Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. VÀI NÉT VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (NHNTVN) có tên giao dịch là Bank for Foreign Trade of Vietnam, viết tắt là Vietcombank. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập ngày 01/04/1963 theo nghị định số 115/CP của Hội đồng Chính phủ mà tiền thân là Cục ngoại hối Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và được thành lập lại theo mô hình tổng công ty 90 theo quyết định số 286/QĐ – NH5 ban hành ngày 21/9/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trở thành ngân hàng quốc doanh đầu tiên của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là Ngân hàng Thương mại đầu tiên của Việt Nam hoạt động kinh doanh đối ngoại được Ngân hàng Nhà nước cho phép độc quyền về quản lý hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam. Từ tổ chức tiền thân là Cục quản lý ngoại hối của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ra đời đánh dấu bước phát triển rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng đối ngoại tại Việt Nam. Trong suốt thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là NH duy nhất được nhà nước giao cho nhiệm vụ phục vụ thanh toán xuất khẩu, tiếp nhận viện trợ, vay nợ nước ngoài. Cuối thập kỉ 80 và những năm đầu thập kỉ 90, khi Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường cùng với việc nhà nước ban hành Luật Ngân hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không còn giữ vị trí độc tôn trong quan hệ quốc tế, tín dụng và thanh toán xuất nhập khẩu. Hàng loạt các Ngân hàng Thương mại cổ phần, NH liên doanh với nước ngoài, các chi nhánh NH nước ngoài, các công ty tài chính ra đời đã đặt Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trước sự cạnh tranh quyết liệt. Dù vậy, với uy tín lâu năm, với bề dày kinh nghiệm trong công tác thanh toán xuất nhập khẩu, với quan hệ rộng rãi và kịp thời mở rộng quan hệ đại lý với các NH nước ngoài, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn luôn có tốc độ phát triển nhất định, vẫn tiếp tục giữ vị thế là một trong những ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam và liên tục giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Khi mới thành lập, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chỉ có một cơ sở duy nhất tại Hà Nội. Với nỗ lực để phát triển, hiện tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có quan hệ đại lý với hơn 1300 ngân hàng tại 85 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đảm bảo phục vụ tốt các yêu cầu của khách hàng trên toàn cầu. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Châu á và các tổ chức thẻ quốc tế. Ngoài vai trò là NH đi đầu trong lĩnh vực tự động hoá thanh toán sử dụng mạng SWIFT, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn là NH có hệ thống thông tin hiện đại nhất trong hệ thống NH Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Một bước ngoặt quan trọng trong hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đó là cho phát hành thành công 1.365 tỷ trái phiếu tăng vốn, nâng tổng số vốn tự có của mình lên mức 9.000 tỷ đồng vào cuối năm 2025. Đây là bước khởi đầu khá thuận lợi cho tiến trình cổ phần hoá NH, thực hiện đúng chủ trương của Chính phủ về việc cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại Việt Nam lấy thí điểm là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Tính đến cuối năm 2025, Ngân hàng Ngoại thương đã phát triển thành một hệ thống vững mạnh với:
- 29 chi nhánh cấp I, 35 chi nhánh cấp II và 54 phòng giao dịch trên toàn quốc.
- 1 công ty tài chính và 3 văn phòng đại diện ở nước ngoài
- 3 công ty trực thuộc.
- Góp vốn cổ phần vào 6 doanh nghiệp (2 công ty bảo hiểm, 3 công ty kinh doanh bất động sản, 1 công ty đầu tư kĩ thuật), 7 ngân hàng và 1 quỹ tín dụng.
- Tham gia 4 liên doanh với nước ngoài.
Trải qua hơn 40 năm xây dựng và trưởng thành, đến nay Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã giữ được vị thế là Ngân hàng Thương mại hàng đầu ở Việt Nam, được Nhà nước xếp vào 1 trong 23 doanh nghiệp đặc biệt, được bạn bè quốc tế đánh giá cao… Qua nhiều năm đổi mới và hoàn thiện, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ các nước phát triển, ứng dụng khoa học kĩ thuật để hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ NH, mở rộng quan hệ kinh doanh trên các thị trường lớn và tiềm năng. Đến nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thực sự vững chắc, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, đồng thời ngày càng khẳng định là một NH đứng đầu trong cả nước, cố gắng vươn lên với phương châm “Uy tín, hiệu quả – luôn mang đến cho khách hàng sự thành đạt” và đóng góp nhiều kinh nghiệm cho xây dựng và hoạt động của hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam nói riêng và sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước nói chung.
2. Các hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Trong những năm qua, tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngoại thương Việt Nam rất khả quan. NH luôn tích cực triển khai các sản phẩm dịch vụ mới dựa trên nền tảng công nghệ cao, định hướng kinh doanh rõ ràng được quán triệt thống nhất trong toàn hệ thống, thu được những kết quả rất đáng khích lệ.
2.1. Hoạt động huy động vốn
Có thể thấy khoảng vài năm qua, thị trường trong nước và quốc tế có nhiều biến động như: chỉ số giá tiêu dùng trong nước liên tục tăng, cao hơn 9% – cao hơn mức lãi suất huy động vốn VND, lãi suất huy động vốn USD trong 6 tháng đầu năm vẫn dừng ở mức đáy lại tăng liên tục trong 6 tháng cuối năm, song công tác huy động và quản lý vốn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn đạt được những kết quả khả quan.
Việc điều hành và quản trị lãi suất được thực hiện một cách năng động theo tín hiệu thị trường, cơ chế quản lý vốn tập trung toàn hệ thống tiếp tục được củng cố và phát huy hiệu quả. Các hình thức huy động vốn được đa dạng hoá mang bản chất Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Công tác quản trị thanh khoản đã được nâng cao và được quán triệt trong toàn hệ thống.
Tính đến cuối năm 2025, tổng nguồn vốn huy động lên tới 138.665 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2024. Huy động vốn ngoại tệ tăng 18,8%, làm giảm tỷ trọng vốn ngoại tệ trong tổng nguồn vốn xuống còn 57%. Nguồn huy động trực tiếp từ nền kinh tế đạt 102.600 tỷ đồng, chiếm 20% nguồn huy động từ nền kinh tế của toàn bộ ngành ngân hàng.
Kết quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn 2023 – 2025 được thể hiện qua bảng 1 :
- Bảng 1: huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2023 – 2025
2.2. Hoạt động tín dụng Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Đây chính là hoạt động sử dụng vốn của NH. Hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau trong quá trình hoạt động kinh doanh của NH. Bởi vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần song song thực hiện cả hai nghiệp vụ này một cách hiệu quả.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thực hiện chiến lược tăng trưởng tín dụng bền vững trên cơ sở tăng cường kiểm tra, kiểm soát, nâng cao chất lượng tín dụng. NH đã áp dụng các biện pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng như: xây dựng giới hạn tín dụng an toàn đối với một số mặt hàng, lĩnh vực đầu tư chủ yếu, quản trị lãi suất và quản trị thanh khoản, thực hiện chương trình quy chế hoá, quy trình hoá nghiệp vụ cho vay… Trên cơ sở tín dụng được định hướng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tiếp tục tham gia vào các dự án đồng tài trợ, đẩy mạnh cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, nắm bắt được tiềm năng của thị trường tín dụng tiêu dùng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã bắt đầu chú trọng đến thiết kế sản phẩm và dành một nguồn lực nhất định cho việc khai phá mảng hoạt động này. Kết quả đạt được trong giai đoạn 2023 -2025 được thể hiện qua bảng 2 :
- Bảng 2: hoạt động cho vay của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2023 – 2025
2.3. Hoạt động thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế luôn là thế mạnh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngay từ những ngày đầu mới thành lập. Với cơ sở và kinh nghiệm trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế, những năm gần đây, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã trở thành ngân hàng được tín nhiệm hàng đầu trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Việt Nam từ các doanh nghiệp trong nước lẫn nước ngoài. Biết được thế mạnh đó, NH không ngừng phát huy và nâng cao hoạt động này nhằm tạo uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế. Ngân hàng Ngoại thương là Ngân hàng Thương mại đầu tiên tại Việt Nam đã tham gia hệ thống thanh toán SWIFT – hệ thống thanh toán viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu nhằm tăng cường khả năng hỗ trợ và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng trong hoạt động thanh toán. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Năm 2024, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng cải tiến chương trình chuyển tiền đến, cho phép xử lý các giao dịch chuyển tiền đến nhanh nhất và tốt nhất theo yêu cầu của khách hàng bởi nó thực hiện các lệnh một cách tập trung tại trung ương và chuyển đến cho khách hàng. Thực hiện việc thanh toán qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, khách hàng sẽ tiết kiệm được thời gian, đảm bảo an toàn và tiết kiệm chi phí tối đa trong giao dịch.
