Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế – thực trạng và giải pháp này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình đối mới và phát triển doanh nghiệp Nhà nước. Mục tiêu của chương trình cổ phần hóa là đa dạng hóa sở hữu đối với các doanh nghiệp nhằm huy động thêm vốn và kinh nghiệm của toàn xã hội vào phát triển sản xuất – kinh doanh, tạo động lực mới và phát huy quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong hơn 15 năm qua, việc tiến hành cổ phần hóa ở nước ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. cổ phần hóa đã thực sự trở thành giải pháp cơ bản và quan trọng nhất để doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu thích hợp, quy mô lớn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Tuy nhiên, tiến độ cổ phần hóa trong thời gian qua còn chậm, tỷ trọng vốn Nhà nước được cổ phần hóa còn ít nên đã hạn chế việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, đòi hỏi phải có những giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả của cổ phần hóa, đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động.
Việc phân tích thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, xem xét đánh giá công tác thực hiện không những cho phép chúng ta nắm được tình hình thực hiện cổ phần hóa trong thời gian qua mà còn có thể giúp các nhà quản lý tìm ra nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này, từ đó để rút ra giải pháp giải quyết các vấn đề tồn tại và dự báo cho giai đoạn tiếp theo. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các nhà quản lý đưa ra được những kế hoạch chính xác trong tương lai nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hóa ngày một hiệu quả hơn.
Trong quá trình tìm kiếm tài liệu tại Thư viện Bộ kế hoạch đầu tư, Thư viện quốc gia, cũng như Viện quản lý kinh tế trung ương, em được biết tại đây có nguồn số liệu về vấn đề cổ phần hóa. Hơn nữa Viện quản lý kinh tế trung ương hiện nay đang nghiên cứu một số các phương án cổ phần hóa trong thời gian tới. Nhờ sự giúp đỡ của các cán bộ tại Viện, em đã được tìm hiểu về quá trình cổ phần hóa ở nước ta trong thời gian qua. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế – thực trạng và giải pháp” cho khoá luận tốt nghiệp của mình nhằm mục đích củng cố thêm hiểu biết và phần nào đóng góp được một số đề suất để đẩy nhanh quá trình thực hiện tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận tốt nghiệp gồm 3 chương:
- Chương I: Một số vấn đề lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
- Chương II: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
- Chương III: Một số cơ chế giải pháp đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn cũng như các cán bộ tại Viện quản lý kinh tế trung ương. Tuy nhiên, do lần đầu đi tìm kiếm tài liệu nghiên cứu, cũng như các số liệu cập nhật, hơn nữa lại còn hạn chế về mặt kiến thức nên khoá luận không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo và ý kiến đóng góp bổ sung của giáo viên hướng dẫn cũng như các thầy cô trong khoa để em có hiểu biết sâu hơn nữa kiến thức thực tế và có thể hoàn thiện khoá luận tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cám ơn cô Nguyễn Thị Tường Anh – giáo viên hướng dẫn và các cô – Cán bộ làm việc tại Viện quản lý kinh tế trung ương đã giúp em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
I. Những vấn đề về doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần.
1. Một số nét về doanh nghiệp nhà nước.
DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước. doanh nghiệp nhà nước là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của nền kinh tế Nhà nước, quan trọng nhất nhưng không phải đồng nhất và đồng nghĩa với kinh tế Nhà nước.
Trong điều kiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, doanh nghiệp nhà nước (trước đây gọi là các xí nghiệp quốc doanh) chiếm vai trò độc tôn trong nền kinh tế. Đó là các doanh nghiệp hoạch toán kinh tế theo nguyên tắc thu đủ chi đủ. Về mặt sở hữu. đó là những doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư vốn 100% và trực tiếp quản lý.
Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc chuyển đổi cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước luôn là vấn đề trung tâm. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Theo luật doanh nghiệp nhà nước ban hành ngày 30-3-2015, khái niệm doanh nghiệp nhà nước đã được đưa ra như sau: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội do Nhà nước giao, doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản lý”.
Và theo luật doanh nghiệp 2025, khái niệm doanh nghiệp nhà nước đã được sửa đổi lại cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, và đặc biệt là trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước đã được sửa đổi như sau: “DNNN kà doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”.
Thực chất doanh nghiệp nhà nước là những cơ sở kinh doanh do Nhà nước sở hữu hoàn toàn hay một phần. Quyền sở hữu thuộc về Nhà nước là đặc điểm phân biệt doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân, còn hoạt động kinh doanh là đặc điểm để phân biệt chúng với các tổ chức và cơ quan khác của Chính phủ.
DNNN được phân ra các loại khác nhau căn cứ xuất phát từ góc độ hành chính, góc độ nguồn vốn, theo phương thức hoạt động (theo Quyết định số: 58/2022/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ)
- Đối với doanh nghiệp nhà nước:
Nhà nước nắm giữ 100% vốn đối với những doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong các ngành, lĩnh vực sau:
- DNNN hoạt động kinh
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực độc quyền Nhà nước: Sản xuất, cung ứng vật liệu nổ; Sản xuất, cung ứng hoá chất độc; Sản xuất, cung ứng chất phóng xạ; Hệ thống truyền tải điện quốc gia; Mạng trục thông tin quốc gia và quốc tế; Sản xuất thuốc lá điếu.
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh đáp ứng đủ các điều kiện sau: vốn Nhà nước từ 20 tỷ đồng trở lên; mức thu nộp ngân sách Nhà nước bình quân của 3 năm trước liền kề từ 3 tỷ đồng trở lên; đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao; góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và hoạt động trong những ngành, lĩnh vực sau: Sản xuất điện; Khai thác các khoáng sản quan trọng: Dầu thô và khí tự nhiên; Than; Bô xít; Quặng đồng; Quặng thiếc; Quặng có chất phóng xạ; Vàng; Đá quý… Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào nông thôn, đồng bào dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh có tính chất đặc thù: Các nhà xuất bản (trừ xuất bản sách giáo khoa, sách báo chính trị, sách báo cho thiếu nhi, sách tiếng dân tộc); Xổ số kiến thiết; Một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong những ngành quan trọng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích trong các lĩnh vực: In bạc và chứng chỉ có giá; Điều hành bay; Bảo đảm hàng hải; Kiểm soát và phân phối tần số vô tuyến điện; Sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh; Các doanh nghiệp được giao thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh đặc biệt và các doanh nghiệp đóng tại các địa bàn chiến lược quan trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ…
Những doanh nghiệp nhà nước tiến hành đa dạng hoá sở hữu dưới các hình thức: cổ phần hóa, giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động hoặc bán doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
- DNNN hoạt động kinh
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh có vốn Nhà nước từ 10 tỷ đồng trở lên; mức thu nộp ngân sách Nhà nước bình quân của 3 năm trước liền kề từ 1 tỷ đồng trở lên; hoạt động trong các ngành, lĩnh vực quy định tại điểm 1.2 mục I.
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh khác: Sản xuất đường, sữa, dầu ăn thực vật; Kiểm định hàng hoá; In các loại (trừ in nhãn, mác, bao bì); Dịch vụ hợp tác lao động; Kinh doanh mặt bằng hội chợ, triển lãm.
DNNN hoạt động công ích. Sản xuất giống gốc cây trồng, vật nuôi và tinh đông; Dịch vụ đánh bắt hải sản xa bờ; Kiểm định kỹ thuật phương tiện giao thông cơ giới; Quản lý, bảo trì hệ thống đường bộ, đường thuỷ; Quản lý, bảo trì bến tầu, bến xe quan trọng; Quản lý, khai thác các công trình thuỷ nông.
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong một số lĩnh vực quan trọng, khi tiến hành cổ phần hóa, Nhà nước không nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần của doanh nghiệp, nhưng sẽ nắm giữ cổ phần đặc biệt để quyết định một số vấn đề quan trọng, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Những doanh nghiệp nhà nước không khác trên đây, khi tiến hành cổ phần hóa, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ điều kiện cụ thể của doanh nghiệp quyết định Nhà nước giữ cổ phần ở mức thấp hoặc không giữ cổ phần.
Những doanh nghiệp nhà nước có vốn Nhà nước từ 5 tỷ đồng trở xuống, không cổ phần hóa được, thì thực hiện chuyển đổi sở hữu dưới hình thức giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động hoặc bán doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp nhà nước khác trên đây, hoạt động kinh doanh thua lỗ kéo dài hoặc hoạt động công ích không hoàn thành nhiệm vụ được giao, không thực hiện được chuyển đổi sở hữu.
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh:
- Kinh doanh không có hiệu quả, thua lỗ hai năm liên tiếp nhưng chưa đến mức phải giải thể, phá sản thì thực hiện biện pháp sáp nhập. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
- Kinh doanh thua lỗ ba năm liên tiếp và có số lỗ luỹ kế bằng 3/4 vốn Nhà nước tại doanh nghiệp trở lên, nhưng chưa mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, tuy đã áp dụng các biện pháp tổ chức lại nhưng không thể khắc phục được, thì thực hiện giải thể.
- Kinh doanh bị thua lỗ hai năm liên tiếp, không có khả năng trả được các khoản nợ đến hạn, thì thực hiện phá sản.
- Những doanh nghiệp hoạt động công ích hai năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ được giao, thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện sáp nhập, giải thể hoặc phá sản.
Tổng công ty Nhà nước (gồm Tổng công ty thành lập theo Quyết định số 90/TTg và Quyết định số 91/TTg ngày 07 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ).
Tổng công ty Nhà nước phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Thuộc các ngành, lĩnh vực : khai thác, chế biến dầu khí và kinh doanh bán buôn xăng dầu; sản xuất và cung ứng điện; khai thác, chế biến, cung ứng than, các khoáng sản quan trọng; luyện kim; cơ khí chế tạo; sản xuất xi măng; bưu chính, viễn thông, điện tử; hàng không; hàng hải; đường sắt; hoá chất và phân hoá học; sản xuất một số hàng tiêu dùng và công nghiệp thực phẩm quan trọng (dệt, giấy, muối, cà phê, cao su, chế biến gỗ, rượu, bia, thuốc lá); hoá dược; xây dựng; kinh doanh bán buôn lương thực; ngân hàng; bảo hiểm.
- Phải có vốn Nhà nước từ 500 tỷ đồng trở lên, đối với ngành đặc thù theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ vốn Nhà nước có thể thấp hơn, nhưng không dưới 100 tỷ đồng.
- Mức thu nộp ngân sách Nhà nước bình quân của 3 năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở lên, đối với ngành đặc thù theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ không dưới 10 tỷ đồng.
- Có trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến, chất lượng sản phẩm tốt, hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Những Tổng công ty Nhà nước không đáp ứng bốn điều kiện trên, sẽ được sắp xếp lại theo hướng: sáp nhập, hợp nhất hoặc giải thể.
1.1 Quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp nhà nước Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Trước hết, do nhu cầu khôi phục lại nền kinh tế đã bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, các doanh nghiệp nhà nước đã được lập ra nhằm thực hiện những dự án lớn tái thiết đất nước, đòi hỏi vốn lớn mà lực lượng tư nhân không đảm trách nổi.
Thứ hai, đối với Việt Nam, sau khi giành được độc lập đã thực hiện quốc hữu hoá toàn bộ các xí nghiệp của giai cấp tư bản. Thêm vào đó, thành phần kinh tế quốc doanh được coi là thành phần kinh tế chính, do đó việc quốc hữu hoá này nhằm để phát triển sở hữu công cộng.
Thứ ba, cùng với sự phát triển của học thuyết Keynes về vai trò kinh tế của Nhà nước, nước ta đã chủ trương thành lập các doanh nghiệp nhà nước để cung cấp hàng hoá công cộng, tạo việc làm, phân phối thu nhập, xóa bỏ độc quyền, thực hiện công bằng xã hội cũng như tạo thực lực kinh tế mạnh để can thiệp thị trường, điều tiết kinh tế vĩ mô. doanh nghiệp nhà nước được giao nhiệm vụ không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn các nhiệm vụ xã hội.
Thứ tư, với yêu cầu thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá, đi tắt đón đầu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, thì quá trình này đòi hỏi một lượng vốn rất lớn và rủi ro cao khiến các doanh nghiệp tư nhân không thể hoặc không muốn tham gia. Do đó, các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò là các đầu tầu dẫn dắt nền kinh tế.
Cuối cùng, nắm giữ các ngành công nghiệp đặc biệt để thực hiện các mục tiêu hay lợi ích quốc gia là yêu cầu cần thiết để điều khiển nền kinh tế.
1.2 Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế.
Kinh tế quốc doanh đóng vai trò một công cụ kinh tế, một lực lượng vật chất trong tay Nhà nước để Nhà nước trực tiếp khống chế và điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo các chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Mặt khác, kinh tế quốc doanh đóng vai trò hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển theo đúng định hướng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.
DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế và các mặt hoạt động chính trị xã hội. Với 5700 “DNNN hiện nắm 60% tài sản sản xuất của đất nước, tạo ra 30% GDP sử dụng 1,9 triệu lao động trên tổng số 38 triệu lao động cả nước”. (Số liệu của ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp).
Hơn nữa, kinh tế quốc doanh có nhiệm vụ điều chỉnh, san lấp các lỗ hổng do cơ chế thị trường, tạo ra các lĩnh vực cần thiết cho sự phát triển kinh tế – xã hội, như đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường dù khả năng sinh lời thấp, không hấp dẫn khu vực tư nhân. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Xét về tiềm năng thì doanh nghiệp nhà nước là rất to lớn và có vị trí rất quan trọng việc phát triển kinh tế của đất nước. Bất cứ một tác động nào vào lực lượng này cũng sẽ đem tới một tác động không nhỏ tới nền kinh tế chính trị- xã hội của đất nước.
1.3 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước
Trước đây, doanh nghiệp nhà nước đã có một thời kỳ hoạt động khá hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội, đóng góp to lớn vào công cuộc công nghiệp hoá đất nước. Tuy nhiên do cơ chế quản lý theo kiểu cấp phát, tập trung kéo dài đã làm triệt tiêu động lực sản xuất kinh doanh, cho nên các doanh nghiệp nhà nước sau đó cũng tỏ ra trì trệ, kém hiệu quả, không cạnh tranh được trên thị trường quốc tế, mặc dù, những doanh nghiệp này được ưu ái rất nhiều từ phía Nhà nước về các mặt: vốn đầu tư, ưu đãi độc quyền, đơn hàng, trợ cấp…
Nhiều doanh nghiệp được thành lập ra không những không thực hiện được mục tiêu của mình mà còn trở thành những “máy tiêu tiền” làm suy kiệt nguồn ngân sách vốn hạn hẹp của Nhà nước.
Nhưng cũng phải nói thêm rằng, doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả không hoàn toàn do các nhà quản lý kém năng lực kinh doanh (rất nhiều người trong số họ là những nhà quản lý giỏi, được đào tạo cẩn thận). Những lý do cơ bản của tình trạng đó như sau:
Một là, các doanh nghiệp nhà nước thường bị đòi hỏi đáp ứng quá nhiều mục tiêu, trong đó có một số mục tiêu mâu thuẫn nhau. Chẳng hạn, các doanh nghiệp nhà nước phải thu được lợi nhuận tối đa trong khi lại phải đảm bảo việc làm cho một số lượng nhân viên, thường vượt quá mức cần thiết. Hay việc phát triển hoạt động kinh doanh thúc đẩy nền kinh tế phát triển lại phải kèm theo những yêu cầu về công bằng xã hội tránh tình trạng phân cấp giàu nghèo, và ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên. Việc có quá nhiều mục tiêu không chỉ làm cho các nhà quản lý khó tập trung vào mục tiêu hiệu quả kinh doanh mà còn tạo cái cớ cho các nhà quản lý lợi dụng để biện hộ cho các hoạt động kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước.
Hai là, các doanh nghiệp nhà nước thường phải chịu áp lực quản lý hoặc điều tiết của Chính phủ như giá bán hay nguồn cung cấp nguyên vật liệu. Họ không được chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Thêm vào đó, các doanh nghiệp nhà nước còn chịu sự chi phối của không chỉ một cơ quan chủ quản, mỗi cơ quan lại có những yêu cầu riêng về quản lý. Để một quyết đinh kinh doanh được thông qua có khi phải cần sự đồng ý của nhiều cơ quan quản lý, cơ quan liên ngành, liên bộ. Ví dụ như, trong trước đây các doanh nghiệp nhà nước thường hoạt động theo khuynh hướng dây truyền, sẽ có một số công ty chuyên sản xuất nguyên vật liệu, và một số công ty chuyên sản xuất thành phẩm, việc Nhà nước hạn chế đầu vào của các doanh nghiệp khiến cho nguồn nguyên vật liệu hạn hẹp, cộng thêm chỉ có một số nhà cung cấp nên sản phẩm có tính cạnh tranh rất thấp. Thêm nữa việc điều tiết giá đầu ra của Chính phủ khiến cho các doanh nghiệp không những gặp khó khăn trong việc phát triển mà còn sản phẩm của họ sẽ không có đủ tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ba là, các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước không có một cơ chế khuyến khích làm việc. Việc không có một cơ chế rõ ràng nào về thưởng phạt có liên quan đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các phần thưởng nếu có chỉ mang tính hình thức. Ngay cả khi chúng ta muốn khuyến khích doanh nghiệp nhà nước bằng tiền cũng rất khó do mức lương của các công chức Nhà nước là cố định và một sự khen thưởng như vậy rất có thể gây ra sự phản ứng từ công chúng và các doanh nghiệp khác. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước cũng ít khi bị trừng phạt như sa thải hay giảm lương một khi doanh nghiệp thua lỗ.
Mặc dù làm ăn kém hiệu quả, sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước là không thể thiếu được ở Việt Nam, nhưng cũng không thể để kéo dài tình trạng hoạt động kém hiệu quả hiện nay của chúng. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
- Cụ thể trong thời gian qua tại các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam:
Về hiệu quả kinh doanh. Mặc dù đã được đầu tư và ưu đãi nhiều từ phía Nhà nước, sau nhiều lần sắp xếp tổ chức lại và đổi mới cơ chế, nhưng các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa chứng tỏ được tính hiệu quả của mình so với khu vực tư nhân. Theo đánh giá của ban đổi mới doanh nghiệp Trung ương (02/2022): số doanh nghiệp nhà nước có lãi chiếm khoảng 40%, số doanh nghiệp nhà nước bị lỗ chiếm khoảng 20% (nếu tính đủ khấu hao giá trị tài sản cố định thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ còn lớn hơn), số doanh nghiệp nhà nước còn lại nằm trong tình trạng không ổn định, khi lỗ, khi lãi và lãi cũng không lớn. Tốc độ tăng trưởng bình quân của doanh nghiệp nhà nước: sau một thời gian dài đạt liên tục 13%/năm, đến năm 2018, 2019 tốc độ tăng trưởng chỉ còn 8-9%. Hiệu quả sử dụng vốn giảm rõ rệt. Công nợ trong doanh nghiệp nhà nước tính đến năm 2019 là quá lớn: nợ phải thu chiếm tới trên 60% và nợ phải trả bằng 124% vốn Nhà nước trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ nợ quá hạn, khó đòi chiếm tỷ lệ lớn. Do tình hình tài chính như vậy, Nhà nước đã phải thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp nhà nước, miễn giảm thuế, xoá nợ, khoanh nợ, giãn nợ, cho vay vốn tín dụng ưu đãi. Nhưng đáng chú ý là việc hỗ trợ này không mang lại hiệu quả tương ứng, số nộp vào ngân sách Nhà nước ít hơn phần Nhà nước hỗ trợ cho doanh nghiệp.
Về khả năng cạnh tranh. Các doanh nghiệp nhà nước ta rất yếu kém về khả năng cạnh tranh. Có nhiều ngành, sản phẩm của doanh nghiệp nhà nước phải bảo hộ tuyệt đối (ưu đãi độc quyền) hoặc bảo hộ qua hàng rào thuế quan, trợ cấp (qua ưu đãi tín dụng và bù lỗ, miễn thuế…) nhưng các doanh nghiệp vẫn không chứng tỏ được khả năng cạnh tranh của mình. Theo một số số liệu nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2020 cho thấy, các mặt hàng như thép, xi măng, phân bón, đồ điện gia dụng, kính xây dựng, sứ xây dựng, xe đạp, động cơ nổ…đều được bảo hộ bằng cả công cụ thuế quan và phi thuế quan dẫn đến giá trên thị trường Việt Nam cao hơn quốc tế 10-50% tuỳ từng mặt hàng vào thời điểm đó. Khả năng cạnh tranh kém của các doanh nghiệp nhà nước thể hiện ngay trên thị trường nội địa: ở những ngành có khả năng sinh lợi, thị phần của các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm sút nhường chỗ cho khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân, ví dụ như ngành du lịch là một điển hình. Khả năng cạnh tranh kém của các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện Việt Nam đang thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế có nguy cơ dẫn đến tình hình Nhà nước sẽ phải chịu chi phí rất lớn trong tương lai để trợ cấp, duy trì các doanh nghiệp nhà nước.
Về cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Khu vực doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu còn bất hợp lý. Cơ cấu ngành, vùng, quy mô còn bất hợp lý đều chưa được chuyển dịch theo hướng sắp xếp lại. Trước hết, tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước (xét về số lượng) ở khu vực nông nghiệp (25%) và thương mại, dịch vụ (40%) là quá lớn trong khi một cơ cấu hợp lý đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước chủ yếu phải tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo. Cơ cấu cấp quản lý cũng là bất hợp lý ở chỗ tỷ trọng doanh nghiệp thuộc địa phương quản lớn. Về quy mô, tính đến năm 2019, doanh nghiệp có quy mô dưới 5 tỷ đồng chiếm 65%, trong đó gần 3/4 là doanh nghiệp địa phương, còn có tới 23% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng. Số doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng chiếm 21%. (theo số liệu kinh tế Việt Nam trong những năm đổi mới, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2021). Với một cơ cấu bất hợp lý như nêu trên doanh nghiệp nhà nước khó có thể thực hiện đầy đủ các chức năng và kỳ vọng về vai trò mà Đảng và Nhà nước mong đợi.
2. Một số nét về công ty cổ phần Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
2.1 Công ty cổ phần và đặc điểm của công ty cổ phần.
2.1.1.1 Công ty cổ phần
Quá trình cổ phần hóa về thực chất là một quá trình chuyển đổi sở hữu từ một chủ sở hữu thành nhiều chủ sở hữu (Cổ đông). cổ phần hóa nói chung có thể diễn ra tại các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh và tại các doanh nghiệp nhà nước. cổ phần hóa là quá trình đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp.
Trong điều kiện ở doanh nghiệp nhà nước thì cổ phần hóa là quá trình chuyển một phần tài sản chung của xã hội thành tài sản của cá nhân. Thực hiện cổ phần hóa tạo ra khả năng đa dạng hoá sở hữu trong Doanh nghiệp, thu hút các nguồn vốn trong nước và ngoài nước vào việc trang bị lại kỹ thuật, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, đồng thời tạo ra sự thay đổi cơ bản về phương thức quản lý Doanh nghiệp. Nhờ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Công ty cổ phần là công ty mà trong đó vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số cổ phần mà họ đã mua của công ty.
2.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần:
- Về mặt pháp lý:
Công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân mà vốn kinh doanh do nhiều người đóng góp dưới hình thức cổ phần. Các cổ đông là người cấp vốn cho Công ty – chỉ có trách nhiệm với cam kết tài chính của Công ty trong giới hạn với số tiền mà họ đóng góp dưới hình thức cổ phiếu, nghĩa là các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong số tiền mà họ đã bỏ ra. Do đó, chế độ chịu trách nhiệm của Công ty cổ phần là chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn, nhờ đặc điểm này nó khắc phục được những trở ngại quan trọng là mạo hiểm đầu tư kinh doanh. Trong lúc các hình thái doanh nghiệp khác không dám mạo hiểm thực hiện các dự án kinh doanh có quy mô lớn, bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu, công ty đã thu hút được nhiều vốn đầu tư mà không làm cho Chủ đầu tư e ngại về rủi ro đối với toàn bộ tài sản của mình. Hơn nữa nó cho phép khắc phục phần lớn trở ngại của hình thức doanh nghiệp chung vốn, nó tạo cho doanh nghiệp một hình thái pháp lý để huy động vốn dư thừa trong xã hội. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
- Về mặt tài chính:
Đặc trưng cơ bản có tính quyết định để phân biệt Công ty cổ phần với các hình thức tổ chức kinh tế khác là vốn của Công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Cổ phần là phần vốn cơ bản của Công ty, cổ phần chứng minh tư cách thành viên của các cổ đông, cổ phần được biểu hiện về hình thức bằng cổ phiếu. Đặc điểm tài chính của Công ty cổ phần còn thể hiện ở huy động vốn để tăng cường nguồn vốn kinh doanh của công ty, ngoài cách huy động vốn thuần tuý mà các doanh nghiệp khác vẫn làm, Công ty cổ phần còn tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu. Cách thu gom vốn tạo khả năng cho Công ty huy động nguồn vốn lớn và nhanh hơn nhiều so với việc tích tụ vốn từ lợi nhuận không chia.
Chính sách lợi tức cổ phần cũng là một đặc trưng trong hoạt động tài chính của Công ty. Việc lựa chọn chính sách lợi tức cổ phần có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của Công ty. Khả năng đầu tư và khả năng tăng trưởng phụ thuộc vào quy mô lợi nhuận để lại sau khi chia và đặc biệt là khả năng huy động vốn trên thị trường vốn, việc tăng vốn tự tích luỹ từ lợi nhuận cũng làm tăng giá trị của Công ty.
- Về mặt sở hữu:
Công ty cổ phần đã thực hiện việc tách quan hệ sở hữu ra khỏi quyền quản lý và sử dụng, tạo ra một hình thức xã hội sở hữu của đông đảo công chúng ở một bên, còn bên kia là tầng lớp những nhà quản trị kinh doanh sử dụng vốn cho các hoạt động kinh doanh. Những ngươi đóng vai trò chủ sở hữu của Công ty cổ phần thường không trực tiếp đứng ra kinh doanh mà uỷ thác chức năng đó cho bộ máy quản lý của Công ty. Bản thân công ty được pháp luật thừa nhận như một pháp nhân được lập tách rời khỏi cá nhân góp vốn và kiểm soát. Nhờ đó công ty tiến hành các hoạt động kinh doanh dưới danh nghĩa của chính mình và nhận trách nhiệm đến cùng với cam kết tài chính của công ty. Chủ sở hữu chỉ thực hiện quyền sở hữu của mình trên các phương diện sau:
- Thu lợi tức cổ phần trên cơ sở hoạt động của Công
- Tham gia Đại hội cổ đông để quyết định những vấn đề có tính chất chiến lược của công ty như: Thông qua điều lệ, phương án xây dựng và phát triển của công ty, quyết toán tài chính, bầu hoặc bãi miễn thành viên của Hội đồng quản trị và các kiểm soát viên. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
- Mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Với số lượng cổ đông đông đảo và số lượng vốn rất lớn, Công ty cổ phần đã hạn chế được sự lũng đoạn của một vài cá nhân. Đối với những công ty có nhiều cổ đông sẽ làm cho khả năng chi phối của một vài cá nhân là khó có thể xảy ra. Bởi vì, muốn chi phối được Công ty đòi hỏi phải có nguồn tài chính lớn (Chiếm từ 50% cổ phần trở lên). Điều này rất khó đối với mỗi cá nhân, mặt khác khi góp lượng vốn lớn thì mức độ rủi ro cũng tăng lên một cách tương ứng, nên thực tế cho thấy chỉ có Nhà nước mới có khả năng thực hiện sự chi phối này nếu thực sự thấy cần thiết.
- Về mặt tổ chức:
Công ty cổ phần phản ánh rõ đặc điểm về sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh. Do tính chất nhiều chủ sở hữu nên các cổ đông không thể thực hiện trực tiếp vai trò chủ sở hữu của mình mà phải thông qua tổ chức đại diện làm nhiệm vụ trực tiếp quản lý công ty. Như vậy việc quản lý điều hành công ty cổ phần được đặt dưới quyền bốn cấp:
- Đại hội cổ đông hoặc Đại hội đại biểu cổ đông
- Hội đồng quản trị
- Giám đốc điều hành
- Các kiểm soát viên hoạt động theo luật công
Sơ đồ quản lý điều hành của công ty cổ phần
- Về tính dân chủ:
Trong quản lý thì công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có tính dân chủ cao: số lượng cổ đông trong công ty thường rất đông nên cơ cấu tổ chức và chức năng của từng bộ phận phải đảm bảo được vai trò chủ sở hữu đồng thời đảm bảo cho công ty hoạt động có hiệu quả.
Tính dân chủ còn được thể hiện thông qua các Đại hội cổ đông, đó là: Đại hội đồng là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty gồm tất cả các cổ đông, cổ đông có thể tham gia trực tiếp Đại hội đồng công ty, Đại hội đồng là cơ quan tập thể chỉ tồn tại trong thòi gian họp, chỉ ra quyết định khi được các cổ đông thảo luận và biểu quyết tán thành.
2.1.3 Các loại cổ phần trong công ty cổ phần:
- Cổ phần phổ thông.
Cổ phần phổ thông: là loại cổ phần bắt buộc phải có. Người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông. Cổ đông phổ thông có thể tham dự để biểu quyết tất cả các vấn đề của Đại hội đồng cổ đông và mỗi cổ đông phổ thông là một phiếu biểu quyết và được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty.
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông mà sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục, ít nhất là 6 tháng, thì có quyền đề cử người vào hội đồng quản trị và ban kiểm soát ( nếu có ), có quyền yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông, xem và nhận bản sao trích lục danh sách cổ đông, có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông.
- Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập: Trong vòng 3 năm đầu kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán.
Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập chỉ có thể được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông. Cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần thì không được quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng đó. Sau thời hạn 3 năm thì các hạn chế trên đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập sẽ được bãi bỏ.
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Cổ phần ưu đãi biểu quyết: đây là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông, nó không hạn chế mức tối đa và số phiếu biểu quyết cụ thể của một cổ phần ưu đãi biểu quyết thì do điều lệ của công ty quy định.
Chỉ có những tổ chức do Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Cổ phần ưu đãi biểu quyết chỉ có hiệu lực trong 3 năm kể từ ngày đăng ký được biểu quyết. Sau thời hạn 3 năm thì cổ phần đó trở thành cổ phần phổ thông bình thường.
Trong trường hợp công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước thì số cổ phần ưu đãi biểu quyết tổ chức được quyền nắm giữ sẽ do Thủ tướng Chính phủ quyết định và chỉ được sử dụng với các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề:
- Tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ tài chính khác.
- Bưu chính viễn thông
- Vận tải hàng không
- Các ngành nghề khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
- Cổ phần ưu đãi cổ tức.
Cổ phần ưu đãi cổ tức: là loại cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc trả mức ổn định hàng năm. Người được nhận cổ phần ưu đãi cổ tức là những người không có quyền biểu quyết.
- Cổ phần ưu đãi hoàn lại.
Cổ phần ưu đãi hoàn lại: là loại cổ phần sẽ được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu. Người được hưởng cổ phần này cũng không có quyền biểu quyết.
2.2 Cơ cấu tổ chức quản lý và điều hành công ty cổ phần Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
- Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần bao gồm:
2.2.1 Đại hội đồng cổ đông.
Gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết ( cổ đông phổ thông, cổ đông sáng lập, cổ đông có cổ phần ưu đãi biểu quyết ). Đó là cơ quan cao nhất của công ty, liên quan đến sự tồn tại và phát triển của công ty cổ phần.
Đại hội đồng cổ đông họp ít nhất mỗi năm một lần do Hội đồng quản trị hoặc theo yêu cầu của Ban kiểm soát hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông liên tục ít nhất là 6 tháng triệu tập.
Cổ đông có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền bằng văn bản cho người khác đi dự phiên họp của Đại hội đồng cổ đông. Cổ đông cũng có thể gửi phiếu biểu quyết có niêm phong đến công ty trước giờ khai mạc Đại hội đồng cổ đông và cũng được coi là dự họp Đại hội đồng cổ đông.
Cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông sẽ được tiến hành khi số cổ đông dự họp đại diện cho ít nhất là 51% số cổ phần có quyền biểu quyết ( trừ trường hợp điều lệ của công ty cổ phần có quy định khác ). Và nếu không thành ( không đủ 51% ) thì trong vòng 30 ngày phải triệu tập lần thứ 2, phải có ít nhất là 30% số cổ phần có quyền biểu quyết và nếu lần thứ 2 cũng không thành thì phải triệu tập lần thứ 3 trong vòng 20 ngày và không cần tỷ lệ nữa.
Đại hội đồng cổ đông thông qua các quyết định thuộc thẩm quyền bằng cách biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản. Riêng đối với việc quyết định các loại cổ phần, số lượng cổ phần được quyền chào bán của từng loại, sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty, tổ chức lại, giải thể công ty hoặc bán hơn 50% tổng giá trị tài sản ghi trong sổ kế toán thì phải được số cổ đông đại diện cho ít nhất là 65% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận.
Điều 79 Luật doanh nghiệp quy định về việc yêu cầu huỷ bỏ các quyết định của Đại hội đồng cổ đông như sau : Trong vòng 90 ngày kể từ ngày quyết định được thông qua, những người có thể yêu cầu huỷ bỏ các quyết định của Đại hội đồng cổ đông bao gồm cổ đông, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc, ban kiểm soát. Những người này có quyền yêu cầu toà án cấp tỉnh xem xét huỷ bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông trong 2 trường hợp sau:
- Trình tự và thủ tục triệu tập Đại hội đồng cổ đông không đúng luật và điều lệ của công ty
- Nội dung quyết định vi phạm các quy định của pháp luật hoặc điều lệ của công ty
2.2.2 Hội đồng quản trị.
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty và có toàn quyền nhân danh công ty quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những thẩm quyền do Đại hội đồng cổ đông quy định. Thành viên của Hội đồng quản trị không quá 11 người và do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông.
Hội đồng quản trị họp mỗi quý 1 lần, làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số, lấy ý kiến bằng văn bản hoặc biểu quyết tại cuộc họp. Mỗi thành viên thuộc Hội đồng quản trị là 1 phiếu biểu quyết và tiến hành họp Hội đồng quản trị khi có trên 2/3 số thành viên của Hội đồng quản trị dự họp. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
2.2.3 Giám đốc hoặc tồng giám đốc.
Giám đốc là người điều hành hoạt động hàng ngày ở công ty do Hội đồng quản trị bầu ra trong số các thành viên của Hội đồng quản trị. Giám đốc là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao, là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nếu không có quy định khác theo điều lệ của công ty.
2.2.4 Ban kiểm soát
Do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, bao gồm từ 3 đến 5 thành viên, trong đó có ít nhất 1 thành viên có nghiệp vụ kế toán.
Ban kiểm soát có nhiệm vụ giúp Đại hội đồng cổ đông kiểm soát hoạt động điều hành của Hội đồng quản trị, của giám đốc hoặc tổng giám đốc và những người quản lý công ty.
2.3 Ưu điểm và những nhược điểm của công ty cổ phần.
2.3.1 Ưu điểm:
- Quy mô sản xuất có khả năng được mở rộng to lớn và nhanh chóng. Hơn nữa việc huy động vốn của CTCP nhanh chóng hơn.
- CTCP có thời gian tồn tại là vô hạn. Các cổ phiếu có thể được tự do mua bán trên thị trường chứng khoán và được quyền thừa kế.
- Trong CTCP, chức năng của vốn tách rời quyền sở hữu của nó cho phép sử dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp giỏi
2.3.2 Nhược điểm:
- Mức tham gia góp vốn vào công ty khác nhau, dễ dẫn đến việc lợi dụng và lạm dụng hoặc nảy sinh tranh chấp và phân hoá lợi ích giữa các nhóm cổ đông.
- Quyền kiểm soát công ty trên thực tế vẫn thuộc quyền của các cổ đông lớn cho dù họ không có hiểu biết gì về công việc kinh
II. Những vấn đề chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
1. Bản chất cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Sự ra đời của các doanh nghiệp nhà nước là một sản phẩm tất yếu của mọi quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị. Các doanh nghiệp nhà nước ra đời theo những giai đoạn lịch sử khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia song nó đều mang một ý nghĩa chung, đó là doanh nghiệp nhà nước được lập ra nhằm tăng nguồn thu ngân sách phục vụ cho lợi ích chung của xã hội. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước không phải là sản phẩm độc quyền của một quốc gia nào. Để huy động được một cách tốt nhất nguồn vốn xã hội, đồng thời giảm đến mức ít nhất nguồn vốn đầu tư của Nhà nước mà lại thu được nhiều thuế nhất và vẫn đảm bảo phát triển đất nước đòi hỏi Nhà nước cần phải thực hiện lộ trình tư nhân hoá, chuyển giao các doanh nghiệp nhà nước cho nhân dân, từng bước thoát khỏi vị trí là nhà đầu tư.
Như vậy, Nhà nước cần tiến hành xã hội hoá đầu tư, xây dựng môi trường đầu tư lành mạnh để mọi công dân đều có cơ hội đầu tư bình đẳng như nhau, tạo điều kiện để mọi công dân đều có cơ hội thành lập doanh nghiệp, tạo việc làm cho xã hội. Việc xã hội hoá đầu tư chính là cách khai thác một cách hiệu quả và hợp lý kho tàng chất xám của nhân dân.
Công cuộc xã hội hóa đầu tư đòi hỏi Nhà nước phải thoát khỏi vai trò là nhà kinh doanh thông qua con đường chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp nhà nước cho các cá nhân và tổ chức dân doanh. Quá trình này các nước gọi là tư nhân hoá còn nước ta gọi là cổ phần hóa. Như vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chính là một hình thức cụ thể của tiến trình xã hội hoá đầu tư. Nhờ sự xuất hiện của công ty cổ phần mà vốn được tập trung nhanh chóng. Thực hiện tốt cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ làm tăng sức mạnh của kinh tế Nhà nước, làm chỗ dựa cho Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Mặt khác, nó cũng là một giải pháp để tăng tính năng động trong kinh doanh và phát huy tính tích cực, tự chủ của doanh nghiệp.
Khái niệm cổ phần hóa thực ra còn tiểm ẩn vai trò đầu tư của Nhà nước, ngay cả khi đã chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần thì Nhà nước vẫn có thể nắm giữ các phần vốn nhất định, thậm chí là chi phối các công ty cổ phần. Như vậy, số vốn của Nhà nước vẫn chưa được giải phóng một cách triệt để và Nhà nước vẫn là một nhà đầu tư thực thụ. Với lập luận này thì ngay cả khi doanh nghiệp nhà nước kinh doanh rất có hiệu quả thì Nhà nước vẫn bán các doanh nghiệp của mình để thu tiền về cho ngân sách, đồng thời để làm những việc dân không làm được hoặc không muốn làm vì không có lời, nhưng vì lợi ích xã hội Nhà nước vẫn phải đầu tư. Ví dụ như: các công ty Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực công ích như thắp sáng đô thị, vệ sinh môi trường,… Như vậy, Nhà nước sẽ chỉ đầu tư vào các lĩnh vực công cộng phục vụ cộng đồng, Nhà nước không còn vai trò là nhà kinh doanh mà chỉ tập trung nhân tài vật lực vào việc nghiên cứu chính sách pháp luật, giữ gìn trật tự an ninh quốc gia. Với cách hiểu này, có thể coi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một hình thức cải cách doanh nghiệp nhà nước.
Ở nước ta, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước được hình thành do ý chí chủ quan của các cơ quan Nhà nước chứ không phải do yêu cầu khách quan của trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự hoạt động kém hiệu quả của hầu hết các doanh nghiệp ấy. Do vậy, việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hiện đang là một trong những vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta là quá trình chuyển sang một hình thức quản lý hiện đại hơn, bên cạnh vai trò chi phối của Nhà nước, có sự tham gia của các thành phần khác. Đảng và Nhà nước ta khẳng định cổ phần hóa không phải là tư nhân hoá vì cổ phần hóa hướng tới tháo gỡ khó khăn về vốn, về cơ chế cho doanh nghiệp nhà nước hiện có, không nhằm thu hẹp sở hữu Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân. Từ năm 2012 đến nay, quan điểm của Đảng ta về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ngày càng sáng tỏ, ngày càng phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Vai trò của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Thực hiện chủ trương đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã xác định cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một nội dung đặc biệt quan trọng trong tiến trình đổi mới và phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Mục tiêu của chương trình cổ phần hóa là đa dạng hoá sở hữu đối với các doanh nghiệp, nhằm huy động thêm vốn và kinh nghiệm của toàn xã hội vào phát triển sản xuất – kinh doanh, tạo động lực mới và phát huy quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Mục tiêu này cho thấy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có vai trò rất lớn đối với sự phát triển toàn diện của đất nước.
2.1 CPH góp phần xây dựng một Nhà nước mạnh
CPH là con đường để tạo nên hiệu quả cho đầu tư xã hội, vì thực hiện cổ phần hóa tạo ra những lợi ích to lớn cho Nhà nước, cụ thể là:
Nhà nước sẽ thu được tiền từ việc bán cổ phần, số tiền này có thể dùng để đầu tư vào xây dựng hạ tầng cơ sở phục vụ dân sinh.
Nhà nước không phải lo quản lý doanh nghiệp, giảm số tiền cấp vốn lưu động hàng năm, giảm số người quản lý và các bộ máy quản lý đại diện chủ sở hữu, có điều kiện tập trung xây dựng chính sách phát triển kinh tế. Ví dụ như: trước đây, để quản lý các doanh nghiệp trực thuộc Bộ, ngành của Nhà nước, thì Nhà nước không những phải chỉ định người quản lý cho công ty mà còn phải hình thành các ban điều hành từ trên cơ quan của Bộ để điều hành quản lý công ty. Giờ đây, bộ máy quản lý của công ty thay đổi và về phía Nhà nước hầu như chỉ nắm vào phần quản lý vốn góp và điều hành những chính sách phát triển đi theo định hướng phát triển chung của nền kinh tế.
- Tạo điều kiện xã hội hoá đầu tư, phát triển dân trí.
Tạo ra nguồn thu ngân sách nhiều hơn. Điều này có thể hiểu rằng, sau khi các công ty được cổ phần, vì không dựa vào Nhà nước, khiến cho các công ty cổ phần có điều kiện phát triển tạo ra nhiều lợi nhuận trên phần vốn của Nhà nước góp phần tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhiều hơn. Ví dụ như công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Khánh Hội (tiền thân là doanh nghiệp nhà nước được thành lập năm 1982 với tên gọi ban đầu là công ty Cung ứng Hàng Xuất khẩu Quận 4.) có mức tăng trưởng lợi nhuận trung bình hàng năm (từ 2021 đến năm 2025) là 37,97%; Hay công ty cổ xây lắp bưu điện Hà Nội cũng xuất phát từ doanh nghiệp nhà nước sau khi được cổ phần hóa và niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh như công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Khánh Hội thì tăng trưởng lợi nhuận hàng năm của công ty (từ năm 2021 đến năm 2025) là 19,42 %; Với mức tăng trưởng lợi nhuận như vậy thì rõ ràng nguồn thu của ngân sách Nhà nước hàng năm được thấy rõ ràng.
Doanh nghiệp không giảm đi, ngược lại sẽ tăng thêm, Nhà nước sẽ thu được nhiều thuế hơn. Việc các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả có thể dẫn tới việc thua lô và phải giải thể hoặc sáp nhập. Nhưng khi cổ phần hóa, không những các doanh nghiệp nhà nước này làm ăn hiệu quả hơn mà Nhà nước lại có điều kiện để góp vốn hình thành nên các công ty cổ phần khác tạo điều kiện tăng thu về thuế. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
- Giảm thiểu tối đa điều kiện tham nhũng của bộ máy công chức, tránh được lãng phí trong đầu tư.
- Tạo được sự minh bạch về sở hữu, cân bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy xã hội phát triển.
Như vậy, cổ phần hóa triệt để sẽ tạo nên những nguồn lực mới cho xã hội, thực hiện được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, phát triển kinh tế quốc dân.
2.2 CPH góp phần tăng cường hiệu quả đầu tư của toàn xã hội.
DNNN kinh doanh không hiệu quả sẽ làm lãng phí, thất thoát nguồn lực quốc gia. Khi Nhà nước cấm dân kinh doanh thì doanh nghiệp nhà nước không có đối thủ cạnh tranh, hình thành cơ chế sản xuất quan liêu bao cấp. Thực tế ở nước ta cho thấy phần lớn các doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả. Nguyên nhân chính của vấn đề này là do sự không minh bạch về sở hữu. Chính sự tù mù về sở hữu đã làm triệt tiêu động lực của mọi người, làm tăng các chi phí để nuôi bộ máy đại diện sở hữu cồng kềnh và hệ thống các cá nhân có liên quan tới họ. Tiến hành cổ phần hóa sẽ giải quyết được vấn đề về sở hữu, từ đó làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, góp phần tăng cường hiệu quả đầu tư của toàn xã hội.
2.3 CPH tác động tới sự tăng trưởng của đất nước
Thực tế ở nước ta cho thấy tăng trưởng của khu vực kinh tế Nhà nước là một yếu tố quyết định trực tiếp đến sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước lại hoạt động không hiệu quả. Vì vậy, muốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững thì cần phải cơ cấu lại thành phần kinh tế này thông qua thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Vai trò của việc cổ phần hóa đối với sự tăng trưởng kinh tế được biểu hiện cụ thể như sau:
CPH làm giảm số lượng các Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, do đó sẽ giảm bớt được một khoản bổ sung vốn từ ngân sách cho những doanh nghiệp này để dành đầu tư vào những nhu cầu phát triển khác.
Thông qua cổ phần hóa, Nhà nước thu được một phần giá trị tài sản Nhà nước trước đây giao cho doanh nghiệp quản lý nhưng sử dụng kém hiệu quả. Khoản tiền này sẽ được đầu tư trở lại để phát triển doanh nghiệp, làm tăng thêm phần giá trị tài sản còn lại của Nhà nước tại các doanh nghiệp đó, bảo đảm quyền lợi cho các cổ đông khác, cho người lao động cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh từ quá trình cổ phần hóa. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Việc giảm đầu mối doanh nghiệp nhà nước sẽ làm giảm nhu cầu hỗ trợ và ưu đãi tín dụng của Nhà nước. Điều này sẽ làm giảm bớt áp lực vay vốn lên các Ngân hàng thương mại quốc doanh và các Quỹ tín dụng Nhà nước. Thực trạng tài chính của các ngân hàng này được lành mạnh hoá và cơ hội để các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tiếp cận các nguồn vốn vay sẽ mang tính bình đẳng và thị trường hơn.
Sự tồn tại của các công ty cổ phần với cơ chế lưu chuyển cổ phần thông qua thị trường chứng khoán tạo ra quá trình luân chuyển vốn từ nơi không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao hơn. Toàn bộ các nguồn lực xã hội nằm trong các công ty cổ phần sẽ được sử dụng có hiệu quả hơn.
Nếu biết tận dụng những lợi thế sẵn có của mình và những hỗ trợ ban đầu về cơ chế, chính sách của Nhà nước thì các công ty cổ phần có khả năng nhanh chóng vươn lên khẳng định vị thế và chiếm lĩnh thị trường. Điều này sẽ tạo áp lực cạnh tranh mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, từ đó tạo thành một vòng xoáy thúc đẩy sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.
2.4 CPH tác động đến đời sống kinh tế của người lao động
CPH làm cho sở hữu doanh nghiệp đa dạng hơn, vì vậy tạo cho những người lao động cơ hội thực sự làm chủ doanh nghiệp. Bằng việc sở hữu các cổ phần trong doanh nghiệp, người lao động có thể tham gia vào việc quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tính chủ động, tích cực của người lao động không chỉ đối với các vấn đề của doanh nghiệp, mà cả đối với các vấn đề kinh tế – chính trị – xã hội đất nước.
2.5 CPH đẩy lùi vấn đề tham nhũng
Ở nước ta hiện nay, tham nhũng đang là một vấn đề lớn của xã hội. Tình trạng này đang là một trở lực lớn cho sự phát triển bền vững của đất nước. Một trong những nguyên nhân quan trọng của nạn tham nhũng là do cơ chế quản lý của Nhà nước còn nhiều bất hợp lý, nhiều thủ tục hành chính phiền hà còn chưa được dỡ bỏ, quyền tự do dân chủ của công dân có lúc, có nơi còn chưa được tôn trọng thực sự. Hơn nữa, sự thiếu minh bạch trong hoạt động quản lý tạo điều kiện thuận lợi cho những người thực thi quyền Nhà nước lợi dụng.
CPH doanh nghiệp nhà nước ở nước ta có tác dụng rất lớn trong việc đẩy lùi tình trạng lãng phí, tham nhũng đang khá phổ biến trong doanh nghiệp nhà nước và những cơ quan quản lý chúng. Sự bao cấp của Nhà nước đối với nhiều doanh nghiệp, cơ chế xin – cho là mảnh đất tốt lành cho những hành động lãng phí, tham nhũng. cổ phần hóa tạo ra sự giám sát chặt chẽ của chủ sở hữu (cổ đông) đối với giám đốc và cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước. Điều này có nghĩa là giám đốc, các nhân viên quản lý không dễ dàng thực hiện hành vi vụ lợi như khi doanh nghiệp nhà nước đang hoàn toàn thuộc sở hữu của Nhà nước.
3 Tính tất yếu của cổ phần hóa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Thứ nhất, Vấn đề thu hẹp sở hữu Nhà nước và hạn chế sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp, coi trọng hơn vai trò điều tiết của cơ chế thị trường.
Thứ hai, Xuất phát từ mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp trong điều kiên kinh tế thị trường phải thu được nhiều lợi nhuận. Những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, muốn chiếm ưu thế để tồn tại và phát triển, cạnh tranh trong cơ chế thị trường cũng như trong điều kiện mở cửa nền kinh tế phải cùng nhau góp vốn tạo ra doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Vì với quy mô lớn hơn, doanh nghiệp mới có ưu thế để tiến hành đổi mới quy trình công nghệ, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất và quản lý nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, bảo đảm kinh doanh có lãi trong cơ chế thị trường và điều kiện cạnh tranh mở cửa. Đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, muốn hạn chế được rủi ro trong kinh doanh cũng phải mua cổ phần của các doanh nghiệp hoặc nhận vốn góp cổ phần của các doanh nghiệp khác. Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp được san sẻ bớt sự rủi ro trong kinh doanh, nhằm đảm bảo có được lợi nhuận tối thiểu ngang bằng lợi nhuận bình quân trong ngành. Do đó hạn chế được những bất lợi trong quá trình cạnh tranh.
Thứ ba, Sự phát triển tràn lan của các doanh nghiệp nhà nước một cách quá mức nhằm tạo ra một thực lực kinh tế mạnh mẽ làm công cụ điều tiết vĩ mô. Các doanh nghiệp nhà nước được chú ý điều tiết phát triển không chỉ ở các lĩnh vực, các ngành then chốt của nền kinh tế mà còn ở các ngành khác mà lẽ ra Nhà nước không cần nắm giữ. Sự phát triển tràn lan đó đã làm cho tình hình thị trường xấu đi và ảnh hưởng tới năng suất chung của sản xuất xã hội. Yêu cầu của việc lợi dụng các yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu, của việc tạo lập môi trường cạnh tranh hiệu quả đòi hỏi phải sắp xếp lại cơ cấu hệ thống doanh nghiệp nhà nước.
Thứ tư, Trong điều kiện nền kinh tế xã hội phát triển, chính nền kinh tế thị trường đã làm bộc lộ sự hoạt động kém hiệu quả của nhiều doanh nghiệp nhà nước, làm cho các doanh nghiệp này ngày càng trở thành gánh nặng cho nền kinh tế quốc dân.
Thứ năm, Sự thay đổi quan điểm về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Cùng với tư tưởng tự do kinh tế người ta buộc phải xem xét lại vai trò của Nhà nước theo phương châm thị trường nhiều hơn, tự do kinh doanh nhiều hơn. Thêm vào đó, cùng với tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Nhà nước cần quản lý doanh nghiệp bằng một cơ chế phù hợp hơn. Từ đó đòi hỏi phải kiện toàn, sắp xếp lại cơ cấu khu vực nền kinh tế Nhà nước theo xu hướng giảm dần cơ chế “trói buộc” của Nhà nước. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Xét từ hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhà nước nói chung hoạt động kém hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chính xuất phát từ sự kém hiệu quả đó Nhà nước thường phải tài trợ, bao cấp thông qua cấp vốn, trợ giá, giảm nộp ngân sách…để duy trì hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, duy trì sở hữu Nhà nước.
Cuối cùng, Xuất phát từ những ưu điểm của công ty cổ phần so với doanh nghiệp nhà nước, những mặt ưu điểm này quyết định đến tính hiệu quả trong quản lý và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Với những lý do trên, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta đã được thực hiện như một tất yếu khách quan trong hơn 15 năm qua.
- Nội dung cơ bản chủ trương cổ phần hóa của Nhà nước ta.
Nghị quyết Hội nghị TW Đảng lần thứ 3 (khoá IX) ra đời rất kịp thời với nội dung đúng đắn, thể hiện sự đúng đắn sáng suốt, kiên định đường lối đổi mới theo định hướng XHCN, có tính lý luận sâu sắc phù hợp quan điểm của CN Marx – Lenin – phù hợp quy luật kinh tế và thực tiễn của cách mạng Việt Nam và mục tiêu: “Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.
Nghị quyết TW3 ra đời một lần nước khẳng định vị trí của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế, góp phần ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, tăng thế và lực của đất nước làm cho doanh nghiệp nhà nước chi phối được các ngành, các lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, góp phần đưa đất nước ta hội nhập nền kinh tế khu vực và quốc tế, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nghị quyết đồng thời cũng chỉ ra rõ những hạn chế nhiều mặt của doanh nghiệp nhà nước. Đặt ra yêu cầu phải sắp xếp, chuyển đổi cơ cấu sở hữu, nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp, với một quyết tâm rất cao và bước đi thích hợp.
Trong đó phải áp dụng nhiều giải pháp: Vừa cơ cấu lại, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, và cải cách quản lý và xây dựng lực lượng, tăng thêm năng lực sản xuất của doanh nghiệp về lao động, vốn, thiết bị, khoa học và công nghệ, trình độ và năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo. Khơi dậy mọi tiềm năng (lao động, vốn, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên…). Để phát triển bền vững làm cho kinh tế Nhà nước có được vị trí và sức mạnh quyết định, có vai trò định hướng.
Muốn vậy, để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước tập trung vào các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, then chốt, địa bàn quan trọng, sản phẩm thiết yếu… Nhà nước cần nắm giữ tư tưởng chỉ đạo phải kiên trì nguyên tắc phát triển kinh tế phải đi đôi với giữ vững, ổn định chính trị – xã hội, bảo đảm Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo đất nước. Phấn đấu và mục tiêu chính và định hướng XHCN, dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Nghị quyết chỉ rõ phải thực hiện bằng được việc xã hội hoá, lao động sản xuất. Đa dạng hoá loại hình kinh doanh, tạo ra nhiều sản phẩm xã hội. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Mọi tổ chức cá nhân được phép kinh doanh những gì pháp luật không cấm. Huy động mọi thành phần kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất xã hội. Trong một mặt bằng, khuôn khổ pháp lý chung. Nhưng vẫn phải đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng vóc tương xứng với vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước.
Đảng và Nhà nước ta coi trọng yếu tố con người. Mang tầm vóc trí tuệ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, với hàng nghìn năm lịch sử, do vậy đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nhằm đem lại hiệu quả kinh tế chung cho doanh nghiệp, cho đất nước và cho người lao động. Thành quả của những năm đổi mới, do đảng ta lãnh đạo đã chứng minh. Ngoài mục đích của dân tộc, Đảng ta không còn mục đích nào khác.
Đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước là để phát huy quyền làm chủ của doanh nghiệp lao động. Nâng cao quyền và trách nhiệm, trình tự chủ của doanh nghiệp, đồng thời phân định rõ quyền đại diện chủ sở hữu tài sản Nhà nước trong doanh nghiệp. Đồng thời làm rõ hai chức năng quản lý Nhà nước và quản lý doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Cơ chế tự chịu trách nhiệm về sản xuất kinh doanh cũng được làm rõ doanh nghiệp được tự huy động vốn và có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực trụ vụ sản xuất kinh doanh trên nguyên tắc có hoàn trả. Bỏ cơ chế xin và cho, chuyển theo hướng đầu tư tài chính vào doanh nghiệp, không lẫn lộn chức năng quản lý chính với chức năng kinh tế.
Nghị quyết TW 3 là cơ sở, chỉ được động lực cho doanh nghiệp nhà nước phát triển. Trong đó cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là giải pháp có tình lý luận và tiến triển để doanh nghiệp nhà nước thực sự là chủ đạo trong nền kinh tế, tạo điều kiện để người lao động tham gia quản lý doanh nghiệp thu hút được nguồn vốn của các nhà đầu tư. Nghị quyết 64, Nghị quyết 41/CP cùng các chính sách kinh tế, tài chính khác đã cụ thể hoá quan điểm đó của Đảng, sắp xếp, đổi mới, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước là ý Đảng và lòng dân chúng ta không có quyền do dự, phải xốc tới và giành lấy thắng lợi.
III. Kinh nghiệm quốc tế về cổ phần hóa. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
1. Kinh nghiệm cổ phần hóa ở các nước phát triển
Quá trình cổ phần hóa diễn ra mạnh mẽ, sôi động ngay từ đầu thập kỷ 80 và bắt đầu từ Anh, sau đó lan rộng ra hầu hết các nước công nghiệp phát triển và đang phát triển như Pháp, Mỹ…
Tại những nước này, khu vực kinh tế quốc doanh được cổ phần hóa và tư nhân hoá theo 4 hình thức chính sau:
- Cổ phần của doanh nghiệp nhà nước được bán thông qua thị trường vốn cho mọi người có nguyện vọng mua.
- Khi gặp khó khăn về tài chính, doanh nghiệp cần bán đi một phần tài sản cho tư nhân và công ty tư nhân.
- Bán cổ phần cho công nhân viên trong doanh nghiệp nhà nước.
- Bán xí nghiệp “ con” thuộc xí nghiệp “mẹ” hoặc bán từng bộ phận thuộc một ngành sản xuất chính. Phương pháp này được sử dụng phổ biến ở Italia, Tây ban Nha, Pháp, thường là bán cho người nước ngoài. doanh nghiệp nhà nước dùng số tiền đó mua cổ phần của công ty tư nhân chứng khoán.
2. CPH và tư nhân hoá các doanh nghiệp ở Đông Âu
Ở các nước Đông Âu khi quan hệ sản xuất XHCN bị phá vỡ, cổ phần hóa và tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh và ngày càng sôi động đặc biệt là các nước Liên Xô, Tiệp Khắc, Hungari, Đức, Ba Lan…
Các nước thực hiện bán doanh nghiệp cho tất cả các đối tượng không phân biệt người trong nước và người nước ngoài hoặc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn.
Một số chế độ ưu đãi dưới các hình thức:
- Ưu tiên bán doanh nghiệp cho người lao động hoặc người quản lý.
- Giảm giá bán cổ phần cho người lao động.
- Bán chịu có thời hạn.
- Được vay không tính lãi và trả góp trong một số năm để mua cổ phần.
- Được miễn thuế thu nhập nếu đầu tư qua thị trường chứng khoán.
- Phần sở hữu còn lại của Nhà nước được bán theo cơ chế đấu giá thanh toán tiền mặt hoặc đấu thầu đầu tư.
3. Quá trình cổ phần hóa ở Trung Quốc Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới và mở cửa (năm 1978), Trung Quốc đồng thời đã thực hiện những biện pháp cải cách hướng vào hoạt động của doanh nghiệp nhà nước như: Mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất – kinh doanh, cổ phần hóa, xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại…
CPH doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc là một bộ phận của chương trình đa dạng hoá sở hữu ở Trung Quốc với những hỗ trợ sau:
- Giao quyền sử dụng đất có hạn định. Các doanh nghiệp phải nộp một khoản phí nhất định khi tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
- Giúp các doanh nghiệp lành mạnh hoá tình hình tài chính thông qua việc cấp một phần vốn dự trữ cho các Ngân hàng để xoá một phần nợ không có khả năng thanh toán cho các doanh nghiệp gặp khó khăn; chuyển một phần nợ thành vốn góp cổ phần ở những doanh nghiệp gặp khó khăn do thiếu vốn.
- Phát hành cổ phiếu thông qua các công ty chứng khoán, các công ty tài chính ( đối với số cổ phiếu bán ra ngoài).
Cụ thể có đặc điểm như sau:
3.1 Xác định quan điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Trung Quốc dựa trên những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác để tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; coi cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước là một phần hữu cơ trong tổng thể đổi mới doanh nghiệp nhà nước, luôn khẳng định đây là một con đường tìm kiếm một cơ chế kinh doanh có hiệu quả, chứ không phải là tìm kiếm các hình thức sở hữu khác nhau; đổi mới doanh nghiệp nhà nước là khâu then chốt của cải cách kinh tế, coi tiền đề cải cách doanh nghiệp là xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường.
3.2 Xác định mục tiêu cổ phần hóa
- Mở rộng hình thức sở hữu, tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế thị trường;
- Điều chỉnh lại vai trò của khu vực kinh tế Nhà nước, nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước;
- Định hướng năng lực hành chính của Nhà nước, giảm bớt tham nhũng và thói quen dựa dẫm vào Nhà nước, thay đổi mối quan hệ giữa những người quản lý hành chính với những người quản lý kinh tế;
- Thương mại hoá hành vi quản lý, thay đổi lực lượng lao động, nâng cao thu nhập;
- Tăng nguồn thu để trả nợ cho các mục đích khác, cân bằng ngân sách.
3.3 Xây dựng môi trường pháp lý cho quá trình cổ phần hóa. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Trung Quốc rất chú trọng xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý cho quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được thuận lợi, đồng thời với xây dựng và hoàn thiện toàn bộ môi trường cho sản xuất – kinh doanh nói chung. Trung Quốc đã thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước một cách sâu rộng bằng cách xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đến sự vận hành của DN. Lần lựợt “Luật phá sản doanh nghiêp”, “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”, “Điều lệ chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”, “Các nguyên tắc tài chính doanh nghiệp”, “Điều lệ tạm thời về quản lý phát hành và giao dịch cổ phiếu, “Luật Lao động”, “Luật Công ty”, “Điều lệ quản lý đăng ký công ty”, “Luật Ngân hàng nhân dân Trung Quốc”, “Luật ngân hàng thương nghiệp”, “Luật xí nghiệp hương trấn”…, đã được ban hành và đi vào cuộc sống của doanh nghiệp. Trong đó, hai văn bản có tầm quan trọng đặc biệt là “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” và “Luật Công ty. “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” được thông qua ngày 13/4/2018, đã quy định cụ thể về các quyền lợi của doanh nghiệp nhà nước như: Cho phép DN tự sản xuất một số sản phẩm theo yêu cầu của thị trường; có quyền điều chỉnh vật tư được cung ứng theo kế hoạch; có quyền từ chối các nhiệm vụ sản xuất ngoài kế hoạch của các ban, ngành; có quyền tự tiêu thụ sản phẩm làm ra; có quyền lựa chọn đơn vị mua hàng… Có thể thấy, “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” đã đem lại cho các doanh nghiệp nhiều quyền tự chủ hơn trong sản xuất-kinh doanh, góp phần tháo gỡ các ràng buộc về mặt hành chính, trả doanh nghiệp về đúng với vòng quay của thị trường. Để cụ thể hoá “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”, ngày 23/7/2012, Trung Quốc đã ban hành “Điều lệ chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các DN công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” với nội dung không những tiếp tục nâng cao quyền tự chủ cho DN, mà còn phản ánh xu thế mới trong cải cách, đó là chuyển đổi cơ chế kinh doanh.
3.4 Lựa chọn hình thức và phương pháp cổ phần hóa thích hợp để đạt được mục tiêu đã xác định.
CPH ở Trung Quốc được tiến hành dưới 3 hình thức:
- DNNN cùng các doanh nghiệp trong nền kinh tế tham gia nắm giữ cổ phiếu, hình thành công ty cổ phần. Hình thức này có lợi cho việc áp dụng hợp tác kinh tế theo chiều ngang, có lợi cho việc di chuyển hợp lý và kết hợp tối ưu các yếu tố sản xuất nên phát triển rất nhanh.
- Bán cổ phiếu cho người lao động trong nội bộ doanh nghiệp. Hình thức này phát huy tốt vai trò làm chủ của người lao động, nhưng cũng nảy sinh mâu thuẫn giữa thu nhập trước mắt của họ với sự phát triển lâu dài của doạnh nghiệp.
- CPH doanh nghiệp nhà nước bằng cách phát hành công khai cổ phiếu ra xã hội. Trong đó, có doanh nghiệp trực tiếp phát hành cổ phiếu trên thị trường để tập trung vốn; có doanh nghiệp phát hành qua hệ thống ngân hàng.
Trung Quốc tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo thứ tự doanh nghiệp có quy mô nhỏ trước, quy mô vừa và lớn sau, gắn với hình thành tập đoàn công ty cổ phần. Theo quan điểm của Trung Quốc việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhỏ rất dễ dàng vì quy mô, hoạt động cũng như dễ thống nhất trong nhận thức. Vả lại, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một công việc mới mẻ, cổ phần hóa ngay các doanh nghiệp lớn e không đủ kinh nghiệm cần thiết. Tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhỏ làm bài học kinh nghiệm để cổ phần hóa các doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn. Hiện nay Trung Quốc đang tiến hành cải cách doanh nghiệp nhà nước theo phương châm “nắm lớn, buông nhỏ”.
Trong chương trình sắp xếp lại các doanh nghiệp loại nhỏ Trung Quốc rất coi trọng hình thức chuyển một phần sở hữu Nhà nước thành kinh tế hợp tác sở hữu của tập thể công nhân viên chức (vẫn thuộc về kinh tế công hữu).
Trung Quốc coi trọng hình thức công ty cổ phần mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối trong các doanh nghiệp lớn, ngành kinh tế quan trọng, trụ cột. Trung Quốc coi đây là hình thức hợp lý để chắp nối mối quan hệ giữa Chính phủ và doanh nghiệp, giữa kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân, là hình thức tổ chức có thể đưa các doanh nghiệp nhà nước tham gia cạnh tranh quốc tế có hiệu quả, bảo vệ lợi ích quốc gia trên thị trường quốc tế. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Trung quốc quy định rõ loại doanh nghiệp nhà nước cần cổ phần hóa. Riêng các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong ngành quốc phòng, dầu mỏ, năng lượng nguyên tử, hàng không, cấp nước, điện lực, bưu chính, đường sắt, tiền tệ, in giấy bạc, Nhà nước cần nắm giữ, không thực hiện cổ phần hóa. Các loại doanh nghiệp khác đều được cổ phần hóa, tuỳ tính chất ngành nghề mà quyết định tỷ lệ cổ phần của Nhà nước. Trong công nghiệp, Nhà nước có thể nắm giữ 25-30% cổ phiếu.
3.5 Thành lập cơ quan cổ phần hóa và sở hữu cổ phần Nhà nước.
Cơ quan này thay mặt Chính phủ trực tiếp tổ chức, chỉ đạo việc tiến hành cổ phần hóa, thẩm tra giá trị doanh nghiệp để đưa ra và tổ chức đấu thầu; giải quyết hậu quả sau khi cổ phần hóa; quản lý phần vốn Nhà nước khi doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần. Bên cạnh đó còn thành lập một mạng lưới các tổ chức tài chính để phục vụ cổ phần hóa.
Trung Quốc còn rất coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục thông qua nhiều hình thức để đi đến thống nhất nhận thức.
3.6 Xây dựng quy trình cổ phần hóa và tuân thủ quy trình này.
Quy trình cổ phần hóa bao gồm:
- Xác định danh sách các doanh nghiệp nhà nước có đủ điều kiện cổ phần hóa (kinh doanh có lãi, không nằm trong diện Nhà nước nắm 100% vốn);
- Xác định thực tế tài sản doanh nghiệp;
- Tuyên truyền quảng cáo, hoàn thiện chính sách để mọi người nắm được thực chất hoạt động của doanh nghiệp và có quyết định mua cổ phiếu;
- Lựa chọn phương thức bán cổ phiếu (bán rộng rãi cho công chúng hoặc cho đối tượng đã xác định, bán theo giá ưu đãi cho người lao động của doanh nghiệp,…).
- Giải quyết các vân đề xã hội sau khi cổ phần hóa.
3.7 Chính phủ chấp nhận một khoản chi phí cho trương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cần giải quyết tốt các vấn đề xã hội khi chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, như vấn đề việc làm, tiền lương của người lao động, các phúc lợi xã hội, vấn đề lợi tức và thu nhập, v.v..
3.8 Tốc độ của tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế thị trường.
Với nền kinh tế thị trường đã phát triển, thị trường chứng khoán đã đi vào nề nếp, khu vực kinh tế tư nhân đã mạnh thì quá trình cổ phần hóa diễn ra đơn giản và thuận lợi hơn.
Nói tóm lại, kinh nghiệm của Trung Quốc cho chúng ta cả những bài học thành công và không thành công, cả những vấn đề vướng mắc chưa giải quyết được.
4. Bài học rút ra cho Việt Nam Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về kinh tế, văn hoá, lịch sử… Đặc biệt, trong thời hiện đại, Việt Nam cũng đã đi con đường phát triển kinh tế-xã hội mà Trung Quốc đã đi qua. Từ thực tiễn thành công trong cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc, Việt Nam có thể học hỏi một số kinh nghiệm quý báu như:
- Kinh nghiệm về khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, nhằm giảm nhẹ gánh nặng cho kinh tế Nhà nước.
- Kinh nghiệm trong vấn đề quản lý tài sản nhà nước.
- Đa dạng hóa hình thức thực hiện của chế độ công hữu, đẩy mạnh cải cách quyền tài sản và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
- Kết hợp chặt chẽ giữa cải cách với quản lý doanh nghiệp nhà nước, giữa cải cách doanh nghiệp nhà nước với điều chỉnh kết cấu và bố cục của kinh tế nhà nước.
4.1 Vận dụng kinh nghiệm quốc tế cổ phần hóa vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam:
Việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam gắn chặt với cơ chế quản lý và chính sách như cơ chế xuất nhập khẩu, vốn, thuế, tỷ giá, tín dụng và đầu tư… Việc triển khai hình thành thị trường chứng khoán sẽ tạo điều kiện thúc đẩy cổ phần hóa và sự năng động cho thị trường vốn của Việt Nam.
4.2 Thành lập cơ quan quản lý Nhà nước chịu trách nhiệm về quá trình thực hiện cổ phần hóa:
Cơ quan này phải quản lý toàn bộ quá trình theo những quan điểm có tính chiến lược trong việc đánh giá, soạn thảo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra và điều chỉnh.
4.3 Vừa làm vừa rút kinh nghiệm thực hiện cổ phần hóa:
Quá trình vừa làm vừa điều chỉnh và vừa hoàn thiện trong công việc này tỏ ra thích hợp với cả Chính phủ đang cần thời gian để nắm bắt và kiểm soát cũng như công chúng đang cần có thời gian để tin vào sự ổn định lâu dài vào chính sách của Chính phủ.
4.4 Tạo môi trường pháp lý cần thiết để thực hiện cổ phần hóa:
Đó là các bộ luật quan trọng để xác lập và ổn định kinh tế vĩ mô, tạo ra khuôn khổ pháp lý cho sự chuyển hoá và hoạt động của các doanh nghiệp được cổ phần hóa và các công ty nói chung.
4.5 Cần lập kế hoạch tài chính cho quá trình thực hiện cổ phần hóa
Đối với nước ta, cũng cần có sự lường định những khoản phí tổn không thể cắt giảm được, nhất là vấn đề việc làm mới và đào tạo lại, bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp cổ phần hóa, các vấn đề tư vấn, kiểm toán quảng cáo, môi giới đầu tư trong và ngoài nước đối với vấn đề cổ phần hóa. Khóa luận: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước


Pingback: Khóa luận: Cơ chế giải pháp đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa