Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. NHU CẦU VỐN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Với mục tiêu chiến lược trở thành một tập đoàn tài chính hàng đầu Việt Nam và trở thành NH tầm cỡ quốc tế ở khu vực trong thập kỉ tới, hoạt động đa năng, kết hợp với điều kiện kinh tế thị trường, thực hiện tốt phương châm “Luôn mang đến cho khách hàng sự thành đạt”, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành NH Việt Nam nói riêng đang trong quá trình hội nhập, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã xây dựng cho mình một chiến lược phát triển “Vietcombank – tầm nhìn 2030” với những nội dung chính sau đây:
Thứ nhất, nâng cao năng lực, nâng cao sức cạnh tranh bằng việc phấn đấu nâng chỉ số CAR đạt 10 – 12 % và các chỉ số tài chính quan trọng khác theo chuẩn quốc tế.
Thứ hai, hoàn thành quá trình tái cơ cấu NH để có một mô hình tổ chức hiện đại, khoa học, phù hợp với mục tiêu và đảm bảo hiệu quả kinh doanh, kiểm soát được rủi ro, có khả năng cung ứng các sản phẩm dịch vụ NH đa dạng, tổng hợp, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế thị trường và nhu cầu của khách hàng thuộc mọi thành phần.
Thứ ba, phát triển và mở rộng các kênh phân phối các sản phẩm dịch vụ qua việc thiết lập các chi nhánh cấp 1, 2, các phòng giao dịch, lắp đặt một mạng lưới rộng khắp các máy ATM cùng với hàng ngàn đơn vị chấp nhận thẻ ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước, đáp ứng nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả việc sử dụng các sản phẩm của khách hàng.
Thứ tư, tiếp tục tăng cường hơn nữa hoạt động đối ngoại – là mảng hoạt động truyền thống mà cũng là thế mạnh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, thông qua việc tăng cường mở rộng mạng lưới các NH đại lý trên toàn cầu cũng như chủ trương thành lập các chi nhánh tại Singapore, Nga, văn phòng đại diện tại Mỹ, và nâng cấp, mở rộng hoạt động của công ty tài chính Việt Nam Vinafico tại Hồng Kông, phát triển hơn nữa các dịch vụ NH quốc tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng trong và ngoài nước.
Để có thể đạt được những mục tiêu đề ra, từ nay đến năm 2030, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phấn đấu giữ vững thế mạnh hàng đầu về nguồn vốn, nhất là về nguồn vốn ngoại tệ trong hệ thống NH Việt Nam. Chiến lược vốn cần phải đối phó được với thách thức của việc thị trường chứng khoán ra đời và đi vào hoạt động, của tiến trình hội nhập của Việt Nam và hoạt động tài chính trên trường quốc tế. Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Trong thời gian qua, tuy Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã giữ được thế mạnh về nguồn vốn, song quy mô vốn này còn chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhiều dự án quốc gia sẽ cần vốn ngoại tệ từ hàng trăm triệu USD trở lên. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải là NH đi đầu trong việc cung cấp vốn cho các dự án lớn, cho các ngành và các tổ chức kinh tế mũi nhọn của nhà nước. So với các NH trong khu vực và trên thế giới, tổng nguồn vốn hiện nay của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn rất nhỏ. Vì vậy việc tăng cường thế mạnh về nguồn vốn trong tương lai là điều kiện tiên quyết để Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giữ vững được vị thế của một Ngân hàng Thương mại chủ đạo lớn nhất ở Việt Nam trong thập niên tới.
Với định hướng mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tăng cường huy động vốn VND, cải thiện cơ cấu vốn ngoại tệ và VND. Bên cạnh đó, do chưa có sự phát triển của thị trường tài chính, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần phải đảm nhận vai trò cho vay trung và dài hạn. Do đó, nguồn vốn có luỹ hạn cũng cần phải gia tăng cả về quy mô và kỳ hạn, để đảm bảo tính ổn định trong nguồn vốn sử dụng để cho vay, từ đó hạn chế rủi ro cho ngân hàng.
Các kế hoạch đặt ra để phát triển hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong những năm sắp tới là:
- Tiếp tục phát triển các phương thức huy động vốn đã có như tiền gửi doanh nghiệp, tiết kiệm dân cư, tiền gửi liên ngân hàng, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu…
- Đẩy mạnh quan hệ vốn có với các NH trong và ngoài nước. Thực hiện vay vốn nước ngoài dưới các hình thức tài trợ vốn, tài trợ xuất nhập khẩu, vay theo hạn mức tín dụng…
- Chuẩn bị các điều kiện tham gia thị trường chứng khoán, tăng khả năng huy động vốn trung và dài hạn. Đào tạo cán bộ có trình độ chuyên sâu để thực hiện nhiệm vụ môi giới và trực tiếp kinh doanh chứng khoán.
- Phấn đấu mức tăng trưởng vốn huy động hàng năm đạt từ 15% đến 18% trên cơ sở đa dạng hoá các hình thức huy động vốn. Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Coi sự thành công của hoạt động NH được bắt nguồn từ những kết quả hoạt động của mọi đối tượng khách hàng. Sự biến động của nền kinh tế, thực trạng hoạt động của khách hàng luôn luôn là nhịp đập của NH. Vì vậy, cần có chính sách khách hàng hấp dẫn nhằm khơi tăng nguồn tiền gửi của các thành phần kinh tế. Đẩy mạnh tiến bộ về công nghệ, mở rộng hình thức mở tài khoản cá nhân, thanh toán bằng thẻ nhựa, rút tiền tự động qua mạng ATM nhằm thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi từ mọi tầng lớp xã hội vào NH.
Trên cơ sở định hướng và kế hoạch cho công tác huy động vốn, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã xây dựng nên một số chỉ tiêu huy động vốn cho đến năm 2030 như sau:
Chỉ tiêu tăng trưởng huy động vốn từ dân cư đến năm 2030: tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 30 – 40%. Số dư tiền gửi tiết kiệm đến năm 2030 đạt khoảng 54.000 tỷ đồng, chiếm trên 40% vốn huy động từ thị trường 1(thị trường dân cư và các Tổ chức kinh tế)
Chỉ tiêu tăng trưởng huy động vốn từ các tổ chức kinh tế: dự kiến trong những năm tới khi hoạt động kinh tế sôi động trở lại, nguồn vốn này sẽ tăng với tốc độ khoảng 10%/năm. Đến năm 2030, nguồn vốn này ước khoảng đạt 80.000 tỷ đồng, chiếm gần 60% vốn huy động trên thị trường 1.
Chỉ tiêu tăng trưởng huy động vốn từ thị trường liên ngân hàng: dự kiến đến năm 2030, số dư tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt mức 8.000 tỷ đồng.
II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành NH nói riêng đã có những chuyển biến mạnh mẽ trong những năm gần đây. Việt Nam được các tổ chức quốc tế, các nhà đầu tư đánh giá như một nước triển vọng của khu vực trong các thập niên tới. Điều này dẫn đến hàng loạt các tổ chức, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam ở mọi lĩnh vực phát triển kinh tế. Chính vì vậy, các doanh nghiệp trong nước cần phải nâng cao sức cạnh tranh của mình để giữ vững và phát huy vị thế của mình trong thị trường nội địa. Nhận thức được điều này, các Ngân hàng Thương mại VN nói riêng cũng đang hết sức nỗ lực để tăng vốn, hiện đại hoá NH, mở rộng hoạt động nhằm chống lại sức ép cạnh tranh ngày càng lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài.
Tăng cường huy động vốn là điều kiện tiên quyết để giữ vững vị thế của một Ngân hàng Thương mại quốc doanh hàng đầu. Trên cơ sở phân tích và dự đoán tình hình phát triển kinh tế của đất nước, xác định tỷ lệ vốn huy động kỳ vọng của thị trường trong nước, thị trường ngoài nước, đánh giá đúng điểm mạnh, điểm yếu của mình trong bối cảnh có nhiều loại hình NH cùng hoạt động, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần có những giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn trên nguyên tắc “ nguồn vốn tăng trưởng ổn định, huy động cả nội lực tài chính của mình lẫn các nguồn lực bên ngoài, tăng cường huy động vốn có kỳ hạn và vốn VND để cải thiện cơ cấu nguồn vốn. ” Chính vì vậy, khoá luận xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam như sau:
1. Giải pháp đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
- Đẩy mạnh công tác Marketing thu hút khách hàng gửi tiền
Nhiệm vụ của hoạt động NH là thu hút được một khối lượng lớn khách hàng thuộc mỗi tầng lớp dân cư với thu nhập, tâm lý và sở thích khác nhau nên việc ứng dụng các nguyên tắc Marketing trong quản lý quan hệ khách hàng vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng có ý nghĩa rất quan trọng. Đó là một chiến lược kinh doanh để liên kết, phối hợp những người có kỹ năng giao tiếp với quy trình tối ưu và công nghệ hiện đại nhằm cân bằng được 2 lợi ích: lợi nhuận thu được của NH và sự hài lòng tối đa của khách hàng. Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Tuy nhiên, trên thực tế, không chỉ riêng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam mà còn cả các Ngân hàng Thương mại khác của Việt Nam đều chưa thực hiện thật tốt công tác Marketing. Không chỉ riêng huy động vốn là cần đến Marketing, mà Marketing còn đóng vai trò quan trọng đối với tất cả các dịch vụ khác của NH và các dịch vụ này sẽ hỗ trợ nhau cùng phát triển. Do vậy, để làm tốt công tác Marketing, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần thực hiện những biện pháp sau:
Hình thành một bộ phận Marketing chuyên trách tại Hội sở chính. Bộ phận này có trách nhiệm tham mưu cho ban lãnh đạo trong việc hoạch định chiến lược Marketing của toàn hệ thống. Bộ phận này là đầu mối thu thập, xử lý thông tin từ môi trường trong và ngoài nước để từ đó đề ra các kế hoạch Marketing cho toàn hệ thống. Đây cũng là đầu mối trong công tác phát triển quan hệ với công chúng, xây dựng thương hiệu, xây dựng văn hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Tại các chi nhánh và đơn vị thành viên có thể không thành lập các bộ phận Marketing chuyên trách song tại các đơn vị phòng trực tiếp kinh doanh như phòng tín dụng, phòng thanh toán quốc tế, phòng giao dịch khách hàng cần bố trí các cán bộ trực tiếp làm công tác Marketing. Hoạt động của bộ phận Marketing chuyên trách, của các bộ phận nghiệp vụ tại Hội sở chính và của các đơn vị thành viên cần có sự liên kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau thông qua việc thể chế hoá các hoạt động nghiệp vụ Marketing bằng các quy chế, quy định và quy trình trong toàn hệ thống.
Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo sâu rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tạo một hình ảnh uy tín về NH trong công chúng. Quảng cáo, phổ biến các dịch vụ NH, các hình thức và chính sách huy động vốn, thu hút tiền gửi… để đông đảo dân chúng biết đến các dịch vụ đó. Thực tế tại một số điểm giao dịch, nhiều khách hàng đang sử dụng các dịch vụ thu hút tiền gửi, dịch vụ huy động vốn của NH nhưng lại chưa biết hết tiện ích của dịch vụ đó. Vì vậy, trước mắt, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nên đa dạng các loại tờ rơi, sách báo giới thiệu để sẵn tại quầy giao dịch giúp khách hàng có thể tự tìm hiểu kĩ khi đến giao dịch. Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Tổ chức tốt bộ phận chăm sóc khách hàng, tạo cho khách hàng có cảm giác được tôn trọng và hài lòng mỗi khi đến giao dịch. Bộ phận này có chức năng hướng dẫn khách hàng lần đầu đến giao dịch khai báo thông tin, trả lời các thắc mắc của khách hàng, tư vấn, giới thiệu về các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng giúp khách hàng cảm thấy hài lòng nhất khi chọn một loại hình dịch vụ cho mình. Hơn nữa, bộ phận này còn chịu trách nhiệm xây dựng văn hoá giao dịch của riêng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Nét văn hoá đó thể hiện qua phong cách, thái độ văn minh, lịch sự của đội ngũ nhân viên bán lẻ, trang phục riêng mang nét đặc trưng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần xây dựng đội ngũ nhân viên Marketing chuyên nghiệp, đầu tư hơn nữa cho quảng cáo sản phẩm, tìm hiểu nhu cầu khách hàng, đặc biệt là nhu cầu tiền gửi. Do nhu cầu tiền gửi của khách hàng khác nhau là rất khác nhau nên cần tìm hiểu kỹ trước khi tung ra một hình thức huy động vốn mới, tránh tình trạng đưa ra mà không đáp ứng được nhu cầu thực tại của khách hàng. Vì vậy, NH cần tiến hành phân đoạn thị trường và khách hàng để xác định hợp lý thị trường và khách hàng mục tiêu từ đó xây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp. Ví dụ như, đối với các khách hàng có nhu cầu gửi tiết kiệm thì hầu hết là người có thu nhập trung bình, thường quan tâm nhiều đến lãi trả, do vậy có thể áp dụng các hình thức tham dự thưởng. Đối với những khách hàng gửi tiền lớn lại thường quan tâm tới thái độ phục vụ, các tiện ích được hưởng cho nên NH cũng cần phải tập trung để đáp ứng những nhu cầu khác nhau này.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng cần công bố các thông tin tài chính để người dân cũng như các Tổ chức kinh tế hay các Tổ chức tín dụng khác có thể dễ dàng tiếp cận và nắm bắt tổng quan tình hình hoạt động kinh doanh của NH nhằm thu hút nhiều hơn khách hàng quan hệ với NH. Đây cũng là một biện pháp Marketing hiệu quả mà không mấy tốn kém để huy động vốn do tận dụng và phát huy được thế mạnh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam từ trước đến nay vẫn là một ngân hàng uy tín nhất trên thị trường Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Hơn nữa, để thực hiện thành công công tác Marketing trong NH, ngoài bộ phận chuyên trách, cần tất cả các cán bộ NH phải cùng tham NH phải chú trọng thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ Marketing trong nội bộ, đặc biệt là những nhân viên tại quầy, những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Chính sự hiểu biết, phục vụ tận tình của nhân viên là phương thức quảng cáo hiệu quả nhất, với chi phí thấp nhất, tạo hình ảnh đẹp về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong khách hàng.
- Đẩy mạnh đầu tư cho hoàn thiện và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng một cách đồng bộ
Thực hiện đổi mới và hiện đại hoá công nghệ cho các Ngân hàng Thương mại Việt Nam nói chung và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng là một đòi hỏi có tính cấp thiết. Điều này được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ”… hiện đại hoá và đổi mới công nghệ ngân hàng, đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin, phấn đấu để hệ thống tài chính ngân hàng đạt trình độ trung bình của khu vực…”
Để chất lượng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có thể đáp ứng được các yêu cầu, chuẩn mực quốc tế, đòi hỏi công nghệ phải không ngừng được cải thiện, hiện đại và nâng cấp để trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho nhân viên NH. Bên cạnh đó, việc lựa chọn đúng công nghệ để ứng dụng trong hoạt động quản lý, hoạt động kinh doanh của NH có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển các hoạt động dịch vụ, tăng quy mô vốn huy động một cách vững chắc và quyết định hiệu quả vốn đầu tư.
Như chúng ta đã biết, công nghệ là nền tảng để phát triển sản phẩm mới đặc biệt là các dịch vụ không dùng tiền mặt. Đa dạng hoá dịch vụ NH bằng việc áp dụng những tiến bộ của công nghệ hiện đại sẽ tiết kiệm được chi phí trên một sản phẩm và các sản phẩm đơn lẻ sẽ được liên kết tạo thành “ dịch vụ liên hoàn ” thắt chặt lợi ích của khách hàng và NH. Trong đó, phát triển mạnh hoạt động dịch vụ thanh toán, đảm bảo cung ứng dịch vụ nhiều tiện ích, nhanh chóng, thuận tiện, chính xác và bảo mật luôn là yếu tố thu hút khách hàng mở tài khoản tiền gửi… từ đó tăng cường nguồn huy động vốn. Đồng thời, việc thanh toán nhanh chóng cũng tiết kiệm thời gian chu chuyển vốn, giảm lượng tiền trong lưu thông, từ đó NH sẽ có một nguồn vốn lớn.
Do vậy, với truyền thống là NH đi đầu trong lĩnh vực công nghệ tại Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần tiếp tục đầu tư, hiện đại hoá công nghệ để thực hiện tiêu chuẩn hoá và hiện đại hoá các hoạt động của NH theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao hoạt động của hệ thống thông tin quản lý, phát triển sản phẩm và dịch vụ trên nền tảng công nghệ, đảm bảo sự phát triển một cách an toàn khi quy mô hoạt động được mở rộng cả bề rộng lẫn chiều sâu. Để phát triển và hoàn thiện công nghệ, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần thực hiện những bước sau:
Tiêu chuẩn hóa hệ thống thông tin khách hàng bao gồm nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, hình thành NH dữ liệu, phục vụ cho việc khai thác thông tin khi có các nghiệp vụ liên quan đến khách hàng. Tăng cường hoạt động trao đổi thông tin với khách hàng qua mạng kết nối, qua các trang web, cần sớm phát triển và hoàn thiện mạng thông tin 24/24 thao dõi các hoạt động trên thị trường tiền tệ, nhất là các hoạt động trên thị trường liên Ngân hàng. Trên cơ sở đó, Ngân hàng Ngoại thương sẽ tăng cường quản trị từ xa vừa giúp tránh được rủi ro cho ngân hàng vừa duy trì được mối quan hệ với các khách hàng tốt, truyền thống và mở rộng quan hệ với các khách hàng mới. Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Hoàn chỉnh mạng diện rộng, kết nối trực tuyến các mạng nội bộ của tất cả các chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đối với tất cả những vùng có điều kiện viễn thông cho phép. Bên cạnh đó, mạng nội bộ phải được tiêu chuẩn hoá và thống nhất trong toàn bộ hệ thống, đảm bảo giao diện tốt với hệ thống thanh toán quốc gia. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng cần phát triển và khai thác triệt để mạng internet, intranet nhằm thu thập thông tin phục vụ quản trị, kinh doanh và điều hành, tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh qua internet.
Tăng cường đầu tư và phát triển các kênh giao dịch và thanh toán hiện đại như ATM, Telephone Banking ( giao dịch ngân hàng thông qua máy điện thoại ), Internet Banking ( giao dịch ngân hàng thông qua mạng vi tính ). Nâng cấp và đảm bảo vận hành chính xác, kịp thời và an toàn mạng thanh toán thẻ, mạng SWIFT nhằm phục vụ nhu cầu thanh toán với dung lượng lớn. Hiện tại, trên thế giới, các ngân hàng quốc tế đã chuyển sang sử dụng công nghệ thẻ chíp, có tính bảo mật cao hơn rất nhiều so với công nghệ thẻ từ. Do vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần sớm nâng cấp công nghệ thẻ hiện có, đưa thẻ chip vào sử dụng.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, trong việc mở rộng mạng lưới ATM, nên nghiên cứu và đầu tư lắp đặt những máy ATM thế hệ mới, cho phép nạp tiền qua máy, tránh lạc hậu khi các ngân hàng nước ngoài vào cuộc.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong quá trình thực hiện các giải pháp hiện đại hoá công nghệ ngân hàng cần chú ý một số vấn đề sau:
Trong quá trình đầu tư trang thiết bị và lắp đặt các phần mềm, cần chú trọng thực hiện các giải pháp an ninh mạng triệt để hơn. Vấn đề rủi ro đạo đức không chỉ xảy ra từ phía các cán bộ ngân hàng hay từ phía khách hàng, nó có thể xảy ra từ cả hai phía. Và khi nền kinh tế càng được chuyển sang hướng số hoá thì những rủi ro đạo đức xuất phát từ phía khách hàng ngày càng nhiều và ngày càng tinh vi. Do vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần xây dựng những giải pháp an ninh toàn diện, và đặc biệt là cần phải cập nhật liên tục nhằm chống lại nguy cơ của sự tấn công bên ngoài.
Một khía cạnh khác trong nâng cao năng lực công nghệ là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần nâng cao hiệu suất khai thác công nghệ trong toàn hệ thống. Việc nâng cao kỹ năng ứng dụng công nghệ của các nhân viên là yếu tố chủ yếu quyết định hiệu suất khai thác công nghệ. Chính vì vậy, song song với việc lắp đặt trang thiết bị công nghệ, ngân hàng cần tiến hành hoạt động đào tạo kỹ năng sử dụng công nghệ cho các nhân viên và cần có các hoạt động kiểm tra đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ của từng bộ phận Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
- Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao tiện ích của sản phẩm
Hiện nay, các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tuy đã được cải thiện nhưng các sản phẩm dịch vụ vẫn chưa được phong phú. Bên cạnh việc phát triển các phương thức huy động vốn đã có như tiền gửi doanh nghiệp, tiết kiệm dân cư, phát hành trái phiếu… Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần phải tiếp tục cải tiến, phát triển, đa dạng hoá sản phẩm với định hướng hướng tới khách hàng và đem lại tiện ích cho từng đối tượng khách hàng.
Cách thức đưa ra một sản phẩm mới của ngân hàng hiện nay vẫn là: đưa sản phẩm ra thị trường, quảng cáo, tiếp thị để hướng khách hàng sử dụng sản phẩm đó. Do vậy, để sản phẩm được sử dụng rộng rãi trên thị trường, nó phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Để làm được điều này, khi phát triển một sản phẩm, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn phải xuất phát từ việc nghiên cứu thị trường, nhu cầu của khách hàng, để từ đó phân đoạn thị trường, phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu của từng đoạn thị trường theo từng thời kỳ. Trong môi trường cạnh tranh và đặc biệt là với đặc điểm rất dễ bắt chước của sản phẩm dịch vụ ngân hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần phải tạo được những điểm khác biệt trong sản phẩm của mình, làm nên sức hấp dẫn của sản phẩm để thu hút khách hàng.
- Thứ nhất, đối với tài khoản tiền gửi thanh toán
Hoạt động thanh toán vẫn luôn là một thế mạnh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Tỷ trọng tiền gửi thanh toán ngày càng lớn, bên cạnh hạn chế là tính bất ổn định cao thì cũng cần thấy rằng nó đã góp phần tạo ra nguồn vốn với chi phí rẻ cho NH. Để duy trì và thu hút nguồn tiền gửi này, NH cần đưa ra các sản phẩm ngân hàng hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm trên cơ sở nâng cao hàm lượng công nghệ và tăng độ an toàn cho khách hàng cũng như chính bản thân ngân hàng. Cụ thể là:
Tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống ATM có khả năng đảm bảo cho khách hàng rút, nộp tiền vào tài khoản, giảm thiểu thời gian giao dịch qua quầy. Tăng cường các dịch vụ thanh toán hoá đơn tự động kèm theo ví dụ như trả tiền điện, tiền nước. Và đặc biệt nếu Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có thể phối hợp được với các công ty xăng dầu để lắp đặt máy móc, thực hiện thanh toán bằng thẻ ngân hàng, vừa thuận tiện cho khách hàng vừa tăng thêm nguồn huy động vốn không nhỏ do xăng dầu là một mặt hàng khá đồng nhất và độc quyền. Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Phone banking: Dịch vụ này cho phép khách hàng có tài khoản tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tiếp cận và sử dụng dịch vụ của NH để thanh toán các hoá đơn dịch vụ sinh hoạt hàng ngày, giao dịch đặt lệnh chứng khoán từ xa, đồng thời khách hàng cũng nhận được các thông tin về số dư tài khoản, tỷ giá lãi suất…
Thấu chi trên tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân: cho phép khách hàng được thấu chi từ tài khoản cá nhân của mình trong hạn mức cho phép. Mặc dù hiện nay thẻ tín dụng của các tổ chức thẻ quốc tế đang rất phát triển ở Việt Nam, nhưng mức phí còn quá cao. Nếu NH phát triển được sản phẩm này sẽ có sức cạnh tranh lớn về mức phí, vì với giới hạn về địa lý (trong nước) => hạn chế rủi ro => giảm phí. Sản phẩm này có thể cung cấp cho những đối tượng khách hàng có thu nhập ổn định.
Phát triển các dịch vụ thanh toán mới như trả lương tự động, quản lý vốn tự động, dịch vụ quản lý tiền, dịch vụ NH điện tử, dịch vụ để hỗ trợ khách hàng (cho vay chiết khấu, cấp giấy tờ có giá…), tư vấn, các hình thức thanh toán chính xác, an toàn, hiệu quả… Đây là biện pháp để thu hút các khách hàng doanh nghiệp vì mục đích gửi tiền của họ không phải là lợi nhuận mà là để sử dụng các dịch vụ tiện ích của NH. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng cần mở rộng quan hệ với các Tổ chức tín dụng nước ngoài để làm đại lý thanh toán do hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển. => thu hút được nguồn tiền gửi giao dịch lớn với chi phí rẻ này.
- Thứ hai, đối với tài khoản tiết kiệm:
Với mục tiêu cải thiện cơ cấu kỳ hạn, tăng cường tính ổn định của nguồn, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần tập trung tạo ra nhiều sản phẩm tiết kiệm hấp dẫn, linh hoạt về chuyển đổi kỳ hạn để gia tăng kỳ hạn thực của nguồn. Như ta đã biết, với tỷ lệ tiền gửi giao dịch của các Tổ chức kinh tế lớn, đã làm cho nguồn vốn của NH có tính bất ổn định cao. Do đó, NH cần làm tăng tính ổn định cho nguồn, mà nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư chính là nguồn ổn định nhất. Hơn nữa, huy động nguồn vốn trung và dài hạn của NH cũng phải dựa vào đối tượng khách hàng thể nhân này. Cụ thể là:
Đưa ra các hình thức huy động mới như tiết kiệm tích luỹ, tiết kiệm mua nhà, ô tô, tiết kiệm bảo đảm giá trị, bảo hiểm tỉ giá, tiết kiệm hưu trí… Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Đa dạng hoá các kỳ hạn huy động: hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam huy động tiền gửi tiết kiệm các loại kỳ hạn: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng, 36 tháng. Xuất phát từ nhu cầu của khách hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần đa dạng hoá các kỳ hạn huy động từ những kỳ hạn ngắn dưới 1 tháng đến những kỳ dài hạn trên 5 năm. Đặc biệt NH cần tìm cách khuyến khích tăng kỳ hạn thực này – thời gian mà khoản tiết kiệm nằm liên tục trong Ví dụ như: tiết kiệm lãi suất bậc thang nếu khách hàng gửi với kỳ hạn 6 tháng, nhưng không rút ra mà gửi tiếp 6 tháng nữa thì 6 tháng sau sẽ được hưởng lãi suất của kỳ hạn 12 tháng. Như vậy sẽ khuyến khích khách hàng duy trì khoản tiền gửi thêm nhiều lần kỳ hạn danh nghĩa, từ đó kéo dài được kỳ hạn thực của tiền gửi.
NHNTVN có thể nghiên cứu để đưa ra loại hình tiết kiệm bảo hiểm trượt giá, tăng sự an tâm của khách hàng, khuyến khích tiền gửi có kỳ hạn dài do lạm phát của nước ta đang ở mức cao gây e ngại cho người gửi khi gửi tiết kiệm dài hạn.
Hiện nay, đồng EUR đang ngày càng được sử dụng rộng rãi, hiện ngân hàng ngoại thương có nên huy động bằng đồng EUR. Hoặc triển khai sản phẩm huy động tiết kiệm bằng vàng…
- Đối với giấy tờ có giá:
Đây là một hình thức huy động quan trọng của NH trong định hướng gia tăng vốn trung và dài hạn. NH cần tiếp tục đa dạng hoá các loại giấy tờ có giá về kỳ hạn, mệnh giá, lãi suất, phương thức trả lãi. Đồng thời nghiên cứu cho ra các sản phẩm mới. Ví dụ như:
Trái phiếu có lãi suất thả nổi: trái phiếu là một loại giấy nợ dài hạn nên nó đứng trước nguy cơ rủi ro lãi suất rất lớn. Do đó ngoài việc đa dạng hoá về mệnh giá, kỳ hạn, phương thức trả lãi, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần xem xét phát hành trái phiếu có lãi suất thả nổi. Có thể thả nổi hoàn toàn hoặc thả nổi theo lãi suất tiết kiệm 1 loại kỳ hạn nào đó. Điều đó làm giảm rủi ro cho người đầu tư cũng như bản thân NH, từ đó làm tăng tính thanh khoản cho trái phiếu đó.
Phát hành trái phiếu tham dự: đây là hình thức trái phiếu mà các trái chủ ngoài số lãi được nhận hàng năm sẽ được nhận thêm một khoản lãi nữa nếu NH năm đó có lợi nhuận vượt quá một tỷ lệ nhất định. Giả sử như các trái phiếu VND được trả lãi hàng năm là 9%. Thêm vào đó nếu năm nào mà tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu của NH mà vượt quá 20% thì trái phiếu sẽ được trả thêm 1% trong năm đó. Loại trái phiếu sẽ tạo ra sự hấp dẫn hơn đối với khách hàng nhưng cũng có điểm bất lợi là nếu không có năm nào tỷ lệ lợi nhuận của NH vượt quá mức đề ra thì sẽ làm uy tín của NH bị giảm sút. Vì vậy, trước khi áp dụng phương thức phát hành trái phiếu này, NH cũng nên xem xét, cân nhắc khả năng để làm sao có thể cộng thưởng cho khách hàng ít nhất là 1 lần trong kỳ hạn của trái phiếu.
Như vậy, bên cạnh việc nâng cao hiệu quả hoạt động, hoàn thiện và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ truyền thống, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần phải phát triển sản phẩm mới hướng tới khách hàng, thường xuyên bám sát nhu cầu của khách hàng, của thị trường sẽ kịp thời đưa ra các hình thức huy động hấp dẫn, NH có thể khai thác triệt để hơn các nguồn vốn tiềm năng mà không cần phải tạo thêm sự hấp dẫn bằng cách tăng lãi suất, để có thể tiết kiệm đáng kể chi phí huy động.
- Áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Như chúng ta đã biết lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của mỗi NH. Vì vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần hoạch định chính sách lãi suất linh hoạt để đảm bảo hoạt động huy động vốn đạt được các mục tiêu như: tạo được một nguồn vốn có quy mô và cơ cấu hợp lý, chi phí rẻ, đáp ứng nhu cầu sử dụng bên tài sản; đảm bảo tính cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam so với các NH khác trong việc thu hút vốn và cho vay; đảm bảo tính an toàn và sinh lợi.
Nguyên tắc xác định lãi suất là lãi suất đối với người gửi tiền phải thực dương. Tức là khi hoạch định lãi suất phải đảm bảo cho người gửi tiền những lợi ích thoả đáng, có như vậy mới tạo tiền đề cho mọi nguồn huy động vốn vay nhàn rỗi trong xã hội. Tuy nhiên, việc xác định lãi suất tất yếu phải phụ thuộc vào lãi suất đầu ra do NH là một tổ chức hoạt động với mục tiêu lợi nhuận. Bởi vậy, quản trị sản xuất phải bao hàm cả quản trị lãi suất đầu vào lẫn lãi suất đầu ra, lãi suất đầu ra quyết định lãi suất đầu vào, đảm bảo bù đắp chi phí, bù đắp rủi ro và giữ mức chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra đảm bảo kinh doanh có lãi.
Hiện nay, lãi suất về cơ bản đã được tự do hoá với cơ chế lãi suất thoả thuận. Điều này đã tạo thuận lợi đáng kể cho ngân hàng trong việc tính toán và đưa ra các mức lãi suất huy động linh hoạt. Bởi lãi suất suy cho cùng là giá cả của quyền sử dụng vốn khách hàng gửi vào ngân hàng, là phần lời của khoản tiền gửi của khách hàng. Nên lãi suất cần phải do cung cầu quyết định. Nhưng điều đó cũng tạo nên một sự cạnh tranh lãi suất mạnh mẽ giữa các NH trong nỗ lực nhằm thu hút tiền gửi của các NH. NH nào trả lãi suất cao sẽ thu hút được lượng người gửi tiền về phía mình. Nhưng, rõ ràng đó không phải là một chiến lược cạnh tranh hoàn hảo, bởi lãi suất huy động luôn phụ thuộc vào lãi suất cho vay. Do đó, thay vì một chính sách đẩy cao lãi suất, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần đa dạng hoá các tiện ích cho khách hàng bằng việc ứng dụng các công nghệ hiện đại. Vậy một chính sách lãi suất cần phải linh hoạt, phù hợp với các loại tiền, các kỳ hạn, phù hợp với từng địa bàn huy động, phù hợp với từng đối tượng khách hàng và phù hợp với diễn biến thị trường, trên cơ sở xem xét lãi suất của các đối thủ cạnh tranh.
Mặt khác, huy động vốn là để đáp ứng nhu cầu sử dụng bên tài sản. Do đó, kế hoạch huy động vốn của các chi nhánh, để có thể cùng sử dụng hiệu quả nguồn vốn phải được thực hiện trên có sở kế hoạch sử dụng vốn. Hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang áp dụng cơ chế quản lý vốn tập trung. Do đó, kế hoạch huy động vốn phải được xây dựng từ kế hoạch sử dụng vốn của các chi nhánh, để có thể cùng sử dụng hiệu quả nguồn vốn, đảm bảo cân bằng kỳ hạn, tránh rủi ro mà lại tiết kiệm chi phí. Đồng thời, tăng cường công tác điều hành vốn, để vốn vận động trong hệ thống một cách hiệu quả, điều hoà vốn giữa các doanh nghiệp đầu vào cũng như đầu ra. Và mỗi chi nhánh với những đặc điểm về địa bàn huy động và đối tượng khách hàng khác nhau sẽ chủ động ấn định lãi suất cho phù hợp.
- Chính sách khách hàng Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Thành công của bất cứ doanh nghiệp nào nói chung cũng như các NH nói riêng đều phụ thuộc vào khách hàng của mình. Vì suy cho cùng, hoạt động của NH cũng là để phục vụ khách hàng và thu lợi nhuận từ những dịch vụ mà nó cung cấp cho khách hàng. NH và khách hàng có mối quan hệ khăng khít, khách hàng vừa là người gửi tiền vừa là người vay tiền. NH phải biết khách hàng của mình là ai, cần gì, cần bao nhiêu giá cả thế nào. Bởi vậy, cần xây dựng chiến lược khách hàng đúng đắn, NH và khách hàng luôn gắn bó với nhau, phải tạo ra, giữ vững và phát triển mối quan hệ lâu bền với tất cả các khách hàng.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần sớm triển khai và hoàn thành trong toàn hệ thống mô hình huy động vốn hướng tới khách hàng, chủ động tìm đến khách hàng, phân đoạn khách hàng. Có như vậy, NH mới có điều kiện nắm bắt, nghiên cứu sâu sắc nhu cầu của từng nhóm khách hàng từ đó đưa ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp. Ví dụ như: đối với khách hàng bình dân, với các khoản thu nhập nhỏ, cố định thì họ không yêu cầu cao về các sản phẩm dịch vụ, các sản phẩm tiện ích, lãi suất hấp dẫn, linh hoạt về kỳ hạn. Ngược lại, khách hàng có thu nhập cao lại thường xuyên có nhu cầu sử dụng dịch vụ của NH. Đặc biệt đối với các khách hàng hạng sang, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần thiết kế các sản phẩm riêng, đáp ứng nhu cầu riêng của từng khách hàng hoặc từng nhóm khách hàng.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng cần tìm cách giữ chân các khách hàng truyền thống. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần chú trọng hơn nữa công tác tiếp xúc, chăm sóc khách hàng, tạo niềm tin nơi khách hàng, để xây dựng được nhóm khách hàng truyền thống, ổn định cho NH. Đồng thời, NH cũng cần nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm thiểu các thủ tục khi giao dịch, thời gian giao dịch nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng giao dịch – xây dựng văn hoá giao dịch: nhanh, hiệu quả, văn minh, để lại trong khách hàng một hình ảnh riêng có của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
- Mở rộng mạng lưới chi nhánh và nâng cao chất lượng phục vụ
Trong xu thế cạnh tranh trên thị trường NH ngày càng gay gắt, mạng lưới chi nhánh đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc mở rộng hoạt động huy động vốn. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần phải phát triển mạng lưới rộng khắp cả nước trong đó tập trung vào những vùng trọng điểm, kinh tế phát triển và đông dân cư. Phát triển mạng lưới phải dựa trên nền tảng công nghệ, mở các chi nhánh phụ với chức năng và nhiệm vụ cụ thể, tuỳ thuộc đặc điểm của từng vùng, từng thị trường và tiềm năng của từng nhóm khách hàng. Tuy nhiên, NH cũng cần cân nhắc giữa chi phí và lợi ích của việc mở thêm chi nhánh.
Hiện nay, công tác huy động vốn của NH vẫn tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, do vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần tăng cường chi nhánh, mở rộng hoạt động ở các tỉnh phía Nam. NH mở rộng hệ thống chi nhánh cấp 1, cấp 2, các công ty trực thuộc và các phòng giao dịch. Bên cạnh việc phát triển mạng lưới trong nước, NH cũng cần chú trọng mở các văn phòng đại diện ở nước ngoài trong thời gian tới, đặc biệt ở những nước có nguồn kiều hối chảy về nước ta nhiều và những nước có quan hệ kinh doanh xuất nhập khẩu chủ yếu với các doanh nghiệp trong nước.
Mỗi chi nhánh NH và cả hội sở chính cần phải có bộ phận chuyên trách về phát triển mạng lưới riêng trên địa bàn của mình. Bởi chính các chi nhánh mới thực sự hiểu rõ nhu cầu của địa bàn mình để từ đó việc mở rộng chi nhánh có thể đạt hiệu quả tốt nhất.
Song song với việc mở rộng mạng lưới chi nhánh cả trong và ngoài nước, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần đưa ra những biện pháp, chính sách nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ của mình theo chuẩn quốc tế để từ đó tạo dựng một hình ảnh uy tín về NH trên thị trường trong nước và quốc tế. Không thể chỉ tập trung phát triển mạng lưới chi nhánh mà để chất lượng dịch vụ bị giảm sút. Nói cách khác, mở rộng phạm vi hoạt động của mình bao giờ phải gắn liền với hiệu quả hoạt động, chất lượng dịch vụ mà NH mang lại cho khách hàng; tức là phải phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu. Có như vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam mới có thể thực hiện tốt công tác huy động vốn và trên cơ sở nguồn vốn tăng để đầu tư, hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh của NH. Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
- Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá để gia tăng vốn chủ sở hữu
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một trong những mục tiêu mà chính phủ đã đặt ra nhằm nâng cao năng lực tài chính và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cho các Ngân hàng Thương mại theo thông lệ quốc tế, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình hội nhập trong khu vực và quốc tế.
Theo tính toán, đến hết năm 2030 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải có khoảng 13.000tỷ đồng vốn tự có để đạt được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% theo tiêu chuẩn Basel I. Tính đến cuối năm 2023, vốn tự có theo tiêu chuẩn quốc tế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ở mức 3.000 tỷ đồng. Qua đợt phát hành thành công trái phiếu tăng vốn với tổng trị giá 1.365 tỷ đồng, vốn tự có của NH đã tăng đạt mức 9.000 tỷ đồng.
Trong thời gian qua, chính phủ đã cho phép sử dụng nhiều công cụ để tăng vốn cho các Ngân hàng Thương mại nhà nước. Bên cạnh nguồn tăng vốn bằng lợi nhuận còn hạn chế của NH, việc phát hành trái phiếu chính phủ đặc biệt cũng chưa giải quyết được bài toán thiếu vốn, không thực sự tăng được năng lực tài chính cho các Ngân hàng Thương mại nhà nước trong khi chưa tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi, có tiềm năng lớn trong nền kinh tế.
Việc tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu một mặt tạo điều kiện cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vốn – một trong những đòi hỏi tất yếu đối với NH tại mọi quốc gia trong quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Mặt khác, việc phát hành cổ phiếu Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng góp phần tích cực khai thông cả nguồn vốn trong nước và ngoài nước, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn nội địa. Quan trọng hơn cả, trong tiến trình thực hiện Hiệp định thương mại Việt Mỹ và gia nhập WTO, việc phát hành cổ phiếu sẽ giúp Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có được thế và lực mới trong cạnh tranh trên thị trường. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần thực hiện các biện pháp xúc tiến để đúng tháng 3 năm 2027 có thể phát hành cổ phiếu ra công chúng như dự toán.
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, việc gia tăng nguồn vốn của các Ngân hàng Thương mại phải đảm bảo được một tỷ lệ tối thiểu giữa vốn huy động và vốn chủ sở hữu. Nghĩa là huy động vốn trên cơ sở vốn tự có, không được vượt hạn mức cho phép. Chính vì vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam song song với việc huy động vốn từ các nguồn bên ngoài cần gia tăng vốn chủ sở hữu. Cơ sở vốn chủ sở hữu vững mạnh cho phép Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cải thiện được vị thế và độ tín nhiệm trên thị trường, tăng quy mô huy động vốn, giảm được chi phí huy động. Sự lớn mạnh của nguồn vốn nói chung và vốn chủ sở hữu nói riêng là nền tảng bền vững cho phép NH mở rộng và đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh, từ đó nâng cao được hiệu quả kinh doanh.
- Tăng cường đầu tư cho chiến lược nguồn nhân lực
Con người là chủ thể của sự phát triển, đóng vai trò không thể thay thế được và quyết định thành bại của hoạt động kinh doanh. Và vai trò của nguồn nhân lực lại càng quan trọng hơn trong công tác huy động vốn của NH. Đây là sự nỗ lực của toàn bộ cán bộ nhân viên NH nhằm thu hút được nguồn vốn lớn nhất từ những khách hàng truyền thống và hấp dẫn những khách hàng khác.
Để có một bước chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động của NH nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần mạnh dạn đầu tư cho nguồn nhân lực cả về lượng lẫn về chất. Cụ thể là:
Chính sách tuyển dụng, thu hút nhân tài: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần tăng cường hơn nữa các chính sách đãi ngộ nhân viên nhằm thu hút được những ứng viên sáng giá nhất. Bên cạnh đó, tổ chức những kì thi tuyển một cách công bằng và nghiêm túc. Những năm vừa qua, nguồn cán bộ được bổ sung chủ yếu cho NH là dựa vào việc tổ chức tuyển dụng những sinh viên mới ra trường từ các cơ sở đào tạo như Học viện Ngân hàng, Đại học Ngoại thương. Nguồn nhân lực tuy trẻ và được đào tạo cơ bản nhưng kinh nghiệm thực tiễn còn ít. Đặc biệt là đối với cán bộ quản lý, do chính sách phát triển cán bộ quản lý còn bó hẹp trong nội bộ NH nên khó khăn trong việc lựa chọn các nhà quản lý NH hiện đại chuyên nghiệp. Để có cơ sở tuyển dụng, NH cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tuyển dụng cho các chức danh nghiệp vụ cũng như chức danh quản lý.
Chính sách sử dụng, bố trí nhân lực hợp lý: Chính sách quản trị nguồn nhân lực phù hợp trước hết là chính sách sử dụng và bố trí cán bộ hợp lý, theo đúng nguyên tắc “đúng người, đúng việc”. Việc bố trí đúng người, đúng việc, đúng trình độ, đúng quy định sẽ khai thác tối đa tiềm năng, sử dụng triệt để năng lực, sở trưởng và thế mạnh của mỗi cán bộ. Bố trí và sử dụng cán bộ cần phải đảm bảo tính trẻ hoá đội ngũ, NH cũng cần mạnh dạn sử dụng và bổ nhiệm cán bộ trẻ có đủ năng lực, phẩm chất và tinh thần trách nhiệm vào các cương vị quản lý, lãnh đạo.
Chính sách giáo dục – đào tạo: Song song với việc tăng cường đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng cho cán bộ, nhân viên Việc làm này giúp cho nhân viên NH trau dồi đạo đức, tác phong nghề nghiệp và có ý thức tuân thủ các quy định của pháp luật và của NH. NH cũng cần chú trọng đào tạo chuyên sâu, đào tạo kiến thức mới, đào tạo về sản phẩm và công nghệ mới. Việc đào tạo được thực hiện thường xuyên bằng cách tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ ở cả hội sở chính và các chi nhánh của NH. Đặc biệt, NH phải tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý theo hướng chuẩn hóa yêu cầu đào tạo đối với các chức danh quản lý. Mạnh dạn cử các bộ đi học tập tại các cơ sở đào tạo kể cả ở nước ngoài.
2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Các giải pháp đề ra cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có thực hiện hiệu quả hay không tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Trước hết là khả năng và sự nỗ lực của toàn hệ thống NH, và tiếp đó là sự phụ thuộc vào sự quan tâm giúp đỡ từ Ngân hàng Nhà nước. Tại đây, khoá luận xin đưa ra một số kiến nghị với các cơ quan chức năng và Ngân hàng Nhà nước.
2.1 Kiến nghị với Nhà nước
2.1.1. Tạo môi trường kinh tế – chính trị – pháp lý ổn định
Một môi trường kinh tế xã hội ổn định luôn là nền tảng vững chắc cho mọi sự phát triển. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Kinh tế xã hội có ổn định và phát triển bền vững thì đời sống của người dân mới được cải thiện, quan hệ mới được mở rộng. Môi trường vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của NH. Do vậy, Nhà nước cần tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng bền vững.
Đối với Việt Nam hiện nay, một trong những nội dung của việc ổn định nền kinh tế vĩ mô là ổn định tiền tệ, duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý, đảm bảo lãi suất thực dương, khuyến khích công chúng đầu tư vào thị trường tài chính. Đây là điều kiện cần thiết để thực thi một cách hiệu quả các giải pháp huy động vốn cho Ngân hàng Thương mại.
Để có được điều này, trước hết Nhà nước cần ban hành hệ thống pháp luật đồng bộ và rõ ràng. Điều này không chỉ tạo niềm tin đối với công chúng mà với những quy định khuyến khích của Nhà nước sẽ tác động trực tiếp đến việc điều chỉnh quan hệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm, chuyển một bộ phận tiêu dùng chưa cấp thiết sang đầu tư, chuyển dần tài sản cất giữ dưới dạng vàng hoặc bất động sản sang đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh hoặc gửi vào vốn vào NH. Các văn bản luật và dưới luật cần được ban hành một cách có hệ thống hơn đảm bảo mọi hoạt động tài chính, tiền tệ, tín dụng đều được luật pháp hoá, tạo nên một môi trường ổn định về pháp lý và chế độ chính sách cho các NH.
Việc ban hành, hướng dẫn thi hành và thực hiện cần có sự thống nhất chặt chẽ. Đồng thời phải có sự phối hợp giữa các cấp, các ngành hữu quan để hoàn thiện và tạo lập các văn bản khác. Mặt khác, phải xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật nhất là đối với các cán bộ NH, bởi NH cũng hoạt động và chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Tất cả những việc làm trên tạo ra lòng tin cho dân chúng vào nền kinh tế nói chung và hệ thống NH nói riêng.
- Cải cách doanh nghiệp Nhà nước Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Chính phủ cần nhanh chóng cải cách các doanh nghiệp nhà nước, tạo sân chơi bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp. Bởi, sự bảo hộ cho khu vực doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ là nguyên nhân chính khiến mức nợ quá hạn, nợ khó đòi tại các Ngân hàng Thương mại nhà nước cao. Điều này gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng do một phần nguồn vốn khó hoặc không thể thu về được, gây ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng. Vì vậy, nếu không kiên quyết đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp nhà nước thì việc cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và các Ngân hàng Thương mại nói riêng là khó thực hiện.
- Cấp bổ sung vốn điều lệ cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Thực tế cho thấy vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn quá nhỏ so với quy mô hoạt động kinh doanh của NH trong những năm gần đây, gây khó khăn cho NH trong việc mở rộng nguồn vốn. Bởi vì, nếu vốn chủ sở hữu quá nhỏ mà lại tăng trưởng nguồn vốn nhanh thì hệ số an toàn vốn sẽ giảm xuống hơn nữa. Hơn nữa, hệ số vốn an toàn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện tại đang thấp hơn mức chuẩn quốc tế là 8%. Yêu cầu đặt ra trước mắt là cần nhanh chóng tăng vốn điều lệ để có thể đảm bảo tỷ lệ này khi tiến tới mở cửa hoàn toàn thị trường NH tại Việt Nam. Do vậy, bên cạnh nỗ lực của bản thân NH, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam rất cần sự hỗ trợ của chính phủ, cấp thêm nguồn vốn bổ sung để đạt mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn mà vẫn đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tồi thiểu theo thông lệ quốc tế.
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
Việc đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật để hiện đại hoá công nghệ NH không là vấn đề của riêng ngành NH mà nằm trong chiến lược phát triển kinh tế của cả nước. Do vậy, Nhà nước cần chú ý đầu tư cho lĩnh vực này, nhanh chóng đưa nước ta theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới về công nghệ NH. Nhà nước tăng cường các dự án xây dựng về đường sá, về các khu công nghiệp, khu kinh tế mở, đầu tư vào công nghệ hiện đại cho mọi lĩnh vực… Với cơ sở hạ tầng được cải thiện, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có thể mở rộng hơn nữa các mạng lưới chi nhánh của mình từ đó mở rộng hoạt động của mình ra khắp mọi miền đất nước. Và với công nghệ hiện đại, NHcó thể thực hiện các hoạt động của mình một cách nhanh và hiệu quả nhất, tiết kiệm cả thời gian lẫn chi phí cho giao dịch, trong đó có hoạt động huy động vốn.
- Đầu tư cho hệ thống giáo dục Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Đầu tư cho hệ thống giáo dục là đầu tư phát triển nhân tố con người. Vấn đề này phải nằm trong chiến lược phát triển chung của một quốc gia. Do vậy, muốn có một đội ngũ lao động có trình độ, đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển, đặc biệt trong một ngành áp dụng nhiều công nghệ tiên tiến vào bậc nhất trên thế giới như ngành NH thì cần có một đường lối chiến lược chỉ đạo của nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Nhà nước cần khuyến khích các trường đại học khối kinh tế mở ra những môn học chuyên sâu ngành NH, tài trợ ngày càng nhiều những suất học bổng cho sinh viên đi học ở các nước tiên tiến trên thế giới nhằm tiếp thu kinh nghiệm và học hỏi nghiệp vụ, công nghệ, và các bí quyết của họ. Đầu tư vào con người là một biện pháp hiệu quả nhất với chi phí thấp nhất để có thể đạt được các mục tiêu kinh tế đề ra.
2.1.2 Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước
- Nâng cao năng lực quản lý điều hành
NHNN cần từng bước đổi mới cơ cấu tổ chức, quy định lại chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả điều hành vĩ mô, nhất là trong việc thiết lập, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và trong việc quản lý giám sát hoạt động của các trung gian tài chính.
NHNN cần xây dựng và hoàn thiện chính sách tiền tệ hợp lý hơn nhằm khuyến khích người dân gửi tiền bằng các công cụ lãi suất, tỷ giá, thị trường mở và một số công cụ khác nhằm đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền.
NHNN cần điều hành một cách có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia, duy trì sự ổn định tiền tệ, để người gửi tiền an tâm gửi tiền vào Ngân Hàng thay vì mua vàng, ngoại tệ, bất động sản. Hơn nữa, với chính sách tiền tệ ổn định, các Ngân hàng Thương mại sẽ dễ dàng hơn trong việc điều hành hoạt động kinh doanh của mình.
Đẩy nhanh thực hiện cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại nhà nước Cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại nhà nước đang là vấn đề ngày càng nóng khi môi trường kinh tế ngày càng cạnh tranh gay gắt hơn do áp lực từ các Ngân hàng Thương mại cổ phần và các NH nước ngoài khác đang chuẩn bị ồ ạt vào thị trường Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Ngày 21/9/2025, Chính phủ ban hành quyết định số 230 về việc thí điểm cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Quá trình cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam bước đầu diễn ra khá suôn sẻ nhưng dường như bị chậm lại so với kế hoạch đề ra. Theo như dự kiến, NH sẽ bán cổ phần đợt đầu tiên trong năm 2026. Nhưng thực tế cho thấy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phải chính thức xin lùi thời gian phát hành cổ phiếu sang đầu năm 2027. Việc chậm chạp trong quá trình cổ phần hoá là do cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Chính vì thế, Ngân hàng Nhà nước cần xin phép chính phủ để đẩy nhanh thực hiện cổ phần hoá các Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho NH cả về mặt tài chính lẫn pháp lý để NH có thể hoàn thành kế hoạch cổ phần hoá của mình.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các Ngân hàng Thương mại áp dụng khoa học công nghệ ngân hàng
NHNN cần tạo điều kiện thuận lợi cho các Ngân hàng Thương mại áp dụng khoa học công nghệ NH, có chính sách đào tạo nhân viên có năng lực, cử cán bộ có nghiệp vụ đi tham quan các NH bạn trong khu vực và trên thế giới. Để Ngân hàng Thương mại có thể tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh doanh NH mà các nước trên thế giới đang làm và đặc biệt là tham gia vào thị trường chứng khoán – một loại hình kinh doanh mới. Ngân hàng Nhà nước cho phép và khuyến khích các Ngân hàng Thương mại được cải tiến công tác thanh toán, kỹ thuật và trình độ công nghệ theo định hướng chung của Ngân hàng Nhà nước để có thể thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn và tiện lợi. Có như vậy thì mới thu hút được mọi nguồn vốn trong dân cư và các tổ chức kinh tế.
Qua phân tích thực tiễn hoạt động huy động vốn những năm vừa qua cùng định hướng cho hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn sắp tới, khoá luận đề cập một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Đó là các giải pháp đẩy mạnh hoạt động Marketing thu hút khách hàng gửi tiền, mở rộng mạng lưới chi nhánh và nâng cao chất lượng phục vụ, thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt… Để thực hiện tốt các giải pháp này, ngoài sự nỗ lực trong hệ thống NH, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn cần đến sự quan tâm, giúp đỡ từ các cơ quan chức năng và Ngân hàng Nhà nước, tạo điều kiện tối ưu nhất cho NH phát triển hoạt động huy động vốn của mình.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Bên cạnh những cơ hội lớn, hệ thống Ngân hàng Thương mại còn phải đương đầu với các thách thức mới trong quá trình hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập về tài chính ngân hàng nói riêng. Trong bối cảnh đó, hoạt động huy động vốn đang là một vấn đề cấp thiết đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam nói chung và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng. Qua những phân tích đánh giá ở trên có thể thấy trong thời gian qua, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có nhiều thay đổi tích cực trong phương thức huy động vốn, nguồn vốn đã được cải thiện cả về số lượng lẫn chất lượng. Tổng nguồn vốn tăng trưởng nhanh, trong đó cơ cấu nguồn vốn thay đổi theo chiều hướng có lợi cho hoạt động kinh doanh của NH. Tuy vậy, hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự phát triển mạnh mẽ, chưa khai thác hết tiềm năng từ các nguồn vốn huy động, tỷ lệ vốn trung và dài hạn trong tổng nguồn vốn còn thấp, chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng vốn trung và dài hạn. Trong khi đó, vốn không kỳ hạn lại chiếm tỷ lệ cao, gây bất ổn định cho nguồn vốn của NH… Nhằm khắc phục những vấn đề còn tồn đọng và nâng cao hiệu quả huy động vốn, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
- Đẩy mạnh công tác Marketing thu hút khách hàng gửi tiền bằng các biện pháp như đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo sâu rộng các dịch vụ NH, các hình thức huy động vốn, thu hút tiền gửi…
- Đầu tư cho hoàn thiện và hiện đại hoá công nghệ NH một cách đồng bộ để thực hiện tiêu chuẩn hoá các hoạt động của NH theo chuẩn mực quốc tế.
- Phát triển sản phẩm dịch vụ NH hiện đại dựa trên công nghệ kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao tiện ích của sản phẩm.
- Nhanh chóng triển khai và hoàn thành trong hệ thống mô hình huy động vốn hướng tới khách hàng. Xây dựng chiến lược khách hàng đúng đắn để biết được khách hàng của mình là ai, cần gì, cần bao nhiêu và giá cả như thế nào.
- Phát triển mạng lưới chi nhánh rộng khắp cả nước, trong đó tập trung vào những vùng trọng điểm, kinh tế phát triển và đông dân cư.
- Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá ngân hàng.
- Tăng cường đầu tư cho chiến lược nguồn nhân
Bên cạnh đó, nhà nước và các cơ quan ban ngành liên quan như Ngân hàng Nhà nước cũng cần có những biện pháp hỗ trợ thường xuyên, hiệu quả và thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Những động thái tích cực từ phía Đảng và Nhà nước có ý nghĩa thực sự quan trọng đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, giúp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá NH, giúp NH phát triển đúng hướng, phù hợp với cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập của nền kinh tế đất nước. Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng


Pingback: Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng