhỏ.
VLĐ trong khâu sản xuất: là vốn được dùng để đảm bảo cho quá trình sản xuất của các bộ phận tham gia vào dây chuyền công nghệ được diễn ra liên tục, không bị gián đoạn, bao gồm: vốn sản phẩm đang chế tạo, vốn về chi phí trả trước.
VLĐ trong khâu lưu thông: là vốn dùng để dự trữ sản phẩm, đảm bảo cho tiêu thụ thường xuyên, đều đặn theo nhu cầu khách hàng, bao gồm: vốn thành phẩm, vốn bằng tiền.
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bổ của Vốn lưu động trong từng khâu của quá trình Sản xuất kinh doanh. Thông qua đó, nhà quản lý sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu thông hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển Vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động.
Phân loại theo hình thái biểu hiện
- Vốn hàng hóa: gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, công cụ dụng cụ.
- Vốn phi hàng hóa: gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán có tính thanh khoản cao…
Việc phân loại theo cách này giúp cho nhà quản lý dễ dàng nắm bắt được lượng vốn hiện nay đang tồn đọng ở khâu nào để có những biện pháp nhanh chóng, chính xác, kịp thời nhằm đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng.
- Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn
Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt của doanh nghiệp. Bao gồm: vốn ban đầu của chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp bỏ ra khi doanh nghiệp mới thành lập (tùy theo từng loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà Vốn chủ sở hữu có nội dung riêng), vốn doanh nghiệp tự bổ sung là số vốn được bổ sung hàng năm từ lợi nhuận hoặc từ các quỹ doanh nghiệp.
Các khoản nợ phải trả: là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính khác, vay thông qua phát hành trái phiếu và vốn chiếm dụng từ bên thứ ba như các khoản phải trả cán bộ công nhân viên, các khoản phải nộp ngân sách nhà nước nhưng chưa đến hạn phải trả… Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
Cách phân loại này cho thấy kết cấu Vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành từ vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó doanh nghiệp có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng Vốn lưu động hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Phân loại theo nguồn hình thành
Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc vốn điều lệ bổ sung trong quá trình Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Nguồn vốn tự bổ sung: là vốn doanh nghiệp tự bổ sung trong quá trình Sản xuất kinh doanh.
- Nguồn vốn đi vay: là vốn huy động được từ các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính, vay người lao động trong doanh nghiệp và vay từ các doanh nghiệp khác.
- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn: bằng việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: là vốn được hình thành từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia liên doanh, liên kết.
Việc phân chia Vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn tài trợ cho nhu cầu Vốn lưu động trong kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính, mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng cho nó. Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của mình.
Phân loại theo chế độ quản lý hiện hành
- Vốn bằng tiền gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
- Vốn đầu tư tài chính ngắn hạn: vay ngắn hạn, đầu tư chứng khoán ngắn hạn.
- Vốn đầu tư vào các khoản phải thu ngắn hạn: gồm phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản phải thu ngắn hạn khác.
- Vốn về hàng tồn kho: gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hóa.
- Vốn lưu động khác: các khoản tạm ứng, thế chấp…
Việc phân loại Vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Mặt khác, biết được kết cấu Vốn lưu động theo hình thái biểu hiện, doanh nghiệp có định hướng để điều chỉnh Vốn lưu động một cách có hiệu quả, phát huy chức năng của các thành phần vốn.
Như vậy, từ các phương pháp phân loại trên về Vốn lưu động đã cho thấy tầm quan trọng của Vốn lưu động. Nó giúp doanh nghiệp biết được kết cấu Vốn lưu động – là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần Vốn lưu động trong tổng số Vốn lưu động của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định hoặc trong cả một thời kỳ. Điều đó sẽ giúp doanh nghiệp có cái nhìn tổng quát về nguồn Vốn lưu động đang sử dụng cũng như chất lượng công tác quản lý để có những biện pháp thích hợp, kịp thời điều chỉnh cơ cấu vốn cho hợp lý, đánh giá được mức tồn kho dự trữ, khả năng thanh toán, cơ cấu nguồn tài trợ để có những chiến lược nhằm thúc đẩy tốc độ luân chuyển Vốn lưu động.
1.1.3. Vai trò của vốn lưu động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
Vốn, lao động và công nghệ là ba yếu tố cơ bản để một doanh nghiệp tiến hành hoạt động Sản xuất kinh doanh. Trong đó, vốn là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất của sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Là một bộ phận không thể thiếu được trong vốn kinh doanh của các doanh nghiệp, Vốn lưu động có các vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, Vốn lưu động là điều kiện đầu tiên để tiến hành hoạt động Sản xuất kinh doanh. Nếu Vốn lưu động bị thiếu hay tốc độ luân chuyển Vốn lưu động chậm sẽ làm trì trệ hoạt động mua bán hàng hóa, làm gián đoạn sản xuất, doanh nghiệp không thể tiền hành mở rộng thị trường, dẫn đến lợi nhuận bị giảm sút, gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai, Vốn lưu động là bộ phận cấu thành nên giá trị thành phẩm, sản phẩm do đặc điểm chu chuyển, sẽ chuyển toàn bộ giá trị của nó vào giá trị sản phẩm theo chu kỳ Sản xuất kinh doanh mà chu kỳ vận động của nó là cơ sở đánh giá khả năng thanh toán và hiệu quả sử dụng vốn.
Thứ ba, với đặc điểm của Vốn lưu động là phân bổ khắp hoạt động Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời chúng lại chu chuyển nhanh nên Vốn lưu động được xem như công cụ quản lý quan trọng của doanh nghiệp. Nó kiểm tra, kiểm soát, phản ánh tính chất khách quan của hoạt động tài chính, thông qua đó giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được những điểm mạnh, điểm yếu trong kinh doanh như khả năng thanh toán, tình hình luân chuyển vật tư hàng hóa, tiền vốn, từ đó để đưa ra các quyết định tối ưu cho doanh nghiệp.
Thứ tư, Vốn lưu động là nguồn lực quan trọng để thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh. Với nền kinh tế thị trường hiện nay, doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong sử dụng vốn kinh doanh. Vì thế, Vốn lưu động là yếu tố quyết định đến việc nên mở rộng hay thu hẹp quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
Qua đây, ta thấy được tầm quan trọng của Vốn lưu động đối với quá trình Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, sử dụng và quản lý Vốn lưu động như thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đạt được mục tiêu chung là bài toán khó đối với mỗi doanh nghiệp hiện nay.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Theo các chuyên gia và các nhà kinh tế đánh giá thì hiệu quả được coi là một thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định. Như vậy, hiệu quả phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu hành động trong quan hệ với chi phí bỏ ra và hiệu quả được xem xét trong bối cảnh hay điều kiện nhất định, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu.
Mục tiêu chung của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều là tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí. Cuộc chiến cạnh tranh khốc liệt đang diễn ra hiện nay trong các khối ngành kinh tế, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải đặc biệt quan tâm tới hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu xác định trong quá trình Sản xuất kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề sống còn doanh nghiệp cần phải quan tâm là tính hiệu quả. Chỉ khi hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra, thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy mô hoạt động Sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các bộ phận. Trong đó hiệu quả sử dụng vốn gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó các doanh nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mình.
Hiệu quả sử dụng vốn có vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và nó cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp. Vì vậy việc quản lý sử dụng tốt nguồn vốn sẽ góp phần làm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và theo đó, doanh nghiệp sẽ đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí vốn bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nó phản ánh trình độ sử dụng vốn lợi dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Tính bằng chỉ số sau:
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động, ta thường đánh giá trên hai phương diện:
- Về mặt định tính, hiệu quả sử dụng Vốn lưu động thể hiện trình độ khai thác, quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Về mặt định lượng, hiệu quả sử dụng Vốn lưu động thể hiện ở mỗi tương quan giữa kết quả thu được từ hoạt động bỏ vốn mang lại so với lượng vốn bỏ ra.
Mặt khác, việc cụ thể hóa kết quả kinh doanh và sử dụng Vốn lưu động bằng các chỉ tiêu sát thực, có thể đánh giá trình độ tổ chức và sử dụng Vốn lưu động của doanh nghiệp một cách đúng đắn, khách quan. Sau đây, chúng ta xem xét lần lượt các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động.
Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung:
- Vòng quay vốn trong kỳ
Số vòng quay vốn trong kỳ là một tỷ số tài chính, là thước đo khái quát nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tỷ số này cho biết mỗi đồng vốn tạo ra cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp quản lý và sử dụng nguồn vốn của mình hiệu quả.
- Hệ số nợ Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
Hệ số nợ cho ta biết mức độ sử dụng nợ của công ty so với nguồn vốn, được tính bằng cách lấy tổng nợ chia cho tổng nguồn vốn. Tổng số nợ ở đây bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả. Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp vì như vậy công ty có khả năng trả nợ cao hơn. Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì như vậy làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông. Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành. Tỷ số nợ càng thấp thì mức độ bảo vệ dành cho các chủ nợ càng cao trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và phải thanh lý tài sản
- Tỉ suất tự tài trợ
Tỉ suất tự tài trợ thể hiện khả năng tự chủ tài chính và tính ổn định dài hạn của doanh nghiệp trong kinh doanh. Đối với các Ngân hàng, tỷ suất này của khách hàng càng cao càng tốt, nhưng tối thiểu phải 30% mới gọi là có khả năng tự chủ về tài chính.
- Hệ số thanh toán lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi như thế nào. Nếu công ty quá yếu về mặt này, các chủ nợ có thể đi đến gây sức ép lên công ty, thậm chí dẫn tới phá sản công ty. Hệ số khả năng thanh toán lãi vay được tính bằng tỷ số giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) trên lãi vay.
Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Vòng quay vốn lưu động trong kỳ
Số vòng quay vốn lưu động trong kỳ cho biết mỗi đồng vốn lưu động tạo ra cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn lưu động hiệu quả.
- Kì luân chuyển vốn lưu động
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho một vòng quay của vốn lưu động trong kì. Thời gian luân chuyển vốn càng ngắn thì chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động rất linh hoạt, tiết kiệm và tốc độ luân chuyển của nó sẽ càng lớn.
- Tỉ suất lợi nhuận trên vốn lưu động Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
Tỉ suất lợi nhuận trên vốn lưu động (Tỉ lệ doanh lợi trên vốn lưu động) cho biết cứ một đồng vốn lưu động thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế/sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt.
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động phản ánh để được một đồng doanh thu tiêu thụ thì cần phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn lưu động. Hệ số này càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao, số vốn lưu động tiết kiệm được càng lớn.
Ngoài các chỉ tiêu trên, để đánh giá về hiệu quả sử dụng và quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp, ta sẽ dùng các nhóm chỉ tiêu khác như:
Các chỉ tiêu đánh giá về khả năng hoạt động:
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý hàng tồn kho
Đây là một tiêu chuẩn nhằm đánh giá Công ty sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ.
Chỉ tiêu này thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu. Chỉ tiêu này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu nó nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp.
Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng càng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá cao trong khi nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Nhưng cũng cần lưu ý là hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu.
Chỉ tiêu này cho biết số ngày lượng hàng tồn kho được chuyển đổi thành doanh thu. Hàng tồn kho có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong việc dự trữ nên chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công tác quản lý hàng tồn kho càng tốt, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng thu nợ Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
Chỉ tiêu này phản ánh tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà khách hàng nhận được từ doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của doanh nghiệp trong kỳ phân tích doanh nghiệp đã thu được bao nhiêu nợ và số nợ còn tồn động chưa thu hồi được là bao nhiêu. Chỉ số vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao, tức là khách hàng trả nợ doanh nghiệp càng nhanh. Quan sát số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này được đánh giá khả năng thu hồi vốn của các doanh nghiệp, trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân một ngày. Nó phản ánh số ngày cần thiết để thu hồi được các khoản phải thu. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại. Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp, như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp.
- Các chỉ tiêu đánh giá về khả năng thanh toán
Trong kinh doanh vấn đề làm cho các doanh nghiệp lo ngại là các khoản nợ nần dây dưa, các khoản phải thu không có khả năng thu hồi, các khoản phải trả không có khả năng thanh toán. Vì vậy doanh nghiệp phải duy trì một mức tài sản luân chuyển hợp lý để đáp ứng kịp thời các khoản nợ ngắn hạn, duy trì các loại hàng tồn kho để đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi. Tại các nước trên thế giới theo cơ chế thị trường căn cứ vào luật phá sản, doanh nghiệp có thể bị tuyên bố phá sản theo yêu cầu của các chủ nợ khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả. Hiện nay luật doanh nghiệp Việt Nam cũng quy định tương tự như vậy. Do đó, các doanh nghiệp luôn luôn quan tâm đến các khoản nợ đến hạn trả và chuẩn bị nguồn để thanh toán chúng. Do vậy khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây.
- Khả năng thanh toán hiện hành
Hệ số này được sử dụng phổ biến nhất và nó là một trong những thước đo cơ bản để đánh giá khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp và các khoản phải trả bằng các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp như tiền mặt, các khoản phải thu… Hệ số này phản ảnh một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
Khi hệ số này ở mức nhỏ hơn 1, thể hiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là yếu tố dẫn đến rủi ro tài chính, rủi ro thanh toán cao. Ngược lại nếu hệ số này ở mức lớn hơn 1, cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tương đối tốt, đủ khả năng đảm bảo thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn. Song nếu hệ số này cao quá, tức là lượng TSLĐ tồn trữ quá lớn và bộ phận tài sản này không vận động, không sinh lời sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Hệ số này lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn đói với doanh nghiệp thương mại, TSLĐ thường chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng tài sản nên hệ số này tương đối cao. Do đó khi đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cần phải dựa vào hệ số trung bình của doanh nghiệp cùng ngành. Tuy nhiên, hệ số này chỉ phản ánh một cách tạm thời tình hình thanh toán của doanh nghiệp vì tài sản ngắn hạn bao gồm cả các khoản phải thu và hàng tồn kho. Chính vì vậy để đánh giá chinh xác hơn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ta cần xét thêm một số chỉ tiêu khác nữa.
- Khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu thể hiện khả năng trả nợ ngắn hạn bằng các tài sản có tính thanh khoản cao nhưng không tính đến hàng tồn kho, vì hàng tồn kho là tài sản khó chuyển đổi thành tiền.
Đây là chỉ tiêu được các chủ nợ ngắn hạn rất quan tâm vì thông qua các chỉ tiêu này, các chủ nợ có thẻ đánh giá được tại thời điểm phân tích doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không. Tuy nhiên trong một số trường hợp chỉ tiêu này chưa phản ánh một cách chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có khoản phải thu chiếm tỉ trọng lớn trong tổng TSLĐ. Do đó để đánh giá chính xác và chặt chẽ hơn cần xem xét thêm khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.
- Khả năng thanh toán tức thời Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
Hệ số khả năng thanh toán tức thời là một số chỉ tiêu đánh giá sát hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Trong đó, tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (dưới 3 tháng) có thể chuyển đổi thành tiền bất cứ lúc nào như: chứng khoán ngắn hạn, thương phiếu… Đây là các tài sản có tính thanh khoản cao, độ rủi ro thấp.
Hệ số khả năng thanh toán tức thời phản ảnh khả năng thanh toán các nợ ngắn hạn bất cứ lúc nào, đặc biệt là nợ ngắn hạn đến hạn, bời vì nguồn trang trải các khoản nợ của doanh nghiệp hết sức linh hoạt.
Các chỉ tiêu đánh giá về khả năng sinh lời:
- Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA): Đo lường khả năng sinh lợi trên một đồng vốn đầu tư vào Công ty. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng quản lý tài sản của doanh nghiệp tốt mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp. Một doanh nghiệp đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuận cao sẽ tốt hơn doanh nghiệp đầu tư nhiều vào tài sản mà thu được lợi nhuận thấp. Hệ số này thương có sự chênh lệch giữa các ngành. Những ngành đòi hỏi phải có đầu tư tài sản lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ như các ngành vận tải, xây dựng, sản xuất kim loại… thường có ROA nhỏ hơn so với các ngành không cần phải đầu tư nhiều vào tài sản như ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm…
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS): Tỷ số này nói lên một đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ số này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn càng cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn.
- Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE): Đây là chỉ số mà các nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của một đồng vốn mà họ bỏ ra để đầu tư vào Công ty, hay nói cách khác cứ một trăm đồng Vốn chủ sở hữu đem đầu tư mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì càng tốt.
1.3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
1.3.1. Khái niệm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Chưa có một cuốn sách hay giáo trình nào đưa ra đánh giá về quan niệm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp nhưng theo tôi, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, trước tiên ta phải hiểu và làm rõ được thực trạng sử dụng vốn của doanh nghiệp đó. Đó chính là việc so sánh số liệu của năm nay so với năm trước bằng phương pháp so sánh số tuyệt đối và số tương đối, thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính. Từ đó, ta mới thấy được tốc độ tăng trưởng cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp để góp phần làm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Ngoài ra còn có một số cách thức khác như phương pháp phân tích theo chiều ngang, phân tích theo chiều dọc, phương pháp tổng hợp, khái quát … trong mối tương quan với các doanh nghiệp cùng ngành và xu thế biến động của nền kinh tế.
1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả Sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là kết quả tổng thể của hàng loạt các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài của doanh nghiệp. Việc đảm bảo đầy đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó xuất phát từ các lý do chủ yếu sau:
- Tất cả các hoạt động Sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp dù ở bất cứ quy mô, lĩnh vực nào đều cần có 1 lượng vốn nhất định.
- Việc mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển nhanh đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn, đầy đủ và kịp thời. Do đó việc tổ chức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
- Việc huy động vốn đầy đủ và kịp thời giúp doanh nghiệp có thể chớp được thời cơ kinh doanh, tạo lợi thế trong cạnh tranh
- Lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp giúp giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, điều đó tác dộng rất lớn đến việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc biệt là ở các doanh nghiệp có tỷ lệ vốn vay lớn.
Trong cơ chế bao cấp trước đây, mọi nhu cầu về vốn của doanh nghiệp nhà nước đều được bao cấp qua nguồn vốn cấp của ngân sách nhà nước và qua nguồn tín dụng ưu đãi của ngân hàng. Nếu doanh nghiệp phát sinh nhu cầu vốn thì có thể xin cấp phát thêm hoặc vay ngân hàng với lãi suất ưu đãi. Có thể nói vốn của doanh nghiệp được tài trợ toàn bộ, vì thế vai trò khai thác, thu hút vốn không được đặt ra như một yêu cầu cấp bách có tính sống còn với doanh nghiệp. Hoạt động huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp trở nên rất thụ động.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước cùng song song tồn tại với các thành phần kinh tế khác, việc cấp phát vốn từ ngân sách nhà nước hạn chế hơn, doanh nghiệp phải bảo toàn vốn kể cả trong điều kiện trượt giá và phải đầu tư để mở rộng và phát triển quy mô Sản xuất kinh doanh. Nhu cầu vốn ngày càng lớn trong môi trường cạnh tranh gay gắt. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm nguồn mới để đáp ứng yêu cầu vốn, đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ … nhằm đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chỉ có như vậy doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy vốn trở thành động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp và việc huy động, quản lý sử dụng vốn hiệu quả vốn đã trở thành một yêu cầu bức bách.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo được tính an toàn về tài chính cho doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Qua đó các doanh nghiệp sẽ đảm bảo việc huy động các nguồn tài trợ và khả năng thanh toán, khắc phục cũng như giảm bớt được những rủi ro trong kinh doanh.
Làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Để đáp ứng các yêu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm … doanh nghiệp phải có vốn, trong khi đó vốn của doanh nghiệp chỉ có hạn, vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là rất cần thiết.
Giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu và các mục tiêu khác của doanh nghiệp như nâng cao uy tín sản phẩm trên thị trường, nâng cao mức sống của người lao động … Vì khi hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và mức sống của người lao động cũng ngày càng được cải thiện. Điều đó giúp cho năng suất lao động của doanh nghiệp ngày càng nâng cao, tạo sự phát triển cho doanh nghiệp và các ngành liên quan, đồng thời nó cũng làm tăng các khoản đóng góp cho ngân sách nhà nước.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển của nó không thể tách rời ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh cũng như đặc điểm của riêng nó. Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng chịu tác động của các yếu tố đó một cách gián tiếp hoặc trực tiếp.
1.4.1. Nhân tố chủ quan
- Lực lượng lao động
Lực lượng lao động ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn được xem xét trên hai yếu tố là số lượng và chất lượng lao động, của hai bộ phận lao động là lao động trực tiếp Sản xuất kinh doanh và cán bộ lãnh đạo. Trình độ của người lao động cao sẽ làm tăng hiệu suất sử dụng tài sản, kết quả kinh doanh cao hơn, do đó vốn được sử dụng hiệu quả hơn. Trình độ cán bộ điều hành cao thể hiện ở sự kết hợp một cách tối ưu các yếu tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết đồng thời nắm bắt các cơ hội kinh doanh, đem lại cho doanh nghiệp sự tăng trưởng và phát triển … do đó hiệu quả sử dụng vốn được nâng cao.
- Đặc điểm sản xuất kinh doanh
Các doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau sẽ có đặc điểm về chu kỳ sản xuất, kỹ thuật sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, nhu cầu của thị trường khác nhau, do đó cũng có hiệu quả sử dụng vốn khác nhau. Chẳng hạn nếu chu kỳ ngắn, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh hơn nhằm tái tạo, mở rộng Sản xuất kinh doanh. Ngược lại nếu nhu kỳ sản xuất dài doanh nghiệp sẽ chịu một gánh nặng ứ đọng vốn và lãi phải trả cho các khoản vay. Nếu sản phẩm là tư liệu tiêu dung nhất là sản phẩm công nghiệp nhẹ như rượu bia, thuốc lá … thì sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh qua đó giúp doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh. Hơn nữa những máy móc dung để sản xuất ra những sản phẩm này có giá trị không quá lớn do vậy doanh nghiệp dễ có điều kiện đổi mới. Ngược lại, nếu sản phẩm có vòng đời dài có giá trị lớn, được sản xuất trên dây chuyền công nghệ có giá trị lớn như ôtô, xe máy … việc thu hồi vốn sẽ lâu hơn.
1.4.2. Nhân tố khách quan Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
- Môi trường tự nhiên:
Bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên có tác động đến doanh nghiệp, như thời tiết, môi trường … Ngày nay khoa học càng phát triển thì sự lệ thuộc của con người vào tự nhiên ngày càng giảm đi, ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến hoạt động Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng cũng ít hơn, trừ các doanh nghiệp hoạt động mang tính thời vụ hoặc các doanh nghiệp khai thác.
- Môi trường kinh tế:
Là tổng thể các biến số kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, như tình trạng lạm phát, thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ giá, tình trạng cạnh tranh … Các yếu tố này có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Môi trường pháp lý:
Là hệ thống các chế tài pháp luật, các chủ trương chính sách liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là tất yếu và cần thiết, nhưng tác động của nhà nước chỉ được thực hiện thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô, không can thiệp trực tiếp mà giao quyền chủ động sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, ảnh hưởng của môi trường pháp lý thể hiện ở chỗ nó đưa ra các quy tắc buộc doanh nghiệp phải tuân theo, nó bảo vệ những lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Nếu môi trường pháp lý thuận lợi sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.
- Môi trường chính trị, văn hóa:
Khách hàng của doanh nghiệp luôn tồn tại trong một môi trường văn hóa xã hội nhất định, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, bán được sản phẩm hay không phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm văn hóa xã hội. Nó ảnh hưởng đến việc ra quyết định sản xuất sản phẩm nào, lựa chọn công nghệ sản xuất nào cũng như phân phối sản phẩm như thế nào để đến được tay người tiêu dung một cách hiệu quả nhất. Do đó, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng chịu tác động của yếu tố này.
- Môi trường kỹ thuật công nghệ: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty năng lượng.
Sự phát triển của khoa học công nghệ cùng với xu thế chuyển giao công nghệ đặt ra cho các doanh nghiệp nhiều cơ hội và thách thức mới. Việc sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng phải thích ứng với sự tác động của yếu tố này.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động công ty năng lượng


Pingback: Khóa luận: Giải pháp sử dụng vốn lưu động công ty năng lượng