Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hiện trạng hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI VIỆT NAM
Tại Việt Nam, hoạt động Kinh doanh ngoại hối đã hình thành ngay từ cuối những năm 1950 khi mà nước ta bắt đầu có quan hệ buôn bán với các nước trên thế giới. Trong suốt một thời gian dài, phạm vi giao dịch của hoạt động này chỉ bó hẹp trong cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, khu vực Đông Âu…), đồng tiền giao dịch chủ yếu là đồng rúp chuyển nhượng, tỉ giá mang nặng tính kế hoạch tập trung.
Từ sau năm 1986 khi nền kinh tế nước ta chuyển sang thời kì đổi mới, các giao dịch kinh tế với nước ngoài đã mở rộng sang khắp các châu lục thì nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ ngày càng lớn. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu đã có nhiều triển vọng. Trước tình hình này, đòi hỏi phải có một Thị trường ngoại hối ra đời để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho nền kinh tế phát triển theo kịp với các nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, việc hình thành Thị trường ngoại hối không thể tiến hành ngay được mà phải có sự chuẩn bị từng bước.
TTNH Việt Nam ra đời bắt đầu là một trung tâm giao dịch ngoại tệ được thành lập vào năm 1991, sau đó, năm 1994, thay thế cho trung tâm này là Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Kể từ đó đến nay, Thị trường ngoại hối Việt Nam đã từng bước hoàn thiện, góp phần tạo môi trường kinh doanh cho hoạt động Kinh doanh ngoại hối phát triển.
1. Nguồn luật điều chỉnh hoạt động Kinh doanh ngoại hối Việt Nam
Các văn bản pháp lý của Ngân hàng Nhà nước liên quan trực tiếp nhất đến hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại thời gian gần đây bao gồm:
- Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 17/8/2018 của Chính phủ về Quản lý ngoại hối và các văn bản sửa đổi bổ sung
- Quyết định số 1081/2022/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc quy định trạng thái ngoại tệ
- Quyết định số 1452/2024/QĐ-NHNN ngày 10/11/2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối
- Quyết định số 648/2024/QĐ-NHNN về việc sửa đổi và bổ sung một số điều của quyết định số 679/2022/QĐ-NHNN ngày 1/7/2022 về việc ban hành một số quy định liên quan đến giao dịch ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối
- Pháp lệnh Ngoại hối năm 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/2026.
Theo những văn bản pháp lý này có thể rút ra những quy định mới nhất liên quan đến hoạt động Kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng Việt Nam như sau : Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
1.1. Các quy định liên quan tới hoạt động tài khoản và mua, bán ngoại tệ
Ngân hàng được phép thu hút tiền gửi ngoại tệ của người cư trú và người không cư trú thông qua tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ của họ, với điều kiện nguồn thu ngoại tệ phải hợp pháp. Tài khoản ngoại tệ này được sử dụng vào mục đích sau : Thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho nước ngoài, cho tổ chức trong nước được phép thu ngoại tệ; trả nợ tiền vay bằng ngoại tệ trong nước và nước ngoài, bán ngoại tệ cho các tổ chức hoạt động ngoại hối; đầu tư vào giấy tờ có giá bằng ngoại tệ; góp vốn đầu tư; chuyển tiền ra nước ngoài; rút ngoại tệ tiền mặt; chuyển khoản để chi trả lương, thưởng, phụ cấp và đáp ứng nhu cầu công tác, học tập, du lịch
Ngân hàng được phép bán ngoại tệ cho người cư trú và người không cư trú là các doanh nghiệp để đáp ứng cho các giao dịch vãng lai và các giao dịch được phép trên cơ sở xuất trình giấy tờ hợp lệ. Ngân hàng cũng được phép bán ngoại tệ cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu hợp lệ (học tập, du lịch, công tác) trên cơ sở xuất trình những giấy tờ liên quan theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
1.2. Các quy định về việc duy trì trạng thái ngoại tệ
- Tổng trạng thái ngoại tệ (+) cuối ngày không được vượt quá 30% vốn tự có của tổ chức tín dụng tại thời điểm đó
- Tổng trạng thái ngoại tệ (-) cuối ngày không được vượt quá 30% vốn tự có của tổ chức tín dụng tại thời điểm đó.
- Trong trường hợp đặc biệt Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét cho phép tổ chức tín dụng được duy trì trạng thái ngoại tệ vượt quá giới hạn quy định trên.
- Báo cáo trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng phải được gửi về Ngân hàng Nhà nước trước 13h ngày hôm sau đối với báo cáo trạng thái ngoại tệ của ngày hôm trước và trước ngày 10 tháng sau đối với báo cáo trạng thái ngoại tệ cuối tháng trước.
1.3. Các quy định liên quan đến các giao dịch ngoại hối
Các giao dịch ngoại hối được phép thực hiện bao gồm: giao dịch giao ngay; giao dịch kì hạn; giao dịch hoán đổi; giao dịch quyền chọn; các giao dịch hối đoái khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kì
Ngân hàng được phép thực hiện giao dịch với các tổ chức tín dụng được phép khác; tổ chức kinh tế; tổ chức khác và cá nhân; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trong đó: Ngân hàng được thực hiện tất cả các giao dịch kể trên với tổ chức kinh tế; thực hiện các giao dịch giao ngay, kì hạn, quyền chọn với các tổ chức khác và cá nhân. Ngân hàng không được phép mua quyền lựa chọn của tổ chức kinh tế, tổ chức khác và cá nhân. Ngân hàng được phép thực hiện các giao dịch hối đoái với tổ chức tín dụng được phép khác và với Ngân hàng Nhà nước trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng theo quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
- Đồng tiền giao dịch do tổng giám đốc (giám đốc) của ngân hàng quy định
- Tỉ giá giao dịch của các ngoại tệ cũng do tổng giám đốc (giám đốc) xác định phù hợp với quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể:
Tỉ giá giao ngay của USD bằng tỉ giá bình quân liên ngân hàng cộng (trừ) 0.25%. Các loại ngoại tệ khác không quy định; spread không quy định.
Tỉ giá kì hạn và tỉ giá hoán đổi đồng USD không được vượt quá mức tỉ giá được xác định trên cơ sở: Tỉ giá giao ngay vào ngày kí hợp đồng kì hạn, hoán đổi; Chênh lệch giữa hai mức lãi suất hiện hành là lãi suất cơ bản của VND (tính theo năm) do Ngân hàng Nhà nước công bố và lãi suất mục tiêu của USD do cục dự trữ liên bang Mỹ công bố; kì hạn của hợp đồng. Tỉ giá kì hạn của VND với ngoại tệ khác (trừ USD) và tỉ giá giữa các ngoại tệ với nhau do tổng giám đốc (giám đốc) của tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận. Các bên xác định và ghi rõ ngày thanh toán chuyển tiền trong hợp đồng giao dịch.
Về kì hạn của giao dịch kì hạn và giao dịch hoán đổi: Các tổ chức tín dụng được phép Kinh doanh ngoại hối trong kì hạn từ 3 đến 365 ngày kể từ ngày kí hợp đồng giao dịch. Kì hạn các giao dịch kì hạn, hoán đổi giữa các ngoại tệ với nhau do các tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận
Về chứng từ trong giao dịch: Tổ chức kinh tế, tổ chức khác và cá nhân dùng đồng Việt Nam để mua ngoại tệ của tổ chức tín dụng qua các giao dịch giao ngay, kì hạn phải xuất trình các chứng từ cung cấp đầy đủ thông tin về mục đích, số lượng và loại ngoại tệ cần thanh toán, thời điểm thanh toán theo quy định hiện hành về quản lý ngoại hối. Đối với các giao dịch ngoài các giao dịch nói trên thì không cần giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng ngoại tệ. Ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra chứng từ của khách hàng theo quy định hiện hành về quản lý ngoại hối.
Về phí giao dịch: Các tổ chức tín dụng không được phép thu phí giao dịch đối với các giao dịch hối đoái giao ngay, kì hạn, hoán đổi. Đối với giao dịch quyền lựa chọn thì tổ chức tín dụng và khách hàng sẽ thoả thuận và ghi rõ trong hợp đồng mức phí giao dịch và hình thức thanh toán phí.
Về phương thức giao dịch và hợp đồng giao dịch : Các bên tham gia giao dịch hối đoái có thể thực hiện giao dịch qua điện thoại, telex, fax hoặc các hình thức khác theo quy định của tổ chức tín dụng phù hợp với thông lệ của Thị trường ngoại hối và các quy định có liên quan của pháp luật hiện hành. Hình thức xác nhận giao dịch do tổ chức tín dụng quy định phù hợp với pháp luật hiện hành đảm bảo cơ sở pháp lý cho các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch cũng như cơ sở pháp lý cho việc hạch toán kế toán và tranh chấp giữa các bên (nếu có phát sinh). Nội dung của hợp đồng giao dịch hối đoái do các bên tham gia hợp đồng thoả thuận phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật.
Có thể nói, hoạt động Kinh doanh ngoại hối của các Ngân hàng thương mại đã dần được thực hiện trong một hành lang pháp lý chặt chẽ, từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế.
2. Tình hình phát triển của Thị trường ngoại hối Việt Nam thời gian gần đây Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
Có thể khái quát một số đặc điểm chính của Thị trường ngoại hối Việt Nam giai đoạn hiện nay như sau:
- Thứ nhất, giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng chiếm tỉ trọng lớn.
TTNH Việt Nam gồm 2 bộ phận chính: Thị trường giao dịch ngoại tệ giữa ngân hàng với khách hàng, và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Trong đó, thị trường ngoại tệ giữa ngân hàng với khách hàng là thị trường lớn nhất phản ánh sát thực nhất tương quan cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế cũng như các bước phát triển của Thị trường ngoại hối Việt Nam nói chung.
Bên cạnh hai thị trường chính thức nêu trên, thị trường mua bán ngoại tệ tự do, mặc dù không được thừa nhận song thực tế vẫn tồn tại, và quy mô ngày càng nhỏ, thể hiện ở đặc tính tỉ giá ngoại tệ trên thị trường này chịu chi phối của tỉ giá ngoại tệ trên thị trường chính thức.
- Thứ hai, quy mô thị trường nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu của hoạt động thanh toán quốc tế, song vẫn chưa tập trung, khiến hạn chế khả năng điều hoà cung cầu ngoại tệ.
Hiện nay, mặc dù quy mô của thị trường ngoại tệ tự do là nhỏ so với thị trường chính thức, nhưng đó cũng được xem là một nhân tố làm giảm tính tập trung của Thị trường ngoại hối Việt Nam. Đây chính là nguyên nhân khiến tình trạng khan hiếm ngoại tệ giả tạo trên thị trường chính thức vẫn có lúc xảy ra.
- Thứ ba, các thành viên thị trường phát triển tương đối đồng đều nhau.
Nếu như trước đây, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chiếm vai trò độc tôn trong các hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường thì đến nay, sự phân chia thị trường đã tương đối đồng đều. Sự đồng đều được thể hiện không những ở tương quan doanh số mua bán ngoại tệ giữa các khối ngân hàng như quốc doanh, cổ phần, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, liên doanh; mà còn ở sự phân chia thị phần giữa các ngân hàng quốc doanh với nhau.
- Thứ tư, đã có các công cụ giao dịch ngoại hối cơ bản, nhưng các công cụ giao dịch phái sinh còn nghèo nàn và chưa phát triển.
Hiện nay, trên Thị trường ngoại hối đã có các công cụ kinh doanh cơ bản như giao ngay, kì hạn, hoán đổi, quyền chọn. Các công cụ này đã phát huy vai trò phòng ngừa rủi ro trên Thị trường ngoại hối và ngày một phát triển hơn. Tuy nhiên, doanh số mua bán ngoại tệ kì hạn chỉ chiếm 5-10% trong tổng doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ giữa ngân hàng với khách hàng. Ngay trong cơ cấu về mua kì hạn và bán kì hạn cũng có sự chênh lệch lớn (doanh số mua thường chỉ bằng 15-20% doanh số bán). Doanh số mua bán quyền chọn cũng không đáng kể. Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
Tính đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép 7 ngân hàng được thực hiện thí điểm nghiệp vụ option ngoại tệ, gồm: Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), Citibank, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Công thương Việt Nam (ICB) và Hongkong Bank chi nhánh TP.HCM. Riêng nghiệp vụ option ngoại tệ/VND thì mới chỉ có 6 ngân hàng được chọn thí điểm là: Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam, Vietcombank, BIDV, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB), Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế (VIBank), Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB). Việc thực hiện nghiệp vụ này ở Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn thử nghiệm, cần có thêm thời gian để phổ biến rộng rãi hơn như một công cụ bảo hiểm hữu hiệu cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước và một công cụ đầu tư trên thị trường tài chính.
- Thứ năm, hệ thống thông tin, trình độ công nghệ và trình độ cán bộ của các thành viên thị trường chưa đạt yêu cầu phát triển của hội nhập quốc tế.
Với các thành viên thị trường là Ngân hàng thương mại, yêu cầu hệ thống thông tin phải thông suốt và cập nhật từng phút đối với các biến động của thị trường tiền tệ quốc tế cũng như từng hoạt động của bản thân hệ thống ngân hàng mình là một vấn đề thiết yếu. Hiện tại, các mạng thông tin quốc tế như Reuters, Dow Jones… đã giúp cho các Ngân hàng thương mại nắm bắt được kịp thời biến động của thị trường tiền tệ quốc tế, song không phải ngân hàng Việt Nam nào cũng đã lắp đặt hệ thống này. Một số ngân hàng với nhiều chi nhánh hiện vẫn chưa có khả năng kiểm soát trạng thái ngoại tệ hàng ngày của toàn hệ thống theo phương pháp chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, trình độ hiểu biết của cán bộ Kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng thương mại cũng như các khách hàng là các doanh nghiệp ở Việt Nam về các nghiệp vụ mới cũng còn hạn chế. Do vậy, đây cũng là một điểm yếu làm hạn chế quá trình phát triển và hội nhập của Thị trường ngoại hối Việt Nam.
II. HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI TECHCOMBANK Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
1. Quá trình phát triển của Kinh doanh ngoại hối trong hoạt động chung của Techcombank
Techcombank được thành lập năm 1993, và đến nay, sau 12 năm tồn tại và phát triển, Ngân hàng đã đứng vào hàng ngũ năm Ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất và hoạt động năng động nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Đến cuối năm 2025, sau 12 năm, Techcombank đã có số vốn điều lệ là 617,66 tỉ đồng, tổng tài sản là 10.666,106 tỉ đồng, tổng số nhân viên là 1.309 người. Và sau lần tăng vốn điều lệ thứ 26 của Ngân hàng vào ngày 25/01/2026, số vốn điều lệ của Techcombank đã chạm mốc 831 tỉ đồng – ở trong nhóm 3 Ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất về quy mô tại Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng về doanh thu hàng năm trong nhiều năm qua luôn đạt từ 30% trở lên. Hiện trong số các Ngân hàng thương mại cổ phần, Techcombank đứng ở vị trí thứ hai về doanh thu dịch vụ trên thị trường, vị trí thứ ba về mức lợi nhuận. Những con số trên đã phần nào nói lên nội lực phát triển mạnh mẽ của Techcombank.
So với nền phát triển chung của hệ thống ngân hàng hiện nay, Techcombank nổi bật với các thế mạnh về mạng lưới, công nghệ, dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ bán lẻ công nghệ cao.
Bộ phận Kinh doanh ngoại hối được thành lập ngay khi Ngân hàng đi vào hoạt động vào năm 1993. Đến năm 2021, bộ phận được sáp nhập cùng Phòng Nguồn vốn và quỹ, trở thành Phòng Quản lý Nguồn vốn và Giao dịch tiền tệ ngoại hối (Treasury). Sau khi phòng Treasury được nâng cấp lên thành Trung tâm Treasury vào đầu năm nay thì bộ phận Kinh doanh ngoại hối (FX – Foreign Exchange) trở thành Phòng Dealing Room cùng phối hợp hoạt động cùng với các bộ phận Risk office và Back office của Techcombank.
2. Quy chế hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
Tại Ngân hàng Techcombank, bên cạnh việc tuân thủ theo những quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước về Quản lý ngoại hối và Kinh doanh ngoại hối (đã nêu ở Chương I trên đây) thì để đảm bảo an toàn và tạo khung pháp lý chặt chẽ hơn cho hoạt động này, Ngân hàng cũng có những văn bản quy định riêng. Cụ thể:
- Quyết định 1008/TCB-HĐQT ngày 08/12/2019 của Hội đồng Quản trị về việc ban hành Quy chế điều hành giao dịch ngoại hối tại Ngân hàng Techcombank. Đây là văn bản có tính chất nền tảng, có tác dụng thể chế hoá và tạo khung pháp lý cơ bản cho hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank;
- Quyết định 680/TCB ngày 23/05/2021 về việc ban hành Quy định về chức năng, nhiệm vụ của phòng Quản lý Nguồn vốn và Giao dịch tiền tệ ngoại hối Hội sở Techcombank;
- Quyết định 2228/TCB ngày 05/12/2021 quy định về hạn mức giao dịch ngoại hối trong ngày tại phòng Quản lý Nguồn vốn và Giao dịch tiền tệ ngoại hối;
- Quyết định 640/TCB ngày 12/07/2022 về việc ban hành Quy trình giao dịch và kiểm soát nghiệp vụ giao dịch tiền tệ ngoại hối, trong đó mô tả chi tiết quy trình xử lý và luân chuyển các tài liệu phát sinh trong quá trình giao dịch qua các bộ phận chức năng;
- Quyết định 1075/QĐ-TGĐ ngày 21/10/2022 Hướng dẫn thực hiện quy định về trạng thái ngoại tệ theo Quyết định 1081/2022/QĐ-NHNN ngày 07/10/2022;
- Quyết định 804/QĐ-TGĐ ngày 13/08/2023 về việc ban hành Quy định về thẩm quyền giao dịch ngoại hối tại các chi nhánh, về quản lý trạng thái ngoại hối và ban hành tỉ giá trên toàn hệ thống Techcombank;
- Quyết định 431/QĐ-TGĐ ngày 12/04/2024 về việc thành lập Ban quản lý Giao dịch tiền tệ và ngoại hối;
- Quyết định 673/2024/QĐ-TGĐ ngày 29/04/2024 Quy định về giao dịch ngoại hối giữa Trung tâm kinh doanh Techcombank, các Chi nhánh TCB với Hội sở;
- Quyết định 2419/2025/QĐ-TGĐ ngày 05/10/2025 về việc ban hành Quy trình cập nhật tỉ giá và lãi suất trên hệ thống Globus. Globus là hệ thống phần mềm quản trị ngân hàng hiện đại nhất hiện nay do Tenemos Corporation (Thụy Sĩ) phát triển. TCB đã áp dụng Globus từ năm 2023. Một trong những ứng dụng của hệ thống này là có thể cập nhật tỉ giá và lãi suất thị trường thế giới, từ đó Techcombank tham khảo cho tỉ giá của mình;
- Quyết định 2642/2025/QĐ-TGĐ ngày 01/11/2025 hướng dẫn Quy trình nghiệp vụ quyền chọn ngoại hối và kiểm soát rủi ro, Hướng dẫn hạch toán nghiệp vụ Quyền chọn ngoại hối;
- Quyết định 333/QĐ-HĐQT ngày 06/03/2026 về việc thành lập Trung tâm Quản lý nguồn vốn và Giao dịch trên thị trường tài chính (từ Phòng Quản lý nguồn vốn và Giao dịch tiền tệ ngoại hối trước đây);
- Quyết định 270/HĐQT-TCB ngày 04/04/2026 về việc ban hành Hạn mức giao dịch theo từng tháng, quý, năm đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
Theo những văn bản nêu trên, có thể rút ra những quy định riêng của Techcombank liên quan đến hoạt động Kinh doanh ngoại hối như sau:
2.1. Nghiệp vụ
Tại Techcombank, giao dịch liên quan đến ngoại hối được thực hiện gồm có:
- Giao dịch thị trường chuyển khoản:
Các giao dịch mua/bán ngoại hối dưới các dạng giao ngay, kì hạn, hoán đổi (spot/ forward/ swap) và tương lai, quyền chọn (futures/ options) (nếu được phép) với các đối tượng là:
- Khách hàng thanh toán xuất nhập khẩu tại Việt Nam
- Các ngân hàng và tổ chức được phép hoạt động tài chính với Techcombank
Giao dịch thị trường tiền mặt: gồm:
- Thu đổi ngoại tệ tiền mặt vãng lai
- Chi trả kiều hối
- Huy động tiết kiệm ngoại tệ chuyển đổi
- Xuất nhập khẩu ngoại tệ tiền mặt
Giao dịch trên thị trường vốn ngắn hạn dưới 30 ngày (deposit-money market):
- Gồm các giao dịch gửi (lend) và nhận gửi (borrow) trên thị trường liên ngân hàng trong thời hạn đến 30 ngày nhằm phục vụ các giao dịch ngoại hối và tối ưu hoá sử dụng nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ
- Các giao dịch thị trường chuyển khoản nói trên chính là các nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối thuộc phạm vi nghiên cứu của khóa luận này.
2.2. Nguyên tắc
Trong Quy chế điều hành giao dịch ngoại hối Techcombank nêu rõ:
- Giao dịch ngoại hối là hoạt động kinh doanh dịch vụ của Ngân hàng được quản lý và điều hành tập trung thống nhất toàn hệ thống, vừa đảm bảo chỉ đạo chính sách thống nhất từ Hội sở, vừa khuyến khích sự năng động, linh hoạt và sáng tạo của các Chi nhánh, nhằm không ngừng đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
- KDNH là mô hình kinh doanh gắn liền với các hoạt động kinh doanh tín dụng, tiền tệ, thanh toán và các dịch vụ ngân hàng đa dạng khác. Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
- Giao dịch ngoại hối thực hiện các mục tiêu chủ yếu sau đây:
- Đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng của Ngân hàng
- Đảm bảo trạng thái ngoại hối của Techcombank luôn có lợi trong mọi thời điểm biến động tỉ giá theo đúng yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước
- Đem lại hiệu quả dịch vụ cao
2.3. Các bộ phận chức năng
Cơ cấu các bộ phận liên quan đến một giao dịch ngoại hối tại Techcombank gồm có: Dealing room, Risk office và Back office; chia làm hai mảng: giao dịch và kiểm soát.
Phòng Kinh doanh tiền tệ, ngoại hối (Dealing room – thường gọi tắt là FX) trực thuộc Trung tâm Quản lý nguồn vốn và Giao dịch trên thị trường tài chính (thường gọi tắt là Trung tâm Treasury) là bộ phận chức năng thực hiện các giao dịch Kinh doanh ngoại hối tại Hội sở Tiền thân là Ban quản lý Giao dịch tiền tệ và ngoại hối thuộc phòng Quản lý nguồn vốn và Giao dịch tiền tệ ngoại hối trước đây, Dealing room là nguồn tạo lợi nhuận chính cho Treasury trên thị trường tài chính và liên ngân hàng. Dealing room có chức năng và nhiệm vụ như sau:
Chức năng:
- Thực hiện các giao dịch trên thị trường tiền tệ và ngoại hối
- Thực hiện chức năng quản lý hệ thống Techcombank về nguồn vốn và ngoại tệ
- Đào tạo, hướng dẫn nhân viên mới thành Chuyên viên giao dịch tiền tệ ngoại hối chuyên nghiệp
Nhiệm vụ:
- Thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh và quản lý hệ thống theo phân công của Giám đốc Trung tâm Treasury
- Là trung tâm giao dịch và hỗ trợ các giao dịch nội bộ của các Chi nhánh/trung tâm trên toàn hệ thống Techcombank
- Xây dựng đội ngũ dealer chuyên nghiệp, linh hoạt để đáp ứng nhu cầu mở rộng và thay đổi của Ngân hàng
- Là đầu mối thông tin chính về tình hình thị trường và tình hình hoạt động quản lý nguồn vốn và giao dịch tiền tệ ngoại hối, đồng thời là nơi tiếp nhận những điều chỉnh chiến lược, chính sách kinh doanh và quản lý hệ thống trong hoạt động quản lý nguồn vốn và giao dịch tiền tệ ngoại hối của Ngân hàng
- Phối hợp thực hiện công tác quản lý thanh khoản theo yêu cầu, thực hiện các giao dịch để đảm bảo cân bằng trạng thái vốn, trạng thái ngoại tệ của toàn Ngân hàng, đóng góp xây dựng các sản phẩm tài chính mới.
Công tác giám sát và kiểm soát hàng ngày các giao dịch ngoại hối được thực hiện thông qua bộ phận Kiểm soát rủi ro (Risk office) (trực thuộc Phòng Kế hoạch tổng hợp Hội sở và Phòng Kinh doanh các Chi nhánh) và bộ phận Kiểm soát sau (Back office) (trực thuộc Phòng Kế toán tài chính Hội sở và Phòng Kinh doanh các Chi nhánh). Nội dung kiểm soát hàng ngày tập trung vào các điểm sau: Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
Kiểm tra hồ sơ của các giao dịch ngoại hối trong ngày (trước và sau từng giao dịch ngoại hối) nhằm hỗ trợ công tác điều hành giao dịch ngoại hối trong việc đảm bảo tính đúng đắn của hồ sơ giao dịch phù hợp với các quy định quản lý ngoại hối của nhà nước và của Techcombank
Thống kê và cập nhật các số liệu giao dịch theo các chương trình quản lý ngoại hối, thực hiện các báo cáo hàng ngày, tuần, tháng về hoạt động giao dịch ngoại hối theo quy định của Ngân hàng
Sơ bộ đánh giá hiệu quả của từng giao dịch ngoại hối trong ngày trên cơ sở các tiêu thức đánh giá do Ngân hàng quy định
Kịp thời phát hiện các sai sót và kiến nghị các Chuyên viên giao dịch thực hiện điều chỉnh, sửa đổi thích hợp
Công tác giám sát, kiểm soát định kì (hàng tháng) các giao dịch ngoại hối về phương diện pháp lý, chế độ được thực hiện bởi phòng Kiểm soát nội bộ Hội sở và Kiểm soát nội bộ trực thuộc Giám đốc các Chi nhánh.
Công tác giám sát, kiểm soát định kì (hàng tháng) các giao dịch ngoại hối về phương diện hiệu quả kinh tế do Phòng Kế hoạch tổng hợp Hội sở phối hợp với Phòng Kế toán tài chính Hội sở thực hiện trên cơ sở các đánh giá phân tích số liệu của Phòng Kế toán tài chính Hội sở và Kế toán trưởng các Chi nhánh.
2.4. Quy trình giao dịch và kiểm soát
- Sơ đồ quy trình giao dịch: xem Phụ lục. Các khái niệm trên sơ đồ:
Khách hàng (Customer):
- Các tổ chức tín dụng, tài chính
- Các tổ chức kinh tế
- Các thể nhân
- Các phòng nghiệp vụ khách hàng thuộc Hội sở
- Các Chi nhánh Techcombank
Chuyên viên giao dịch (Dealer):
- Chuyên viên giao dịch tiền tệ và ngoại hối
- Chuyên viên thanh khoản
- Chuyên viên giao dịch nội bộ
Chuyên viên kiểm soát rủi ro (Risk officer):
- Chuyên viên của bộ phận Quản trị và Kiểm soát rủi ro, có nhiệm vụ kiểm soát hoạt động giao dịch theo các quy định và hạn mức đã được Ban Tổng giám đốc phê duyệt
- Chuyên viên kiểm soát rủi ro sẽ kiểm tra trước và sau quá trình giao dịch
Chuyên viên kiểm soát sau (Back officer):
- Kiểm soát về phần thanh toán
- Xác nhận giao dịch
- Thực hiện và theo dõi việc thanh toán
- Hạch toán
Người được uỷ quyền phê duyệt (Authorizer):
- Ban Tổng Giám đốc
- Giám đốc/ Phó Giám đốc Treasury hoặc Trưởng phòng Dealing room theo mức uỷ quyền của Ban Tổng Giám đốc
Phiếu giao dịch (Deal slip): Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
Là chứng từ luân chuyển nội bộ, xác nhận nội dung giao dịch và việc kiểm soát giao dịch tiền tệ ngoại hối.
- Quy trình giao dịch chia làm hai phần chính theo thời gian:
Đàm phán giao dịch (Conversation – front): chủ yếu diễn ra giữa Khách hàng và Chuyên viên giao dịch với sự hỗ trợ của Chuyên viên kiểm soát rủi ro nhằm hạn chế được những rủi ro đơn giản nhất và trong một thời gian ngắn nhất có thể đạt được thoả thuận giữa Khách hàng với Chuyên viên giao dịch
Xác nhận giao dịch (Confirm – back): quá trình kiểm soát tham gia của Chuyên viên kiểm soát rủi ro và Chuyên viên kiểm soát sau nhằm hạn chế tối đa rủi ro tác nghiệp và ghi nhận sơ bộ kết quả giao dịch giúp cho Người được uỷ quyền phê duyệt có thể thay mặt Techcombank xác nhận giao dịch với Khách hàng bằng văn bản.
Thời gian kiểm tra được xác định trung bình trong một giao dịch thường là:
- Chuyên viên kiểm soát rủi ro: 3 phút
- Chuyên viên kiểm soát sau: 3 phút
- Người được uỷ quyền: 2 phút
2.5. Một số quy định khác
- Về tổ chức Kinh doanh ngoại hối:
Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng được thực hiện theo mô hình phân tán, tức là thực hiện tại cả Hội sở và Chi nhánh. Hội sở thực hiện với các ngân hàng khác trên thị trường liên ngân hàng và thực hiện mua bán với các Chi nhánh. Trong khi các Chi nhánh thường thực hiện mua bán với các doanh nghiệp và mua bán lẻ với các khách hàng cá nhân. Riêng nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ – VND (option) do vẫn đang trong thời gian thí điểm nên được tập trung thực hiện tại Hội sở. Tại các Chi nhánh lớn thường có một Chuyên viên giao dịch ngoại hối, trong khi ở các Chi nhánh hoặc phòng giao dịch nhỏ thì Cán bộ khách hàng sẽ đảm nhận thêm việc giao dịch với khách hàng có nhu cầu mua, bán ngoại tệ với Techcombank.
- Về quản lý hạn mức:
Toàn hệ thống được quy định một mức trạng thái chung đảm bảo tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước. Trên cơ sở đó các Chi nhánh được chia hạn mức trạng thái, hạn mức giao dịch riêng tuỳ theo mức độ giao dịch của Chi nhánh là nhiều hay ít. Nếu Chi nhánh tiến hành giao dịch nhiều hơn mức ngân hàng đã định thì phải báo cáo lại cho Hội sở. Quy định hạn mức cũng áp dụng cho từng khách hàng (thường là khách hàng lớn trên thị trường liên ngân hàng), cho từng Chuyên viên giao dịch, và cho từng kì kinh doanh (tháng, quý, năm). Đến cuối ngày giao dịch các Chi nhánh tổng hợp số liệu, tạo số liệu chung cho toàn hệ thống. Khi toàn hệ thống được nối mạng online thì Hội sở sẽ có số liệu tại bất kì thời điểm nào trong ngày.
- Về nhu cầu mua ngoại tệ của khách hàng:
Techcombank sẽ chỉ chấp nhận giao dịch bán ngoại tệ cho khách hàng nếu khách hàng chứng minh được (bằng giấy tờ) rằng nhu cầu của mình thuộc một trong số các nhu cầu hợp lệ sau đây:
- Thanh toán xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, cước vận tải, bảo hiểm
- Trả nợ vay ngân hàng
- Góp vốn liên doanh với nước ngoài
- Đi công tác, học tập, chữa bệnh, du lịch ở nước ngoài
- Các mục đích hợp pháp khác
3. Tình hình hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại TCB những năm gần đây Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
Cho đến thời điểm tháng 7/2026, Techcombank đang thực hiện nghiệp vụ ngoại hối giao ngay, kì hạn, hoán đổi và trong thời gian thí điểm đối với nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ – VND, tập trung chủ yếu tại Hội sở Ngân hàng. Trên thị trường liên ngân hàng Interbank, Techcombank đóng vai trò là một nhà tạo giá thứ cấp.
Những ngoại tệ được giao dịch bao gồm các ngoại tệ mạnh như USD, EUR, GBP, AUD, JPY, CHF, HKD, SGD, CAD, CNY… và các đồng tiền tự do chuyển đổi khác, nếu khách hàng có yêu cầu, như SEK, DKK, THB… trong đó chủ yếu là đồng USD.
Lượng ngoại tệ dùng để mua bán trong các nghiệp vụ được huy động từ ba nguồn chính là: kiều hối, thu đổi của cá nhân; nguồn bán của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu; và thị trường Interbank. Trong đó, nguồn từ doanh nghiệp và Interbank là chủ yếu.
Tại phòng Dealing room FX Hội sở Techcombank hiện đã được trang bị khá đầy đủ cơ sở vật chất, phương tiện kĩ thuật cho các giao dịch Kinh doanh ngoại hối, như: hệ thống Reuters Dealing 2020 có chức năng cập nhật tỉ giá và thông tin thị trường đồng thời cho phép thực hiện giao dịch qua Reuters, máy vi tính nối mạng Internet, máy telex, máy fax, điện thoại. Điều này chứng tỏ sự quan tâm đầu tư của lãnh đạo Ngân hàng đối với hoạt động Kinh doanh ngoại hối nói riêng, đồng thời thể hiện quyết tâm chuẩn hóa cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động theo hướng công nghệ hóa, hội nhập quốc tế mà Techcombank đang theo đuổi.
Từ sơ đồ quy trình giao dịch và cơ cấu tổ chức các bộ phận chức năng trong hoạt động Kinh doanh ngoại hối nêu ở phần trên, có thể thấy Techcombank đã và đang xây dựng được một guồng máy Kinh doanh ngoại hối theo mô hình chung thế giới: có bộ phận dealing riêng, kiểm soát và giám sát do bộ phận risk office và back office làm riêng. Đây là cơ sở tốt để Techcombank ổn định quy chế hoạt động, tăng tính chuyên môn hóa trong công việc, thúc đẩy nâng cao hơn chất lượng giao dịch và quản lý rủi ro.
Tuy nhiên, phải thừa nhận một thực tế là tại Techcombank, Kinh doanh ngoại hối chưa thực sự trở thành một nghiệp vụ chính, nổi bật mà thiên về tính chất hỗ trợ cho các nghiệp vụ khác nhiều hơn. Vai trò cũng như thu nhập từ hoạt động này xét trong tổng quan hoạt động chung của Ngân hàng và tương quan so sánh với các ngân hàng cạnh tranh khác còn khá khiêm tốn.
- Biểu đồ 1: Các khoản mục chính về doanh thu thuần Techcombank 2022 – 2025
- Biểu đồ 2: So sánh Doanh thu thuần Kinh doanh ngoại hối của một số Ngân hàng thương mại cổ phần tiêu biểu 2025
Cụ thể, kết quả kinh doanh qua các năm của bộ phận Kinh doanh ngoại hối như sau:
- Bảng 1: Kết quả kinh doanh Kinh doanh ngoại hối Techcombank 2022 – 2025 Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
Từ bảng 1 có thể thấy: thu nhập và chi phí trong hoạt động Kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng biến động khá nhiều qua các năm, chiều hướng tăng, giảm là không ổn định. Doanh thu thuần năm 2022 là 1.397 triệu VND, giảm một ít xuống còn 1.173 triệu VND vào năm 2023, năm 2024 có mức tăng trưởng khá mạnh mẽ đạt 2.062 triệu VND, để rồi một năm sau đó quay lại mức 1.872 triệu VND. Từ biểu đồ 7 trên đây có thể đưa ra đánh giá rằng mức doanh thu này thuộc tầm trung bình (nếu xét đồng thời với quy mô các ngân hàng có tên trong biểu đồ). Tỉ trọng đóng góp vào doanh thu chung của Techcombank còn là một con số phần trăm ít ỏi, song ngay cả con số đó cũng lên xuống thất thường trong bối cảnh tổng doanh thu chung tăng đều. Những con số nêu trên thể hiện rõ tính chất biến động khôn lường đặc trưng của hoạt động Kinh doanh ngoại hối nói chung, đồng thời bộc lộ một số hạn chế trong hoạt động này tại Techcombank.
Thứ nhất, tuy bộ phận Kinh doanh ngoại hối đã được sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, nhưng vai trò của nó được xác định là hỗ trợ cho các nghiệp vụ khác là chủ yếu. Trong nhóm ba hoạt động liên quan đến ngoại hối là tín dụng, thanh toán quốc tế và Kinh doanh ngoại hối, thì tín dụng là hoạt động truyền thống mang lại nguồn thu nhập chính cho Techcombank (như bất cứ ngân hàng nào tại Việt Nam), thanh toán quốc tế là mảng dịch vụ đang được chú trọng nâng cao nhằm tạo sức bật cho Techcombank trong thời gian tới. Do đó, nhiệm vụ quan trọng nhất của Kinh doanh ngoại hối là phải đảm bảo có đầy đủ và kịp thời lượng ngoại tệ và nội tệ cần thiết phục vụ cho hai hoạt động nói trên. Nhiệm vụ tạo lợi nhuận và doanh thu cũng được đề cập, song trong bối cảnh hiện nay của Techcombank, nhiệm vụ đó đang được xếp ở hàng thứ yểu.
Thứ hai, phạm vi hoạt động Kinh doanh ngoại hối còn khá bó hẹp. Doanh số giao dịch của Techcombank đạt trung bình 300 triệu USD/ tháng, so với doanh số hơn 1 tỉ USD/ tháng của Eximbank – Ngân hàng thương mại cổ phần dẫn đầu thị trường về Kinh doanh ngoại hối, thì con số này chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của Techcombank. Cộng thêm vào đó là mục tiêu sinh lời ít được chú trọng, nên các giao dịch có khối lượng lớn không nhiều. Chẳng hạn, vào một thời điểm tỉ giá đang có lợi Ngân hàng có thể bán một lượng lớn USD để thu lãi, song hoạt động thanh toán quốc tế lại cần USD để hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho doanh nghiệp, kết quả là Kinh doanh ngoại hối bị hạn chế.
Thứ ba, cần phải nói đến tính hai mặt của việc quản lý rủi ro. Hệ thống kiểm soát và giám sát chặt chẽ của Techcombank đối với hoạt động Kinh doanh ngoại hối có tác dụng rất lớn trong việc hạn chế tình trạng đầu cơ; song mặt khác, nó cũng làm giảm đi sự mạnh dạn kinh doanh của các Chuyên viên giao dịch. Lẽ dĩ nhiên, mô hình tổ chức nào cũng có điểm hạn chế, và cũng khó mà phân định rạch ròi giữa —đảm bảo an toàn‖ và —hạn chế hoạt động‖. Nhưng có một nguyên tắc mà hầu như nhà kinh doanh nào cũng phải học qua —Ở đâu có rủi ro, ở đó có lợi nhuận‖, và điều này đặc biệt đúng trong hoạt động Kinh doanh ngoại hối. Những con số kinh doanh chưa mấy hài lòng ở trên cũng có thể được giải thích một phần từ đó.
Thứ tư, tình hình thị trường năng lượng mấy năm gần đây có nhiều biến động lớn. Đặc biệt năm 2025, giá dầu tăng cao lên mức kỉ lục (tới gần 60USD/ thùng). Các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu luôn trong tình trạng khan hiếm ngoại tệ thanh toán các hợp đồng, nên Ngân hàng Nhà nước đã có chỉ đạo xuống các ngân hàng dành nguồn ngoại tệ để ưu tiên phục vụ cho các doanh nghiệp này. Techcombank là ngân hàng đi đầu trong công tác này, đồng thời vốn có một số khách hàng truyền thống là doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, nên trong suốt một thời gian dài đã bị thiếu hụt nguồn ngoại tệ cho Kinh doanh ngoại hối trên thị trường Interbank, dẫn đến giảm sút doanh thu hoạt động. Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
4. Tình hình Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank xét theo từng nghiệp vụ
4.1. Nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối giao ngay (Spot)
Giao dịch giao ngay là giao dịch ngoại tệ chiếm tỉ trọng lớn nhất (khoảng 93% tổng số giao dịch) tại Techcombank. Hiện nay Ngân hàng thực hiện mua, bán giao ngay đối với nhiều ngoại tệ mạnh trên thế giới, như USD, EUR, GBP, AUD, JPY, CHF, HKD, SGD, CAD, CNY… và các đồng tiền tự do chuyển đổi khác như SEK, DKK, THB… trong đó doanh số giao dịch lớn nhất vẫn là đối với USD.
Cơ sở để xác định tỉ giá giao ngay tại Ngân hàng được xác định theo những quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tỉ giá VND/USD bằng tỉ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng cộng (trừ) 0.25%. Tuy nhiên, do diễn biến Thị trường ngoại hối trong nước, cung thường nhỏ hơn cầu nên cũng như phần lớn các Ngân hàng thương mại khác, Ngân hàng thường cộng với mức trần tối đa. Đối với các ngoại tệ khác, Ngân hàng tiến hành tính tỉ giá chéo trên cơ sở tỉ giá VND/ USD và tỉ giá của ngoại tệ khác so với USD. Mức tỉ giá này được cập nhật thường xuyên thông qua hệ thống dịch vụ theo dõi tỉ giá của Techcombank.
Tại Hội sở Techcombank, do giao dịch với các khách hàng doanh nghiệp và cá nhân đã được phân cấp về tất cả các Chi nhánh, nên các giao dịch giao ngay chỉ tiến hành với các Chi nhánh nội bộ Techcombank và Ngân hàng khác trên Interbank. Trong đó, tỉ trọng giao dịch với Chi nhánh là khoảng 40%, trên Interbank là 60%.
Khách hàng thực hiện các giao dịch giao ngay với Ngân hàng rất đa dạng: có thể là các doanh nghiệp có hoạt động giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu, chuyển tiền nước ngoài; hoặc các doanh nghiệp có nhu cầu vay, trả bằng ngoại tệ ở thời điểm hiện tại; các doanh nghiệp chuyển tiền kiều hối hoặc có các khoản từ nước ngoài như tài trợ, viện trợ …; các doanh nghiệp cần quản lý tài khoản ngoại tệ; hoặc chỉ là khách hàng muốn mua ngoại tệ với mức tỉ giá ở thời điểm giao dịch của mình.
Tại Techcombank, nghiệp vụ Arbitrage trên cơ sở Spot không được thực hiện do tính chất đầu cơ của nghiệp vụ này và sự quản lý chặt chẽ của hệ thống kiểm soát và giám sát rủi ro.
4.2. Nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối theo kì hạn (Forward)
Doanh số giao dịch kì hạn của Techcombank ước chừng đạt 6%. Các hợp đồng kì hạn chủ yếu được thực hiện giữa Ngân hàng với ngân hàng khác nhằm chuẩn bị trước nguồn ngoại tệ trong những thời điểm khan hiếm ngoại tệ, tỉ giá có xu hướng tăng. Trong khi đó, số doanh nghiệp xuất nhập khẩu tiến hành nghiệp vụ này như một công cụ phòng ngừa rủi ro tỉ giá thì chưa có nhiều. Một số trường hợp khi thỏa thuận hợp đồng, doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần phải cố định tỉ giá với đối tác, và tỉ giá tại thời điểm đó cũng là hợp lý đối với họ thì khi đó họ mới chấp nhận làm forward, còn thông thường thì số lượng hợp đồng kì hạn với mục đích bảo hiểm là rất ít. Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
Trước năm 2024, điều này một phần được giải thích bởi những quy định khắt khe về giao dịch kì hạn. Thời hạn của hợp đồng tối đa chỉ là 6 tháng và tối thiểu là 7 ngày. Tỷ lệ phần trăm gia tăng của tỉ giá kì hạn là cố định, trong khi các biến số xác định nó (tỉ giá giao ngay, mức lãi suất của các đồng tiền) lại thay đổi hàng ngày theo diễn biến của thị trường nên khi Ngân hàng Nhà nước không thay đổi kịp thời điểm kì hạn cho phù hợp với diễn biến lãi suất của các đồng tiền trên thị trường thì có thể gây bất lợi cho ngân hàng. Thêm vào đó, đối tượng tham gia cũng bị hạn chế, các tổ chức và các cá nhân không hoạt động xuất, nhập khẩu thì không được phép tiếp cận với các hợp đồng kì hạn. Những quy định này đã hạn chế rất nhiều đối với giao dịch kì hạn ở thời điểm trước năm 2024.
Ngày 28/05/2025, Quyết định số 648/2024/QĐ-NHNN ra đời đã thay đổi về cơ bản nghiệp vụ kì hạn ở Việt Nam. Giới hạn kì hạn được mở rộng từ 3 đên 365 ngày. Ngân hàng và khách hàng được phép thoả thuận mức tỷ giá kì hạn giữa USD và VND; miễn sao tỉ giá này không vượt quá mức tỉ giá được xác định trên cơ sở: tỉ giá giao ngay vào ngày ký hợp đồng kì hạn; chênh lệch giữa hai mức lãi suất hiện hành là lãi suất cơ bản VND (tính theo năm) do Ngân hàng Nhà nước công bố và lãi suất mục tiêu USD do Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ công bố; và kì hạn của hợp đồng. Việc thêm yếu tố lãi suất mục tiêu USD của FED là một yếu tố lớn để tăng thêm tín hiệu thị trường trong cách tính tỉ giá kì hạn, từ đó khiến thị trường hợp đồng kì hạn sôi động hơn.
Tuy nhiên, một phần khác, doanh số giao dịch kì hạn bị hạn chế còn vì bản thân doanh nghiệp chưa quen với việc dự báo tỉ giá và cũng chưa có thói quen tiến hành bảo hiểm rủi ro tỉ giá. Làm forward chỉ hiệu quả khi doanh nghiệp có thể dự đoán được chiều hướng lên xuống của đồng tiền, trong khi ở nước ta chưa nhiều doanh nghiệp có sự đầu tư quan tâm đến tỉ giá thị trường để có thể có khả năng đoán trước thị trường.
Hơn nữa, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chưa có sự quan tâm đầy đủ và đúng mức đến việc bảo hiểm tỉ giá, thường chỉ mua ngoại tệ khi đến hạn thanh toán chứ không áp dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro ngay khi ký hợp đồng. Không chỉ đối với nghiệp vụ forward, tình trạng này cũng xảy ra tương tự với nghiệp vụ swap và option. Dường như các doanh nghiệp đang đặt quá nhiều niềm tin vào sự ổn định của thị trường tài chính tiền tệ đất nước (vốn chưa lần nào lâm vào khủng hoảng như các nước khác trong khu vực) và sự điều tiết sít sao của Ngân hàng Nhà nước đối với lãi suất và tỉ giá. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn nữa, khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ gõ cửa đến tất cả mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp sẽ khó mà bảo toàn nguồn vốn của mình nếu không nhận thức đúng tầm quan trọng của các công cụ phái sinh trên thị trường. Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
4.3. Nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối hoán đổi (Swap)
Các quy định pháp luật về nghiệp vụ kì hạn cũng được áp dụng đồng thời cho nghiệp vụ hoán đổi, do đó, về căn bản, các yếu tố tác động đến tình hình kinh doanh của hai loại nghiệp vụ này là như nhau. Song, hợp đồng swap còn ít được doanh nghiệp xuất nhập khẩu biết đến hơn, là do tính chất của loại hợp đồng này là hai chiều – chiều mua và chiều bán đồng thời, trong khi đó thường các khoản phải thu và trả trong thương mại quốc tế là một chiều.
Tại Techcombank, số giao dịch swap chỉ chiếm khoảng chừng 1% tổng số giao dịch, và tất cả đều được tiến hành trên Interbank. Hầu hết các giao dịch swap của Techcombank là để cân đối nguồn vốn nội tệ và ngoại tệ của Ngân hàng khi có sự chênh lệch gây bất lợi cho hoạt động chung. Kiểu swap Techcombank thực hiện là cặp hợp đồng gồm một giao dịch giao ngay và một giao dịch kì hạn.
4.4. Nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối theo hợp đồng quyền chọn (Option)
Theo văn bản đề nghị của Ban Tổng giám đốc Techcombank, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép Techcombank tiến hành thí điểm nghiệp vụ quyền lựa chọn ngoại tệ – VND từ tháng 4/2025. Đây là một bước tiến lớn trong quá trình đa dạng hóa loại hình nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng, bởi lẽ cho tới thời điểm đó, tại Việt Nam mới chỉ có hai ngân hàng được phép thực hiện thí điểm option cặp ngoại tệ – VND là Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và Techcombank, trong khi nghiệp vụ option ngoại tệ với ngoại tệ thì đã được triển khai từ trước đó hai năm. Lại một lần nữa, Techcombank được giao phó vị trí tiên phong khai phá thị trường mới với cả tiềm năng lợi nhuận lẫn mối họa rủi ro.
NHNN đã đưa ra một số quy định cơ bản mang tính chất hướng dẫn cho Techcombank đối với việc thí điểm nghiệp vụ option ngoại tệ – VND như sau:
- Cặp đồng tiền trong giao dịch: các ngoại tệ tự do chuyển đổi với VND
- Tỉ giá thực hiện (exercise price) trong hợp đồng quyền chọn USD/VND không được vượt quá tỉ giá kì hạn USD/VND cùng kì hạn
- Tỉ giá thực hiện trong hợp đồng quyền chọn giữa ngoại tệ khác USD với VND do Techcombank với khách hàng tự thoả thuận
- Phí được tính bằng VND (đồng/1 đơn vị ngoại tệ) do Techcombank và khách hàng tự thoả thuận
- Thời hạn của giao dịch: từ 3 ngày đến tối đa 365 ngày
- Kiểu option: theo thông lệ quốc tế (kiểu châu Âu và kiểu Mĩ)
Chỉ thực hiện với các cá nhân và tổ chức kinh tế hoạt động tại Việt Nam (cá nhân và tổ chức kinh tế luôn là bên mua trong hợp đồng quyền chọn) và các tổ chức tín dụng ở Việt Nam đã được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện thí điểm nghiệp vụ option ngoại tệ – VND Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
- Thời gian thí điểm là 6 tháng
Qua thêm hai lần gia hạn, tổng thời gian mà Techcombank đã thực hiện nghiệp vụ option ngoại tệ – VND tại Hội sở Ngân hàng là hơn một năm. Đúng với tên gọi thí điểm, nghiệp vụ này vẫn đang trong quá trình thử nghiệm, các Chuyên viên giao dịch vẫn đang vừa làm vừa rút kinh nghiệm qua từng giao dịch.
Trên thực tế, kết quả thu được từ nghiệp vụ này chưa mấy khả quan. Số giao dịch được tiến hành cho tới nay còn ít ỏi (khoảng 5 – 6 giao dịch) với doanh số mua bán không đáng kể. Ngoại tệ mua bán trong phần lớn các hợp đồng là USD.
Việc kí kết hợp đồng gặp khá nhiều khó khăn, có khi kéo dài đến vài tháng. Nguyên nhân là sau khi gửi đơn chào giới thiệu về nghiệp vụ cho các doanh nghiệp tiềm năng, phía Ngân hàng phải chờ một thời gian khá lâu mới nhận được trả lời của các doanh nghiệp. Thêm nữa, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng chấp nhận thử nghiệm một nghiệp vụ còn mới mẻ như option, và nếu có chấp nhận thì không phải lúc nào cũng có sẵn các hợp đồng đủ lớn để có thể tận dụng tốt nhất hiệu quả của nghiệp vụ này.
Có thể rút ra một số mặt thuận lợi và khó khăn trong quá trình thí điểm option ngoại tệ – VND tại Techcombank như sau:
- Điểm thuận lợi
Trong thời gian đầu, Techcombank thuộc nhóm ngân hàng tiên phong trong việc áp dụng nghiệp vụ option ngoại tệ – VND tại Việt Nam, có được lợi thế của người khai thác thị trường mới. Ngoài ra, Techcombank được Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn chỉ đạo sát sao và tạo điều kiện để có thể tiến hành thử nghiệm các phương thức kinh doanh sao cho hiệu quả nhất, cũng như kịp thời phản ánh các khó khăn trong quá trình thực hiện.
Đội ngũ cán bộ đảm nhận triển khai option đã có sự chuẩn bị rất kĩ lưỡng trước khi ứng dụng nghiệp vụ tại Ngân hàng. Nhóm option đã tiến hành nhiều nghiên cứu về lí thuyết cũng như thực tế thực hiện nghiệp vụ này trên thế giới nhằm đưa ra mô hình phù hợp nhất cho Techcombank, tạo hiệu quả tối đa cho doanh nghiệp và lợi nhuận tối đa cho Ngân hàng.
- Điểm khó khăn
Về phía Doanh nghiệp:
- Kiến thức về những sản phẩm phái sinh phòng chống rủi ro còn quá mới ở Việt Nam. Các doanh nghiệp chưa quen với việc áp dụng các phương thức này. Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
- Về mặt pháp lý, hiện chỉ có văn bản của Ngân hàng Nhà nước cho phép các Ngân hàng thực hiện thí điểm hợp đồng option ngoại tệ – VND. Các cơ quan khác như Bộ thương mại, Bộ tài chính (Tổng cục thuế) chưa có những văn bản làm rõ, xác nhận nghiệp vụ này như một hoạt động kinh doanh tài chính của DN. Việc này có thể gây khó khăn khi DN ghi nhận chi phí, nhất là trong trường hợp không thực hiện quyền chọn. Việc không có các văn bản của các cơ quan khác điều chỉnh nghiệp vụ này còn gây cản ngại tâm lý cho các doanh nghiệp nhà nước.
Về phía Ngân hàng:
- Phân đoạn khách hàng chủ yếu của Techcombank thời gian gần đây là nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh doanh cá thể – không phải là thị trường mục tiêu tiềm năng cho nghiệp vụ option ngoại tệ – VND. Nghiệp vụ này phát huy tốt nhất khi khối lượng ngoại tệ giao dịch lớn trong hoàn cảnh tỉ giá có nhiều biến động.
- Về mặt kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ này khá phức tạp. So với nghiệp vụ kì hạn hay hoán đổi, nghiệp vụ quyền chọn tối ưu hơn trong việc bảo hiểm cho doanh nghiệp, song cũng khó làm hơn, đòi hỏi sự nhạy bén và trình độ tư vấn thị trường. Hơn nữa, thời gian một năm thực hiện chưa đủ dài và số giao dịch cũng chưa đủ lớn để các bộ phận liên quan đến nghiệp vụ option có thể thu thập kinh nghiệm và vận dụng một cách hiệu quả nhất.
Qua phân tích trên có thể rút ra kết luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank tuy đã đạt được một số kết quả đáng kể: đảm bảo đủ nguồn ngoại tệ cho dịch vụ thanh toán quốc tế và tín dụng, quản lý tốt nguồn vốn chung của Ngân hàng; song hoạt động này vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có của Ngân hàng, kể cả về cơ sở vật chất lẫn nguồn nhân lực. Đóng góp vào doanh thu hoạt động chung còn ít, số giao dịch phái sinh thực hiện nhằm mục đích phòng chống rủi ro cho doanh nghiệp chưa nhiều. Do đó, thời gian tới đây, Techcombank cần có nhiều biện pháp hữu hiệu hơn để nâng cao hơn số lượng lẫn chất lượng của hoạt động Kinh doanh ngoại hối. Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank


Pingback: Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank