Từ khi đổi mới đến nay, những vấn đề liên quan đến cơ chế thị trường của nền kinh tế được nghiên cứu nhiều hơn những vấn đề liên quan đến cơ chế kế hoạch. Vì vậy mà mình muốn chia sẻ đến các bạn chủ đề :” Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường Việt Nam” là bài mẫu tài liệu cho các bạn học ngành Kinh tế tham khảo. Luận văn chủ yếu tập trung vào thời kỳ Đổi mới từ 1986 đến nay. Tuy nhiên, Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng đề cập đến giai đoạn trước đổi mới bởi nó là cơ sở để đánh giá đầy đủ hơn công tác kế hoạch hoá vĩ mô ở Việt Nam.
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ HOẠCH HÓA KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM
3.1 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN HIỆN
Bước vào kế hoạch 5 năm 2006-2010, kế hoạch 5 năm cuối cùng thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001-2010, nhiệm vụ đặt ra khá nặng nề trong khi Chiến lược đã dự báo và thực tiễn 5 năm qua đã cho thấy những khó khăn và thuận lợi lớn sẽ tiếp tục có xu hướng đan xen nhau và khó dự báo cụ thể. Do đó, cần phân tích sâu sắc và nhận diện đúng những mặt thuận lợi để tích cực phát huy, đồng thời thấy rõ khó khăn để chủ động đối phó, hạn chế.
3.1.1 Bối cảnh quốc tế.
Mặc dù xu hướng chung của thế giới ngày nay vẫn là hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển, nhưng dự báo tình hình chính trị thế giới và khu vực trong 5 năm 2006-2010 sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, xung đột cục bộ, khủng bố có thể sẽ gay gắt hơn và phạm vi lan rộng hơn, kể cả ở châu Á và khu vực Đông Nam Á.
Kinh tế thế giới và khu vực, trải qua những thăng trầm do hậu quả của những cuộc khủng hoảng sẽ dần dần hồi phục trong những năm tới.
Tốc độ tăng trưởng toàn cầu và của các đối tác chính của ta trong 5 năm 2006-2010 dự kiến sẽ tăng nhẹ so với 5 năm 2001-2005, tác động tích cực đến nền kinh tế Việt Nam trên cả 3 phương diện: thương mại và dịch vụ, đầu tư trực tiếp nước ngoài và viện trợ phát triển. Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, sẽ tiếp tục phát triển nhanh, ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và tiếp tục tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Xu hướng toàn cầu hoá, xu hướng khu vực hoá đang và sẽ tiếp tục được đẩy nhanh và bao trùm hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế ngày càng sâu rộng.
Bối cảnh quốc tế trong thời kỳ 2006-2010 sẽ tác động vào nền kinh tế Việt Nam thông qua quan hệ hợp tác của ta với các thị trường và các đối tác, trước hết là 3 đầu tầu kinh tế thế giới: Nhật bản, Hoa Kỳ và EU.
Với Nhật Bản, quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước sẽ tiếp tục phát triển theo chiều sâu. Nhật Bản tiếp tục là một trong những thị trường lớn nhất và tỷ trọng xuất khẩu của nước ta sang thị trường Nhật Bản có thể tăng trong 5 năm tới. Hiệp định xúc tiến và bảo hộ đầu tư Nhật Bản- Việt Nam và sáng kiến cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam sẽ phát huy tác dụng. Nhật Bản tiếp tục cam kết ODA cho Việt Nam, song xu thế mở rộng hình thức ODA có ràng buộc (chỉ có các công ty Nhật Bản nhận được các công trình ODA) có thể xảy ra làm giảm mức độ ưu đãi của nguồn vốn này. Ngoài lợi ích kinh tế, Nhật Bản còn chủ trương đẩy mạnh quan hệ toàn diện với ta còn vì mục đích chính trị. Yếu tố này cần được quan tâm trong chính sách đối tác của ta để khai thác các cơ hội kinh tế từ Nhật Bản.
EU là thị trường quan trọng, đặc biệt đối với hàng hoá xuất khẩu có hàm lượng lao động cao (dệt may, giày dép, thuỷ sản…). Thị trường 25 nước EU hiện tại vẫn là chủ yếu do dung lượng lớn và có tập quán tiêu thụ hàng hoá của nước ta. Phát triển toàn diện quan hệ hợp tác với Pháp, Đức, Anh sẽ tác động tíchcực đối với toàn khối EU.
Với Hoa Kỳ, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ sẽ tiếp tục phát huy tác dụng, tạo thế đứng cho ta ở thị trường rộng lớn và đa dạng này. Tuy nhiên, đối với Hoa Kỳ, hợp tác kinh tế lôn luôn song hành với quan hệ chính trị. Yếu tố ngoại giao rất quan trong để khai thác yếu tố kinh tế. Xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, vẫn là trọng tâm chính, bên cạnh đó ta cần tranh thủ nhập khẩu công nghệ nguồn.
Ngoài các đối tác kinh tế trên, Trung Quốc là một quốc gia có khả năng trở thành một trong những trung tâm kinh tế mới của thế giới trong 5-10 năm tới đây. Hợp tác mạnh mẽ kinh tế với Trung Quốc sẽ đảm bảo cho ta cả lợi ích chính trị lẫn kinh tế và an ninh.
Các nước ASEAN, Ôxtraylia, Hàn quốc tiếp tục là đối tác quan trọng, tin cậy cả về thương mại và đầu tư. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế quốc tế cũng đăth ra nhiều thách thức lớn, nhất là sức ép cạnh tranh khi gia nhập WTO và thực hiện đầy đủ các cam kết trong khuôn khổ AFTA, APEC, ASEM. Do vậy, chúng ta phải nhanh chóng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, chủ động tránh được những khó khăn gây ra từ quá trình phân công lại lao động quốc tế và tổ chức lại nền kinh tế thế giới. Bên cạnh việc duy trì các mối quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế đã có, cần mở rộng hơn nữa mối quan hệ kinh tế với các nước khối EU, đặc biệt là với Cộng hoà Pháp, cộng hoà liên bang Đức, triển khai nhanh chóng Chương trình hợp tác với Nhật Bản, tranh thủ tối đa hiệp định thương mại Việt Mỹ và lợi thế của việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới… để tạo ra những khả năng mở rộng thị trường, tăng xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư và phát triển những mối hợp tác kinh tế khác.
3.1.2 Tình hình trong nước. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Về mặt thuận lợi: Sau khi cơ bản thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 2001-2005, năng lực và trình độ sản xuất của nhiều ngành kinh tế đã tăng lên đáng kể, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, bước đầu hiện đại hoá, từ đó phát huy được thế mạnh của từng ngành, từng vùng, chất lượng tăng trưởng trong nhiều ngành, lĩnh vực đã có những cải thiện, các doanh nghiệp và toàn nền kinh tế nước ta đang thích nghi ngày càng tốt hơn với thị trường quốc tế.
Nước ta được thế giới đánh giá có sự ổn định cao về chính trị, đang trở thành một điểm đến an toàn của các nhà đầu tư và kinh doanh quốc tế. Sự ổn định chính trị – xã hội là nền tảng vững chắc vàlà nhân tố thuận lợi lớn nhất cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và đó cũng là thế mạnh cần khai thác của nước ta hiện nay.
Thể chế kinh tế thị trường đã bước đầu hình thành và vận hành có hiệu quả. Những cơ chế chính sách ban hành đã đi vào cuộc sống, phát huy tính tích cực, thu hút cao hơn các nguồn vốn đầu tư toán xã hội, đặc biệt là phát huy tối đa nguồn nội lực để chủ động hướng vào các mục tiêu đầu tư, nhất là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX) đánh dấu bước đổi mới mạnh mẽ hơn về tư duy kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để hoạch định các cơ chế, chính sách thông thoáng trong việc thu hút các nguồn lực và cải thiện môi trường đầu tư cho việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế.
Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ngay trong năm 2005 có ý nghĩa rất quan trọng để có thể phát triển kinh tế nhanh hơn trong kế hoạch 5 năm tới (nếu không thực hiện được nhiệm vụ này trong năm 2005 và phải chuyển sang năm 2007 thì những cam kết quốc tế của ta sẽ nặng nề hơn và điều kiện phát triển chung 5 năm 2006-2010 sẽ khó khăn hơn rất nhiều).
Mối quan hệ kinh tế quốc tế được củng cố và phát triển, hàng xuất khẩu của Việt Nam đã đứng vững được trên nhiều thị trường và có triển vọng sẽ được mở rộng. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế chủ động, việc thực hiệncác Hiệp định thương mại song phương và đa phương, việc trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại thế giới… sẽ tạo ra thế phát triển mới của đất nước.
Bên cạnh đó những kết quả tích cực đạt được trong tiến trình cải cách hành chính thời gian qua, nhất là những cải cách thể chế kinh tế, đổi mới bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ… đã có những tác động tích cực trong việc chỉ đạo điều hành thực hiện các mục tiêu của kế hoạch. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Tuy nhiên, khó khăn và thách thức cũng rất lớn. Qui mô sản xuất nhỏ bé, GDP bình quân đầu người năm 2005 mới khoảng 580 USD, thuộc nhóm các nước có thu nhập thấp của thế giới, thu nhập và tiêu dùng của dân cư chưa đủ tạo sức bật mới đối với sản xuất và phát triển thị trường, hệ thống tài chính, tiền tệ còn nhiều yếu kém, bất cập.
Cơ cấu sản xuất trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng chưa chuyển dịch kịp thời theo sự biến động nhanh của nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế. Kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Trình độ công nghệ nhìn chung còn lạc hậu khá xa so với các nước trong khu vực. Khả năng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp so với yêu cầu trong khi đó lộ trình thực hiện đầy đủ các cam kết AFTA, WTO và các hiệp định quốc tế khác đang và sẽ tạo ra những sức ép cạnh tranh rất lớn đối với các doanh nghiệp. Tốc độ phát triển các ngành dịch vụ còn chậm, nếu khai tốt thì đây là dư địa lớn để phát triển trong 5 năm tới.
Một số lĩnh vực xã hội còn yếu kém. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Đời sống nhân dân ở nhiều vùng sâu, vùng xa, vùng thường bị thiên tai còn nhiều khó khăn, tệ nạn xã hội còn nghiêm trọng, trật tự, an ninh ở một số vùng chưa tốt. Cải cách hành chính tiến hành chậm, tình trạng tham nhũng vẫn còn nặng nề, hiệu lực quản lý của Nhà nước còn hạn chế.
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI KẾ HOẠCH HÓA KINH TẾ VĨ MÔ
Đại hội IX của Đảng đã đề ra yêu cầu:”Đổi mới hơn nữa công tác kế hoạch hóa, nâng cao chất lượng công tác xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, tr (102).Để thực hiện yêu cầu này, việc đổi mới công tác kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô ở Việt Nam trong thời gian tới phải quán triệt những phương hướng chủ yếu sau:
1. Kế hoạch hóa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước quản lý thị trường bằng pháp luật, kế hoạch, cơ chế, chính sách, các công cụ đòn bẩy kinh tế và bằng nguồn lực của khu vực kinh tế Nhà nước. Để làm được việc đó, cần tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của Nhà nước, khai thác triệt để vai trò tích cực đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường; bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật của mọi Doanh nghiệp và cá nhân không phân biệt thành phần kinh tế.
Trong nền kinh tế đang chuyển đổi ở Việt Nam, thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch hóa. Nhà nước một mặt phải xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, mặt khác phải hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường, xây dựng và hoàn thiện các công cụ pháp luật, kế hoạch, các thiết chế tài chính, tiền tệ và những phương tiện về vật chất và tổ chức cần thiết cho sự quản lý của mình, tạo điều kiện cho cơ chế thị trường hoạt động hữu hiệu. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt quan trọng trên bình diện vĩ mô. Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh. Kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô của Nhà nước cần xác định mục tiêu, giải thích rõ ý nghĩa của mục tiêu đó đối với sự phát triển trong tương lai, xác định rõ mức độ và cách thức mà khu vực kinh tế Nhà nước thực hiện để góp phần vào thực hiện mục tiêu đã định, nêu lên những lợi ích và phát triển dự tính đối với khu vực kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác trong quá trình thực hiện kế hoạch, áp dụng các chính sách tác động đến khu vực kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác để họ hành động theo định hướng Nhà nước mong muốn. Đối với các thành phần kinh tế khác, thì kế hoạch không có tính áp đặt, mà thông qua các biện pháp chính sách thống nhất với lợi ích để khuyến khích họ tự nguyện hành động theo hướng mục tiêu kế hoạch đã đặt ra . Như vậy, muốn các Doanh nghiệp ứng xử theo kế hoạch của Nhà nước thì kế hoạch hóa và chính sách phải phù hợp với lợi ích của Doanh nghiệp.
Như vậy, đổi mới kế hoạch hóa phải gắn liền với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói chung, phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Việc sử dụng công cụ kế hoạch hóa phải phù hợp với cơ chế thị trường, phải đảm bảo sự phân định giữa quản lý Nhà nước và quản lý kinh doanh ở các Doanh nghiệp Nhà nước. Công tác điều hành kế hoạch phải được thực hiện thông qua những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô là chủ yếu, phối hợp sử dụng những biện pháp gián tiếp và biện pháp trực tiếp.
Có thể bạn quan tâm:
2. Kế hoạch hóa góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Nhân tố quyết định thành công và hiệu quả của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là khoa học và công nghệ. Đại hội IX của Đảng khẳng định:”Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX.tr 112). Kết quả của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và của tiến trình hội nhập phụ thuộc rất nhiều vào năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mà yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh một cách bền vững và lâu dài là khoa học và công nghệ. Chính vì lý do này mà nội dung đổi mới kế hoạch hóa cần đặc biệt chú trọng vấn đề gắn nghiên cứu khoa học với đổi mới công nghệ với phát triển kinh tế.
Tốc độ phát triển công nghệ ngày càng cao, số lượng sản phẩm mới, công nghệ mới ngày càng nhiều đã đặt ra một nhiệm vụ quan trọng cho công tác kế hoạch hóa là phải xây dựng những chính sách chuyển giao công nghệ thuận lợi, tìm ra được hướng” đi tắt, đón đầu” giúp cho nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định, rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Trong tình hình ngân sách còn khó khăn, một biện pháp hữu hiện cho vấn đề này là khuyến khích chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư nước ngoài. Trong những năm vừa qua, đa số các dự án đầu tư nước ngoài hướng chủ yếu vào thị trường nội địa với công nghệ ở mức trung bình, chưa góp phần làm tăng rõ rệt sức cạnh tranh của nền kinh tế. kế hoạch hóa trong những năm tới cần hướng tới những chính sách ưu tiên hơn nữa cho việc chuyển giao công nghệ và khuyến khích mạnh hơn các nhà đầu tư trong và ngoài nước áp dụng những công nghệ tiên tiến thông qua những biện pháp như hình thành các khu công nghệ cao, hỗ trợ bằng chính sách thuế, hỗ trợ cho những trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ, hình thành các quỹ hỗ trợ công nghệ, quỹ hỗ trợ xuất khẩu…
Kế hoạch hóa phải đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế phù hợp với xu thế hội nhập, toàn cầu hóa đang ngày càng gia tăng đối với nền kinh tế Việt Nam. Trong thời gian trước mắt, việc hình thành những chính sách kinh tế để ứng phó với cuộc khủng hoảng trong khu vực là một nhiệm vụ cấp bách của công tác kế hoạch hóa.
Cân bằng cán cân thanh toán là một trong bốn mục tiêu quan trọng nhất của chính sách kinh tế. Quá trình phát triển trong những năm qua đã để lại một số vấn đề cần phải giải quyết ngay như: các khoản nợ nước ngoài, tỷ lệ thâm hụt cán cân vãng lai tương đối cao… Tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế của nền kinh tế Việt Nam diễn ra trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực đã làm cho những vấn đề khó khăn của kinh tế đối ngoại càng thêm phức tạp. Đó là những thách tức to lớn đối với điều tiết tổng thể nền kinh tế nói chung và đổi mới kế hoạch hóa nói riêng. Nó đòi hỏi phải nhanh chóng hình thành những chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài theo hướng phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, hỗ trợ cho quá trình hội nhập của nền kinh tế nước ta.
Những biện pháp xử lý vấn đề trên mà không ảnh hưởng nhiều đến ngân sách là giảm đến mức tối thiểu các thủ tục”xin-cho” không cần thiết, công khai các thủ tục hành chính, dân chủ hóa trong tuyển chọn, đấu thầu dự án đầu tư và xuất khẩu, hỗ trợ thông tin cho các Doanh nghiệp, giảm tính độc quyền của các tổng Công ty lớn, xác định một cách hợp lý hơn mối quan hệ giữa bảo hộ sản xuất trong nước và tự do hóa thương mại.
3. Kế hoạch hóa bảo đảm mối tương quan hợp lý giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Nghị quyết Đại hội IX đã đề ra yêu cầu:”Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, tr 88): Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng tích lũy cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến độ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
Công tác kế hoạch hóa phải đảm bảo sự thống nhất giữa yêu cầu phát triển kinh tế với bảo đảm chính sách xã hội theo tinh thần:
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân bổ hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng năng lực của mình.
Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội, đi đôi với chính sách điều tiết hợp lý, bảo hộ quyền lợi cho người lao động.
Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên cho mỗi người dân, các Doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội.
Trong những năm trước mắt, công tác kế hoạch hóa phải góp phần thiết thực giải quyết tốt một số vấn đề xã hội cấp bách như:
Tập trung sức tạo việc làm: Phương hướng quan trọng nhất là Nhà nước cùng toàn dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế – xã hội. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật. Tiếp tục phân bố lại dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược kinh tế, an ninh, quốc phòng. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Giảm đáng kể tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Thực hiện xóa đói giảm nghèo. Thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng và phát triển quỹ xóa đói giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước; quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả. Tổ chức tốt đời sống xã hội trên từng địa bàn để trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người còn thấp vẫn tạo được một cuộc sống khá hơn cho nhân dân.
4. Kết hợp kế hoạch hóa theo ngành với kế hoạch hóa theo địa phương và vùng lãnh thổ.
Kế hoạch định hướng phát triển kinh tế – xã hội có một nội dung rất cơ bản là sự thay đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kể cả cơ cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ. Từ kinh nghiệm phát triển, có thể rút ra một số kết luận sau đây về chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Một là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu các ngành công nghiệp nói riêng, là một quá trình tiến hóa tuần tự và mang tính nội tại phải trải qua nhiều giai đoạn. Những tác động của kế hoạch hóa chỉ có thể đẩy nanh hoặc rút ngắn quá trình chuyển dịch cơ cấu, chứ không thể bỏ qua một giai đoạn nào.
Hai là, trong thời kỳ toàn cầu hóa, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quốc gia chủ yếu vẫn phải căn cứ vào điều kiện, tiềm năng, kỹ năng và lợi thế hiện tại. Với cách nhìn như trên, Nhà nước cần đặc biệt lưu ý và ưu tiên hỗ trợ những ngành trọng điểm của nền kinh tế là những ngành có tỷ trọng lớn và tốc độ phát triển cao trong GDP, trong tổng số lao động sử dụng và trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Đồng thời cần chú trọng khuyến khích một số ngành công nghệ cao, có sức lan tỏa lớn và tạo động lực phát triển bền vững trong tương lai.
Quy hoạch hay chiến lược phát triển ngành cần được xây dựng theo định hướng mở, trước hết phải tính đến xu hướng phát triển cung và cầu trên thị trường thế giới; phải khắc phục khuynh hướng”tự cung,tự cấp” khép kín. Tuy nhiên quy hoạch phát triển ngành, chỉ mang tính hướng dẫn và tham khảo, không phải là cơ sở hay công cụ phân bổ vốn đầu tư theo mệnh lệnh để thực hiện quy hoạch đó.
Nguyên tắc phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng là nguyên tắc chủ đạo trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Đây là nhiệm vụ trước hết của Nhà nước trung ương. Nhà nước trung ương thực hiện nhiệm vụ này theo hai cách. Một là, ưu tiên đầu tư của Nhà nước cho các vùng kém phát triển. Hai là, dành chính sách ưu đãi ở mức cao hơn đối với khu vực kém phát triển để thu hút đầu tư tư nhân vào các vùng đó. Về đằu tư của Nhà nước, do nguồn vốn có hạn nên kinh phí thực hiện phát triển vùng trong một giai đoạn cần tập trung vào một hoặc một số ít mục tiêu nhất định. Thí dụ, trong một số năm tới, nguồn lực phát triển vùng chủ yếu tập trung vào phát triển giáo dục tiểu học ở vùng sâu, vùng xa chẳng hạn.
Việc phân cấp kế hoạch giữa Trung ương và địa phương cần được xác định hợp lý và rõ ràng. Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trước hết do chính quyền địa phương quyết định. Nhà nước trung ương chỉ tập trung thực hiện những mục tiêu có tính hệ thống, cân đối, mà các cấp chính quyền địa phương không thể thực hiện được. Nguyên tắc của việc phân cấp nên là: Việc gì chính quyền cấp dưới, do tính chất của công việc, không thể thực hiện được thì mới chuyển lên trên, thay cho nguyên tắc phân cấp hiện nay trong kế hoạch chủ yếu dựa vào quy mô công trình chứ không phải dựa vào tính chất công việc. Việc phân cấp luôn phải đi kèm với những biện pháp kiểm tra giảm sát thích hợp; vì thế việc giao thêm quyền hạn cho các cấp chính quyền địa phương trong kế hoạch hóa. Đặc biệt là kế hoạch sử dụng những khoản chi từ ngân sách cấp trên, luôn luôn đi kèm với sự giám sát chặt chẽ hơn, theo nguyên tắc: quyền hạn càng lớn, trách nhiệm càng cao.
5. Đổi mới toàn diện hệ thống kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Phương hướng đổi mới công tác kế hoạch hóa đã được Đại hội VIII của Đảng xác định là:”Tiếp tục đổi mới công tác kế hoạch hóa, hướng vào nâng cao chất lượng xã hội chiến lược và quy hoạch phát triển các ngành, các vùng và toàn bộ nền kinh tế. Xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn. Nâng cao chất lượng các cân đối lớn và dự báo những khả năng và xu hướng phát triển làm cơ sở cho việc đề ra các mục tiêu kinh tế, các chính sách giải pháp và định hướng về phân bổ nguồn lực để thực hiện. Nâng cao chất lượng xây dựng, thẩm định các dự án đầu tư. Thiết lập quy chế kết hợp chặt chẽ việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch với việc hoạch định chính sách và thể chế để dẫn dắt, điều hành nền kinh tế theo định hướng kế hoạch, xử lý kịp thời những mất cân đối và những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch” .
Để cho kế hoạch hóa thật sự trở thành công cụ cơ bản trong việc định hướng thị trường, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả và bền vững, thúc đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công tác kế hoạch hóa phải được tiếp tục đổi mới và hoàn thiện trên các mặt chủ yếu sau đây:
Trước hết, phải coi trọng công tác dự báo, nhất là dự báo trung hạn và ngắn hạn về kinh tế – xã hội và xu thế phát triển trong và ngoài nước để có cơ sở vững chắc cho việc hoạch định các chiến lược phát triển, cũng như cho công tác điều hành tầm vĩ mô.
Hai là, xây dựng chiến lược cho 10 năm tiếp theo ( 2001-2010) và rà soát lại các quy hoạch phát triển tổng thể nền kinh tế, quy hoạch các vùng kinh tế trọng điểm đã được thông qua cho phù hợp với yêu cầu mới, xu thế phát triển và hội nhập kinh tế trong vùng và các nước.
Bà là, tổ chức xây dựng các chương trình, dự án phát triển có hiệu quả để có thể khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, nhân lực và các lợi thế so sánh của nước ta, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn bên ngoài theo định hướng của kế hoạch.
Bốn là, để thực hiện chức năng chủ yếu của kế hoạch hóa là thúc đẩy sự hình thành cơ cấu hợp lý, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, phải cải tiến nội dung xây dựng kế hoạch hàng năm một cách thiết thực, giảm những khâu trung gian, giữ vững cân đối chủ yếu, nhất là cân đối giá trị, đồng thời từng bước chuyển dần trọng tâm sang kế hoạch hóa phát triển kinh tế – xã hội 5 năm với nội dung bao quát toàn bộ hoạt động của các thành phần kinh tế, xác định hệ thống các mục tiêu kinh tế vĩ mô, các yêu cầu tăng trưởng kinh tế, các cơ cấu và mối quan hệ hợp lý của nền kinh tế.
Năm là, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và kích thích tất cả các thành phần kinh tế phát triển với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI KẾ HOẠCH HÓA KINH TẾ VĨ MÔ.
Việc đổi mới kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô thời gian tới ở Việt Nam nhằm vào các yêu cầu chủ yếu sau đây:
Một là, xác định rõ yêu cầu về nội dung của từng loại hình kế hoạch, mối quan hệ giữa các loại hình kế hoạch trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN .
Hai là, xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương, của Doanh nghiệp và dân cư trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện kế hoạch.
Ba là, xác định cơ chế phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch.
Bốn là, tạo dựng từng bước cơ sở và điều kiện để nâng cao chất lượng kế hoạch hóa theo hướng đảm bảo tính khoa học, toàn diện, hệ thống và hiện thực của nội dung kế hoạch, có tính đến các yếu tố của cách mạng công nghệ, xu thế toàn cầu hóa các hoạt động kinh tế, hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong quá trình phát triển. Theo tinh thần đó, cần tiến hành những biện pháp đổi mới cơ bản trên một số lĩnh vực chủ yếu của công tác kế hoạch hóa.
3.3.1. Đổi mới công tác xây dựng chiến lược kinh tế – xã hội. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Kế hoạch hóa là một quá trình liên tục, bao gồm chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển, kế hoạch định hướng phát triển kinh tế xã hội 5 năm, kế hoạch hàng năm và chỉ đạo, điều hành thực hiện.
Về phương pháp luận xây dựng chiến lược.
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội có nhiệm vụ hoạch định hướng phát triển cơ bản của đất nước trong khoảng thời gian tương đối dài hạn, là cam kết chính trị của Đảng và Nhà nước được công bố trước toàn dân và cộng đồng quốc tế về đường lối và cách thức lãnh đạo phát triển đất nước. Nội dung của chiến lược bao gồm việc xác định các mục tiêu định tính trên các lĩnh vực như: tăng tưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ, xu hướng biến đổi chất lượng cuộc sống của dân cư trên các vùng của đất nước, xu hướng biến đổi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, trình độ phát triển khoa học và công nghệ của đất nước, khả năng bảo đảm an ninh quốc gia; xác định và quan điểm và nguyên tắc cơ bản nhằm thúc đẩy đất nước phát triển theo các định hướng nói trên.
Chiến lược ở Việt Nam có thời hạn 10 năm, nhưng theo chu kỳ 5 năm cần được xem xét, sửa đổi và điều chỉnh cho phù hợp. Như vậy, mỗi kỳ Đại hội Đảng sẽ là một lần thông qua chiến lược mới hoặc điều chỉnh chiến lược. Cụ thể là, từ nay bắt đầu xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội cho thời kỳ 2001 – 2010; đến khoảng 2003 bắt đầu xem xét đánh giá lại, và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội cho thời kỳ 2006 – 2015. Cứ tiếp tục như vậy vào khoảng năm 2008 sẽ xem xét, đánh giá lại tình hình và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội cho thời kỳ tiếp theo.
Việc xây dựng chiến lược phát triển cần do Hội đồng nghiên cứu chiến lược thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thủ tướng Chính phủ làm chủ tịch Hội đồng, các thành viên khác của Hội đồng do Thủ tướng bổ nhiệm. Vừa qua, để chuẩn bị Đại hội IX, một Tiểu ban kinh tế của TW Đảng đã được thành lập do Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng tiểu ban, có nhiệm vụ xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và Kế hoạch 5 năm ( 2001-2010)
Một năm trước khi thông qua, dự thảo chiến lược phát triển kinh tế – xã hội phải được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để toàn dân tham gia thảo luận. Hội đồng nghiên cứu chiến lược có trách nhiệm tổ chức các hình thức thích hợp để thu thập và tiếp thu ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân trên các vùng của đất nước.
Chiến lược phát triển chung cũng như những chiến lược phát triển phát triển ngành ( đối với một số ngành quan trọng) không nên thông qua Quốc hội như một Nghị quyết. Hiến pháp và các đạo luật được Quốc hội thông qua có hiệu lực trong nhiều nhiệm kỳ tiếp theo, trong khi Nghị quyết của Quốc hội chủ yếu quy định những việc trong một nhiệm kỳ. Hơn nữa, quyết định của Quốc hội thường mang tính chất luật; trong khi đó văn bản chiến lược thường là những phương án, những kịch bản có thể thay đổi và uốn theo các điều kiện bối cảnh cụ thể. Tuy vậy, nên có báo cáo chiến lược trình Quốc hội để là cơ sở và làm nền cho việc thảo luận và việc thông qua các kế hoạch 5 năm, và cả các kế hoạch hàng năm ở những điểm cần thiết.
3.3.2 Về nội dung chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Những vấn đề cốt yếu nhất trong nội dung chiến lược là xác định mục tiêu chiến lược, đề ra định hướng chiến lược và lựa chọn khâu then chốt có tính đột phá.
Về xác định mục tiêu chiến lược: Chúng ta xây dựng và thực hiện chiến lược 10 năm (2001-2010) trong tình hình trong nước cũng như bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi, thời cơ đan xen với khó khăn, thách thức. Thế và lực của đất nước đã mạnh hơn trước. Cùng với lợi thế về vị trí địa lý, tiềm năng phát triển từ trí tuệ, lao động, tiền vốn, tài nguyên đất đai, rừng, biển, thị trường gần 80 triệu dân.. còn dồi dào. Quan hệ hợp tác đối ngoại thuận lợi hơn nhiều so với thời kỳ trước, tạo thêm điều kiện tranh thủ nguồn lực bên ngoài nhằm phát huy tốt hơn nội lực. Kỷ nguyên bùng nổ thông tin, phát triển nền kinh tế tri thức là cơ hội lớn để phát huy tiềm năng trí tuệ của người Việt Nam, đưa đất nước vượt lên.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn là nước nghèo trên thế giới, trình độ phát triển còn kém nhiều quốc gia trong khu vực. Trên cơ sở những thành tựu và kinh nghiệm trong thời gian qua, phải tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, khai thác lợi thế so sánh bằng tất cả sự sáng tạo và tính tích cực của người lao động Việt Nam, tranh thủ thời cơ, tận dụng thuận lợi, vượt qua thách thức, đưa đất nước tiến lên nhanh và vững chắc. Không làm được như vậy, sự tụt hậu xa hơn về trình độ phát triển so với các nước xung quanh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới niềm tin của nhân dân, tới sự ổn định chính trị, xã hội và an ninh quốc gia.
Mục tiêu tổng quát đặt ra cho giai đoạn 10 năm (2001-2010) đã được xác định là: Đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Chất lượng các mặt đời sống của nhân dân được nâng lên một mức đáng kể. thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được vận hành thông suốt. Nguồn lực con người, khoa học – công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng được tăng cường. Vị thế của đất nước trong quan hệ hợp tác quốc tế được củng cố và mở rộng. Tạo được cơ sở vững chắc cho mười năm tiếp sau thực hiện mục tiêu đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát đó, cần xác định các mục tiêu cụ thể cho từng thời đoạn ngắn hơn và cho từng lĩnh vực chủ yếu làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch 5 năm và hằng năm. Về đề ra định hướng chiến lược, Đại hội IX đã khẳng định định hướng chiến lược của thời kỳ 10 năm tới là:
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển nhanh, bền vững, theo một số hướng như:
Công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn; xây dựng công nghiệp mũi nhọn và dịch vụ cơ bản; dựa trên lợi thế so sánh, phát triển các ngành có hiệu quả và sức cạnh tranh
Tăng cường năng lực nội sinh về khoa học – công nghệ, mở rộng và nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng thông tin, đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và trong quản lý, điều hành; tạo tiền đề cho một nền kinh tế tri thức trong tương
Đề cao chất lượng phát triển; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên cơ sở: tăng nhanh năng suất lao động xã hội; phát huy tối đa mọi nguồn lực phát triển sản xuất, kinh doanh đều khắp; tập trung phát triển một số ngành, một số vùng kinh tế trọng điểm có tốc độ tăng trưởng vượt trội. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Hai là, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và nhằm mục tiêu phát triển con người. Nâng cao chất lượng mọi mặt cuộc sống của nhân dân từ ăn, ở, đi lại, phòng và chữa bệnh, học tập, làm việc, tiếp cận thông tin, sinh hoạt văn hóa… Tạo cơ hội cho người dân đều được thu hưởng những thành quả phát triển, được bồi dưỡng và có điều kiện phát huy tài năng, đồng thời có trách nhiệm góp sức phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, đấu tranh đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bảo tồn và phát triển nền văn hóa dân tộc.
Ba là, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực phát huy cao độ nguồn nội lực. Tiếp tục đổi mới sâu rộng và đồng bộ cả về kinh tế, xã hội và bộ máy Nhà nước, tạo động lực và nguồn lực cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Tập trung tháo gỡ mọi vướng mắc, xóa bỏ mọi trở lực để khơi dậy nguồn lực dồi dào trong dân, cổ vũ các nhà kinh doanh và các tầng lớp nhân dân đem hết khả năng và trí tuệ, sức lao động, tiền vốn làm giàu cho mình và cho đất nước. Nhà nước tập trung đầu tư vào những lĩnh vực có tác dụng tạo điều kiện và thúc đẩy đầu tư kinh tế trong xã hội; sử dụng chính sách, công cụ quản lý vĩ mô và Doanh nghiệp Nhà nước để dẫn dắt đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh đúng định hướng. Nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với nhau tạo nguồn lực tổng hợp cho sự phát triển đất nước.
Bốn là, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế thế giới. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo hướng nâng cao tiềm lực kinh tế, khoa học – công nghệ, cơ bản đảm bảo cung cấp các nhu yếu phẩm cho sản xuất và tiêu dùng, tạo khả năng ổn định kinh tế vĩ mô, khả năng chiếm lĩnh thị trường. Kinh tế độc lập, tự chủ không khép kín mà chủ động hội nhập quốc tế, hai mặt tác động lẫn nhau. Trong hội nhập quốc tế, chú trọng phát huy lợi thế, tăng sức cạnh tranh, giảm dần hàng rào bảo hộ, đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao hiệu quả hợp tác với bên ngoài, tăng cường vai trò và ảnh hưởng của nước ta đối với nền kinh tế khu vực và trên thế giới, tạo thêm điều kiện nâng cao tính độc lập tự chủ của nền kinh tế nước ta. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
3.3.3 Về lựa chọn những khâu then chốt có tính đột phát trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010.
Yêu cầu đặt ra là tập trung giải quyết những khâu then chốt trong các nhiệm vụ và giải pháp, tạo ra tác động dây chuyền làm chuyển động toàn bộ tình hình kinh tế, xã hội. Từ những khâu đột phá tương đối rộng của cả thời kỳ chiến lược, trong từng kế hoạch 5 năm, phải xác định khâu đột phá cụ thể hơn, có phạm vi hẹp hơn để tập trung giải quyết. Trong thời kỳ chiến lược 10 năm tới, cần tập trung vào những khâu quan trọng như:
Một là, giải phóng triệt để sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của dân, tạo động lực và sức bật mạnh mẽ cho sự phát triển bằng việc đổi mới và tạo lập đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng thị trường trong và ngoài nước đi đôi với nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ.
Hai là, tạo bước tiến mạnh mẽ về trình độ công nghệ trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, thông qua chính sách đầu tư có hiệu quả kết hợp với sự phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ. Đây là khâu quyết định khả năng có những bước bứt phá trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Bà là, đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu lực lãnh đạo và quản lý; trọng tâm là cải cách hành chính, xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh, có đội ngũ công chức công tâm, thạo việc, đẩy lùi cho được tệ nạn quan liêu, tham nhũng.
3.3.4. Nâng cao chất lượng kế hoạch trung hạn 5 năm. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Kế hoạch 5 năm là công cụ chủ yếu thực hiện chiến lược và quy hoạch là cụ thể hóa chiến lược phù hợp với điều kiện môi trường trong nước và bên ngoài.
Đổi mới về nội dung kế hoạch hóa.
Thực hiện định hướng đề ra từ Đại hội VIII:”Chuyển dần sang kế hoạch 5 năm là chính, có phân ra từng năm”, kế hoạch 5 năm sẽ là trọng tâm của hệ thống kế hoạch hóa, là một công cụ chủ yếu quản lý vĩ mô quá trình phát triển trong thời hạn 5 năm. Kế hoạch 5 năm xác định một số chỉ tiêu cơ bản định hướng cho sự phát triển của đất nước, xác định những lĩnh vực mà kinh tế Nhà nước sẽ ưu tiên tập trung phát triển, xác định nguyên tắc hoạch định và xây dựng chính sách cụ thể để hướng toàn bộ nền kinh tế phát triển theo định hướng đã chọn.
Các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm chủ yếu mang tính định hướng phát triển. Kế hoạch 5 năm ở cấp Trung ương nên chú ý những chỉ tiêu như: (1), mức thu nhập bình quân đầu người tại năm cuối của kỳ kế hoạch. (2) tỷ trọng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong GDP,(3) tỷ trọng lực lượng lao động xã hội làm việc trong các lĩnh vực kinh tế nói trên, (4) mức chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% người nghèo nhất và nhóm 20% người giàu nhất trong xã hội, (5) chênh lệch thu nhập bình quân giữa thành thị và nông thôn, hệ số ICOR, (7) tăng trưởng năng suất lao động ( toàn nền kinh tế hoặc một số ngành quan trọng), (8) kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người..v.v Nội dung nghiên cứu, xây dựng và tổng hợp kế hoạch 5 năm ở cấp Trung ương bao gồm các công việc chủ yếu sau đây:
- Tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm trước,
- Dự báo khả năng phát triển trong thời kỳ kế hoạch 5 năm sau, bao gồm cả tình hình kinh tế, chính trị các nước trên thế giới và trong khu vực,
- Xác định và tính toán các cân đối vĩ mô, có phân chia ra từng năm,
- Xác định các mục tiêu và chỉ tiêu phát triển, có phân chia ra từng năm,
- Xây dựng định hướng phát triển các ngành, các lĩnh vực,
- Xây dựng hệ thống các chương trình mục tiêu phát triển,
- Xây dựng danh mục các dự án đầu tư, các công trình xây dựng cơ bản,
- Xây dựng định hướng các cơ chế, chính sách, các biện pháp bảo đảm thực hiện các mục tiêu kế hoạch.
Để làm được việc đó, cần phải sử dụng bộ máy của cơ quan kế hoạch chuyên trách, đồng thời huy động rộng rãi các nhà nghiên cứu kinh tế phát triển các nhà nghiên cứu xã hội, các nhà nghiên cứu khoa học công nghệ, khoa học tự nhiên… trên khắp đất nước ở các Viện nghiên cứu đầu ngành tham gia. Thời gian nghiên cứu được phân bổ như sau:
- Trước hai năm của thời kỳ kế hoạch sẽ thông qua đề cương nghiên cứu kế hoạch 5 năm.
- Trước một năm của kỳ kế hoạch phải tiến hành xong các bước: đánh giá tình hình, dự báo, xác định các cân đối vĩ mô.
- Năm còn lại sẽ xây dựng các mục tiêu, các chỉ tiêu phát triển, định hướng phát triển các ngành, các lĩnh vực, các chương trình phát triển, danh mục các dự án các công trình phát triển và định hướng các cơ chế chính sách.
Đổi mới quy trình kế hoạch hóa.
Việc xây dựng kế hoạch 5 năm ( khâu chính trong kế hoạch hóa) muốn đạt được yêu cầu ở phần trên, cần phải đảm bảo tính khoa học, dân chủ, công khai và linh hoạt. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Lập kế hoạch thực chất là giải toán quy hoạch đa mục tiêu với rất nhiều ràng buộc, phải lựa chọn được phương án tối ưu ( hay hợp lý nhất) trong các phương án có thể. Vì vậy, cần có tổ chức chuyên môn cao đi sâu nghiên cứu tiến hành từng bước và điều chỉnh từng bước, không nên Vụ, Cục, Ban, Ngành nào cũng tham gia vào các khâu nghiên cứu làm cho bài toàn méo mó và không ăn khớp. Trái lại, cần có tổ chức nghiên kỹ các mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể, các phương án cân đối khả thi; rồi các bộ phận khác mới đóng góp ý kiến hoàn thiện. Cũng giống như thiết kế tổng thể một công trình để thoả mãn một yêu cầu sử dụng với một số tiền vốn xác định cần phải nghiên cứu kỹ các phương án một cách đồng bộ, rồi các bộ phận chuyên môn khác mới tham gia hoàn thiện. Việc quyết định kế hoạch quan hệ thiết thân đến quyền lợi của nhiều ngành và địa phương; muốn cho kế hoạch sát thực thì cách làm phải thực sự công khai, dân chủ, thu hút được sự đóng góp của các nhà khoa học, quản ký, kinh doanh và các tầng lớp nhân dân.
Để đảm bảo các yêu cầu nên trên, quy trình xây dựng kế hoạch 5 năm nên bao gồm các bước sau đây:
Bước 1: là bước nghiên cứu chuyên môn, bao gồm những công việc hư:
- Thu thập các thông tin dự báo từ các cơ quan dự báo ngành và dự báo kinh tế tổng hợp;
- Nghiên cứu xác định mục tiêu chung, các mục tiêu cụ thể và khả năng cân đối các nguồn lực ( chủ yếu về tài chính, tiền tệ, thương mại, đầu tư);
- Xây dựng 2 – 3 phương án ( kịch bản ) khả
Sản phẩm chính của bước này giống như một báo cáo khoa học, có phần định lượng bằng số và phần định tính bằng lời; quan trọng là bất cứ điều khẳng định nào nêu ra đều phải dựa trên luận cứ hoặc chứng lý cụ thể. Đồng thời báo cáo vấn đề ngỏ các khả năng lựa chọn và chưa hoàn chỉnh chưa vội phân bổ nhiệm vụ và điều kiện, chưa xác định các chương trình đầu tư, chưa chi tiết hoá về chính sách.
Bước 2: Là bước thảo luận và hình thành định hướng kế hoạch, bao gồm những công việc như:
Tổ chức hội thảo chuyên gia trong giới khoa học kinh tế và kỹ thuật, văn hoá, giới Doanh nghiệp, giới truyền thông, giới quản lý ( Bộ, địa phương); Các ngành, địa phương tổ chức nghiên cứu, dựa trên báo cáo Bước 1 và đề xuất báo cáo về nhu cầu, khả năng và kiến nghị của mình;
Thảo luận trong lãnh đạo các Bộ tổng hợp dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng phụ trách ( được coi như Hội đồng kế hoạch rút gọn) để phân tích so sánh và lựa chọn, hoàn chỉnh phương án định hướng cơ bản của kế hoạch.
Sau bước này, báo cáo kế hoạch sẽ được trình Chính phủ và Bộ chính trị.
Bước 3: là bước nghiên cứu triển khai và hoàn thiện báo cáo kế hoạch, bao gồm những công việc như:
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư căn cứ kết quả bước trước và các ý kiến, báo cáo, thông tin thu thập được và ý kiến chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, xây dựng kế hoạch hoàn chỉnh, bao gồm cả các giải pháp cân đối cụ thể, các chương trình hành động (kể cả đầu tư), các cơ chế chính sách chi tiết.
- Thông qua báo cáo kế hoạch trong Hội đồng Kế hoạch ( nếu có) hoặc cuộc họp lãnh đạo cấp tương đương.
- Hoàn chỉnh báo cáo kế hoạch. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Việc một số Bộ cùng trực tiếp xây dựng kế hoạch là cần thiết để các dự án kế hoạch được đồng bộ và toàn diện, tránh được một số mâu thuẫn thường gặp hiện nay; cho nên có thể dùng hình thức Hội đồng Kế hoạch. Song công việc nghiên cứu xây dựng kế hoạch đòi hỏi chuyên sâu, không thể làm theo kiểu tập thể được, vì vậy:
Hội đồng Kế hoạch không nên là cơ quan lập kế hoạch, mà là cơ quan tư vấn về kế hoạch hoá, tham gia chủ yếu vào các bước cuối, trước khi trình dư án kế hoạch lên các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Hội đồng kế hoạch không cần bao gồm tất cả các Bộ sẽ rất khó điều hoà phối hợp công việc, mà chỉ nên gồm lãnh đạo chủ chốt của 5 – 6 Bộ tổng hợp dưới sự chủ trì của một Phó Thủ tướng phụ trách.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư giữ vai trò chủ chốt trong Hội đồng, vừa là người nghiên cứu, tổ chức thảo luận, tiến hành điều chỉnh, hoàn chỉnh đề án kế hoạch, vừa là người thuyết trình đề án kế hoạch ở các cấp.
Mời bạn tham khảo thêm:
3.3.5 Thử nghiệm một phương pháp mới.
Để đảm bảo tính liên tục và hệ thống của kế hoạch hoá, có thể thử nghiệm phương pháp”cuốn chiếu” trong việc xây dựng kế hoạch 5 năm. Phương pháp xây dựng kế hoạch theo” cuốn chiếu” này đã được áp dụng thành công ở một số nước như Cộng hoà Pháp, xây dựng kế hoạch phát triển ở Nhật, xây dựng kế hoạch tài chính ở CHLB Đức. Theo phương pháp này, kế hoạch phát triển 5 năm sẽ xác định những mục tiêu tổng thể, bao gồm kế hoạch chính thức của năm hiện hành, kế hoạch dự tính cho năm tiếp đó và dự báo kế hoạch cho ba năm còn lại. Mức độ chi tiết, cụ thể và chính xác của nội dung kế hoạch của các năm sau phụ thuộc vào số lượng và độ tin cậy của thông tin có được. Phương pháp này giúp khắc phục được tính nhất thời, sự không phù hợp giữa mục tiêu kế hoạch đề ra với điều kiện thay đổi thường xuyên của môi trường.
Do phương pháp này là một phương pháp mới, nên trong thời gian trước mắt cần tiến hành thử nghiệm. Sau khi kế hoạch 5 năm 2001-2005 được Đại hội Đảng và Quốc hội chính thức thông qua, phương pháp”cuốn chiếu” được sử dụng để hiệu chỉnh kế hoạch trong kỳ kế hoạch này và chuẩn bị cho việc xây dựng kế hoạch 5 năm tiếp theo. Như vậy, công việc xây dựng kế hoạch 5 năm sẽ không có tính chất”mùa vụ”, mà liên tục được thời sự hoá để phù hợp với điều kiện và yêu cầu mới.
Công tác kế hoạch thường xuyên sẽ bao gồm 3 loại công việc chính sau đây: Một là, xây dựng kế hoạch cho năm tiếp theo; Hai là, dự báo sơ bộ cho kế hoạch năm thứ năm; Ba là, điều chỉnh và chuẩn xác hoá thêm cho dự báo kế hoạch của các năm thứ hai, thứ ba, thứ tư và toàn bộ nội dung của kế hoạch 5 năm. Trên cơ sở đó trình với Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội những kiến nghị giải pháp phù hợp với diễn biến của tình hình thực tế cũng như đánh giá hiện trạng, phân tích và dự báo tình hình trong nước và quốc tế, rút ra bài học về xây dựng và điều hành thực hiện kế hoạch, xác định những thách thức và cơ hội đối với sự phát triển của đất nước.
3.3.6. Hoàn thiện kế hoạch hoá hằng năm. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Đã coi kế hoạch 5 năm là loại hình kế hoạch chủ yếu thì sự quan tâm quá nhiều đến kế hoạch hàng năm hiện nay nên giảm bớt. Sau này, kế hoạch hằng năm sẽ chủ yếu là kế hoạch tài chính và ngân sách.
Khi mục tiêu phát triển, chương trình đầu tư và hệ thống chính sách 5 năm đã được xác định thì hàng năm chỉ còn việc cụ thể hoá mục tiêu và chính sách sẽ áp dụng. Muốn vậy, các chương trình đầu tư Nhà nước, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình nghiên cứu khoa học – công nghệ .. phải được thông qua cụ thể về kinh phí và thời gian thực hiện. Kho bạc Nhà nước, Quỹ Hỗ trợ đầu tư quốc gia, Ngân hàng Đầu tư và phát triển và các tổ chức tài chính khác có liên quan đảm bảo cung cấp kinh phí và vốn cho các chương trình thực hiện theo kế hoạch; các ngành kế hoạch và tài chính không cần can thiệp thường xuyên mà chỉ giải quyết những vấn đề chuệch choạc hoặc ngoài kế hoạch.
Kế hoạch hàng năm không chỉ tập trung vào các mục tiêu tăng trưởng, mà còn nhằm vào mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô nhằm bảo đảm sự phát tr iển bền vững của nền kinh tế. Theo tinh thần đó, hệ thống kế hoạch hàng năm bao gồm:
Kế hoạch định hướng phát triển kinh tế – xã hội hằng năm: là công cụ để ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện mục tiêu phát triển của năm đó trong nội dung của kế hoạch định hướng phát triển 5 năm. Một nội dung quan trọng của kế hoạch hằng năm là cân đối vốn đầu tư toàn xã hội. Cân đối vốn đầu tư toàn xã hội cần gồm 3 phần: một là, kế hoạch đầu tư của Nhà nước trung ương, hai là kế hoạch đầu tư của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ba là các biện pháp chính sách huy động thêm vốn của khu vực kinh tế dân doanh và vốn đầu tư nước ngoài.
Kế hoạch đầu tư của Nhà nước: Quốc hội quyết định tổng mức đầu tư cụ thể hằng năm, gồm cả tín dụng Nhà nước và công trình trọng điểm khởi công trong năm kế hoạch; Thủ tướng Chính phủ quyết định các dự án đầu tư lớn và phân bổ vốn đầu tư cụ thể hằng năm. Như vậy, về cơ bản đầu tư của Nhà nước trung ương sẽ tập trung chủ yếu vào các dự án quy mô lớn phát huy tác dụng trên phạm vi liên tỉnh.
Hội đồng nhân dân tỉnh, Thành phố thuộc trung ương quyết định Tổng mức đầu tư của ngân sách địa phương và Uỷ ban nhân dân tỉnh có toàn quyền quyết định công trình cụ thể và phân bổ vốn cụ thể cho từng công trình. Trong phạm vi thẩm quyền của mình và khuôn khổ pháp luật hiện hành. Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quyền thông qua kế hoạch thu hút đầu tư của khu vực dân doanh và đầu tư nước ngoài trên phạm vi địa phương mình.
Kế hoạch ngân sách Nhà nước: bao gồm kế hoạch thu chi ngân sách và cân đối ngân sách hàng năm. Cũng nên nghiên cứu thực hiện phương pháp”cuốn chiếu” cho việc xây dựng kế hoạch ngân sách trung hạn. Do thu và chi ngân sách thường không ăn khớp nhau về thời điểm nên Chính phủ và chính quyền các cấp được phép vay tín dụng ( với mức độ nhất định) để có thể đảm bảo kế hoạch chi tiêu.
Kế hoạch cung ứng tiền tệ: là một kế hoạch linh hoạt, và kế hoạch từng quý sẽ là công cụ chủ yếu điều hành cung ứng tiền tệ của nền kinh tế, bảo đảm mục tiêu kiềm chế lạm phát ổn định ở mức độ chấp nhận được.
Kế hoạch xuất – nhập khẩu và quản lý cán cân thanh toán quốc tế, quản lý vay và trả nợ nước ngoài: hạn chế số lượng các mặt hàng quản lý, bằng hạn ngạch ở mức tối thiểu cần thiết. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Kế hoạch hàng năm ở cấp trung ương bao gồm một số chỉ tiêu dự báo và một số chỉ tiêu pháp lệnh. Chỉ tiêu pháp lệnh được Quốc hội thông qua nên bao gồm (1) tốc độ tăng GDP, (2) tổng thu ngân sách, (3) tổng chi ngân sách, chi cho đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước, (5) mức bội chi ngân sách cao nhất ( so với GDP) và (6) mức lạm phát cao nhất
Sự khác biệt của các chi tiêu kế hoạch ở cấp trung ương, ở cấp tỉnh và cấp huyện, đặc biệt là những chỉ tiêu về xã hội, phụ thuộc chủ yếu vào việc phân cấp nhiệm vụ giữa những cấp này. Trước tình hình những vấn đề xã hội và công nghệ ngày càng trở nên bức xúc, trong thời gian tới cần sớm nghiên cứu để đưa vào kế hoạch những chỉ tiêu hữu dụng cho việc giải quyết những vấn đề này.
Trong môi trường thường xuyên biến động, mục tiêu kế hoạch là những đích cần phấn đấu để vươn tới. Vì vậy, kế hoạch chủ yếu cũng mang tính định hướng, không nên xác định các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế – xã hội một cách cứng nhắc, mà nên là một khoảng.
Đối với các kế hoạch hàng năm thì công tác điều hành kế hoạch có một vị trí rất quan trọng. Mục tiêu của việc điều hành là kịp thời can thiệp gián tiếp hoặc trực tiếp vào nền kinh tế khi có xuất hiện biến động môi trường làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu kế hoạch; song sự can thiệp này cũng không nên diễn ra thường xuyên làm ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ thống chính sách kinh tế. Điều hành kế hoạch luôn phải tính đến sự ảnh hưởng tổng thể vào nền kinh tế và những hệ quả mà nó đưa lại. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng công tác điều hành kế hoạch, trước hết cần phải củng cố hệ thống thông tin và xây dựng những mô hình phân tích và dựa báo kinh tế có độ tin cậy cao.
3.3.7. Đổi mới hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô đồng bộ với đổi mới kế hoạch hóa.
Kế hoạch hóa và các chính sách kinh tế vĩ mô là những thành tố không thể tách rời của hệ thống công cụ điều tiết kinh tế của Nhà nước, trong đó các chính sách kinh tế vĩ mô vừa là nội dung vừa là cơ sở của kế hoạch hóa. Trong giai đoạn 2001-2010, đặc biệt là 2001-2005, khung hệ chính sách kinh tế vĩ mô vẫn nên được thiết kế theo mô hình chính sách của kinh tế chuyển đổi, có tính đến các đặc điểm của kinh tế đang phát triển.
Ngoài việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, thì trọng tâm và xuất khẩu điểm của chương trình cải cách chính sách kinh tế vĩ mô trong giai đoạn này cần tập trung vào các giải pháp thúc đẩy phân bố và sử dụng nguồn lực theo cơ chế thị trường; nhờ đó, điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế và đầu tư thực sự phát huy lợi thế so sánh của đất nước, tận dụng được các cơ hội của hội nhập, đẩy lùi thách thức và nguy cơ. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Trong thời kỳ đầu (2001-2003), hàng loạt các biện pháp thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu kinh tế và phân bố lại lực lượng sản xuất phải được tiến hành đồng thời với quy mô và cường độ mạnh. Các biện pháp đó bao gồm: (1) tự do hóa sản xuất, đầu tư và thị trường nội địa với trọng tâm là giải quy chế, phát triển thể chế thị trường, (2), củng cố và đảy tới một bước mức độ phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng thương mại quốc doanh, (3) sử đổi lại luật thuế giá trị gia tăng, bãi bỏ bao cấp bất hợp lý, (4) sửa đổi sung Bộ luật lao động và một số biện pháp khác, tạo ra sự linh hoạt trong tuyển dụng, thuê mướn lao động, đồng thời thiết lập hệ thống đảm bảo an toàn xã hội.
Thời kỳ tiếp theo (2003-2006) sẽ đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử phát triển kinh tế nước ta. Đó là giai đoạn bắt đầu thực hiện cam kết hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Do đó, cải cách kinh tế trong giai đoạn này tiếp tục củng cố thêm những thành tựu đã đạt được trong giai đoạn 2001-2003, đồng thời tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế lớn mạnh hơn về quy mô, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý đảm bảo tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc. Với tinh thần đó, trọng tâm của các biện pháp cải cách trong thời kỳ này bao gồm: (1) cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu Doanh nghiệp Nhà nước, (2) điều chỉnh và giảm thuế quan tương ứng với lộ trình thực hiện AFTA, đồng thời tiếp tục chuyển các biện pháp phi thuế quan thành các biện pháp thuế quan chuẩn bị cho việc điều chỉnh thuế quan trong quan hệ thương mại với các đối tác khác, (3) tiếp tục xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng thương mại, trong đó trọng tâm vẫn là các ngân hàng thương mại quốc doanh, đồng thời xây dựng hệ thống các tổ chức tín dụng kinh doanh vốn dài hạn, (4) cải cách thuế trực thu theo hướng mở rộng diện chịu thuế, giảm mức thuế thu nhập, đồng thời xây dựng thuế tài sản, (5) chủ động xây dựng kế hoạch giảm chi để đối phó với nguy cơ giảm thu nhằm vượt qua được những khó khăn phát sinh từ tự do hóa thương mại, (6) thiết lập và nâng cao chất lượng và quy mô hoạt động của mạng lưới an toàn xã hội.
Để đảm bảo chương trình đổi mới chính sách kinh tế vĩ mô có thể được thực hiện thành công, cần có một số điều kiện sau đây:
Một là, có sự thống nhất và quyết tâm cao trong các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước về chương trình cải cách. Sự thống nhất và quyết tâm đó phải được thể hiện rõ trong hành động, làm cho cán bộ cấp dưới và các tầng lớp nhân dân hiểu và tin vào quyết tâm đổi mới của Đảng và Nhà nước.
Hai là, phải có sự phối hợp và thống nhất hành động, chương trình công tác giữa Chính phủ và Quốc hội, giữa các cơ quan chính phủ, giữa trung ương và địa phương, giữa các địa phương với nhau. Có như vậy, các quyết định cần thiết mới có thể được thông qua kịp thời và được thực hiện thống nhất, đồng hướng tới mục tiêu chung. Có như vậy, các biện pháp cải cách mới có thể tiến hành đồng bộ, hỗ trợ và bổ sung cho nhau hướng tới mục tiêu chung. Như vậy, phải xây dựng cơ cấu và cơ chế phối hợp trong hệ thống tổ chức Nhà nước trong việc thực hiện chương trình cải cách.
Ba là, bên cạnh khung khổ và cơ chế phối hợp thực hiện cải cách, cần phải thực hiện phân cấp rõ ràng, cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm và quyền lợi đảm bảo cho từng cá nhân, Doanh nghiệp và cơ quan trong bộ máy Nhà nước để họ có khả năng phát huy sáng kiến và sáng tạo của cá nhân, tập thể, chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả nhất. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Bốn là, xác định chương trình cải cách rõ ràng, thể hiện bằng ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu để tuyên truyền, phổ biến rộng rãi cho nhân dân biết và hiểu. Trên cơ sở đó, thu hút sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, thu hút, huy động và tập trung nỗ lực của toàn xã hội vào việc thực hiện các biện pháp cải cách hướng tới mục đích chung.
Năm là, phải có cơ quan nghiên cứu tham mưu có đủ năng lực chuyên môn và tính độc lập tương đối thường xuyên theo dõi, đánh giá quá trình thực hiện cải cách, ngăn ngừa được những ảnh hưởng của lợi ích cục bộ chi phối quá trình cải cách, đảm bảo cải cách được thực hiện nhất quán; đồng thời có những điều chỉnh hợp lý và kịp thời, khi xét thấy cần thiết.
Sáu là, sự chỉ đạo điều hành của Đảng và Chính phủ trong việc thực hiện cải cách kinh tế phải nhất quán, quyết định và hành động cụ thể phải nhất quán với các tuyên bố chính sách, nội dung của pháp luật và tư tưởng chỉ đạo của chính sách, không bị chi phối bởi các nhóm lợi ích cục bộ, lợi ích ngắn hạn trước mắt.
Bảy là, thực hiện chính sách minh bạch công khai, dân chủ trong quá trình chuẩn bị, ban hành và thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô; thực hiện công khai dân chủ trong quan hệ giữa Nhà nước với Doanh nghiệp.
3.3.8. Xây dựng các cơ sở và điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng kế hoạch hóa.
Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch phát triển.
Quy hoạch là một đề án khoa học luận chứng các phương án phát triển theo ngành và theo lãnh thổ các vùng, các tỉnh và thành phố, các quận và huyện nhằm đạt các mục tiêu chiến lược đã đề ra, cụ thể hóa chiến lược với những dự tính cần thiết cho sự phát triển của ngành, của địa phương đó.
Công việc xây dựng quy hoạch lãnh thổ do chính quyền địa phương chủ trì, phối hợp các ngành hữu quan và các địa phương lân cận. Trên cơ sở phân tích những điều kiện thuận lợi, khó khăn và dự báo xu thế phát triển của địa phương trong tổng thể kinh tế, quy hoạch vùng phải đưa ra được những quyết sách phù hợp. Trên cơ sở đó có thể sắp xếp theo không gian sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Quy hoạch không gian chỉ quy định khu vực cho mục tiêu chung ( ví dụ khu công nghiệp), chứ không ép buộc các nhà đầu tư vào một ngành cụ thể nào đó. Công cụ để đạt được những mục tiêu trong quy hoạch lãnh thổ chủ yếu là nguồn tài chính của địa phương đó và các chính sách kinh tế trong phạm vi thẩm quyền của chính quyền địa phương; chính quyền cấp trên chỉ nên hỗ trợ phát triển những lĩnh ực có tác dụng lan tỏa ra phạm vi lớn hơn. Để đảm bảo nguyên tắc này, cần phải xác định rõ ràng nhiệm vụ của từng cấp làm cơ sở cho việc phân bổ các nguồn thu ngân sách.
Quy hoạch ngành được xây dựng dưới sự chủ trì của bộ quản lý ngành phối hợp với những bộ có liên quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, vv… cùng các cấp chính quyền địa phương. Quy hoạch ngành có thẻ được coi như chiến lược phát triển ngành được cụ thể hóa theo không gian và thời gian. Với quan điểm là Nhà nước chỉ hỗ trợ gián tiếp chứ không can thiệp trực tiếp vào công việc kinh doanh của các Doanh nghiệp, chỉ nên xây dựng quy hoạch tổng thể cho những ngành có tính chất hệ thống trong toàn quốc, như năng lượng, viễn thông, giao thông vận tải. Quy hoạch phát triển những ngành khác chủ yếu mang tính định hướng, dự báo. Quy hoạch ngành được thực hiện thông qua những chương trình trọng điểm quốc gia và bằng nguồn lực của cả trung ương và địa phương. Số liệu rút ra từ quy hoạch sẽ là những cơ sở quan trọng cho các Doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của họ.
Xây dựng và từng bước hoàn thiện công tác dự báo và phân tích kinh tế.
Cho đến nay, công tác dự báo và phân tích kinh tế vẫn là khâu yếu nhất trong toàn bộ quá trình kế hoạch hóa. Vì vậy, để nâng cao độ tin cậy của kế hoạch như một công cụ định hướng phát triển, cần phải nâng cao chất lượng công tác dự báo và phân tích kinh tế. Trước mắt, có thể thành lập các bộ phận hay đơn vị dự báo và phân tích kinh tế tại một số bộ tổng hợp như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Bộ Tài chính và một số Viện nghiên cứu kinh tế . Các đơn vị dự báo cần nghiên cứu xây dựng dự báo một cách độc lập, và có quyền đưa ra những nhận định độc lập trên tinh thần tự chịu trách nhiệm. Dự báo trước hết cần tập trung vào các chỉ số và vấn đề kinh tế vĩ mô. Về thời hạn, dự báo trước mắt cần tập trung vào ngắn hạn (quý, nửa năm, 1 năm), trong đó dự báo quý có vai trò rất quan trọng trong điều hành kế hoạch.
Để có thể có được một mô hình dự báo hữu dụng trong thời gian tới, việc lựa chọn mô hình dự báo ngắn hạn nên chú ý các yêu cầu sau:
- Phải đưa được những số liệu dự báo, phân tích theo quý;
- Phải bao gồm những thông tin kịp thời phản ánh được những nét chính tình hình kinh tế trong thời gian ngắn hạn, mức độ yêu cầu về chất lượng thông tin không cần quá nghiêm ngặt;
- Không cần phân ngành ở mức độ quá chi tiết như phân ngành của hệ thống thống kê, nhưng đồng thời việc nhóm gộp vẫn phải bảo đảm thể hiện những nét quan trọng nhất của cơ cấu kinh tế;
- Không cần quá nhiều chương trình, nhưng phải phản ánh được những mối quan hệ chính trong nền kinh tế;
- Phối hợp được với phương pháp dự báo khác nhau để thường xuyên phối hợp và cải tiến mô hình.
Tăng cường công tác nghiên cứu và xây dựng chính sách.
Trong kinh tế thị trường, kế hoạch được thực hiện chủ yếu bằng công cụ chính sách. Công cụ chính sách thực hiện kế hoạch có thể được chia thành 2 loại: Công cụ trực tiếp được áp dụng trong nội bộ hệ thống cơ quan Nhà nước, do cơ quan Nhà nước các cấp thực hiện, chẳng hạn như: đầu tư của Nhà nước, tín dụng Nhà nước, các chương trình và dự án quốc gia, trợ cấp và hỗ trợ của Nhà nước, thu thuế và chi tiêu ngân sách, cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước vv… Còn công cụ gián tiếp là các chính sách do các chủ thể tham gia thị trường thực hiện, như chính sách thuế, lãi suất, tỷ giá hối đoái, vv… Tác dụng của các công cụ gián tiếp này sẽ được truyền tải đến các chủ thể kinh tế thông qua cơ chế thị trường và qua đó điều chỉnh ứng xử của họ theo hướng mục tiêu đã chọn.
Vấn đề rất quan trọng trong quá trình đổi mới công tác kế hoạch hóa là phải nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, trong đó cần rất chú ý đến các công cụ chính sách gián tiếp. Về vấn đề này, những công việc cần thực hiện ngay là:
- Nâng cao năng lực hoạch định chính sách của các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là các cơ quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội.
- Tăng cường đối thoại giữa Doanh nghiệp và các quan chức Chính phủ bằng cách thành lập diễn đàn đối thoại chính sách sinh hoạt định kỳ để thảo luận và trao đổi về chính sách, kế hoạch và điều hành thực hiện chính sách, kế hoạch.
- Mở diễn đàn trao đổi chính sách trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là trên các kênh truyền hình trung ương và địa phương, để thu hút sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp dân cư vào việc trao đổi và hoạch định chính sách của Chính phủ.
Để đảm bảo sự ăn khớp, đồng bộ và linh hoạt của hệ thống chính sách, cần tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, giữa Trung ương và các địa phương trong việc xây dựng và thực hiện chính sách.
3.3.9 Đổi mới công tác thu thập và xử lý thông tin. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Chất lượng và hiệu lực của kế hoạch cũng như hệ thống chính sách kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng, tính kịp thời và đầy đủ của thông tin. Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng hiện nay ở các nước trong khu vực cho thấy hệ thống thông tin và đánh giá kinh tế yếu kém và không chính xác là một trong các nguyên nhân quan trọng làm cho Chính phủ các nước không đưa ra được các đối sách kịp thời nhằm ngăn chặn khủng hoảng; và khi khủng hoảng đã xảy ra, họ cũng bị lúng túng trong việc đưa ra các giải pháp hợp lý để vượt qua khủng hoảng và phục hồi kinh tế.
Vì vậy công việc cấp bách cần phải làm là đổi mới hệ thống báo cáo và thu thập thông tin, nâng cao chất lượng hệ thống thông tin. Một số nội dung chính của công việc này có thể là:
- Đánh giá lại hệ thống báo cáo và thông tin hiện hành, rút ra được những điểm yếu và điểm mạnh, sự phù hợp và không phù hợp với yêu cầu mới của quản lý kinh tế vĩ mô.
- Xác định những thông tin báo cáo cần thu thập để đánh giá hoạt động của nền kinh tế nói chung và phục vụ đổi mới công tác kế hoạch hóa nói riêng.
- Thống nhất hóa biểu mẫu các loại báo cáo thực hiện trên quy mô cả nước, quy định định kỳ báo cáo đối với từng loại thông tin cụ thể.
- Xác định hệ thống tổ chức bộ máy thu thập và xử lý thông tin phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác kế hoạch và điều hành kinh tế vĩ mô.
- Nhanh chóng đưa vào áp dụng những thành tựu của công nghệ thông tin phục vụ cho việc xử lý thông tin kế hoạch.
- Quy định quy chế cung cấp và sử dụng thông tin, khắc phục tình trạng”thương mại hóa” thông tin phục vụ lợi ích cục bộ của một số tổ chức hoặc nhóm người; đảm bảo cho thông tin được cung cấp nhanh, ít tốn kém và kịp thời.
- Từng bước hình thành hệ thống thu thập, xử lý, phân tích thông tin theo tiêu chuẩn quốc tế.
- Xác định rõ những thông tin mật, không được công bố. Ngoài phạm vi đó, thông tin kinh tế phải được phổ biến và sử dụng một cách rộng rãi.
Củng cố bộ máy tổ chức, nâng cao trình độ cán bộ kế hoạch.
Việc thực hiện những định hướng và giải pháp đổi mới trên đây chỉ đạt được kết quả mong muốn khi bộ máy tổ chức kế hoạch được thay đổi phù hợp và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác kế hoạch. Những việc cần thực hiện trong thời gian tới để giải quyết vấn đề này là:
Hòan thiện bộ máy kế hoạch ở Trung ương cũng như ở địa phương theo hướng liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau hơn để có thể thường xuyên nắm bắt tình hình, phục vụ kịp thời cho việc điều hành thực hiện kế hoạch cũng như giúp cho Chính phủ và chính quyền địa phương phối hợp xây dựng chính sách kinh tế ở cấp của mình một cách có hiệu quả:
Xây dựng một hệ thống tổ chức kế hoạch có” chân rết” gọn nhẹ, có năng lực ở các ngành và các địa phương phục vụ tốt hơn cho công tác kế hoạch hóa và cung cấp thông tin theo chiều dọc và theo chiều
Tổ chức thực hiện một chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kế hoạch một cách cơ bản nhằm nâng cao trình độ của cán bộ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cán bộ của Vụ Kế hoạch các Bộ và cán bộ các Sở Kế hoạch và Đầu tư địa phương.
KẾT LUẬN ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Kinh tế thị trường là nền kinh tế trong đó các phương thức tổ chức kinh tế, phương thức vận hành nền kinh tế luôn tôn trọng và tuân thủ quy luật khách quan. Kinh tế thị trường vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực. Muốn cho kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả, đặc biệt là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN như chúng ta đang xây dựng, nhất thiết phải tăng cường vai trò của nhà nước sử dụng công cụ hữu hiệu như kế hoạch, chính sách … với hệ thống luật lệ thể chế để phát huy mặt tích cực, hạn chế, ngăn ngừa mặt tiêu cực của nó.
Ngày nay, kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô được hiểu theo nghĩa rộng nhất là một loại hình hoạt động của Chính phủ nhằm lựa chọn phương án sử dụng hợp lý các nguồn lực và quyết định các giải pháp tác động đến những biến số kinh tế vĩ mô chủ yếu.
Công tác kế hoạch hóa ở Việt Nam trong thời gian qua đã có những đổi mới quan trọng góp phần đáng kể thúc đẩy quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường. Phần lớn thể chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đã được xóa bỏ, những nét cơ bản hệ thống kế hoạch hóa của nền kinh tế thị trường đã được hình thành bước đầu. Nguyên tắc kế hoạch hóa định hướng gắn với vận dụng nguyên tắc thị trường mặc dù còn chưa hoàn thiện nhưng đã bắt đầu phát huy tác dụng tích cực trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, sản xuất đủ tiêu dùng và bắt đầu có tích luỹ, đời sống nhân dân nói chung đã được cải thiện rõ rệt … Mặt khác, trong hệ thống kế hoạch hóa của chúng ta vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém cần tiếp tục đổi mới để đi lên.
Trình độ phát triển cao hơn của nền kinh tế, kết quả của gần 20 năm đổi mới, cùng với xu thế quốc tế hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải có những thay đổi cơ bản hơn nữa về tư duy, về cách tiếp cận trong hoạch định kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô, cũng như xây dựng và thực thi cơ chế quản lý phát triển kinh tế – xã hội với một loạt những giải pháp đề cập trong thời gian tới. Sự thành công hay thất bại của bất kì một quốc gia nào, ở bất kỳ một giai đoạn nào… phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, trong đó nhân tố chính chi phối mọi sự thành công và thất bại của kế hoạch hoá là hiệu quả của sự phối hợp của cả một hệ thống, một chỉnh thể. Trên cơ sở, huy động được tất cả các lực lượng trong xã hội, các chủ thể kinh tế quan trọng như thị trường, doanh nghiệp, các thành phần kinh tế … tham gia thực hiện các mục tiêu phát triển. ( Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Xem tiếp phần đầu tại:
→ Luận văn Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường Việt Nam

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