Duy trì tốc độ tăng trưởng khá, doanh số thanh toán xuất nhập khẩu qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tăng trưởng đều qua các năm. Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu tăng từ 12,5 tỷ USD năm 2023, lên 16,4 tỷ USD năm 2024 và đạt 20,5 tỷ USD trong năm vừa qua, tăng 25% so với năm 2024, trong đó doanh số xuất khẩu đạt 13,4 tỷ USD, tăng 39,3% so với 2024. Doanh số thanh toán qua mạng SWIFT liên tục tăng. Trung tâm thanh toán là đầu mối xử lý các điện đi và đến trong toàn hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam với các NH trong nước và quốc tế.
2.4. Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ
Là Ngân hàng Thương mại đầu tiên ở Việt Nam triển khai dịch vụ thanh toán thẻ, hiện tại Ngân hàng Ngoại thương vẫn giữ vững vị trí hàng đầu về thị phần thanh toán và cũng là đơn vị duy nhất chấp nhận thanh toán cả loại thẻ NH thông dụng trên Thế giới: Visa, Master Card, JCB, American Express, Diner Club.
Dịch vụ thẻ, với tốc độ phát triển nhanh, thu hút hơn nửa triệu khách hàng cá nhân và hàng chục nghìn khách hàng mới mỗi tháng. Trong năm 2025, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã kết nối thành công hệ thống ATM với 07 Ngân hàng Thương mại CP, 01 NH liên doanh, kết nối và triển khai ATM và POS với Ngân hàng Ngoại thương Lào. NH cũng tiếp tục phát triển các tiện ích gia tăng dựa trên dịch vụ thẻ Connect-24 và dịch vụ thương mại điện tử V-CBP như dịch vụ bán thẻ Internet, phonecard qua hệ thống ATM và mạng Internet; dịch vụ thanh toán Billing cho hệ thống thuê bao điện thoại di động VMS và thanh toán tiền điện tại thành phố Hồ Chí Minh và tiến tới thanh toán tiền điện trên quy mô lớn.
Đứng đầu cả nước về hoạt động kinh doanh thẻ, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2025 đã đạt mức kỷ lục doanh số thanh toán thẻ 5.487 tỷ quy đồng, tăng hơn 40% so với 2024. Đặc biệt, doanh số hoạt động thẻ tín dụng do NH phát hành đạt 935 tỷ đồng, tăng gấp 12 lần so với năm 2020.Với các sản phẩm thẻ rất đa dạng, hướng tới phục vụ tối đa nhu cầu của quý khách hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không ngừng tăng chất lượng dịch vụ cũng như số lượng các đơn vị chấp nhận thẻ trên toàn quốc. Trong năm 2025, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã lắp đạt thêm 240 máy ATM nhằm tạo sự tiện ích hơn cho khách hàng của mình tại nhiều tỉnh, thành phố lớn, các trung tâm thương mại công nghiệp, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu sử dụng thẻ của quý khách trong và ngoài nước. Tính đến nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã triển khai được 650 máy ATM và có hơn 5.000 đơn vị chấp nhận thẻ trong cả nước, chiếm khoảng 65 % số lượng đơn vị chấp nhận thẻ ở Việt Nam.
Nhìn chung, có thể kết luận hoạt động phát hành và thanh toán thẻ ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thực hiện một cách hiệu quả và quy mô, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn giữ vững vị trí hàng đầu về thẻ thanh toán tại thị trường Việt Nam.
2.5. Kinh doanh ngoại tệ Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Hoạt động trong điều kiện tương đối thuận lợi: kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, nguồn kiều hối dồi dào, tỷ giá USD/VND khá ổn định, kinh doanh ngoại tệ năm 2025 tiếp tục khởi sắc. Tổng doanh số kinh doanh ngoại tệ năm 2025 đạt 18.349 triệu USD, tăng 35 % so với mức 13.592 triệu USD năm 2024. Doanh số mua ngoại tệ năm 2025 đạt 9.030 triệu USD và doanh số bán là 9.319 triệu USD. Nguồn ngoại tệ mua vào chủ yếu từ khu vực các Tổ chức kinh tế và cá nhân; nguồn ngoại tệ bán ra chủ yếu cho nhu cầu thanh toán nhập khẩu, trong đó doanh số bán cho các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu chiếm 18%.
2.6. Phát triển sản phẩm mới trên nền tảng công nghệ hiện đại
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, việc đầu tư cho phát triển công nghệ, tiến hành các dự án hiện đại hoá NH đang là một vấn đề quan trọng hàng đầu của mỗi ngân hàng. Trong nhiều năm qua, nền tảng công nghệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã không ngừng được củng cố và phát triển. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn giữ vững vị thế là NH đi đầu trong lĩnh vực đổi mới công nghệ NH, đặc biệt là công nghệ thẻ, công nghệ thanh toán tại thị trường Việt Nam. Hệ thống thanh toán SWIFT và hệ thống thẻ tín dụng đã được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam triển khai từ đầu những năm 1990; sản phẩm ngân hàng VCB Vision 2030 đã chính thức được đưa vào sử dụng trong toàn hệ thống vào năm 2021. Cùng với đó là sự hình thành và bước đầu phát triển của dịch vụ ngân hàng trực tuyến – VCB Online, hệ thống thẻ ghi nợ VCB Connect – 24… Có thể nói, trong suốt những năm qua, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn nỗ lực để đưa ra các sản phẩm mới với công nghệ hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của các cá nhân, tổ chức trên thị trường Việt Nam. Với những sản phẩm đã được triển khai, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thu được nhiều thành công trong hoạt động phát triển sản phẩm mới nhằm đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ của NH, thu hút lượng khách hàng ngày càng nhiều hơn.
2.7. Hoạt động mở rộng mạng lưới chi nhánh
Thực hiện đề án tái cơ cấu, trong thời gian qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã tích cực mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, phát triển các công ty. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã chính thức khai trương chi nhánh Bắc Ninh, chi nhánh Công ty Cho thuê tài chính tại HCM… NH đã thí điểm triển khai mô hình tín dụng mới theo chuẩn mực quốc tế tại 3 chi nhánh là Hà Nội, T.P Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Mô hình chi nhánh cấp II cũng tiếp tục được triển khai với 8 chi nhánh cấp II được khai trương hoạt động, nâng tổng số chi nhánh cấp II lên. Ngoài ra mạng lưới phòng giao dịch cũng đang được mở rộng với phòng giao dịch trong toàn hệ thống. Bên cạnh đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng chú trọng phát triển và nâng cấp các văn phòng đại diện ở nước ngoài, mà sắp tới là thành lập văn phòng đại diện tại Mỹ.
2.8. Tăng cường năng lực điều hành và quản trị ngân hàng Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Trước xu thế hội nhập kinh tế ngày càng mở rộng, việc tăng cường năng lực điều hành và quản trị NH để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn của mỗi NH. Dự án hỗ trợ liên kết kỹ thuật cơ cấu lại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh gồm: xây dựng lại bộ máy tổ chức hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế, phát triển và đa dạng hoá sản phẩm và hoạt động, ứng dụng công nghệ trong quản lý và kinh doanh nhằm cung ứng các dịch vụ tài chính có chất lượng cao cho khách hàng.
Cùng với việc xử lý nợ tồn đọng và nâng cao năng lực tài chính, vấn đề cơ cấu lại mô hình tổ chức, tăng cường năng lực quản trị điều hành, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng đặc biệt được chú trọng. Đến nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện chiến lược kinh doanh mới, cơ cấu lại mô hình theo định hướng khách hàng và phân cấp quản lý theo khối.
3. Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới có nhiều biến cố lớn như cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2017, đồng tiền chung Châu âu ra đời, sự biến động giá cả dầu mỏ, sự sáp nhập của các tập đoàn kinh tế có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam trong đó có ngành ngân hàng. Tuy vậy, cùng với những biện pháp tháo gỡ linh hoạt của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước và những nỗ lực của mình, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định liên tiếp qua các năm. Với những chính sách đưa ra kịp thời và hợp lý, toàn thể cán bộ nhân viên Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã nỗ lực hết sức mình để đưa NH vượt qua những biến động kinh tế để vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Kết quả là, trong nhiều năm liền, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn là một NH kinh doanh có lãi, dẫn đầu trong toàn ngành về lợi nhuận nộp ngân sách nhà nước, trong đó lợi nhuận liên tục tăng trưởng qua các năm với tỷ lệ cao. Điều này được thể hiện qua kết quả tài chính của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn 2023 – 2025:
- Bảng 3: Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2023 – 2025
Số liệu qua các năm giai đoạn 2023 – 2025 cho thấy tính khả quan trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Trong năm vừa qua tổng thu nhập của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt 9.274 tỷ đồng, tăng 40% so với năm 2024. Hầu hết các nguồn thu đều tăng trưởng khá. Nhờ dư nợ tín dụng tăng với tốc độ lớn và công tác quản trị lãi suất được tăng cường, thu lãi cho vay đạt 5.008 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 54% trong tổng thu nhập. Tổng chi phí của NH trong năm là 7.298 tỷ đồng, tăng 37,4% so với chi phí năm 2024. Một số khoản mục chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí là: chi trả lãi tiền gửi, chi trả lãi tiền vay. Nhờ cơ cấu thu nhập – chi phí như trên, lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tăng 50,6% so với năm 2024, đạt 1.976 tỷ đồng.
II. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Trước năm 1990, Nhà nước thực hiện chính sách độc quyền ngoại thương và ngoại hối. Toàn bộ nguồn ngoại tệ của Ngân sách nhà nước, của các tổ chức cũng như các giao dịch và thanh toán quốc tế được tập trung tại NHNTVN. Nhưng từ sau pháp lệnh ngân hàng, khi nhiều Ngân hàng Thương mại được quyền hoạt động kinh doanh ngoại tệ, cùng hàng loạt các chi nhánh, văn phòng đại diện NH nước ngoài, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không còn giữ thế độc quyền ngoại tệ như trước mà đặt trong môi trường cạnh tranh gay gắt. Vốn tiền gửi của khách hàng, nhất là tiền gửi ngoại tệ, bị phân tán nhiều sang các NH khác.
Ý thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong những năm gần đây đã đặc biệt chú trọng đến công tác huy động vốn. Các hình thức huy động vốn được đa dạng hoá, việc điều hành lãi suất được thực hiện một cách năng động theo tín hiệu thị trường, cơ chế vốn tập trung được củng cố và phát huy hiệu quả, công tác quản trị thanh khoản được nâng cao và được quán triệt trong toàn hệ thống. Đồng thời, NH cũng nâng cao chất lượng phục vụ để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
- Biểu đồ 1: Tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025
Trong giai đoạn từ 2021 – 2025, tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam liên tục tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm đạt 22,5 %. Tính đến cuối năm 2025, tổng nguồn vốn của ngân hàng hiện có là 138.665 tỷ đồng. Vốn huy động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn giữ ở mức tăng trưởng ổn định, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn huy động của toàn ngành NH, góp phần tăng thêm uy tín của mình trên thị trường NH. Cơ cấu vốn đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực và phù hợp với định hướng chiến lược của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Đó là tăng tỷ trọng vốn huy động bằng VND, và đặc biệt là tỷ trọng vốn huy động từ nền kinh tế, tăng nguồn vốn có kỳ hạn. Đồng thời, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng tích cực bổ sung vốn tự có, cải thiện hệ số vốn an toàn tối thiểu. Để hoàn thành đề án tái cơ cấu của mình mà trong đó có kế hoạch cổ phần hoá NH, tính đến thời điểm cổ phần hoá vào đầu năm 2027, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải đảm bảo vốn tự có của mình không ít hơn 13.000 tỷ đồng. Tình hình huy động vốn giai đoạn này được phản ánh một cách khái quát nhất qua bảng 4:
- Bảng 4: Huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2023 – 2025
1. Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
- Cơ cấu vốn theo kỳ hạn
Giống như các Ngân hàng Thương mại khác, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng có chiến lược thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn trung và dài hạn. Bởi đây là nguồn vốn có tính ổn định cao, có thể sử dụng để đầu tư vào các dự án trung và dài hạn, đem lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng. Tuy nhiên, thực trạng thiếu vốn trung, dài hạn vẫn còn là một thách thức không nhỏ đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng và các Ngân hàng Thương mại khác nói chung trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng mạnh và nhu cầu đầu tư trung, dài hạn ngày càng gia tăng. Để giải quyết vấn đề này, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong những năm gần đây đã có chủ trương chuyển dịch cơ cấu vốn theo hướng tăng tỷ trọng vốn trung và dài hạn. Kết quả giai đoạn 2023 – 2025 thể hiện qua bảng 5:
- Bảng 5: Tình hình huy động và sử dụng vốn huy động giai đoạn 2023 – 2025
Nhìn chung, vốn không kỳ hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NH, đặc biệt là tiền gửi của các Tổ chức kinh tế chủ yếu là vốn không kỳ hạn. Tiền gửi có kỳ hạn hiện nay NH huy động được chỉ chủ yếu từ dân cư. Vốn có kỳ hạn tăng liên tục qua các năm nhưng tỷ lệ tăng trưởng của vốn có kỳ hạn lại chậm hơn mức tăng vốn huy động nên tỷ trọng của nó ngày càng giảm trong tổng nguồn vốn. Có tình trạng này là do, trong những năm gần đây, nền kinh tế có nhiều biến động, chỉ số giá liên tục tăng, chỉ số lạm phát ở mức tương đối cao làm cho người gửi tiền tỏ ra thận trọng không muốn gửi tiền có kỳ hạn dài. Điều này đã gây khó khăn cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong việc huy động và sử dụng vốn do mức tăng nguồn vốn đặc biệt là vốn kỳ hạn không đủ để đáp ứng mức tăng sử dụng vốn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Qua bảng số liệu trên, ta thấy nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thể hiện sự mất cân đối kỳ hạn. Điều đáng lo ngại nhất là vốn ngắn hạn được sử dụng cho mục đích dài hạn ngày càng tăng. Đặc biệt là đối với nội tệ, sự chênh lệch giữa huy động và sử dụng vốn trung, dài hạn rất lớn. Điều này dễ dẫn đến rủi ro về lãi suất và rủi ro thanh khoản. Kinh doanh chênh lệch kỳ hạn thường có mức lãi suất cao hơn; tuy nhiên việc làm này rất rủi ro và dễ dẫn đến mất khả năng thanh toán khi khách hàng rút vốn về trong khi khoản sử dụng vốn của NH chưa đến hạn thu về. Không chỉ vậy, vốn huy động ngắn hạn lại thường nhạy cảm với lãi suất hơn so với vốn trung và dài hạn. Vì vậy, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của thị trường tài chính có thể làm cho đồng loạt các doanh nghiệp rút vốn về, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của NH.
Mặt khác, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn là một NH có thị phần huy động ngoại tệ lớn nhất trong hệ thống các Ngân hàng Thương mại. Và thực tế cho thấy, vốn huy động trung và dài hạn bằng ngoại tệ của Ngân hàng Ngoại thương tăng nhanh qua các năm. Đây cũng là một ưu thế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong việc huy động vốn ngoại tệ. Tuy nhiên, vấn đề cần lưu ý ở đây là mức độ sử dụng vốn trung và dài hạn bằng ngoại tệ trong nước không nhiều. Chính vì vậy mà Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thường xuyên có số dư tiền gửi ngoại tệ tại các ngân hàng nước ngoài cao.
- Cơ cấu vốn theo loại tiền Vốn nội tệ:
Chủ trương của Ban lãnh đạo Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là đẩy mạnh hơn nữa tỷ trọng của vốn nội tệ trong tổng nguồn vốn của NH nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng, tăng cường sử dụng vốn đầu tư trong nước cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Bằng sự nỗ lực và linh hoạt trong công tác điều hành vốn, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang từng bước hoàn thành mục tiêu đề ra. Trong các năm qua, nguồn vốn VND liên tục tăng, thể hiện qua biểu đồ sau:
- Biểu đồ 2: Vốn VND trong giai đoạn 2021 – 2025
Biểu đồ 2 biểu diễn nguồn vốn VND của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn 2021 – 2025. Nguồn vốn VND của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam liên tục tăng trưởng trong giai đoạn 2021 – 2025. Cụ thể là, vốn VND tăng từ 20.261 tỷ đồng năm 2021 lên tới 58.500 tỷ đồng vào năm 2025, tăng gấp hơn 2,8 lần. Tốc độ tăng trưởng mạnh nhất là năm 2023, nguồn vốn VND huy động đạt 42.920 tỷ đồng tăng từ mức 27.405 tỷ đồng năm 2022. Sau đó, lượng vốn nội tệ vẫn tiếp tục gia tăng trong năm 2024 và đạt 58.500 tính đến cuối năm 2025. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
- Bảng 6: Vốn VND huy động trong giai đoạn 2021- 2025
Nguồn vốn huy động bằng nội tệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tăng trưởng liên tục trong giai đoạn 2021 – 2025 và tăng mạnh nhất vào năm 2023. Cụ thể là, vốn VND tăng thêm 6.731 tỷ đồng (ứng với 33.2%), từ 20.261 năm 2021 đến 27.405 tỷ đồng năm 2022. Tốc độ tăng vốn huy động bằng VND tăng cao nhất trong năm 2023, đạt 42.920 tỷ đồng, ứng với mức tăng trưởng 51%. Sau đó, lượng vốn nội tệ vẫn tiếp tục tăng qua 2 năm 2024, 2025 và đạt 58.500 tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng trưởng 34,3% so với năm 2024.
Kết quả cho thấy vốn huy động bằng VND đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá mạnh, đi đúng định hướng chiến lược điều chỉnh cơ cấu vốn theo chương trình tái cơ cấu Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, phù hợp hoạt động tín dụng. Ngược lại với tình hình của vốn ngoại tệ, tổng vốn huy động VND liên tục tăng trong các năm. Đặc biệt nguồn vốn này tăng trưởng ở cả 3 nguồn là từ tiền gửi các Tổ chức tín dụng (tăng gần 6%), tiền gửi các Tổ chức kinh tế (tăng hơn 14%), và đặc biệt là từ dân cư (tăng 94%).
Tăng trưởng vốn VND khá mạnh là kết quả của sự chuyển biến tích cực của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện chương trình tái cơ cấu, thể hiện trên một số khía cạnh như:
Đa dạng hoá sản phẩm, tận dụng ưu thế về công nghệ, giai đoạn 2022 – 2025 NH đã triển khai nhiều giải pháp huy động như phát hành kỳ phiếu VND với nhiều kỳ hạn 6, 9, 12, 24 tháng; mở rộng việc áp dụng sản phẩm đầu tư tự động; đẩy mạnh huy động qua hình thức tài khoản cá nhân, cùng với các dịch vụ thẻ, e-banking… Các phòng ban đã có sự phối hợp tích cực để đưa ra các giải pháp tổng thể cho khách hàng là các tổ chức kinh tế, xã hội lớn.
Mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, phát triển các công ty, đặc biệt là lắp đặt thêm các máy ATM trên phạm vi cả nước kích thích người dân mở tài khoản, tiến hành giao dịch với NH nhiều hơn. Toàn hệ thống đã chú trọng hơn đến phát triển hoạt động bán lẻ như tăng giờ giao dịch, đổi mới thái độ phục vụ…
Đổi mới khá toàn diện trong công tác quản trị vốn, quản lý vốn tập trung trong toàn hệ thống, điều hành lãi suất linh hoạt, nâng cao năng lực điều hành. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
- Vốn ngoại tệ:
Vốn huy động bằng ngoại tệ được biết đến như là một thế mạnh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Bởi mặc dù không còn thế độc quyền nhưng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn là NH chiếm thị phần lớn nhất về huy động vốn ngoại tệ và đầu tư vốn USD trên thị trường tiền gửi quốc tế, và luôn là NH có uy tín trong thanh toán quốc tế, với những khách hàng truyền thống. Tuy nhiên, diễn biến phức tạp trong những năm gần đây như biến động về lãi suất của FED, chiến tranh Iraq, giá dầu tăng cao và liên tục giao động làm cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam gặp phải khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn này. Mặt khác, áp lực cạnh tranh gay gắt từ phía các Ngân hàng Thương mại trong nước liên tục tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm USD khiến cho nguồn vốn huy động USD của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam biến động liên tiếp trong giai đoạn ngắn từ 2022 đến cuối năm 2025.
- Bảng 7: Vốn ngoại tệ huy động qua các năm 2021 – 2025
Nguồn vốn USD của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có rất nhiều biến động chỉ một khoảng thời gian ngắn – từ 2021 đến 2025. Đáng chú ý nhất là năm 2024 với mức tăng kỉ lục 32%; tuy nhiên năm 2022 vốn USD của NH lần đầu tiên tăng trưởng âm, giảm 233 triệu USD (ứng với -6.2%) so với năm 2021. Năm vừa qua tỷ lệ tăng trưởng nguồn vốn ngoại tệ lại giảm đáng kể còn 12,3%. Nguyên nhân chính dẫn đến nguồn vốn ngoại tệ tăng mạnh vào năm 2024, song lại chững lại trong năm 2025 là:
Trong vòng 6 tháng cuối năm 2024, FED đã 5 lần tăng lãi suất USD, lên tới 2,25%/năm kéo theo lãi suất USD trong nước cũng tăng cao; người dân đã đổ xô đi gửi tiền USD thay vì gửi tiền đồng. Hơn nữa, năm 2024 đánh dấu sự bứt phá ngoạn mục trong xuất khẩu của Việt Nam dẫn đến nguồn thu ngoại tệ tăng mạnh. Bên cạnh đó, lượng ngoại tệ kiều hối chuyển về nước tăng cao khiến nguồn thu ngoại tệ NH cũng gia tăng. Nhờ hoạt động triển khai phát hành kỳ phiếu ngoại tệ kỳ hạn 6 tháng, 9 tháng, 1 năm với mức lãi suất hấp dẫn đã đóng góp vào kết quả tăng đột biến ngoại tệ của năm 2024.
Vài tháng đầu năm 2025, thị trường liên tục bị sức ép tăng lãi suất các ngân hàng đua nhau đưa ra các hình thức khuyến mại hấp dẫn, đẩy mức lãi suất huy động thực lên rất cao khiến thị trường huy động vốn có sự cạnh tranh mạnh mẽ. Tổng huy động vốn tăng trưởng chậm, đặc biệt là vốn USD giảm liên tục. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Cơ cấu nguồn vốn nội tệ và ngoại tệ trong giai đoạn này cũng có sự biến chuyển theo xu hướng tích cực, phù hợp với phương hướng huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Khoảng cách giữa tỷ trọng vốn tiền đồng và ngoại tệ có xu hướng thu hẹp dần, từ 34% – 66% năm 2022 lên tới 43% – 57%. Qua đó, ta có thể khẳng định rằng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thành công trong chuyển dịch cơ cấu huy động vốn theo hướng tăng tỷ trọng vốn tiền đồng như chiến lược tái cơ cấu mà ngân hàng đề ra.
- Bảng 8: Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền giai đoạn 2021 – 2025
- Biểu đồ 3: Cơ cấu vốn theo loại tiền giai đoạn 2021 – 2025
Cơ cấu vốn theo đối tượng huy động vốn:
Căn cứ vào đối tượng huy động vốn, vốn sẽ gồm có vốn từ dân cư, vốn từ các Tổ chức kinh tế và vốn từ các NH và các Tổ chức tín dụng khác. Trong đó, nguồn vốn từ dân cư luôn đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu vốn huy động của tất cả các Ngân hàng Thương mại, bởi tính ổn định, bền vững của nguồn vốn này. Bên cạnh đó, vốn từ các Tổ chức kinh tế lại chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn nhằm thực hiện các hoạt động thanh toán, bù trừ. Nguồn vốn này có chi phí huy động thấp nên Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã không ngừng áp dụng các chính sách khách hàng, chính sách lãi suất linh hoạt, hấp dẫn nhằm thu hút thêm khách hàng từ thị trường này. Ngoài ra, vốn từ thị trường liên NH cũng có tầm quan trọng không nhỏ trong hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Bảng số liệu sau sẽ cho thấy chi tiết diễn biến nguồn vốn huy động từ 3 thị trường này:
- Bảng 9: Nguồn vốn huy động theo đối tượng
Thực tế cho thấy, vốn huy động từ cả dân cư, Tổ chức kinh tế hay thị trường liên ngân hàng đều có chiều hướng tăng, trong đó vốn từ dân cư tăng mạnh nhất nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nguồn vốn từ các Tổ chức kinh tế.
Vốn huy động từ dân cư bằng cả VND và USD đều tăng nhanh. Vốn VND tăng từ 5.352 tỷ đồng năm 2022 lên tới 12.251 tỷ đồng năm 2025, gấp 2,3 lần. Vốn huy động từ dân cư tăng nhanh là xu hướng tích cực và đáng mừng. Điều này cho thấy người dân đã tích cực gửi tiền vào NH thay vì cất trữ tại nhà hay đem đầu tư, kinh doanh. Có được kết quả này phần nhiều là do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã cùng lúc kết hợp hiệu quả và đồng bộ các chính sách về quản trị vốn, quản trị lãi suất, đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ và tạo được niềm tin đối với khách hàng.
Giống như trên địa bàn dân cư, vốn huy động VND từ các Tổ chức kinh tế cũng tăng mạnh tương tự như vậy. Nhưng vốn USD trước khi ở mức cao nhất trong vòng 5 năm (2021 – 2025) đạt 1.845 triệu USD, đã giảm đáng kể 2 năm liên tiếp 2022, 2023 ở mức tương ứng 1.300, 1.363 triệu USD. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Đối với thị trường liên ngân hàng, nguồn vốn chiếm tỷ trọng thấp nhất trong tổng nguồn vốn. Cả vốn VND và USD của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đều lên xuống thất thường. Vốn huy động VND có tăng qua các năm nhưng vốn USD lại giảm kéo theo sự sụt giảm của tổng vốn huy động từ thị trường này giữa các năm. Lý do dễ hiểu là khi NH lâm vào tình trạng thiếu vốn thì các Ngân hàng Thương mại, tổ chức tín dụng khác cũng rơi vào tình trạng tương tự. Vì vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần đưa ra các chính sách, giải pháp thích hợp để lựa chọn khi thiếu vốn trên cơ sở không quá kỳ vọng vào vốn trên thị trường liên ngân hàng để bù đắp những nhu cầu vốn huy động lớn của ngân hàng.
2. Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
- Huy động từ tiền gửi của khách hàng
Đây là nguồn huy động vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Nguồn vốn này tăng dần qua các năm. Để tìm hiểu xu hướng, mức độ tăng của nó, trước hết ta sẽ xem xét sự tăng trưởng trên từng thị trường: dân cư, Tổ chức kinh tế và thị trường liên ngân hàng.
- Tiền gửi của dân cư:
Tiền gửi của dân cư đã đóng góp quan trọng vào việc tăng trưởng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Từ chỗ chiếm tỷ trọng không đáng kể 2% vào những năm 91-92, đến 2018 đạt 10.200 tỷ đồng, sau hai năm tăng gấp đôi lên tới 28.067 tỷ đồng vào năm 2022 và đạt 30.924 tỷ đồng cuối năm 2023. Tính đến cuối năm 2025, vốn huy động từ dân cư đã lên tới 37.723 tỷ đồng, chiếm gần 30% tổng vốn huy động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Tỷ trọng tiền gửi của dân cư có xu hướng tăng qua các năm, chiếm 35% năm 2021 và lại tăng trong năm 2022 đạt 39%, giảm xuống 38% năm 2023, năm 2024 chiếm khoảng 28%, và năm vừa qua đạt 30%. Tuy nhiên về giá trị tuyệt đối thì giá trị của nguồn vốn huy động từ thể nhân vẫn tăng đều qua các năm, năm 2022 tăng 2.989 tỷ đồng thì năm 2023 tăng lên 3.352 tỷ đồng so với năm 2022 chiếm đến 38% tổng vốn huy động… Điều đó càng chứng tỏ rằng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thực hiện ngày càng hiệu quả chiến lược huy động vốn hướng tới thị trường tiềm năng này. Đồng thời, nó cũng cho thấy sự nhạy bén trong công tác huy động vốn, cơ chế điều hành lãi suất linh hoạt và sự tích cực, nhanh nhạy trong việc triển khai các chính sách huy động vốn của Ban lãnh đạo Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Vốn huy động từ dân cư vẫn luôn là nguồn vốn dài hạn chủ yếu trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Nguồn vốn này mang lại sự ổn định, bền vững tương đối cho hoạt động kinh doanh của NH. Tính ổn định của vốn huy động từ thể nhân thể hiện trên một số khía cạnh, đó là: luồng tiền chu chuyển thấp, ít chịu tác động bởi yếu tố thời vụ. Tính tương đối vì nguồn này dễ chịu ảnh hưởng trước các cú sốc do thiếu thông tin, khả năng phân tích yếu, việc ra quyết định phụ thuộc vào một người. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Tiền gửi giao dịch: Trong vài năm gần đây, số lượng khách hàng mở tài khoản thanh toán bằng VND dưới hình thức phát hành thẻ ATM, tài khoản gửi tiền ngoại tệ (để nhận tiền từ nước ngoài gửi về) của NH tăng đột biến. Đến hết năm 2025, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát hành được hơn 45.000 thẻ ATM, phát triển gần 600 máy ATM trên 35 tỉnh, thành phố trong cả nước. Đây là nguồn tiềm năng với đất nước hơn 80 triệu dân – một thị trường vốn đầy tiềm năng.
Tiền gửi tiết kiệm: Bên cạnh nguồn tiền gửi giao dịch này, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng liên tục đưa ra các chính sách gia tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm dồn dập thành nhiều đợt, dưới nhiều hình thức phong phú nhằm khuyến khích dân cư gửi tiền vào NH thay vì cất trữ tại nhà hay đem gửi ở các Ngân hàng Thương mại hay các Tổ chức tín dụng khác. Cụ thể là các sản phẩm tiết kiệm mới như sản phẩm tiết kiệm gắn với bảo hiểm có tên “Tiết kiệm bảo an VCB” được tung ra thị trường vào ngày 24/12/2024, có lãi suất hấp dẫn gắn với những ưu đãi về bảo hiểm, hình thức tiết kiệm bậc thang kỳ hạn 2 năm bằng tiền đồng ra mắt ngày 30/12/2024… và hàng loạt các sản phẩm dịch vụ tiết kiệm mới liên tục được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tung ra với mức lãi suất hợp lý kèm theo những tiện ích thu hút khách hàng. Ta có thể khẳng định rằng, với dịch vụ tiết kiệm, khách hàng hoàn toàn có thể an tâm khi lựa chọn Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam bởi sự thuận tiện, nhanh chóng và hiện đại mà Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đem lại. Người dân có thể gửi tiền tại một chi nhánh và rút tiền tại bất kỳ chi nhánh nào trong hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nhờ công nghệ hiện đại và hệ thống thông tin được nối mạng. Ngoài ra, khi có sổ tiết kiệm, khách hàng còn có thể phát hành thẻ tín dụng quốc tế VCB – Visa, VCB – Amex, … hoặc cầm sổ tiết kiệm để vay tiền đồng tại hệ thống các chi nhánh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hay các Tổ chức tín dụng theo quy định hiện hành. NH cũng thực hiện nhiều chương trình quay thưởng, khuyến mại… cho khách hàng của mình một cách thường xuyên, định kỳ. Chính vì vậy, nguồn vốn này đã có quy mô tăng rõ rệt theo từng năm. Ta có thể tổng kết kết quả huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm từ dân cư của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam qua bảng số liệu sau đây:
- Bảng 10: Tiền gửi tiết kiệm của dân cư tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Báo cáo thường niên của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy tiền gửi tiết kiệm của dân cư liên tục tăng, mang lại một nguồn vốn ổn định cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Điều này cho thấy ngân hàng vẫn giữ được vị thế của mình trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Tiết kiệm bằng VND tăng mạnh, đặc biệt là kỳ hạn dưới 12 tháng. Tiết kiệm bằng USD giảm một phần do ngân hàng đã mất thế độc quyền về kinh doanh ngoại tệ như trước và do định hướng của ngân hàng nhằm tăng tỷ lệ huy động vốn nội tệ để chuyển dịch cơ cấu vốn của ngân hàng theo hướng tích cực và phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình trong thời gian tới. Tiết kiệm thời hạn trên 12 tháng tăng chậm từ năm 2021 đến năm 2023, và tăng mạnh trong 2 năm qua đã chứng minh sự nỗ lực của ngân hàng trong việc huy động vốn trung và dài hạn.
Những năm vừa qua, với sự ra đời của nhiều Ngân hàng Thương mại cổ phần, NH liên doanh, NH nước ngoài… thị phần vốn huy động của các Ngân hàng Thương mại quốc doanh có chiều hướng giảm sút. Nhưng, bằng sự nỗ lực của mình, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã giữ vững thị phần huy động vốn từ dân cư so với toàn ngành. Thị phần huy động vốn từ dân cư của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam so với toàn ngành được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 11: Thị phần vốn huy động từ dân cư của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tại thời điểm 31/12/2025:
- Tiền gửi của tổ chức Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Vốn huy động từ nguồn tiền gửi của các tổ chức chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn huy động và có xu hướng tăng qua các năm. Chứng tỏ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngày càng phát huy vị thế của mình trên thị trường NH, thu hút được các Tổ chức kinh tế gửi tiền vào ngày càng nhiều. Đây là một thành công lớn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vì tiền gửi từ các Tổ chức kinh tế thường có số lượng rất lớn và chi phí thì lại thấp.
- Tiền gửi của Tổ chức kinh tế
Tiền gửi của các Tổ chức kinh tế chủ yếu là tiền gửi giao dịch. Mục đích của việc mở tài khoản tại NH của các tổ chức là để được hưởng những tiện ích trong thanh toán qua NH như: mở L/C và thanh toán quốc tế, thanh toán dịch vụ và trả lương … Tuy chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn với số dư thất thường nhưng xét trên phương diện hiệu quả trực tiếp, ta thấy khoản lãi trả cho khách hàng là rất thấp, thậm chí có thời kỳ không trả lãi. Điều này tạo nên một lợi thế cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đó là lãi suất bình quân đầu vào thấp, trong khi khối lượng vốn lại lớn tạo nên ưu thế cạnh tranh trên thị trường cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. NH cũng cần xác định khách hàng trọng tâm, có chính sách khách hàng linh hoạt, thực hiện lãi suất mềm dẻo, … nhằm duy trì và thu hút thêm khách hàng. Điển hình khách hàng có doanh số tiền gửi và dư nợ thường xuyên lớn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Bưu chính viễn thông, Hàng không Việt Nam.
Qua các báo cáo tổng kết hàng năm của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ta thấy được tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt mức tăng trưởng ổn định qua các năm và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn.
- Bảng 12: Vốn huy động từ các Tổ chức kinh tế giai đoạn 2021 – 2025
Như vậy, tiền gửi của Tổ chức kinh tế chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi giao dịch), chiếm đến khoảng 85% trong tổng số tiền gửi của họ. Mục đích của việc mở tài khoản thanh toán của các tổ chức tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là khách hàng muốn được hưởng những tiện ích trong thanh toán như: thanh toán và nhận tiền hàng trong nước, mở L/C và thanh toán quốc tế, thanh toán dịch vụ và trả lương… Nguồn vốn này chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn với số dư thất thường, tuy nhiên các khoản trả lãi cho khách hàng rất thấp, thậm chí có thời kỳ không trả lãi, nó mang lại cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam một lợi thế là lãi suất bình quân đầu vào thấp, khối lượng vốn lớn tạo ưu thế cạnh tranh trên thị trường.
Việc tăng nhanh vốn tiền gửi thanh toán của Tổ chức kinh tế phải kể đến vai trò của chính sách của Ngân hàng Nhà nước trong việc nâng cao chất lượng thanh toán điện tử liên ngân hàng, cải tiến thủ tục thanh toán cũng như chính sách khuyến khích khách hàng mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Thông qua việc hiện đại hoá công nghệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đem lại những tiện ích lớn lao trong thanh toán của khách hàng như hệ thống Online đã thu hẹp sự cách trở về địa lý của khách hàng. Khách hàng có thể nộp và rút tiền ở bất cứ chi nhánh nào của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Hàng loạt các sản phẩm dịch vụ mới được đưa ra cho khách hàng như đầu tự động, trả lương tự động, thẻ connect24, thẻ ATM – MTV… Đồng thời với việc nâng cao trình độ công nghệ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn cải tiến chế độ luân chuyển chứng từ, đổi mới công tác khách hàng cũng như thái độ phục vụ.
- Tiền gửi của Tổ chức tín dụng Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Tiền gửi của các Tổ chức tín dụng chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NH, tốc độ tăng trưởng hàng năm không cao. Các Tổ chức tín dụng chỉ gửi một lượng vốn hợp lý tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam để đảm bảo thanh toán vãng lai. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam duy trì và phát huy vị trí làm trung tâm thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng. Tiền gửi của các tổ chức đến năm 2025 đạt 6.972 tỷ đồng, tăng 12% so với năm trước.
Đối với thị trường liên ngân hàng độ hấp dẫn của lãi suất không đóng vai trò quan trọng lắm, điều quan trọng hơn là chất lượng của dịch vụ liên ngân hàng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã và đang hoạt động với phương châm lấy yêu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ khách hàng. Cộng với ưu thế về uy tín trong lĩnh vực thanh toán, trong mấy năm qua nghiệp vụ liên ngân hàng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thực hiện tốt. Nhờ đó Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đóng vai trò trung tâm thanh toán bù trừ cho các Ngân hàng Thương mại hoạt động tại Việt Nam, số dư tiền gửi từ thị trường liên Ngân hàng luôn ổn định và chiếm tỷ trọng khá cao mặc dù có sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng.
- Đi vay vốn
Vay từ Ngân hàng Nhà nước và các Tổ chức tín dụng khác.
Vốn vay từ Ngân hàng Nhà nước và các Tổ chức tín dụng khác chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của NH. Lãi suất cho vay của Ngân hàng Nhà nước cao, thời hạn cho vay ngắn nên nhìn chung Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và các Ngân hàng Thương mại khác rất hạn chế vay từ Ngân hàng Nhà nước. Nguồn vốn vay từ Ngân hàng Nhà nước chỉ là một giải pháp tình thế khi NH đã tận dụng hết nguồn vay mà vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu vốn sử dụng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giao dịch vay vốn với Ngân hàng Nhà nước thông qua: vay tái cấp vốn bằng nghiệp vụ cầm cố và chiết khấu; vay qua thị trường mở, đấu thầu tín phiếu. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Tiền vay các Tổ chức tín dụng khác cũng chiếm tỷ lệ thấp. Vì khi NH thiếu vốn thanh khoản, thì cũng là lúc thị trường thiếu vốn, không thể vay trên thị trường liên ngân hàng. Hiện nay, NH còn thực hiện nghiệp vụ vay các tổ chức tín dụng khác để cho vay, trên cơ sở cân bằng về kỳ hạn, hưởng chênh lệch lãi suất.
- Bảng 13 cho ta thấy nguồn vốn vay từ Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng trong giai đoạn 2021 – 2025:
- Bảng 13: Vay Ngân hàng Nhà nước và Tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương giai đoạn 2021-2025
Trong 5 năm qua, nguồn vốn vay từ Ngân hàng Nhà nước có sự biến động đáng kể. Vốn vay từ Ngân hàng Nhà nước giảm từ 3.717 tỷ đồng năm 2021 xuống chỉ còn 807 tỷ năm 2023. Điều này cho thấy dấu hiệu tích cực là các nguồn vốn huy động khác của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có khả năng đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn, không phải dựa nhiều vào vốn vay có chi phí cao từ Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, nguồn vốn vay này lại tăng một cách đáng kể vào năm 2024.
Nguồn vốn vay từ các Tổ chức tín dụng gia tăng rõ rệt, từ 596 tỷ đồng năm 2021, lên tới 5.973 tỷ đồng năm 2024 và năm vừa qua đạt 6.589 tỷ đồng, trong đó nhận vốn cho vay đồng tại trợ chiếm chủ yếu. Đây là thách thức lớn đối với NHNTVN vì hiện nay vốn vay trên thị trường này đang chịu sự cạnh tranh gay gắt và là tình trạng chung của tất cả các Ngân hàng Thương mại khác trong hệ thống.
- Phát hành giấy tờ có giá
Với định hướng tăng cường huy động vốn có kỳ hạn dài, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã tích cực phát hành giấy tờ có giá trên thị trường. Ngân hàng phát hành các loại giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi. Mặc dù chiếm tỷ trọng chưa cao trong tổng nguồn vốn nhưng việc liên tục đưa ra các sản phẩm mới có nét riêng biệt đã thu hút được sự chú ý từ dân cư, đóng góp tích cực vào hoạt động huy động vốn. Đây là một nguồn vốn rất ổn định và chủ động của ngân hàng.
- Bảng 14: Phát hành giấy tờ có giá tại Ngân hàng Ngoại thương giai đoạn 2021- 2025
Vốn huy động bằng trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn, và liên tục tăng qua các năm, đặc biệt năm 2025 đạt 3.569 tỷ quy đồng. Có con số ở mức kỉ lục này là do cuối năm 2025, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát hành thành công hơn 1.365 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn, tạo đà cho việc cổ phần hóa NH vào đầu năm 2027. Nguồn vốn này đóng góp một phần quan trọng vào vốn trung và dài hạn của NH. Với tiền gửi tiết kiệm, người dân vẫn có thể rút trước hạn, mặc dù bị phạt lãi suất, nhưng với giấy tờ có giá thì NH sẽ không phải thanh toán nếu chưa đến hạn. Do đó, NH hoàn toàn chủ động về kỳ hạn của nguồn này, hạn chế rủi ro kỳ hạn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
- Gia tăng vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là thước đo sức mạnh tài chính của các Ngân hàng Thương mại. Vốn chủ sở hữu của các Ngân hàng Thương mại thường bao gồm vốn góp ban đầu (vốn điều lệ) và lợi nhuận chưa chia. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một trong bốn ngân hàng quốc doanh 100% sở hữu nhà nước nên vốn chủ sở hữu của NH được hình thành chủ yếu từ vốn điều lệ nhà nước giao cho và vốn tự có bổ sung từ lợi nhuận giữ lại trong quá trình hoạt động kinh doanh.
- Bảng 15: Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2023 – 2025
Với yêu cầu gia tăng vốn chủ trong quá trình hội nhập, Nhà nước đã cấp thêm vốn điều lệ cho NH dưới dạng trái phiếu đặc biệt: năm 2023 là 400 tỷ đồng, năm 2024 là 800 tỷ đồng và 1200 tỷ đồng cho năm 2025.
Bên cạnh đó, phương án tăng vốn chủ từ các nguồn lợi nhuận giữ lại của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được chính phủ thông qua và bắt đầu thí điểm trong 3 năm kể từ năm 2023. Chấp thuận này của Chính phủ mở ra một hướng đi mới cho việc phát triển tiềm năng vốn của NH, thúc đẩy nỗ lực kinh doanh, đạt lợi nhuận cao hơn nữa để đẩy nhanh tốc độ huy động vốn chủ sở hữu.
Ta có thể dễ dàng nhận thấy tốc độ tăng trưởng cao của vốn điều lệ trong giai đoạn 2023 – 2025 qua bảng trên. Năm 2021, vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam mới chỉ ở mức 1.397 tỷ đồng. Vốn điều lệ tăng lên tới 7.967 tỷ đồng năm 2025, gấp 2,6 lần so với mức 3.031 tỷ đồng năm 2023 và gấp 5,7 lần so với năm 2021. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn này là 49,3%/năm. Các khoản mục khác nhìn chung đều tăng làm tổng vốn và các quỹ tăng trưởng mạnh mẽ, từ 2.359 tỷ đồng năm 2021 đến 11.324 tỷ đồng năm 2025. Tốc độ tăng trưởng vốn chủ mạnh mẽ này đã đưa hệ số an toàn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam lên tới hơn 7% trong năm vừa qua từ mức thấp 3% năm 2021.
III. NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT RA QUA HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
1. Kết quả
Cuối năm 2020 – thời điểm bắt đầu bước vào thực hiện Đề án tái cơ cấu – Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đứng trước những thách thức hết sức to lớn. Trước tiên là vốn điều lệ chỉ ở mức 1.099 tỷ đồng, cộng thêm một số quỹ khác thì vốn chủ sở hữu cũng chỉ là 2.051 tỷ đồng; tỷ lệ an toàn vốn CAR chỉ đạt hơn 3%, cách khá xa so với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo chuẩn quốc tế là 8%. Kèm theo đó Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn gặp phải những khó khăn, thách thức từ cả bên trong NH lẫn môi trường cạnh tranh. Tuy nhiên, nhờ coi trọng công tác huy động vốn, đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng, tích cực ứng dụng công nghệ hiện đại tạo ra các sản phẩm mới, tiện ích hiệu quả cho khách hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đạt được một số kết quả khả quan trong công tác huy động vốn.
1.1. Cơ cấu nguồn vốn
Cơ cấu vốn huy động có sự thay đổi theo chiều hướng ngày càng tích cực, phù hợp với định hướng nâng cao tỷ trọng huy động nội tệ trong tổng nguồn vốn. Tốc độ tăng trưởng vốn VND nhanh hơn tốc độ tăng trưởng vốn USD. Cơ cấu nguồn vốn VND/Ngoại tệ đã được cải thiện đáng kể, từ 27%/73% năm 2021 lên tới 40%/60% năm 2024 và đạt 43%/57% năm 2025. Vốn huy động từ dân cư có sự tăng trưởng với tốc độ vượt bậc, chiếm gần 40% trong tổng nguồn vốn. Vốn huy động từ tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng khá cao, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 23%. Đây là một nguồn vốn với chi phí rẻ của NH. Chất lượng dịch vụ được cải thiện đáng kể. Bên cạnh đó, nguồn vốn trung và dài hạn cũng đã tăng đều, liên tục trong từng năm, tạo điều kiện cho NH mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh, đầu tư và cho vay các dự án lớn trung, dài hạn.
1.2. Quy mô và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Quy mô và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động liên tục tăng cao và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đổi mới căn bản về cơ chế huy động vốn đi liền với việc đổi mới phương pháp quản lý vốn tập trung, chủ động tìm kiếm các biện pháp thu hút vón và trở thành một trong những Ngân hàng Thương mại nhà nước có nguồn vốn lớn nhất Việt Nam. Tính đến hết tháng 6/2026, tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ước đạt trên 143.000 tỷ đồng. Có được kết quả này là do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn nắm bắt tốt thời cơ, phản ứng nhanh nhạy với những biến động của thị trường, có hướng đi đúng đắn theo định hướng của ngành, biết khắc phục những hạn chế và phát huy lợi thế vốn có của mình.
1.3. Hoạt động điều hành lãi suất huy động vốn
Hoạt động điều hành lãi suất đã có một bước tiến quan trọng. Trên cơ sở bám sát tình hình cung cầu vốn trên thị trường, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam rất linh hoạt trong việc đưa ra và sử dụng công cụ lãi suất cạnh tranh để có thể duy trì được vị thế của NH trước sự cạnh tranh gay gắt của các NH khác.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn là NH đi đầu trong việc định hướng lãi suất trên thị trường. Đây là một trong những ưu điểm nổi bật của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. NH đã rất linh hoạt và nhạy bén trong việc đưa ra và sử dụng công cụ lãi suất này xét trên cả hai khía cạnh mức lãi suất cạnh tranh và thời điểm đưa ra quyết định thay đổi lãi suất huy động. Những động thái trong việc thay đổi lãi suất huy động của NH luôn là mối quan tâm của các Ngân hàng Thương mại khác và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mức lãi suất chung của toàn hệ thống. Đồng thời Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng đổi mới quy chế quản lý vốn tập trung, một mặt tạo điều kiện cho các chi nhánh có thể gửi vay hội sở chính với kỳ hạn và lãi suất linh hoạt hơn, theo tín hiệu và diễn biến thị trường. Mặt khác việc online toàn hệ thống đã cung cấp cho khách hàng gửi tiền một tiện ích rất lớn, đó là: gửi một nơi, rút nhiều nơi. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
1.4. Phát hành các giấy tờ có giá
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát hành thành công kỳ phiếu VND với nhiều kỳ hạn 6, 9, 12 tháng, trái phiếu VND kỳ hạn 2 năm; phát hành kỳ phiếu ngoại tệ 6, 9, 12 tháng, chứng chỉ tiền gửi, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư trung và dài hạn đang tăng cao. Ngày 14 và 15 năm 2025, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát hành thành công 1.365 tỷ trái phiếu tăng vốn, là bước khởi đầu quan trọng cho tiến trình cổ phần hoá NH. Bên cạnh đó, NH cũng mở rộng việc áp dụng sản phẩm đầu tư tự động trên cơ sở nền tảng công nghệ hiện đại, đẩy mạnh việc huy động qua hình thức tài khoản cá nhân cùng với các dịch vụ thẻ, phonebanking…
1.5. Quản trị thanh khoản
Trong năm vừa qua, mặc dù thị trường vốn tiền đồng có nhiều biến động thất thường, song với phương án dự phòng thanh khoản ở mức 2.500 – 3.000 tỷ đồng tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và 5.000 tỷ trái phiếu kho bạc dự phòng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn giữ được thế chủ động trong mọi tình huống, ngoài ra còn kịp thời hỗ trợ một số NH bạn.
Vào thời điểm cuối năm, tiền gửi của các Tổ chức kinh tế tại NH giảm mạnh (giảm khoảng 3.000 tỷ đồng vào cuối năm 2025), cùng với tín dụng tăng trưởng gần 1.000 tỷ đồng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phải liên tục bán quay vòng số vốn 5.000 tỷ trái phiếu kho bạc dự phòng và bán 20 triệu USD để đảm bảo nguồn bù đắp cho các dòng tiền này. Bên cạnh đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã duy trì được mối quan hệ tốt với các NH cổ phần, liên doanh, nước ngoài, đồng thời phối hợp tốt với các Ngân hàng Thương mại quốc doanh khác để có sự hỗ trợ hai chiều tại những thời điểm nhạy cảm như vậy.
Tóm lại, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã chuẩn bị rất tốt nguồn dự phòng thanh khoản, đảm bảo tính thanh khoản cao cho các công cụ huy động vốn, góp phần đáng kể củng cố niềm tin của khách hàng gửi tiền đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
1.6. Một số kết quả đạt được khác Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
NHNTVN đã áp dụng một loạt các biện pháp phối hợp khác để tăng cường huy động vốn như tăng cường chăm sóc khách hàng thông qua sự phối hợp tích cực giữa các phòng, ban để đưa ra giải pháp sản phẩm tổng thể cho nhiều khách hàng lớn.
Việc mở thêm nhiều chi nhánh, quầy giao dịch của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã tạo thuận lợi cho khách hàng gửi, rút tiền. NH cũng chú trọng hơn đến các hoạt động bán lẻ như phát triển mạng lưới ATM, đẩy mạnh hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Đặc biệt năm 2022, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã triển khai dịch vụ VCB-online và hệ thống giao dịch tự động đầu tiên tại Việt Nam cho phép khách hàng gửi tiền một nơi rút tiền nhiều nơi. Chất lượng phục vụ khách hàng ngày càng được chú trọng : thái độ, cung cách giao tiếp của nhân viên NH thân thiện đã tạo được ấn tượng tốt trong cách nhìn nhận của khách hàng. Ngoài ra, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn áp dụng chính sách khách hàng năng động, thành lập phòng khách hàng đặc biệt để chuyên sâu nghiên cứu, phân tích nhu cầu khách hàng. Đây được xem là ưu điểm, nét khác biệt độc đáo của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
2. Những hạn chế và nguyên nhân
2.1. Hạn chế
Bên cạnh những thành công trên, hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn còn có những hạn chế chủ yếu sau:
Thứ nhất, thực trạng tài chính còn yếu kém xét trên khía cạnh vốn tự có thấp. Hệ số an toàn vốn thấp hơn nhiều so với chuẩn quốc tế là 8%, đã hạn chế khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh, làm giảm uy tín của NH trên thị trường tài chính quốc tế. Thực trạng tài chính không tốt còn ảnh hưởng mạnh đến quy mô hoạt động của NH đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ tại khắp các quốc gia trên thế giới.
Thứ hai, tăng trưởng nguồn vốn chưa đáp ứng được nhu cầu về tăng trưởng tín dụng. Vốn huy động bình quân tăng trưởng với mức 23% trong khi dư nợ cho vay tăng trưởng bình quân với mức 31,5%. Thị phần huy động chưa tương xứng với vị thế và khả năng của NH. Huy động vốn phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các chi nhánh phía Bắc.
Thứ ba, mặc dù đã có những chuyển biến theo hướng tích cực, nhưng cơ cấu vốn của NH vẫn còn chưa phù hợp. Cơ cấu vốn huy động thể hiện sự mất cân bằng về kỳ hạn. Vốn huy động chủ yếu là vốn ngắn hạn. Vốn trung và dài hạn mặc dù đã có sự chuyển biến nhưng vẫn chiếm tỷ trọng thấp trong khi vốn huy động không kỳ hạn và kỳ hạn dưới một năm lại chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn. NH chỉ được phép dùng 30% vốn ngắn hạn để đầu tư trung và dài hạn. Điều này dẫn đến nguồn vốn ngắn hạn thì thừa mà nguồn vốn trung và dài hạn lại thiếu, làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của NH. Vốn huy động còn thể hiện sự mất cân đối về loại tiền. Tỷ trọng huy động bằng ngoại tệ vẫn còn cao và chủ yếu bằng USD. Phần lớn nguồn vốn này được gửi tại NH nước ngoài nên dễ bị tác động bởi các yếu tố về chính sách tiền tệ, tỷ giá ngoại hối của các quốc gia khác.
Tiếp tục có sự mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn. Tăng trưởng nguồn vốn chưa đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng tín dụng. Tín dụng trung, dài hạn vẫn tiếp tục tăng cao hơn so với vốn huy động trung và dài hạn. Sự mất cân đối này thể hiện ở chênh lệch giữa tín dụng trung, dài hạn và huy động vốn trung, dài hạn ngày càng lớn ở cả VND và USD; đặc biệt là đối với VND, khe hở kỳ hạn ngày càng mở rộng ra (năm 2024 chênh lệch âm là 4.700 tỷ đồng, năm 2025 lên tới 5205 tỷ đồng) Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Tính bất ổn của nguồn vốn: Như ta đã biết, trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, tiền gửi của các Tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn khoảng 70%, trong đó vốn không kỳ hạn chiếm tỷ trọng 57%. Điều này một mặt tạo lợi thế chi phí rẻ, nhưng mặt khác làm tăng tính bất ổn định của nguồn. Bởi tiền gửi giao dịch của các Tổ chức kinh tế có tình thời vụ, và có thể được rút ra bất cư lúc nào với một khối lượng lớn. Đặc biệt là vốn VND thường xuyên biến động với tốc độ lớn, 6 tháng đầu năm và tháng 12 là những tháng biến động mạnh nhất trong năm; có ngày cao điểm riêng tổ chức kinh tế có thể giảm 2.000 tỷ/ngày, trong khi mức tăng giảm bình quân 1 tháng thường ở mức 1.500 – 3.000 tỷ đồng. Chính tính không ổn định của nguồn sẽ gây khó khăn cho NH trong hoạt động cho vay và đầu tư. Do vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần phải có lượng dự trữ thanh khoản đảm bảo nhu cầu thanh toán của khách hàng.
Cuối cùng là sự lệ thuộc vào các khách hàng lớn như Bảo Việt, Petrolimex, Vietnam Airline… mà nhiều khi sự cạnh tranh từ các Tổ chức tín dụng để giành giật khách hàng hoặc chính sự thay đổi của bản thân họ đã làm rủi ro và chi phí hoạt động của NH tăng cao. Mọi biến động trong hoạt động kinh doanh của các tổng công ty trên đều tác động mạnh mẽ đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
2.2. Nguyên nhân
- Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân trước tiên ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng… Thị phần vốn huy động của NH đang có nguy cơ bị giảm sút, đặc biệt đối với vốn huy động ngoại tệ. Xu hướng chuyển dịch các giao dịch nghiệp vụ sang các NH liên doanh và chi nhánh NH nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đồng nghĩa với việc phân chia lại thị trường, nguồn vốn theo hướng bất lợi cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Bên cạnh đó, thị trường tài chính chưa phát triển, đặc biệt là thị trường vốn và thị trường chứng khoán. Phần lớn các doanh nghiệp chưa thể vay vốn dài hạn từ thị trường này. Do vậy, áp lực vốn trung và dài hạn đặt lên vai NH. Hơn nữa, thị trường tài chính chưa phát triển làm giảm tính lỏng của các công cụ nợ do NH phát hành, giảm tính hấp dẫn của công cụ nợ từ đó giảm lượng huy động vốn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Nền kinh tế Việt Nam còn chưa ổn định, tỷ lệ lạm phát cao làm cho lãi suất thực của các khoản tiền gửi thậm chí là âm. Điều đó đã tác động đến tâm lý người gửi tiền khiến họ không yên tâm và không muốn gửi tiền vào NH, nhất là đối với những khoản tiền gửi kỳ hạn dài. Điều này làm cho hoạt động huy động vốn có kỳ hạn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam gặp nhiều khó khăn hơn.
Hệ thống văn bản pháp luật chưa thật đồng bộ, thống nhất và chưa bắt kịp với sự chuyển biến của nền kinh tế thị trường. Các quy định nhiều khi còn cứng nhắc và bó buộc các hoạt động của NH.
- Nguyên nhân chủ quan
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn hạn chế về mặt số lượng các chi nhánh và các chi nhánh của NH chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn. So với các Ngân hàng Thương mại quốc doanh khác, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là NH có số lượng chi nhánh trên toàn quốc thấp nhất. Không phải càng có nhiều chi nhánh thì hiệu quả huy động vốn càng cao. Tuy nhiên, với số lượng chi nhánh hiện nay của NH đã phần nào hạn chế khả năng huy động vốn của NH.
Nghiệp vụ Marketing của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được tiến hành chưa đạt hiệu quả cao. Các hình thức quảng cáo cũng như tìm hiểu tâm lý, nhu cầu của khách hàng chưa được chú trọng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân từ phía NH gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động huy động vốn của NH.
Các hình thức huy động vốn chưa thực sự đa dạng, hầu hết vẫn mang tính truyền thống, chưa mang tính cạnh tranh cao. Mặc dù Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có các đợt phát hành kỳ phiếu, trái phiếu nhưng lãi suất chưa thật linh hoạt. Kỳ phiếu và trái phiếu mới chỉ có lãi suất cố định, chưa có đảm bảo trượt giá nên hạn chế sức hấp dẫn đối với người gửi tiền. Sự phát triển của thị trường đòi hỏi NH phải cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ liên quan.
Ngoài ra, với vị thế là một NH có truyền thống và uy tín trong lĩnh vực thanh toán, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có số lượng tiền gửi thanh toán hay tiền gửi ngoại tệ của các Tổ chức kinh tế là rất lớn. Một mặt, nó có ưu thế chi phí nguồn vốn rẻ nhưng mặt khác nó cũng tạo nên sự bất ổn định trong nguồn vốn huy động của NH khi vốn huy động từ các nguồn khác của NH chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NH.
Nhìn chung, sau 5 năm thực hiện Đề án Tái cơ cấu Ngân hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có những thành công đáng kể trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Tuy vẫn còn một số hạn chế trong công tác huy động vốn nhưng với những chính sách được đưa ra kịp thời và chính xác, nguồn vốn của NH đã được cải thiện cả về quy mô lẫn chất lượng. Tính đến hết tháng 6 năm 2026, tổng nguồn vốn Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ước đạt 143.000 tỷ đồng. Hoạt động huy động vốn vượt mức chỉ tiêu đề ra trong mỗi năm. Các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng, chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao với sự ứng dụng công nghệ vào hoạt động của NH. Cơ cấu nguồn vốn có sự chuyển dịch theo xu hướng tích cực – tăng tỷ trọng vốn VND và tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn. Có thể nói, năm 2025 có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển lâu dài và bền vững của NH. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã khép lại 5 năm thực hiện Đề án Tái cơ cấu, đồng thời bước vào giai đoạn gấp rút chuẩn bị các điều kiện về vật chất và tinh thần cho quá trình cổ phần hoá. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng


Pingback: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng