Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

I. Quá trình cổ phần hóa và thực trạng ở Việt Nam

Bên cạnh các biện pháp sắp xếp, tổ chức lại, sáp nhập, giải thể các doanh nghiệp nhà nước để giảm bớt các doanh nghiệp kém hiệu quả, thua lỗ, Nhà nước chủ trương tiến hành đa dạng hoá sở hữu, chuyển một bộ phận doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần lần đầu tiên được đề ra tại Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khoá VII) tháng 11 năm 2011. Chủ trương này được tiếp tục khẳng định trong nhiều văn kiện tiếp theo của Đảng, như: Nghị quyết Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII), Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước ngày 17 tháng 3 năm 2015, Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khoá VIII), Thông báo số 63-TB/TW ngày 4 tháng 4 năm 2017 của Bộ chính trị về tiếp tục triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Trong quá trình thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, những chủ trương chích sách của Đảng và Nhà nước cũng ngày càng hoàn thiện, cụ thể hoá mục tiêu, đối tượng và giải pháp nên tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ngày càng được thuận lợi hơn.

1 Giai đoạn thí điểm (từ 2012 đến tháng 5/2016):

1.1 Cơ sở pháp lý để thực hiện cổ phần hóa

Chủ trương cổ phần hóa đã được nêu tại Nghị quyết hội nghị Trung ương 2 – khoá VII, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, Thông báo 63 TB/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết kỳ họp thứ 10 – Quốc hội khoá VII ngày 26/12/2011, Nghị quyết kỳ họp thứ IV – Quốc hội khoá IX tháng 12/2013.

Chính phủ (lúc đó là HĐBT) đã có quyết định 202/HĐBT ngày 8/6/2012 về việc: “tiếp tục thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần”; và Chỉ thị 84/TTg ngày 4/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc: “xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và các giải pháp đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp nhà nước”, đây là những cơ sở pháp lý đầu tiên của Chính phủ hướng dẫn và thúc đẩy việc thực hiện thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Về phía ngành tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 36/TC/CN ngày 7 tháng 5 năm 2013 hướng dẫn những vấn đề về tài chính trong việc thực hiện thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Có thể nói chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam thực sự bắt đầu từ năm 2012. Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Những nguyên nhân chính của việc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn này:

  • Còn quá nhiều chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các chính sách tài chính, tín dụng.
  • Việc xử lý các tồn tại về tài chính trong doanh nghiệp chưa có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, còn mang tính chất khoán trắng cho doanh nghiệp.
  • Chưa có các chính sách ưu đãi thoả đáng cho doanh nghiệp và người lao động ở các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa.
  • Việc định giá tài sản mang nặng tính chủ quan của người bán là Nhà nước, chưa xét đến nhu cầu và quyền lợi của người mua.

1.2 Triển khai cổ phần hóa trong thực tế.

Tiến trình thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn này hết sức khó khăn và chậm chạp. Trong 5 năm, kể từ tháng 6/2012 đến tháng 5/2016 mới cổ phần hóa được 5 doanh nghiệp thuộc 3 Bộ và 2 địa phương, đó là:

  • Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển (thuộc Bộ Giao thông)
  • Công ty cổ phần giày Hiệp An (thuộc Bộ Công nghiệp)
  • Công ty cổ phần chế biến thức ăn gia súc (thuộc Bộ Nông nghiệp)
  • Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (thuộc UBND Hồ Chí Minh)
  • Công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An (thuộc UBND tỉnh Long An).

Đối với giai đoạn thí điểm này thì, hiệu quả của các doanh nghiệp đã được cổ phần hóa được thể hiện rõ ràng, nhưng giai đoạn thí điểm đã tương đối kéo dài (khoảng 5 năm). Điều này có thể thấy rằng tư tưởng nhận thức của các doanh nghiệp nhà nước về vấn đề cổ phần hóa vẫn còn rụt rè hạn chế, thêm vào nữa, hệ tư tưởng của cán bộ công nhân viên chức trong khối doanh nghiệp nhà nước đã khiến cho quá trình này kéo dài và sự chủ động của các Bộ ban nghành là chưa cao.

2. Thời kỳ mở rộng cổ phần hóa (từ tháng 5/2016 đến tháng 6/2018): Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

  • Cơ sở pháp lý nhằm mở rộng cổ phần hóa

Trong kết luận của Bộ Chính trị về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm năm 2016-2020 và năm 2016 (số 30-1 BBK/BCT ngày 12/9/2015) đã khẳng định cổ phần hóa phải giữ vững định hướng XHCN và phải phân loại doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hóa.

Ngày 4/4/2017, Bộ Chính trị đã có thông báo số 63/TB-TW “triển khai tích cực, vững chắc việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực để thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả, không phải để tư nhân hoá”.

Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/CP ngày 7/5/2016 về việc chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Các bộ, ngành chức năng đã tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định 28/CP.

Nghị định 28/CP và Nghị định 25/CP đã thể hiện một bước sự thông thoáng trong việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước như vấn đề xác định mục tiêu, đối tượng, phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, hình thức cổ phần hóa, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động …

Với các cơ chế chính sách cởi mở và thông thoáng hơn, tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong thời gian đó đã có những chuyển biến tích cực, chỉ trong vòng 2 năm (từ 5/2016 đến tháng 6/2018) cả nước thực hiện cổ phần hóa 25 doanh nghiệp nhà nước (gấp 5 lần so với 5 năm thí điểm).

Tuy nhiên, quá trình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong 2 năm nói trên cũng đã cho thấy hệ thống cơ chế chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước biệt là cơ chế, chính sách về tài chính) ban hành kèm theo Nghị định 28/CP và Nghị định 25/CP cũng còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu để hoàn thiện về lựa chọn doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hóa, hình thức cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, chính sách ưu đãi…

  • Thực tiễn triển khai đến các doanh nghiệp.

Các tỉnh, thành phố, bộ, ngành và tổng công ty 91 đã đăng ký hơn 200 DN thực hiện cổ phần hóa, chiếm trên 3% số doanh nghiệp nhà nước. Tính đến đầu tháng 6 năm 2018 đã có 25 doanh nghiệp nhà nước chuyển thành CTP trong đó tập trung chủ yếu ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn một số DN đang tiến hành cổ phần hóa ở các bước xác định giá trị DN, kiểm toán,… Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Quy mô các DN tiến hành cổ phần hóa đợt này cũng lớn hơn so với giai đoạn thí điểm: 1 DN có vốn 120 tỷ đồng và 5 DN có vốn từ 10 tỷ trở lên (giai đoạn thử nghiệm chỉ có 1 DN lớn có số vốn là 16 tỷ đồng). Trong số 25 DN đã cổ phần hóa có 1 DN Nhà nước không nắm giữ cổ phần là Công ty đầu tư sản xuất và thương mại Hà Nội. Trong số 24 công ty còn lại thì Nhà nước nắm giữ ít nhất là 10% và cao nhất là 60,62% số cổ phần của công ty. Cổ đông là người lao động trong công ty sở hữu từ 10 đến 70% số cổ phần, còn lại là cổ đông ngoài DN sở hữu.

Việc thực hiện chậm chễ và ì iạch đã khiến cho chủ chương của Đảng và Nhà nước đưa ra chưa thực hiện được, khiến cho người dân giảm sự tin tưởng vào các chủ chương của Đảng. Đồng thời, với việc cổ phần hóa chậm chạp khiến cho hiệu quả kinh tế của khu vực kinh tế Nhà nước vẫn kém hiệu quả không thúc đẩy được nhiều sự phát triển chung của nền kinh tế, vốn Nhà nước vẫn không được đầu tư có hiệu quả…

3. Thời kỳ đẩy mạnh cổ phần hóa hay giai đoạn chủ động (từ tháng 7/2018 đến nay)

  • Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành TW Đảng (khoá VIII) tháng 12/2017: “Phân loại doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh, xác định danh mục loại doanh nghiệp cần giữ 100% vốn Nhà nước; loại doanh nghiệp nhà nước cần nắm giữ tỷ lệ cổ phần chi phối; loại doanh nghiệp nhà nước chỉ cần giữ cổ phần ở mức thấp”.

Ngày 29/6/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định 44/2018/NĐ-CP thay cho Nghị định 28/CP ngày7/5/2016, các Bộ, ngành chức năng cũng đã ban hành các thông tư hướng dẫn.

Những đổi mới quan trọng trong Nghị định này được thể hiện về đối tượng cổ phần hóa, về thẩm quyền quyết định cổ phần hóa, về đối tượng bán cổ phần, về chính sách ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa, về hình thức cổ phần hóa, về xác định giá trị doanh nghiệp về quản lý và sử dụng tiền bán phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.

Nếu như trong 7 năm (từ 2012 đến 6/2018) cả nước mới cổ phần hóa được 30 doanh nghiệp, thì chỉ riêng 6 tháng cuối năm 2018 đã cổ phần hóa thành công 87 doanh nghiệp và trong năm 2019 đã triển khai công tác cổ phần hóa ở trên 300 doanh nghiệp, trong đó đã hoàn thành việc chuyển thành công ty cổ phần 250 doanh nghiệp.

Về tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sau khi thực hiện cổ phần hóa: Theo báo cáo của Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương thì cả 370 doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, doanh thu bình quân của các doanh nghiệp tăng 30% so với năm trước, lợi nhuận và nộp ngân sách bình quân đều tăng gấp 2 lần so với trước khi cổ phần hóa, về vốn tăng trưởng bình quân khoảng 15%/năm.

Thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp cũng tăng từ 1,5 đến 4 lần so với trước khi thực hiện cổ phần hóa. Công ty cổ phần đã thu hút và giải quyết thêm việc làm cho người lao động ở trên địa bàn (số lao động trong các doanh nghiệp đã chuyển sang công ty cổ phần tăng khoảng 20% so với trước khi thực hiện chuyển đổi).

Huy động được trên 1.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi trong và ngoài nước để phát triển sản xuất và giải quyết các chính sách xã hội cho người lao động. Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Chính phủ đã ký ban hành Nghị định 64/2022/NĐ-CP về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần thay thế Nghị định 44/2018/NĐ-CP với những đối mới cơ bản về mục tiêu cổ phần hóa, về đối tượng áp dụng, xử lý những tồn tại về tài chính trước khi cổ phần hóa, cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp, việc bán cổ phần phát hành lần đầu chính sách đối với doanh nghiệp cổ phần hóa, chính sách đối với người lao động, về phân cấp trong công tác tổ chức và chỉ đạo thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Nghị định 64/CP đã giải quyết được nhiều vướng mắc trong Nghj định 44/CP.

  • Thực tiễn kết quả cổ phần hóa đã đạt được

Hiện tại đã có 11/13 Bộ, 14/17 Tổng công ty 91, 53/61 tỉnh, thành phố đã có doanh nghiệp cổ phần hóa. Đặc biệt một số Bộ, ngành, tỉnh, Tổng công ty 91 tích cực triển khai cổ phần hóa như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định, Thái Bình, Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Định, Lâm Đồng, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng công ty hàng hải, Tổng công ty Dệt-May,Tổng công ty Xi măng, Tổng công ty Bưu chính viễn thông, Tổng công ty Than…

Việc thực hiện cổ phần hóa có chuyển biến rõ rệt và đáng khích lệ từ khi có Nghị định 44/2018/NĐ-CP. Riêng nửa cuối năm 2018 đã cổ phần hóa và đa dạng hoá sở hữu được 86 doanh nghiệp, đưa tổng số doanh nghiệp được chuyển đổi lên 116.

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, 02/2025, số doanh nghiệp cổ phần hóa năm 2019 là 249 doanh nghiệp, gấp hơn 8 lần so với 7 năm trước cộng lại. Tổng số doanh nghiệp đã cổ phần hóa đến thời điểm đó đã gấp hơn 12 lần so với cả thời kỳ thí điểm cổ phần hóa.

Năm 2025, có 754 doanh nghiệp nhà nước và bộ phận doanh nghiệp nhà nước hoàn thành cổ phần hóa, đưa tổng số doanh nghiệp nhà nước và bộ phận doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa từ trước tới nay lên 2987 đơn vị, trong đó riêng 5 năm 2021 – 2025 cổ phần hóa được 2407 đơn vị.

Như vậy, trong giai đoạn 5 năm 2021 – 2025, số lượng doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa đã bằng 80,4% tổng số doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa từ trước tới nay. Nếu chỉ tính trong 2 năm 2024 – 2025, đã cổ phần hóa 1507 đơn vị bằng 58% tổng số đơn vị cổ phần hóa. Qua đó cho thấy, kể từ khi có nghị quyết Trung ương 3, khoá IX (năm 2021) đến nay, công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã có bước chuyển biến rõ rệt, đặc biệt những năm gần đây, tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước càng được đẩy nhanh hơn. Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Trong số các doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa, doanh nghiệp có vốn Nhà nước dưới 5 tỷ đồng chiếm 56,1%, tập trung chủ yếu ở các ngành xây lắp, công nghiệp sản xuất, gia công hàng tiêu dùng, thương mại dịch vụ, chế biến nông sản thực phẩm do các địa phương quản lý. Doanh nghiệp có vốn Nhà nước từ 5 – 10 tỷ đồng chiếm 24,4%. Còn lại là các doanh nghiệp có vốn Nhà nước trên 10 tỷ đồng chiếm 19,5%. Những đơn vị đạt kết quả cao so với kế hoạch cổ phần doanh nghiệp nhà nước là: Bộ Công nghiệp (143%), Bộ Xây dựng (125%), Tổng công ty Dệt May Việt Nam (133%), Tổng công ty Hoá chất Việt Nam (100%), tỉnh Hải Dương (116%), tỉnh An Giang (130%), tỉnh Thanh Hoá (120%), tỉnh Vĩnh Phúc (115%)…

Nói tóm lại, qua hơn 15 năm thực hiện cổ phần hóa, đến hết năm 2025, chúng ta đã thành lập được 2987 công ty cổ phần trên cơ sở cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và bộ phận doanh nghiệp nhà nước.

  • Kết quả thực hiện qua từng năm như sau:

Nhìn vào đồ thị dưới đây ta thấy được số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa từ năm 2019 đến năm 2025 đã tăng đáng kể. Mặc dù thời gian đầu, số lượng doanh nghiệp được cổ phần hoá mỗi năm còn ít song thời gian gần đây đã bắt đầu tăng nhanh, đặc biệt từ năm 2023, con số này đã tăng đột biến. Điều này chứng tỏ trong những năm gần đây, tốc độ cổ phần hoá đã dần được đẩy mạnh.

Về thời gian thực hiện cổ phần hóa, sau 15 năm đã rút ngắn đáng kể. Thời gian cổ phần hóa một doanh nghiệp:

Số ngày để hoàn tất cổ phần hóa một doanh nghiệp nhà nước bình quân năm 2024 là 437 ngày.

  • Trong đó, chia theo các giai đoạn cụ thể là:

Như vậy chỉ tính riêng từ khi thành lập Ban đổi mới doanh nghiệp đến khi xác định xong giá trị doanh nghiệp đã mất 270 ngày, chiếm quá nửa số thời gian cả quá trình cổ phần hóa. Khâu đăng ký kinh doanh không có nội dung gì phức tạp cũng phải mất một thời gian quá dài. Nhưng đến nay khoảng thời gian này đã giảm từ bình quân 437 ngày/doanh nghiệp xuống còn khoảng 260 ngày, giảm 40%.

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, hình thức cổ phần hóa phổ biến nhất là bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp kết hợp phát hành thêm cổ phiếu (chiếm 43,4%), tiếp đó là bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp (26%), còn lại là bán toàn bộ vốn Nhà nước tại doanh nghiệp (15,5%) và giữ nguyên vốn Nhà nước và phát hành thêm cổ phiếu (15,1%). Trong số các doanh nghiệp đã cổ phần hóa, ngành công nghiệp giao thông vận tải và xây dựng chiếm tỷ trọng 65,5%, thương mại – dịch vụ chiếm 28,7% và ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 5,8%. Nếu phân chia theo địa phương tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chiếm 65,7%, bộ – ngành trung ương chiếm 25,8%, tổng công ty 91 chiếm 8,5%. Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Điều này dẫn tới thực trạng cơ cấu vốn và hình thức sở hữu của các doanh nghiệp cổ phần hóa hiện nay là: Nhà nước nắm giữ 46,3% vốn, người lao động 29,6% và cổ đông bên ngoài 24,1% vốn điều lệ. Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (từ 50% vốn điều lện trở lên) đối với 33% doanh nghiệp đã cổ phần hóa hiện nay.

  • Cơ cấu doanh nghiệp cổ phần hóa theo lĩnh vực hoạt động và theo địa phương

Số lượng các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa giữa các lĩnh vực, giữa các địa phương không giống nhau mà có sự khác biệt tuỳ thuộc vào lĩnh vực hoạt động và tuỳ theo từng địa phương. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự quan tâm của địa phương về vấn đề này, số lượng doanh nghiệp nhà nước ở địa phương…

  • Bảng phân loại các doanh nghiệp đã cổ phần hóa tính đến hết năm 2024

Có thể thấy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được tập trung vào thời kỳ vài năm trở lại đây, sau khi đã có các Nghị quyết Trung ương 3, 4 khoá IX. Để triển khai thực hiện các Nghị quyết này, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 104 đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, sẽ cổ phần hóa 2053 trong tổng số 4724 doanh nghiệp nhà nước (năm 2022). Theo số liệu thực tế, trong năm 2021 đến hết năm 2024 đã cổ phần hóa được 1654 doanh nghiệp nhà nước, đạt trên 80% so với nhiệm vụ của các đề án được phê duyệt.

Từ số liệu ở bảng trên, ta có đồ thị như sau:

  • Cơ cấu số lượng doanh nghiệp cổ phần hoá phân theo lĩnh vực hoạt động

Đồ thị này cho thấy số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa được phân bổ theo các lĩnh vực hoạt động là không giống nhau. Số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa trong các lĩnh vực Công nghiệp – Giao thông – Xây dựng chiếm tỷ trọng cao nhất, khoảng 65 % cho thấy việc tiến hành cổ phần hóa trong các lĩnh vực này được thực hiện khá tốt. Trong khi đó, số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa trong lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư nghiệp chỉ đạt khoảng 6 % trên tổng số, chiếm tỷ trọng thấp nhất.

Cũng theo bảng trên, ta thấy:

  • Cơ cấu số lượng doanh nghiệp cổ phần hoá phân theo địa phương

Nhìn vào đồ thị ta thấy được sự phân bố doanh nghiệp cổ phần hóa giữa các địa phương. Cụ thể là số doanh nghiệp được cổ phần hóa tại các tỉnh, thành phố trực thuộc TW chiếm tỷ trọng 65 %, tại các bộ, ngành TW chiếm 26 % và tại Tổng công ty 91 chiếm 9 %. Điều này cho thấy việc tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại các tỉnh, thành phố trực thuộc TW đã được thực hiện khá tốt. Còn tại Tổng công ty 91, việc thực hiện chủ trương này còn chậm.

  • Cơ cấu doanh nghiệp cổ phần hoá theo quy mô vốn Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Nghị quyết TW 9 đã có chủ trương mở rộng quy mô và diện doanh nghiệp cổ phần hoá nên đã triển khai trên thực tế cổ phần hoá một số doanh nghiệp quy mô lớn, có giá trị doanh nghiệp lên tới hàng tỷ đồng, vốn Nhà nước hàng trăm tỷ đồng như Công ty sữa Việt Nam ( giá trị doanh nghiệp 2.500 tỷ đồng, vốn Nhà nước 1.500 tỷ đồng ), nhà máy Thuỷ điện Sông Hinh – Vĩnh Sơn ( giá trị doanh nghiệp 2.114 tỷ đồng, vốn Nhà nước 1.253 tỷ đồng), Công ty Bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh ( giá trị doanh nghiệp 1.311 tỷ đồng, vốn Nhà nước 650 tỷ đồng ) … Mặc dù vậy, các doanh nghiệp được cổ phần hoá vẫn là những đơn vị có quy mô nhỏ và vừa, vốn một doanh nghiệp thường dưới 5 tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở các ngành thi công xây lắp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thương mại dịch vụ, chế biến nông phẩm do các địa phương quản lý.

  • Quy mô vốn Nhà nước của các doanh nghiệp đã cổ phần hóa

Như vậy, cổ phần hóa đối với doanh nghiệp lớn còn nhiều khó khăn do những vướng mắc về cơ chế chính sách như sự vướng mắc về mặt pháp lý khi tiến hành cổ phần hoá và sự khó khăn trong định giá tài sản của doanh nghiệp.

Cổ phần hoá đã tạo ra loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu, bao gồm Nhà nước, người lao động trong doanh nghiệp, cổ đông ngoài doanh nghiệp.

Tính chung kết quả cổ phần hoá trong thời gian qua trong tổng số vốn điều lệ của mỗi công ty, Nhà nước nắm giữ 46,5%, tương ứng với 10.792 tỷ đồng, người lao động trong doanh nghiệp nắm giữ 38,1%, tương ứng với 8.847 tỷ đồng và cổ đông ngoài doanh nghiệp nắm giữ 15,4%, tương ứng với 3.564 tỷ đồng.

Từ số liệu ở bảng trên, ta có được đồ thị:

  • Cơ cấu số lượng doanh nghiệp cổ phần hoá phân theo quy mô vốn Nhà nước

Đồ thị này cho chúng ta thấy số lượng doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa trong thời gian qua chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có quy mô vốn Nhà nước ít, chủ yếu là dưới 5 tỷ đồng ( chiếm tới 59 % ). Số lượng các doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng còn chiếm tỷ trọng quá thấp ( chỉ có 19 % ). Đây là nguyên nhân vì sao mặc dù số lượng doanh nghiệp được cổ phần hóa của chúng ta khá lớn song số vốn Nhà nước được cổ phần hóa lại rất nhỏ.

Cơ cấu vốn này có sự khác biệt khá rõ giữa số doanh nghiệp ở các bộ, ngành và địa phương. Điều này thể hiện qua Bảng sau.

  • Cơ cấu vốn trong doanh nghiệp
  • Cơ cấu doanh nghiệp theo hình thức cổ phần hoá

Các hình thức cổ phần hóa theo quy định đều đã được áp dụng trong cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, hình thức chủ yếu là bán bớt một phần vốn của Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.

  • Các hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

Từ số liệu ở bảng trên, ta có đồ thị:

  • Cơ cấu số lượng doanh nghiệp cổ phần hoá phân theo hình thức tiến hành cổ phần hóa

Nhìn vào đồ thị ta thấy hình thức cổ phần hoá chủ yếu là hình thức bán một phần vốn nhà nước kết hợp phát hành cổ phiếu ( chiếm khoảng 44 % ).

II. Những mặt được và những mặt chưa được của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong thời gian qua Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Đổi mới, sắp xếp và phát triển doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Chủ trương này đã được triển khai thực hiện trong gần 20 năm qua. Mặc dù có những thăng trầm nhưng đã đem lại những kết quả đáng ghi nhận.

CPH doanh nghiệp nhà nước là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta thì sau 15 năm triển khai thực hiện chúng ta đã đạt được những hiệu quả nhất định nhưng nhìn chung tiến độ cổ phần hóa còn khá chậm, nhất là ở các doanh nghiệp quy mô lớn, trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Theo nội dung Báo cáo tình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Việt Nam tại phiên họp thứ 43 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội vào ngày 21/9/2026.

Báo cáo nêu rõ: Những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2021, số lượng doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa tăng đáng kể, nhưng nhìn chung việc triển khai còn chậm. Tính đến 31/12/2025, cả nước mới cổ phần hóa được 2987 doanh nghiệp nhà nước. Số doanh nghiệp được cổ phần hóa tăng nhiều, nhưng số vốn mới chiếm 12% tổng số vốn trong các doanh nghiệp nhà nước; nếu trừ đi phần vốn Nhà nước còn giữ lại gần 50% trong các doanh nghiệp cổ phần hóa, thì thực chất tỷ lệ trên chỉ chiếm khoảng 6%. So với mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX thì còn chậm, nhất là các doanh nghiệp có qui mô lớn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Tiến độ cổ phần hóa không đồng đều giữa các bộ, ngành, địa phương; một số bộ, ngành chưa hoàn thành theo đề án đã được phê duyệt…

Qua hơn 15 năm triển khai, chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã đạt được những hiệu quả về kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, tạo sự rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng thành phần sở hữu, từng cổ đông; xoá bỏ cơ chế phân phối bình quân; hình thành phương thức phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn, giảm được sự can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý Nhà nước; tạo cơ chế quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm thúc đẩy doanh nghiệp năng động hơn; tạo cơ sở pháp lý và vật chất để người lao động xác lập và nâng cao vai trò làm chủ, gắn bó máu thịt với doanh nghiệp. Kết quả nổi bật của cổ phần hóa là năng lực cạch tranh của các doanh nghiệp nhà nước được nâng lên đáng kể. Họ phải tự tìm kiếm cơ hội, đối tác kinh doanh, chủ động đổi mới công nghệ, tiết kiệm tối đa các chi phí để tăng doanh thu. cổ phần hóa cũng đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, tạo cơ hội việc làm cho người lao động. Dưới góc độ phân công lao động trong xã hội, cổ phần hóa đã thực sự giải phóng sức lao động từ chỗ đông mà không mạnh, ỷ lại, dựa dẫm, thụ động chuyển sang chủ động tích cực hơn trong nền kinh tế nhiều thành phần với thái độ đầy đủ hơn, trách nhiệm hơn, góp phần tăng thu nhập cho xã hội, cho Nhà nước và cho người lao động.

CPH là vấn đề hệ trọng và khá nhạy cảm, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước, được quốc tế ủng hộ và chúng ta đã thu được một số kết quả, tuy nhiên tiến độ còn chậm, chất lượng cổ phần hóa chưa đồng đều ở 3 giai đoạn, điều day dứt nhất vẫn là vấn đề xác định giá trị tài sản không chính xác làm thiệt hại lớn cho Nhà nước … Cần phải có đánh giá cụ thể về nộp ngân sách cho Nhà nước là bao nhiêu khi bán cổ phần …, để có chính sách thuế, hoặc ưu đãi cho những doanh nghiệp đã cổ phần hóa làm ăn tốt; vấn đề nợ cũng là vấn đề cần phải bàn, nhất là nợ xấu khó đòi đối với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Cần có giải pháp khả thi để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

1. Đánh giá những kết quả đã đạt được của quá trình cổ phần hóa Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

CPH doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng, một nội dung cơ bản và quan trọng nhất của tiến trình đổi mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Hơn 15 năm qua, kể từ năm 2012 đến nay, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã đem lại những kết quả rõ rệt. Cụ thể là:

  • Về số lượng doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa.

Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được thí điểm từ trước năm 2012, thực hiện từ năm 2013, được triển khai mạnh từ năm 2018 và đẩy mạnh hơn từ năm 2023.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã đề ra phải rà soát và thu hẹp hơn nữa diện các doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối, tập trung vào một số ngành và lĩnh vực then chốt thật sự cần có vai trò của kinh tế Nhà nước; đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, mở rộng diện các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, kể cả những doanh nghiệp lớn và một số tổng công ty kinh doanh có hiệu quả. Nhờ đó, từ năm 2012 đến hết năm 2025, trên phạm vi cả nước đã cổ phần hóa được 2987 doanh nghiệp nhà nước và bộ phận doanh nghiệp nhà nước.

  • Về vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước

Việc hoàn thành cổ phần hóa 2987 doanh nghiệp nhà nước không chỉ đơn thuần là giảm được số lượng doanh nghiệp nhà nước mà còn để doanh nghiệp nhà nước có được bước cơ cấu lại quan trọng. Từ chỗ doanh nghiệp nhà nước rất phân tán, dàn trải trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, đã tập trung vào hơn 39 ngành, lĩnh vực then chốt của ngành kinh tế, trong đó nhiều ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp nhà nước cần chi phối để Nhà nước làm công cụ điều tiết vĩ mô.

Quy mô vốn của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa cũng được tăng lên đáng kể. Vốn bình quân của một công ty cổ phần khoảng 24 tỷ đồng (năm 2021) đến năm 2024 đã tăng lên đến 63,6 tỷ đồng. Tỷ trọng các doanh nghiệp có vốn Nhà nước dưới 5 tỷ đồng giảm đáng kể và đến nay hầu như không còn công ty cổ phần có vốn Nhà nước dưới 1 tỷ đồng.

Tài chính doanh nghiệp được lành mạnh hoá hơn một bước thông qua việc cơ cấu lại các khoản nợ; xử lý tài sản là vật tư, hàng hoá ứ đọng, tồn kho lâu ngày, kém hoặc mất phẩm chất, máy móc thiết bị không dùng hạch toán vào chi phí hoạt động kinh doanh, giảm vốn Nhà nước hoặc bán cho công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp.

Lao động của công ty cổ phần được cơ cấu lại một bước. Tính đến 31/12/2024 đã có 654 doanh nghiệp được duyệt kinh phí giải quyết cho 27.674 lao động dôi dư với số tiền trợ cấp là 812,113 tỷ đồng, bình quân mỗi người được 30 triệu đồng.

Về việc huy động vốn xã hội đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh Trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, vốn Nhà nước tại doanh nghiệp đã được đánh giá lại khách quan hơn, tiếp cận hơn với kinh tế thị trường. Mặt khác đã huy động được 12.411 tỷ đồng của các cá nhân, tổ chức ngoài xã hội vào doanh nghiệp để kinh doanh, đầu tư phát triển sản xuất. Đồng thời, Nhà nước cũng thu lại được 10.169 tỷ đồng để đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước và sử dụng vào mục đích khác khuyến khích doanh nghiệp nhà nước phát triển. Phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp cổ phần hóa không những không bị giảm đi mà còn được bảo toàn và phát triển nhờ hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần hóa ngày càng tăng. ở một số doanh nghiệp, tỷ trọng vốn Nhà nước giảm là do Nhà nước bán phần vốn Nhà nước trong công ty cổ phần hoặc Nhà nước không bổ sung thêm tiền để duy trì tỷ lệ vốn Nhà nước theo phương án cổ phần hóa ban đầu khi công ty cổ phần phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ cho công ty FPT, công ty cơ điện lạnh thành phố Hồ Chí Minh…

Trong quá trình hoạt động, các công ty cổ phần đã phát hành các loại cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng để huy động vốn. Sự chuyển nhượng các loại cổ phiếu và trái phiếu này trên thị trường chứng khoán đã tạo nên sự phân bổ linh hoạt các nguồn vốn xã hội. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư thêm máy móc kỹ thuật hiện đại, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, kinh doanh đa ngành, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước cũng như ngoài nước.

CPH thúc đẩy quá trình ra đời, hình thành và phát triển thị trường chứng khoán. Đến cuối năm 2024, đã có 26 công ty cổ phần hình thành từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được niêm yết, mặc dù số lượng còn ít nhưng đây mới chỉ là kết quả ban đầu. Tới thời điểm hiện tại đã có 45 công ty cổ phần được niêm yết. Sự thành công và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam phụ thuộc vào quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. cổ phần hóa đang ngày càng tạo ra nhiều hàng hoá đủ tiêu chuẩn và chất lượng cho hoạt động của thị trường chứng khoán. Ngược lại, thị trường chứng khoán được phát triển lại có tác động đẩy nhanh tiến độ và quy mô cổ phần hóa. Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

  • Về cơ chế quản lý của công ty sau cổ phần hóa

Việc chuyển từ doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần đã mang lại cho công ty cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả, thích nghi với nền kinh tế thị trường. nhờ cổ phần hóa đã xác định rõ người chủ đích thực của doanh nghiệp – công ty cổ phần. Đó là các cổ đông, bao gồm Nhà nước, lao động – cổ đông trong doanh nghiệp và các cổ đông ngoài doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật, hạch toán kinh tế thật sự.

Sau cổ phần hóa, doanh nghiệp được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Theo cơ cấu có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban giám đốc công ty. Có sự phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của chủ sử hữu và người sử dụng tài sản của công ty trong kinh doanh. Mô hình tổ chức quản lý mới đã tạo thêm động lực và tính năng động trong sản xuất kinh doanh, đồng thời đã loại bỏ hoặc hạn chế về cơ bản những hiện tượng tiêu cực trong các hoạt động kinh doanh và quản lý. Công ty được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đặc biệt là trong đầu tư phát triển, phân phối lợi nhuận, sắp xếp tổ chức và bổ nhiệm cán bộ. Thực tế sau cổ phần hóa, các công ty đã và đang thực hiện nhiều biện pháp tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh và quản lý, đem lại hiệu quả rõ rệt.

Các chi phí gián tiếp, quản lý đã giảm được khoảng 25%, cá biệt có công ty giảm 50% so với trước cổ phần hóa. Nhiều công ty cổ phần đã tiến hành rà soát lại và xây dựng mới các nội quy hoạt động như: quy chế tài chính, quy chế lao động, tuyển dụng, … Qua đó cổ phần hóa cũng góp phần đào tạo, rèn luyện, dần hình thành đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp thích nghi với cơ chế thị trường.

  • Về vai trò của người lao động trong doanh nghiệp

Cổ phần đã tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ của doanh nghiệp. Chính sách cổ phần hóa cho phép người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp nhà nước khi chuyển sang công ty cổ phần trở thành cổ đông. Người lao động – cổ đông là chủ thực sự phần vốn góp của mình, có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp một cách có hiệu quả bằng việc dự Đại hội cổ đông để thông qua điều lệ công ty, bầu các thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, biểu quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông như chiến lược kinh doanh, kế hoạch phát triển dài hạn và hàng năm, tăng giảm vốn điều lệ, đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất, phân chia lợi nhuận… Nhờ đó, họ nâng cao được tính chủ động, ý thức kỷ luật, tinh thần tự giác, tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh, góp phần làm cho hiệu quả doanh nghiệp ngày càng tăng. Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Việc kiểm tra, giám sát của người lao động – cổ đông và xã hội đối với công ty cổ phần, nhất là những công ty niêm yết, thực sự có hiệu quả, tài chính của công ty cổ phần được minh bạch, công khai, cùng với những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông nói trên, tạo điều kiện cho việc thực hiện quy chế dân chủ trong doanh nghiệp một cách đầy đủ và khá triệt để.

  • Về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hóa

Nhìn chung, đại đa số các doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động có hiệu quả hơn. Theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về tình hình doanh nghiệp của 850 doanh nghiệp nhà nước hoàn thành cổ phần hóa đã hoạt động trên một năm cho thấy các doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả hơn theo tất cả các chỉ tiêu chủ yếu. Cụ thể là:

  • Vốn điều lệ tăng bình quân 44%
  • Doanh thu tăng bình quân 23,6%, trong đó 71,4% số doanh nghiệp có doanh thu tăng.
  • Lợi nhuận tăng bình quân 39,7% ; trên 90% số doanh nghiệp sau khi cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi.
  • Nộp ngân sách tăng bình quân 24,9%, mặc dù các doanh nghiệp này được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất, tiền thu sử dụng vốn Nhà nước.
  • Thu nhập bình quân của người lao động tăng 12%
  • Số lao động bình quân tăng 6,6% do các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng việc làm.
  • Cổ tức bình quân đạt 17,11%, cao hơn nhiều so với lãi suất tiền gửi ngân hàng. Tính chung tới 71,4% số doanh nghiệp có cổ tức cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng.

Tóm lại, những kết quả đạt được nêu trên đã khẳng định chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn. cổ phần hóa là giải pháp cơ bản, là nội dung quan trọng và chủ yếu nhất của tiến trình sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước ở nước ta.

2. Những tồn tại làm chậm tiến trình cổ phần hóa Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, trong quá trình cổ phần hóa vẫn còn tồn tại và phát sinh một số vấn đề rất đáng lưu tâm và cần được giải quyết như sau:

2.1 Số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa tuy có tăng đáng kể, nhất là những năm gần đây nhưng so với yêu cầu đổi mới còn hạn chế, tốc độ cổ phần hóa còn chậm, thời gian thực hiện cổ phần hóa còn quá dài.

Về số lượng doanh nghiệp được cổ phần hóa so với các đề án của các bộ, ngành, địa phương và tổng công ty 91 do Chính phủ phê duyệt mới chỉ thực hiện được 80%. Nhiều bộ, ngành, và các tổng công ty kết quả cổ phần hóa còn quá thấp, hàng loạt đề án mới chỉ đạt 15-30%.

Về thời gian cổ phần hóa , từ năm 2021 đến năm 2024, thời gian cần thiết bình quân để chuyển một doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần đã được rút bớt từ bình quân 437 ngày/ doanh nghiệp xuống 260 ngày, giảm 40% song vẫn còn quá dài.

2.2 Vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa còn quá nhỏ và việc huy động vốn trong quá trình cổ phần hóa chưa nhiều.

Kết quả cổ phần hóa cho thấy, mặc dù đã cổ phần hóa được khoảng trên 70% số doanh nghiệp nhà nước (tính đến hết năm 2025) song số vốn Nhà nước được cổ phần hóa còn quá nhỏ bé, mới được 25,9 ngàn tỷ đồng, bằng 12% tổng số vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước vẫn nắm giữ tỷ lệ vốn quá cao trong tổng vốn điều lệ các doanh nghiệp đã được cổ phần hóa, bình quân tới 46,3%. Trong khi đó tỷ lệ vốn này của lao động – cổ đông trong doanh nghiệp và của các cổ đông ngoài doanh nghiệp thì thấp, tương ứng là 29,6% và 24,1%. Hầu hết số doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà vốn Nhà nước thường tập trung ở các doanh nghiệp lớn.

Nhà nước cũng còn nắm giữ cổ phần chi phối ở gần 80% tổng số công ty cổ phần và nắm giữ 100% vốn tại 1200 doanh nghiệp nhà nước. Điều này cho thấy, Nhà nước vẫn còn đầu tư tràn lan, dàn trải ra phần lớn các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế. Đồng thời, tình trạng này cũng hạn chế việc mua cổ phần tham gia đầu tư của công nhân viên trong doanh nghiệp, đặc biệt là của các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp ở trong nước và những nhà đầu tư nước ngoài.

2.3 Việc đa dạng hoá sở hữu trong cổ phần hóa còn hạn chế.

Điều này thể hiện ở tỷ lệ vốn của Nhà nước trong tổng vốn điều lệ còn lớn. Nhiều doanh nghiệp thuộc diện không cần giữ cổ phần chi phối nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ. Nhiều người lao động trong doanh nghiệp chưa đủ khả năng mua cổ phần với số lượng lớn ngoài số lượng cổ phần ưu đãi. Trong khi đó, không ít người lao động không những không mua cổ phần lại bán cổ phần ưu đãi ngay sau khi mua. Việc thu hút cổ đông ngoài doanh nghiệp cũng chưa được nhiều (mới chỉ đạt 24,1% vốn điều lệ) và chưa rộng rãi; các cổ đông chiến lược vì thế cũng không có nhiều cơ hội để trở thành những người chủ có vai trò nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Rất nhiều doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa “khép kín”, có tới 860 doanh nghiệp (38,4%) không có cổ phần bán ra ngoài doanh nghiệp. ở một số nơi có hiện tượng định giá doanh nghiệp thấp hơn so với giá thị trường gây thất thoát tài sản của Nhà nước. Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước chưa được thực hiện triệt để theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX và chương trình hành động của Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Nhiều doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa nhưng vẫn chưa tiến hành, lộ trình cổ phần hóa ở nhiều bộ, địa phương, tổng công ty Nhà nước không đảm bảo. ở nhiều bộ, địa phương, doanh nghiệp nhà nước vẫn còn dàn trải. Tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồng tuy có giảm nhưng vẫn còn quá cao. Tài chính doanh nghiệp còn nhiều tồn tại và lao động dôi dư vẫn đang tiếp tục là trở ngại không nhỏ đối với việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước.

2.4 Các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa chưa có sự đổi mới, chuyển biến thực sự

Đây là điểm hạn chế nổi bật trong quản lý doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tư duy quản lý vẫn tiếp tục duy trì như khi còn là doanh nghiệp nhà nước. Điều này thường tồn tại ở những doanh nghiệp mà Nhà nước còn giữ cổ phần quá lớn (trên 70%) và chi phối; chủ tịch Hội đồng quản trị, giám đốc và các cán bộ quản lý khác đều từ doanh nghiệp nhà nước trước đó chuyển sang; đồng thời sự hiểu biết, nắm vững và áp dụng pháp luật công ty cổ phần, quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cổ đông còn hạn chế. Những thông lệ quản trị doanh nghiệp tốt chưa được áp dụng nhiều trong các công ty cổ phần, điều lệ bắt buộc đối với các công ty niêm yết trên thực tế cũng mới chỉ có tính chất tham khảo. Các công ty cổ phần chưa được khuyến khích mạnh mẽ niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Trong nhiều công ty cổ phần, người lao đông – cổ đông một phần chưa nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình, phần khác do sự kém hiểu biết pháp luật về công ty cổ phần nên có chỗ quyền làm chủ chưa được phát huy đầy đủ, ngược lại ở những công ty khác những quy định của pháp luật lại bị lạm dụng quá mức, gây khó khăn cho quản lý của Hội đồng quản trị, điều hành của giám đốc và đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn bế tắc, việc xử lý kéo dài, ảnh hưởng đến quá trình cổ phần hóa. Về pháp lý, cổ đông thiểu số cũng chưa có được những chế định bảo vệ đúng mức nên vai trò còn mờ nhạt. Nhiều nội dung của cơ chế, chính sách quản lý công ty cổ phần vẫn chưa được thay đổi mà phần lớn các công ty vẫn áp dụng như doanh nghiệp nhà nước.

2.5 Một số công ty cổ phần có kết quả kinh doanh thấp, giảm so với trước khi cổ phần hóa

Tuy hiệu quả của cổ phần hóa ngày càng được khẳng định, nhưng sau cổ phần hóa rất nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn, đặc biệt đã xuất hiện tình trạng phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp đã cổ phần hóa mà theo phản ánh của các doanh nghiệp điều này thể hiện rõ các chính sách và thực thi chính sách về đất đai, tài sản, tín dụng.

Thực tế, sau cổ phần hóa, diện tích đất đai nhà xưởng không thay đổi nhiều. Các địa phương vẫn tiếp tục cho doanh nghiệp thuê đất với giá thấp, giao đất với giá thấp hơn so với giá thị trường, nhưng do sự thiếu rõ ràng về quyền sử dụng đất cũng như chưa giải quyết dứt điểm các quyền và nghĩa vụ đất đai có liên quan trước khi đăng ký dưới hình thức công ty cổ phần đã làm nảy sinh nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp cổ phần hóa. Rất nhiều doanh nghiệp lúng túng trong việc bố trí kế hoạch hoạt động kinh doanh như xây dựng nhà xưởng, cơ sở hạ tầng…; hay góp vốn liên doanh bằng tài sản có trên đất mà doanh nghiệp đang sử dụng. Từ thực tế này đã xuất hiện tình trạng các đơn vị thành viên tổng công ty đã cổ phần hóa nhưng không có quyền sử dụng đất, không được đứng tên thuê giao đất nên phải nhờ tổng công ty đứng ra dùng quyền sử dụng đất vay vốn hộ.

Tương tự, trước đây, khi còn là thành viên trong các Tổng công ty, hầu hết các dây chuyền sản xuất chính hoặc các tài sản lớn đều do Tổng công ty đầu tư, đứng tên sở hữu, nhưng khi cổ phần hóa việc chuyển giao đăng ký chưa được dứt điểm, gây ra tình trạng quyền sở hữu tài sản không rõ ràng. Sự không rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm đã khiến cho doanh nghiệp cổ phần hóa gặp nhiều vướng mắc, nhất là khi doanh nghiệp triển khai mở rộng, liên doanh, hợp tác kinh doanh… với các đối tác khác.

Sau cổ phần hóa, doanh nghiệp cần rất nhiều vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất nhưng dưới mô hình hoạt động mới – công ty cổ phần đã gặp phải khó khăn rất lớn là thiếu vốn. Theo các doanh nghiệp, sau cổ phần hóa, tỷ trọng vay vốn từ nguồn tín dụng thương mại nhà nước đã giảm đi đáng kể. Doanh nghiệp cần vốn phải trông chờ vào các nguồn tín dụng khác kể cả tín dụng phi chính thức và tín dụng người lao động, cổ động hoặc gia đình, bạn bè.

Không chỉ có thế, sự phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp cổ phần hóa thể hiện rõ qua việc các điều kiện về tín dụng, thế chấp, cầm cố tài sản và lòng tin khi cho vay của ngân hàng có sự thay đổi đáng kể đối với doanh nghiệp trước và sau khi chuyển đổi. Đây là những trở ngại phát sinh gây hạn chế đối với các doanh nghiệp chuyển đổi. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ tài chính thông qua vốn vay ưu đãi và các biện pháp tài chính như khoanh nợ, dãn nợ, xoá nợ, chuyển vốn vay thành vốn nhà nước đầu tư… sau cổ phần hóa không còn. Doanh nghiệp cần nguồn vốn lớn, huy động nội bộ không đủ buộc phải tính đến các nguồn vốn bên ngoài khác, thậm cho với cả tín dụng phi chính thức tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Những công ty này là những công ty hoạt động trong những ngành, lĩnh vực điều kiện phát triển khó khăn, công nghệ lạc hậu, sản phẩm thiếu sức cạnh tranh, chi phí kinh doanh cao hơn mức trung bình, ví dụ như các công ty hoạt động trong lĩnh vực cơ khí, máy móc… Cụ thể trong đó có 28,6% số doanh nghiệp có doanh thu giảm; 10% số doanh nghiệp bị thua lỗ; 42% số doanh nghiệp có số nộp ngân sách giảm so với trước khi cổ phần hóa. Nhiều doanh nghiệp có số lao động giảm, chủ yếu là do doanh nghiệp được giải quyết lao động dôi dư, sắp xếp lại lao động, tinh giảm biên chế.

Theo đánh giá chung, qua hơn mười lăm năm tiến hành, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được triển khai thực hiện đúng hướng, đường lối của Đảng và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên bên cạnh đó, trong cổ phần hóa cũng có nhiều tồn tại, đòi hỏi phải có những chủ trương, giải pháp phù hợp để đẩy nhanh trong thời gian tới. Khóa luận: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Cơ chế giải pháp đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537