Từ khi đổi mới đến nay, những vấn đề liên quan đến cơ chế thị trường của nền kinh tế được nghiên cứu nhiều hơn những vấn đề liên quan đến cơ chế kế hoạch. Vì vậy mà mình muốn chia sẻ đến các bạn chủ đề :” Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường Việt Nam” là bài mẫu tài liệu cho các bạn học ngành Kinh tế tham khảo. Luận văn chủ yếu tập trung vào thời kỳ Đổi mới từ 1986 đến nay. Tuy nhiên, Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô ở Việt Nam cũng đề cập đến giai đoạn trước đổi mới bởi nó là cơ sở để đánh giá đầy đủ hơn công tác kế hoạch hoá vĩ mô ở Việt Nam.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ HOẠCH HOÁ KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
2.1. NHỮNG THAY ĐỔI TRONG NHẬN THỨC VỀ KẾ HOẠCH HOÁ KINH TẾ VĨ MÔ TRONG TIẾN TRÌNH CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Năm 1954, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng và bắt đầu thực hiện cuộc cách mạng XHCN. Đặc điểm cơ bản của miền Bắc trong thời kỳ này là: từ nền sản xuất nhỏ quá độ lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN. Nền kinh tế miền Bắc chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tự cấp tự túc vừa thoát thai từ xã hội thuộc địa nửa phong kiến lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Trong điều kiện đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam chủ trương nhanh chóng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Từ đó cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung bắt đầu hình thành. Mô hình kinh tế này được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm của việc thực thi cơ chế quản lý tập trung ở Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến (1946 – 1954) và dựa theo kinh nghiệm của Liên Xô (cũ), Trung Quốc và các nước XHCN khác. Sau thời kỳ khôi phục kinh tế (1955 – 1957), mô hình này được bắt đầu áp dụng ở miền Bắc từ kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triền kinh tế (1958 – 1960). Theo đó, các nguồn lực chủ yếu của quá trình sản xuất như đất đai, vốn, lao động… được công hữu hoá với hai thành phần kinh tế cơ bản là quốc doanh và tập thể. Nhà nước quốc hữu hoá những xí nghiệp của chế độ cũ và bắt đầu xây dựng những xí nghiệp mới. Các vấn đề cơ bản của nền kinh tế: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai đều do nhà nước quyết định. Về cơ bản, từ đầu những năm 1960, cơ chế kế hoạch hoá tập trung bắt đầu được vận hành ở miền Bắc, vai trò của thị trường bị hạn chế dần. ( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) là” phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH, thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện công cuộc cải tạo XHCN, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH”. Trong nông nghiệp, phong trào hợp tác hoá phát triển mạnh mẽ. Đến đầu những năm 1960, kinh tế tập thể với hình thức chủ yếu là hợp tác xã đã chiếm vị trị ưu thế. Nhìn chung kinh tế quốc doanh và tập thể là hai hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Thị trường tự do ngày càng bị thu hẹp lại.
Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đang được thực hiện thì chiến tranh lan rộng ra miền Bắc. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, nhân dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu, nền kinh tế tăng trưởng chậm lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Với sự viện trợ không hoàn lại của các nước XHCN, cơ chế kế hoạch hoá tập trung ở miền Bắc tiếp tục được duy trì trong điều kiện cả nước có chiến tranh. Cho đến năm 1975, nền kinh tế miền Bắc vẫn trong tình trạng hết sức nghèo nàn và lạc hậu. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể chiếm vị trí thống trị tuyệt đối. Kinh tế tư nhân bị xoá bỏ, kinh tế cá thể tuy còn tồn tại nhưng không đáng kể.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng (1975) mô hình kế hoạch hoá tập trung ở miền Bắc được áp dụng trên phạm vi cả nước. Kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 – 1980) với các chỉ tiêu kinh tế xã hội quá cao đã được vạch ra: xoá bỏ triệt để quyền chiếm hữu phong kiến về ruộng đất và những tàn dư bóc lột phong kiến. Xây dựng kinh tế quốc doanh chiếm ưu thế trong sản xuất và lưu thông phân phối. Đối với xí nghiệp tư bản tư doanh được cải tạo bằng con đường công tư hợp doanh, xoá bỏ ngay thương nghiệp tư bản chủ nghiệp, chuyển phần lớn tiểu thương sang sản xuất. Đến năm 1980, công cuộc cải tạo XHCN ở các tỉnh phía Nam về cơ bản đã được hoàn thành. ở miền Bắc, đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN, tiếp tục củng cố và hoàn thiệnquan hệ sản xuất mới, xây dựng và cải tiến chế độ quản lý và chế độ phân phối. Mở rộng thành phần quốc doanh, củng cố các cơ sở quốc doanh về mọi mặt. Kết quả là từ cuối những năm 1970, nền kinh kế nước ta đã lâm vào khủng hoảng.
Từ thực tiễn của những năm tiến hành cách mạng XHCN và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH đã để lại bài học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trong 20 năm (1955 – 1975) công cuộc xây dựng nền kinh tế XHCN đã hình thành mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp. Trong điều kiện chiến tranh, sự chỉ huy và bao cấp của Nhà nước là phù hợp, nó duy trì sự ổn định đời sống nhân dân, và tập trung nhân tài vật lực cho tiền tuyến. Nhưng sau đó nhận thức giáo điều và chủ quan duy ý chí, đã mở rộng xây dựng CNXH theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trên phạm vi cả nước trong điều kiện lực lượng sản xuất còn thấp kém. Điều này làm cho quan hệ sản xuất thoát ly khỏi tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Vì vậy, quan hệ sản xuất mới được hình thành nhưng chỉ là hình thức, chưa tạo điều kiện thúc đẩy, thậm chí còn kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Như vậy, nhận thức về thị trường, cơ chế thị trường và mối quan hệ giữa kế hoạch và thị trường ở nước ta theo tinh thần đổi mới đã được xác lập và từng bước được bổ sung, hoàn thiện dần qua các kỳ Đại hội Đảng. Khái niệm” kinh tế thị trường định hướng XHCN” đã được thông qua tại Đại hội IX của Đảng. Đó là sự diễn đạt ngắn gọn nhưng vẫn phản ánh đúng tinh thần cơ bản của những quan điểm do Đại hôị VIII nêu ra và đặc biệt nói rõ mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta trong thời kỳ quá độ. Thống nhất sự kết hợp giữa kế hoạch và thị trường. Đây cũng chính là bước phát triển mới trong nhận thức về tư duy lý luận của Đảng ta.
Quan điểm của Đảng chỉ rõ rằng: nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chúng ta cần có không phải là nền kinh tế quản lý theo kiểu tập trung, quan liêu, bao cấp. Đó là một nền kinh tế hàng hoá phát triển, tức là kinh tế thị trường hiện đại và đã là kinh tế thị trường thì cơ chế vận hành vốn có của nó – cơ chế thị trường. Hơn nữa trong thời đại ngày nay, nền kinh tế thị trường đều có sự quản lý của nhà nước. Cho nên tính đặc thù của nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng so với các nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng so với các nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa không phải ở chỗ có hay không có sự quản lý của Nhà nước, mà ở định hướng XHCN của nó. Mục đích của việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta là phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, phục vụ và nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm từng bước xây dựng thành công CNXH . Sử dụng cơ chế thị trường, sử dụng các hình thức và phương pháp quản lý kinh tế của kinh tế thị trường nhằm kích thích sản xuất, khuyến khích tinh thần năng động, sáng tạo của người lao động, không để cho thị trường tự phát theo con đường TBCN. Chúng ta sử dụng cơ chế thị trường không phải đoạn tuyệt với kế hoạch mà để thực hiện kế hoạch một cách tổng thể hơn, tốt hơn. Sự quản lý của Nhà nước chính là sự kết hợp tính năng động và nhạy bén của cơ chế thị trường với tính định hướng và cân đối của kế hoạch để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường đối với chúng ta không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện.
Nền kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá. Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, ở đó sản xuất cái gì, như thế nào, cho ai được quyết định thông qua thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán trao đổi theo quy luật giá trị. Cơ chế thị trường vận động dưới sự tác động của các quy luật thị trường, trong đó quy luật giá trị giữ vai trò chi phối. Nhân tố cơ bản của cơ chế thị trường là cung, cầu và giá cả thị trường. Mục tiêu chủ yếu của các chủ thể hoạt động trên thị trường là lợi nhuận. ở đây mục tiêu lợi nhuận đạt được thông qua việc thực hiện các biện pháp kinh tế như tiết kiệm, tăng năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh… và thích ứng với quan hệ cung, cầu, quan hệ cạnh tranh. Bên cạnh đó kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật như: khủng hoảng, thất nghiệp, phân hoá giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, tiêu cực và tệ nạn xã hội.
Để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, cần phải có sự can thiệp của Nhà nước để đảm bảo sự ổn định, công bằng và hiệu quả.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một sự chuyển hướng lớn lao, một sự thay đổi sâu sắc trong xây dựng kinh tế của nước ta. Trong quá trình này vấn đề giữ vững định hướng XHCN được đặt ra như một nguyên tắc, một vấn đề chiến lược. Bởi vì, quá độ lên CNXH được hay không trước hết phụ thuộc công cuộc xây dựng một nền kinh tế có giữ được định hướng XHCN hay không? Điều này được xác định bời Nhà nước pháp quyền có đủ mạnh hay không? Có hoàn thiện vai trò chức năng quản lý của minh và sử dụng có hiệu quả công cụ quản lý, trong việc định hướng XHCN nền kinh tế thị trường hay không?
Ở tầm quản lý vĩ mô, chức năng bao trùm nhất của nhà nước là tạo môi trường và điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh: môi trường chính trị, môi trường đối ngoại,môi trường luật pháp, kinh tế, xã hội cho mọi người yên tâm sản xuất, kinh doanh xây dựng hệ thống luật pháp, duy trì trật tự và an toàn xã hội, thi hành nhất quán các chính sách điều tiết thị trường, ngăn ngừa xử lý các đột biến xấu, xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo đảm điều kiện cơ bản cho hoạt động kinh tế, cơ sở hạ tầng giao thông,điện, nước, thông tin, hệ thống tài chính tiền tệ, hệ thống pháp chế, cở sở hạ tầng văn hoá xã hội…( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Đi đôi với chức năng tạo môi trường, Nhà nước phải thực hiện tốt chức năng hướng dẫn, dẫn dắt, hỗ trợ những nỗ lực phát triển thông kế hoạch các chính sách kinh tế, quan tâm xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch chương trình mục tiêu kế hoạch và các chính sách đảm bảo thực hiện kế hoạch đó.
Ngoài chức năng tạo môi trường và hướng dẫn, Nhà nước còn thực hiện tốt chức năng điều tiết của mình. Đây là chức năng quan trọng và phức tạp trong quá trình điều hành nền kinh tế thị trường.
Cơ chế thị trường là cơ chế của sự cạnh tranh, đào thải và phát triển, cho nên, ắt có kẻ thắng người thua, sẽcó phân hoá giàu nghèo, phân hoá giai cấp, có thể nẩy sinh đối kháng xã hội. Do ý thức được điều này, Nhà nước ta một mặt chấp nhận cái tất yếu, cái tiến bộ của cơ chế thị trường, mặt khác có biện pháp hạn chế và giải quyết hậu quả bằng vai trò quản lý của mình, bằng công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô.
Trong công tác quản lý kinh tế của Nhà nước, xây dựng kế hoạch mà không dựa vào thị trường để tính toán và kiểm chứng số cung cầu thì kế hoạch sẽ không có cơ sở khoa học và mất phương hướng, mất cân đối. Ngược lại, việc tổ chức mở rộng thị trường mà thoát ly sự điều tiết của công cụ kế hoạch hoá thì tất yếu sẽ dẫn đến sự rối loạn trong hoạt động kinh doanh Từ đó ta thấy rằng: sự nhận thức phiến diện về thị trường cũng như sự điều tiết thị trường theo ý muốn chủ quan, duy ý trí, trong quản lý và chỉ đạo kinh tế đều đồng nghĩa với việc đi ngược lại các quy luật kinh tế vốn có trong thị trường và hậu quả làm cho nền kinh tế chậm phát triển.
Sau 30 – 04- 1975, miền Nam được giải phóng, cả nước đi lên xây dựng CNXH. Để thực hiện mục tiêu cao cả này nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng thực hiện đồng thời ba cuộc cách mạng: LLSX, QHSX và văn hoá tư tưởng. Trên bình diện kinh tế xã hội, các mục tiêu đó được từng bước lượng hoá qua các kế hoạch 5 năm để tiến tới xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam.
Theo quan niệm truyền thống, thì kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô là quá trình nhận thức và vận dụng tổng hợp các quy luật khách quan, chủ yếu là các qui luật kinh tế để xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
Chất lượng của một kế hoạch phụ thuộc vào mức độ xã hội hoá của LLSX, trình độ nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan của con người chủ yếu của các cơ quan hoạch định và thực thi các giải pháp của chính phủ nhằm hiện thực hoá các chỉ tiêu của nó
Kế hoạch hoá là sản phẩm của tư duy, nó được hình thành qua quá trình nhận thức của các chủ thể quản lý trong nền kinh tế thông qua các khâu cơ bản sau:
Thứ nhất, điều tra phân tích thực trạng vận động của các vấn đề kinh tế xã hội, từ đó tính toán các nguồn lực hiện có và có khả năng huy động trong một thời kỳ nhất định như: nguồn tích luỹ về vốn, kỹ thuật và nguồn huy động trong và ngoài nước, các nguồn thu của ngân sách, trình độ quản lý tổ chức. Trên cơ sở đó xác định các cân đối về lượng và chỉ ra các xu hướng vận động.
Thứ hai, xây dựng các kế hoạch định hướng thông qua xác lập các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, phân phối thu nhập, cải thiện đời sống và các nhiệm vụ cần ưu tiên.( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Thứ ba, tổ chức và thực hiện kế hoạch. Đây là khâu trọng tâm để hiện thực hoá ý tưởng, trong đó việc xác định các phương tiện khác nhau cần được áp dụng để đạt các mục tiêu như: các dự án về đầu tư, các chính sách khuyến khích, giá cả, lãi suất, thuế, tiền lương và trợ cấp… Thực chất đó là việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm thực hiện hoá các mục tiêu kinh tế kế hoạch.
Thứ tư, là tổ chức theo dõi, kiểm tra và tổng kết việc thực hiện kế hoạch.
Nội dung cơ bản của kế hoạch hoá là vạch ra và tổ chức tạo lập các tỷ lệ cân đối phù hợp để tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế xã hội. Trong một nền kinh tế thị trường chỉnh thể thường có các nhóm cân đối cơ bản sau:
- Nhóm cân đối chung gồm cân đối giữa khu vực I và khu vực II, cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng
- Nhóm cân đối ngành: gồm cân đối giữa công và nông nghiệp, giữa các ngành sản xuất và ngành giao thông vận tải…
- Nhóm cân đối trong nội bộ ngành, ví dụ trong nông nghiệp có cân đối trong trồng trọt và chăn nuôi…
- Nhóm cân đối vùng lãnh thổ như cân đối giữa phát triển miền đồng bằng và miền núi…
Các tỷ lệ cân đối trong nền kinh tế thị trường thường xuyên biến đổi do phát triển của khoa học công nghệ, do thay đổi nhu cầu thị trường, do mở rộng phân công lao động xã hội từ phạm vi lãnh thổ quốc gia ra địa bàn quốc tế được thúc đẩy bới quá trình toàn cầu hoá. Do đó các tỷ lệ cân đối được xác lập liên tục phải điều chỉnh cho phù hợp với những biến đổi do hoàn cảnh và điều kiện của thị trường gây ra.
Để kế hoạch trở thành một công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu trong tay nhà nước cần phải nâng cao chất lượng của kế hoạch hoá, tức là phải phản ánh được những yếu cầu cơ bản của các qui luật khách quan đặc biệt là các qui luật của thị trường, nơi mà các tỷ lệ cân đối thường chịu sự điều tiết tự phát thông qua sự vận động của cung – cầu trên thị trường. Chính vì vậy thị trường trở thành đối tượng của kế hoạch và cũng là căn cứ để xây dựng các tỷ lệ cân đối, do đó tính chất của kế hoạch hoá không thể là sự tập trung bao cấp mà phải là kế hoạch mềm được điều chỉnh thường xuyên có tính định hướng và dẫn đường là cơ bản. Tuy nhiên những định hướng lại không thể là những xu hướng chung mà phải biến thành các chương trình phát triển kinh tế xã hội nhất định, trong đó tham gia thực hiện là tất cả các chủ thể của thị trường. Có thể thấy rõ điều đó qua thực tiễn hoạch định và thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội của nhà nước từ đổi mới đến nay.
Có thể bạn quan tâm:
2.2 QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM
Nền kinh tế miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 được xác định là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung phục vụ cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể đánh giá hết ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn của việc tổ chức và vận hành một nền kinh tế trọng trạng thái như vậy để giành được độc lập và thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Sau thống nhất đất nước cả nước đi lên CNXH những khó khăn kinh tế gay gắt diễn ra vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX: Lạm phát cao, kinh tế suy thoái, đời sống nhân dân giảm sút. Sau giải phóng, chế độ phân phối qua tem phiếu không bị xoá bỏ mà còn được duy trì và mở rộng hơn. Đặc biệt là khu vực nông thôn với hình thức tổ chức hợp tác xã khuôn các kế hoạch được duy trì từ thời kỳ chiến tranh đã triệt tiêu mất động lực tăng năng suất lao động và kích thích sự tích cực lao động của xã viên…
Trước vấn đề kinh tế xã hội đó, quá trình đổi mới tự phát bùng nổ thông qua các hình thức khoán chui hoặc bỏ hoang ruộng đất. Vì vậy, công tác kế hoạch hoá được đổi mới theo hướng chuyển từ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, sang kế hoạch hoá định hướng (chiến lược). Trên cơ sở xây dựng các mục tiêu kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn, các chính sách, giải pháp để dẫn dắt nền kinh tế theo định hướng kế hoạch được bắt đầu từ sau Hội nghị TW 6 (khoá IV) năm 1979.
2.2.1. Thời kỳ 1979 – 1985
Trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước ta có một số văn bản để dần dần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của nền kinh tế lúc đó. Đồng thời qua đây để tiến hành từng bước cuộc chuyển đổi kinh tế ở nước ta. Hội nghị TW 6 (1979) chủ trương phải sửa chữa các khuyết điểm trong quản lý kinh tế xã hội và đổi mới công tác kế hoạch hoá theo hướng kết hợp kế hoạch với thị trường. Nghị quyết của Hội nghị này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cải tiến quản lý kinh tế, bước đầu chấp nhận một số yếu tố của kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, những cải cách đầu tiên chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1981 với việc ban hành các văn bản pháp quy quan trọng, đó là: Chỉ thị 100/CT/TW của ban bí thư TW Đảng cộng sản Việt Nam (1/1981) về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Chỉ thị 100 thể hiện sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta trong giai đoạn đầu, nó đã tạo động lực cho nông nghiệp phát triển mạnh mẽ. Trong những năm 1981 – 1985, sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5.2% năm, sản lượng lương thực đầu người tăng 2.9%/ năm.
Cùng thời gian đó, khu vực kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thủ công nghiệp và thương nghiệp bán lẻ được chính thức công nhận. Bên cạnh đó, Nghị quyết 25/CP của Chính phủ ngày 21/1/1981 cho phép các xí nghiệp quốc doanh được xây dựng kế hoạch 3 phần. Theo Quy chế này, các xí nghiệp phải thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đựơc giao (kế hoạch 1), được bán phần sản lượng vượt ngoài kế hoạch để mua thêm vật tư sản xuất (kế hoạch 2) và có thể có các hoạt động phụ khác (kế hoạch 3). Đây là những bước tiến chấp nhận tự do hoá, chấp nhận yếu tố thị trường phá vỡ những khuôn mẫu cứng nhắc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Do đó, khu vực kinh tế quốc doanh được trao quyền tự chủ rộng rãi hơn, bắt đầu chế độ hạch toán kinh tế và được tự chủ hơn trong lựa chọn các yếu tố đầu vào và chủ động khâu tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Tuy nhiên, giá cả hàng hoá vẫn bị kiểm soát dựa trên mức giá bình quân của toàn ngành. Điều này hạn chế hoạt động của cơ chế thị trường. Mặc dù vậy, trong lĩnh vực công nghiệp đã bắt đầu quá trình thương mại hoá tự phát của các xí nghiệp cơ sở quốc doanh. Nhờ đó, trong những năm 1981 –1985, sản lượng công nghiệp tăng 9,5% năm, GDP tăng 5,5% năm. Nghị quyết (dự thảo) 306 của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (1984) về trao quyền tự chủ tài chính và tự chủ trong sản xuất kinh doanh nhằm từng bước phát huy tính năng động, sáng tạo và nâng cao trách nhiệm của cán bộ quản lý cũng như tập thể lao động của xí nghiệp quốc doanh.( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Cùng với những cải tiến trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp, các cuộc cải tiến cục bộ trong lưu thông, phân phối, tài chính, tiền tệ, giá cả cũng được thực hiện.
Nghị quyết Hội nghị TW 8 (khóa 5) 6/1985 đề ra chủ trương điều chỉnh giá, lương, tiền, điều chỉnh mặt bằng giá làm cho giá cả phù hợp hơn với giá trị và sức mua của đồng tiền, tiến tới thực hiện cơ chế một giá, cải cách chế độ tiền lương theo hướng xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ để chuyển sang chế độ trả lương bằng tiền, cải tiến phân cấp ngân sách và lưu thông tiền tệ.
Thực tế, cải tiến cơ chế quản lý vẫn diễn ra trong khuôn khổ của mô hình kinh tế cũ, đây là những bước tìm tòi, thử nghiệm đầu tiên cho cuộc cải cách toàn diện. Đó là những con sóng đầu tiên của quá trình phi tập trung hoá, xoá bỏ dần cơ chế tập trung quan liêu bao cấp ở Việt Nam. Cho nên sự chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam là sự gặp gỡ giữa sáng kiến của quần chúng và đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta. Mặc dù đã có nhiều cố gắng sau 2 kế hoạch 5 năm kể từ khi thống nhất đất nước (1976 – 1985), nền kinh tế Việt Nam vẫn rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng.
Từ năm 1976 – 1985 thu nhập bình quân mỗi năm chỉ tăng 3,7% Nông nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm khoảng 50% thu nhập quốc dân, nhưng trong những năm 1976 – 1985 bình quân mỗi năm chỉ tăng 3,8%. Sản xuất công nghiệp được đầu tư vốn lớn nhưng tốc độ tăng rất thấp và không ổn định. Bình quân mỗi năm trong những năm 1976 – 1985 giá trị tổng sản lượng công nghiệp chỉ tăng 5,2%.
Sản xuất không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của dân cư. Hầu như một phần quỹ tích luỹ và tiêu dùng phải dựa vào viện trợ nước ngoài chiếm 38,2% tổng thu ngân sách và bằng 61,9% tổng số thu trong nước. Số liệu tương ứng trong thời kỳ 1981 –1985 là 22,4% và 28,9%. Đến năm 1985 nợ nước ngoài lên tới 8.5 tỷ rúp và 1.9 tỷ đôla. Trong khi đó ngân sách vốn thâm hụt và phải bù đắp bằng phát hành trái phiếu. Nhiều loại sản phẩm bình quân đầu người năm 1985 còn thấp hơn 1976 như than, gỗ tròn, giấy, cá biển…Do sản xuất không đủ tiêu dùng nên hầu hết các loại hàng hoá đều phải nhập khẩu, kể cả một số mặt hàng trong nước có thể sản xuất được như gạo và vải. Lạm phát tăng nhanh, chỉ số lạm phát đến đỉnh cao vào năm 1986 là 776,9%. Đời sống nhân dân khó khăn gay gắt.
Mặc dù có những mặt chưa thành công, thậm chí phải trả giá nhưng những cải cách, tìm tòi thử nghiệm 1979 – 1985 được coi là cuộc tập dượt và để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cả về lý luận và thực tiễn cho công cuộc chuyển đổi toàn diện và sâu sắc ở giai đoạn sau.
2.2.2. Giai đoạn 1986 – 1989 ( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Đại hội VI của Đảng (12/1986), đã đi vào lịch sử đánh dấu một bước ngoặt quyết định, đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới cơ chế quản lý kinh tế mà” Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ” và đổi mới cơ cấu kinh tế, có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Chính sách đó cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế với qui mô và trình độ kỹ thuật thích hợp trong từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông nhằm khai thác mọi khả năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý
Đến đầu năm 1987 việc cấm chợ ngăn sông hoàn toàn được bãi bỏ, hệ thống ngoại thương được tự do hơn, các doanh nghiệp địa phương được quyền tự chủ rộng rãi hơn trong việc thiết lập các quan hệ với thị trường.. Tuy vậy, năm 1987-1988 tình hình diễn biến phức tạp, có lúc khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua. Ba năm liền lạm phát ở ba con số: năm 1986 lạm phát lên đến 776.9% đến đầu năm 1988 vẫn còn ở mức 398.3%. Vì vậy đời sống của những người hưởng lương và trợ cấp xá hội giảm sút mạnh. Nhiều xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đình đốn thua lỗ, sản xuất cầm chừng thậm chí phải đóng cửa.Hàng chục vạn công nhân buộc phải rời xí nghiệp, hàng vạn giáo viên phải bỏ nghề, những vụ đổ vỡ tín dụng xảy ra ở nhiều nơi. Đầu năm 1988 nạn đói xảy ra ở nhiều vùng, trong năm phải nhập 45 vạn tấn lương thực.
Nguyên nhân chính do Đảng và Nhà nước chậm tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ một số quan điểm và bước đi trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Nhà nước chậm cụ thể hoá, thể chế hoá đường lối của Đảng. Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước ra sức khắc phục khó khăn, từng bước đưa Nghị quyết Đại hội VI vào cuộc sống.
Vào thời kỳ này Đảng ta chủ trương thay đổi lớn hơn trong kế hoạch hoá tập trung thông qua đạo luật giảm bớt các chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt cho các doanh nghiệp. Đổi mới trong nông nghiệp thật sự vào năm 1988, theo chế độ khoán 10 (04/1988) từ đó nông dân được trao quyền sử dụng đất lâu dài. Đó là bước ngoặt có ý nghĩa to lớn đối với phát triển kinh tế nông nghiệp. Đạo Luật về đầu tư nước ngoài được thông qua (1987) và năm (1989) được điều chỉnh lại và Uỷ ban nhà nước về hợp tác đầu tư nước ngoài được thành lập và bắt đầu cấp giấy phép cho các dự án. Từ đó khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động mạnh buộc Chính phủ phải xây dụng hành lang pháp lý và tạo điều kiện kinh tế vĩ mô thuận tiện cho các hoạt động kinh tế.( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Vai trò mới của khu vực kinh tế tư nhân đã đựơc chính thức thừa nhận vào tháng 07/1988 cùng với vấn đề”những qui định mới cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh”. Có thể nhận thấy rằng công cuộc đổi mới được triển khai mạnh mẽ. Bên cạnh đó, Hội nghị lần thứ 6 (3/1989) đã quyết định 12 chủ trương, chính sách lớn đẩy mạnh công cuộc đổi mới, trong đó nhấn mạnh đổi mới cơ chế quản lý chuyển mạnh sang hạch toán kinh doanh, nhấn mạnh yếu tố thị trường, coi thị trường vừa là một căn cứ vừa là một đối tượng của kế hoạch hoá.
Chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước đã làm chuyển biến tình hình. Từ giữa năm 1988 những tiến bộ và nhân tố mới xuất hiện, tình hình kinh tế xã hội có sự cải thiện nhất định. Tốc độ lạm phát và tăng giá đã giảm. Tình hình cung ứng lương thực, thực phẩm bớt gay gắt, hàng hoá trên thị trường nhiều lên, hoạt động giao dịch, chuẩn bị hợp tác kinh tế với bên ngoài được mở ra, bước đầu động viên được nhân dân hăng hái góp sức lực, của cải, tài năng vào xây dựng kinh tế. Lòng tin của nhân dân tăng lên. Việc thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn đạt được những tiến bộ rõ rệt. Năm 1987 đạt 17,5 triệu tấn lương thực, năm 1988 đạt sản lượng 5 triệu tấn và năm 1989 đạt 20,5 triệu tấn. Từ năm 1989 nước ta bắt đầu xuất khẩu gạo mỗi năm từ 1 đến 1,5 triệu tấn. Đến năm 1989 kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bước đầu hình thành. Từ tháng 3/1989, Nhà nước đã thực hiện áp dụng cơ chế thị trường với hầu hết các loại giá cả, chỉ còn một số mặt hàng do Nhà nước định giá như điện, cước vận tải,xăng dầu…Nhìn chung giá cả bước đầu thực hiện chức năng thông tin phản hồi cho người tiêu dùng và người sản xuất, góp phần tạo ra sự năng động trong sản xuất kinh doanh, đồng thời còn xoá bỏ sự bất hợp lý trong cơ cấu giá.
2.2.3. Những nỗ lực đổi mới từ 1989 đến nay. ( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Việc thiết lập một trạng thái ổn định kinh tế vĩ mô được coi là điểm ưu tiên trước hết trong phương hướng thời kỳ 1990-2005. Trong thời gian này, công tác kế hoạch của nước ta bao gồm hai nội dung cơ bản tương thích với hai giai đoạn trước khi lập kế hoạch (bao gồm chiến lược kinh tế – xã hội và quy hoạch phát triển ngành, vùng, địa phương) và lập kế hoạch. Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô không chỉ bao gồm các khâu chuẩn bị kế hoạch (trước khi lập kế hoạch) và lập kế hoạch mà còn có các khâu triển khai thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá, điều chỉnh kế hoạch. Việc phân tích tình hình kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô, do vậy, được lồng ghép vào nhau thông qua phân tích các khâu của kế hoạch hoá.
A. Xây dựng chiến lược kinh tế – xã hội.
Đây là khâu nằm trong giai đoạn chuẩn bị lập kế hoạch kinh tế vĩ mô. Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, một trọng những nhiệm vụ then chốt và cấp bách là phải chuyển công tác kế hoạch hoá từ cơ chế cũ sang cơ chế mới, phải nâng cao chất lượng công tác kế hoạch hoá đáp ứng yêu cầu phát triển mới của nền kinh tế. Trong quá trình đổi mới này, Đảng và nhà nước chủ trương xây dựng chiến lược kinh tế – xã hội, coi đó là bước đi tất yếu trước khi lập kế hoạch kinh tế vĩ mô.
Năm 1991, trên cơ sở việc triển khai các giải pháp đổi mới kinh tế – xã hội đã đem lại kết quả hứa hẹn để đất nước có thể”đi ra” và”đi lên” từng bước trong giai đoạn tiếp theo, Đảng và Nhà nước đã xây dựng”Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000”. Chiến lược được ra đời trong bối cảnh nền kinh tế còn đang bị khủng hoảng trầm trọng, lạm phát cao (67.1% năm 1990 và 67.5% năm 1991), sản xuất trì trệ, thị trường truyền thống suy giảm trong khi các thị trường khác còn bị cấm vận hoặc chưa được khai thông, đời sống nhân dân khó khăn, thất nghiệp và thiếu việc làm nặng nề. Tình hình quốc tế đang đứng trước diễn biến mới. Xu thế thương mại hoá và toàn cầu hoá kinh tế cùng với xu hướng hoà bình, ổn định, cải cách và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang là sự lựa chọn của các quốc gia để tồn tại và phát triển. Cạnh tranh kinh tế quốc tế đang ngày càng gay gắt trên nhiều lĩnh vực để tìm kiếm thị trường, nguồn nguyên liệu, vốn đầu tư, khoa học và công nghệ, chất xám… đã và đang nảy sinh những yêu cầu mới về hợp tác, đồng thời cũng gây ra những xung đột vì lợi ích dân tộc và khu vực trên thế giới. Tình hình trên đặt nước ta trước những cơ hội và thách thức gay gắt trên con đường phát triển. Trong bối cảnh ấy, chiến lược lấy ổn định làm trọng tâm cho 5 năm đầu (1991-1995), đồng thời tạo điều kiện phát triển nhanh hơn vào những năm tiếp theo.
Về kinh tế, chiến lược lấy quan điểm cơ bản là:
- Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và nhiều hình thức tổ chức kinh doanh, phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế – xã hội.
- Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
- Hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục – đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người coi đó là trung tâm, động lực trực tiếp cho mọi sự biến đổi và phát triển.
- Tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN
- Xây dựng hệ thống kinh tế mở, hướng mạnh vào xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu quả
- Lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn quan trọng nhất, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội, trọng đó hiệu quả kinh tế phải được thể hiện ở mức lợi nhuận thu được và phải coi đó là động lực của kinh tế thị trường ở nước ta.
Mục tiêu tổng quát của chiến lược( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
- Trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.
- Trong 5 năm đầu của chiến lược (1991 –1995) phải vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường ổn định chính trị đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa đất nước cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay.
- Định hướng và giải pháp chiến lược
- Xuất phát từ tình hình thực hiện công cuộc đổi mới trong những năm qua cũng như cơ hội và thách thức trong giai đoạn mới, để thực hiện những mục tiêu trên, chiến lược xác định trọng những năm tới cần phải:
- Phát huy những thành tựu đã đạt được, ra sức phấn đấu tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một bước CNH, HĐH tạo ra những cơ sở vật chất và nguồn lực cho phát triển nhanh và bền vững về kinh tế, chặn đứng tiến tới đẩy lùi tiêu cực bất công xã hội, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, củng cố quốc phàng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, xã hội. Phấn đấu thực hiện vượt mức các mục tiêu trong chiến lược đề ra.
Về kinh tế, để tạo bước phát triển nhanh và bền vững (tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm từ 9-10%), đưa đất nước cơ bản thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc lậu, tạo đà mạnh mẽ cho bước phát triển mới vào những năm đầu của thế kỷ XXI, phải chú trọng thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH; hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và năng động, ổn định kinh tế vĩ mô, kìm chế lạm phát ở mức 10- 15%/năm, tăng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân (tỷ lệ tích luỹ trong GDP hàng năm vào khoảng 25-30%), tích cực huy động các nguồn vốn bên ngoài (mỗi năm từ 6-7 tỷ USD) và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư (hệ số ICOR: 2,5-3). Tăng nhanh xuất khẩu (2-2,5 lần đến năm 2000), giảm nhập siêu và bảo đảm hiệu quả của các quan hệ kinh tế quốc tế, tạo lập những điều kiện vững chắc về nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật tạo đà mạnh mẽ cho bước phát triển mới của đất nước vào đầu thế kỷ XXI [26, 123]. Thể chế hóa mô hình phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững làm cơ sở đề ra các kế hoạch, chính sách và chỉ đạo trên các lĩnh vực sau:
- Một là, quan hệ giữa các định hướng phát triển dựa vào việc xuất khẩu các tài nguyên thô hoặc sơ chế, dựa vào các nguồn lực bên trong, tự lực cánh sinh, thay thế nhập khẩu… với các yếu tố bên ngoài.
- Hai là, quan hệ giữa tập trung vào những ngành và vùng trọng điểm đồng thời phát triển các vùng trong cả nước. Trong giai đoạn trước mắt, cần ưu tiên ngành và vùng trọng điểm nhằm đạt hiệu quả đầu tư cao và thu hồi vốn nhanh.
- Ba là, quan hệ giữa xây dựng các công trình quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ trong điều kiện tổng số vốn có hạn
- Bốn là, quan hệ giưã phát triển công nghệ tiên tiến và trung bình, xử lý thoả đáng những vấn đề sở hữu trí tuệ, vai trò của thông tin, quản lý và chất xám trong nền kinh tế hiện đại
- Năm là, trong cơ cấu ngành cần tập trung phát triển nông nghiệp và nông thôn
- Sáu là, đi đôi với xác định chiến lược kinh tế xã hội, Nhà nước cần có quy hoạch, chương trình kinh tế và kế hoạch phát triển kinh tế trong từng thời kỳ chiến lược.( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Đến Đại hội IX (năm 2001), trên cơ sở đánh giá việc thực hiện”Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000”, phân tích tình hình trong nướcvà quốc tế, Đảng và Nhà nước ta xây dựng”Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010 và tầm nhìn 2020”. Trong đó làm rõ tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước 10 năm qua, thực trạng của nước ta khi bước vào chiến lược mới, đánh giá và dự báo các yếu tố nguồn lực về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, dân số và lao động, tích luỹ vốn, bài học kinh nghiệm qua 10 năm thực hiện”Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000”, đánh giá và dự báo tình hình khu vực và quốc tế về môi trường kinh tế, tác động của cách mạng khoa học, công nghệ, toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế, xu hướng biến đổi môi trường và yêu cầu phát triển bền vững toàn cầu tác động đến Việt Nam, chỉ ra những thuận lợi và cơ hội, những khó khăn và thách thức đối với nước ta. Các quan điểm phát triển của chiến lược đòi hỏi phải đảm bảo phát triển nhanh và bền vững, phát triển kinh tế là nhiện vụ trung tâm, xây dựng nền tảng của một nước CNH là yêu cầu bức thiết, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách sâu rộng và đồng bộ, gắn chặt xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh. Các mục tiêu của chiến lược được xác định bao gồm mục tiêu về kinh tế và mục tiêu về xã hội. Trong kinh tế vĩ mô, mục tiêu hàng đầu là tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hai mục tiêu đó có quan hệ mật thiết với nhau. Xác định khả năng phát triển các ngành, lĩnh vực và vùng kinh tế nhằm đạt được mục tiêu đề ra đến năm 2010 và tầm nhìn 2020. Phương hướng phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học và công nghệ đồng thời đề ra các giai đoạn chiến lược đến năm 2010 và 2020.
Nhìn chung, từ khi đổi mới đến nay nước ta đã xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội làm căn cứ cho quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế trong hai thời kỳ 1991-2000 và 2001-2010, tầm nhìn 2020. Các quan điểm, mục tiêu và định hướng giải pháp chiến lược đã và đang được triển khai trong cuộc sống.
B. Quy hoạch phát triển kinh tế ( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Để cụ thể hoá chiến lược kinh tế xã hội của Quốc gia, Đảng và Nhà nước yêu cầu các ngành, các vùng lãnh thổ và các địa phương phải có qui hoạch tổng thể kinh tế – xã hội.
Nội dung của các qui hoạch tổng thể phải đạt được các yêu cầu:
Phân tích và làm rõ các cơ sở khoa học về nguồn lực và thực trạng phát triển kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực. Đánh giá đúng khả năng, tình hình và triển vọng khai thác và sử dụng các nguồn lực đó, lợi thế và những hạn chế, thách thức của mỗi nguồn lực trong quan hệ kinh tế với các ngành, vùng và địa phương khác cùng với các quan hệ kinh tế khu vực và quốc tế. Phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế của ngành, vùng, địa phương bao gồm bối cảnh trong nước và quốc tế, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng, địa phương trong quá trình phát triển.
Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định trong chiến lược kinh tế – xã hội và kết quả đánh giá, phân tích tình hình, bối cảnh nêu trên, ngành, vùng và địa phương phải đưa ra được định hướng phát triển của mình trong thời gian thực hiện chiến lược. Trong đó, xác định rõ tư tưởng chỉ đạo, quan điểm phát triển, mục tiêu tổng quát của ngành, vùng, địa phương (kể cả mục tiêu của từng giai đoạn trong thời gian thực hiện chiến lược), các mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể về phát triển kinh tế và xã hội. Về kinh tế, xác định các chỉ tiêu vè giá trị sản lượng, mức tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chỉ tiêu tỉ trọng các sản phẩm, chỉ tiêu xuất khẩu, mức đóng góp vào ngân sách…
Bố trí các phương án phát triển ngành, vùng, địa phương. Đối với vùng và địa phương phải xác định phương án phát triển của từng ngành nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ và xác định phương hướng phát triển vùng.
Xây dựng các chương trình, dự án đầu tư của ngành, vùng, địa phương.
Các giải pháp và chính sách cho thời gian thực hiện quy hoạch, trong đó có chính sách huy động vốn và đầu tư, phương thức tạo vốn trong ngành hoặc trên địa bàn, thu hút vốn đầu tư từ ngoài ngành, ngoài vùng (ngành bạn, tỉnh bạn và nước ngoài), các giải pháp khoa học và công nghệ, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách thị trường và các thành phần kinh tế, các biện pháp nâng cao sức cạnh tranh về hàng hoá của ngành, vùng vàđịa phương, chính sách xã hội và phương thức tổ chức, chỉ đạo thực hiện.
Đối với các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, căn cứ chủ yếu để xây dựng quy hoạch tổng thể là đường lối, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Đảng, Nhà nước, quy hoạch phát triển vùng lãnh thổ, quy hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực, các khu vực kinh yế trọng điểm và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương.
Việc triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế ngành, vùng, địa phương phải được sự hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và đầu tư và sự phối hợp của các Bộ, ngành liên quan. Quy hoạch của ngành, vùng, địa phương chính là căn cứ để xây dựng kế hoạch 5 năm, hàng năm và lập dự án đầu tư của ngành, địa bàn (vùng, tỉnh, thành phố).
C. Lập kế hoạch và chương trình kinh tế. ( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô)
Trên cơ sở các mục tiêu vĩ mô và quan điểm phát triển, định hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và lãnh thổ được xác định trong chiến lược và quy hoạch, Đảng và Nhà nước yêu cầu các cơ quan chức năng dưới sự chủ trì của Uỷ ban kế hoạch Nhà nước tiến hành xây dựng kế hoạch và chương trình kinh tế. Đây là sự cụ thể hoá chiến lược và quy hoạch, đồng thời cũng là sự thể hiện các kết quả nghiên cứu chiến lược và quy hoạch.
Lập kế hoạch kinh tế vĩ mô
Ở nước ta trong thời gian đổi mới vừa qua, kế hoạch kinh tế vĩ mô đựơc xác định bao gồm tập hợp các mục tiêu kinh tế ở cấp quốc gia và khu vực (vùng lãnh thổ, ngành kinh tế) và các giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đó do Nhà nước xây dựng và là công cụ để Nhà nước quản lí vĩ mô nền kinh tế quốc dân, phối hợp với các công cụ khác và cơ chế tự điều tiết bởi các quy luật khách quan của thị trường để vận hành nền kinh tế theo chiến lược và mục tiêu lựa chọn.
Trong thời gian qua nước ta đã xây dựng các kế hoạch kinh tế trung hạn bao gồm kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 1991-1995, 1996- 2000, 2001-2005. Nội dung của các kế hoạch trên bao gồm:
Phân tích những thuận lợi và những khó khăn thách thức của nền kinh tế khi bước vào thời kỳ kế hoạch. Trong đó chỉ ra tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, bối cảnh của thời đại, tình hình và chiều hướng biến đổi của quốc tế, cả về trình độ hiện có của lực lượng sản xuất, cơ cấu kinh tế, năng lực sản xuất và kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của hàng hoá trong nền kinh tế, quan hệ sản xuất và thành phần kinh tế, chất lượng và hiệu quả quản lí kinh tế vĩ mô…
Xác định mục tiêu và nhiệm vụ của kế hoạch. Bên cạnh cơ sở là chiến lược và quy hoạch, kế hoạch kinh tế vĩ mô được xây dựng gắn với kì Đại hội Đảng toàn quốc, và là sự cụ thể hoá mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ chủ yếu và định hướng phát triển kinh tế-xã hội của kì Đại hội đó. Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 1991-1995 là sự cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, kế hoạch 1996-2000 thể hiện chủ trương nghị quyết Đại hội VIII và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001- 2005 là cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội IX năm 2001.
Chẳng hạn, mục tiêu của kế hoạch kinh tế 5 năm 1991-1995 là: (1) Tiếp tục kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, giữ vững và phát triển sản xuất,bắt đầu tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, (2) Tạo thêm nhiều việc là cho người lao động, giảm mạnh nhịp độ tăng dân số, (3) ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đảm bảo tiền lương tối thiểu đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của người lao động, ngăn chặn thu nhập phi pháp bất công. Đây chính là sự cụ thể hoá mục tiêu tổng quát trong Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, trong 5 năm tới (1991-1995) phải “vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tăng cường ổn định chính trị và đẩy lùi tiêu cực, bất công xã hội, đưa đất nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng”.
Các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội chủ yếu cần đạt được trong thời kỳ kế hoạch bao gồm tổng GDP, tốc độ tăng trưởng hàng năm của toàn bộ nền kinh tế, của từng nhóm ngành (CN, NN, DV) và mức tăng GDP bình quân hàng năm theo đầu người. Dự kiến cơ cấu kinh tế trong GDP cần đạt được đến cuối kỳ. Các chỉ tiêu về xã hội như tỉ lệ gia tăng dân số, lao động, giáo dục và đào tạo, giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ… được xác định không chỉ nhằm đảm bảo cho sự phát triển xã hội mà còn đảm bảo cho các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có điều kiện đựơc thực hiện.
Nhiệm vụ, mục tiêu phát triển các ngành, lĩnh vực và lãnh thổ:
Phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế và nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Trong đó dự kiến phương án phát triển từng ngành kinh tế quốc dân (CN,NN,DV), quan hệ xuất nhập khẩu. Ví dụ, đối với NN, kế hoạch đưa ra phương án dịch chuyển cơ cấu ngành trồng trọt, chăn nuôi, và cơ cấu trong mỗi ngành này, cơ cấu vùng nông nghiệp, việc ứng dụng tiến bộ KH, CN, diện tích và sản lượng các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu (lúa, ngô, cà phê, cao su, chè, điều, hồ tiêu), phát triển chăn nuôi, bảo vệ và phát triển rừng, phát triển thuỷ hải sản, lựa chon khâu (mặt hàng) đột phá cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phương án gắn với phát triển công nghiệp chế biến và thị trường trong nước và quốc tế, khai thác lợi thế nông nghiệp Việt Nam, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
Định hướng phương án huy động các nguồn lực, bảo đảm cân đối kinh tế vĩ mô. Trong đó dự kiến phương hướng, khả năng huy động và sử dụng các nguồn vốn (các mục tiêu đầu tư), đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính tiền tệ, phát triển thị trường vốn, phát triển các thị trường thanh toán, khả năng giải quyết cán cân thanh toán quốc tế…( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng để tạo khả năng thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội bao gồm hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cấp nước, nhà ở…
Định hướng phát triển nguồn nhân lực (nhất là về mặt chất lượng) trong đó nhấn mạnh hướng phát triển giáo dục và đào tạo, nghiên cứu và triển khai khoa học, công nghệ, xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia.
Phát triển văn hoá xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, hướng nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trong đó có vấn đề lao động và việc làm, chương trình xoá đói giảm nghèo, vấn đề y tế và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, vấn đề môi trường sinh thái…
- Hướng phát triển các vùng lãnh thổ nhằm phát huy những lợi thế so sánh trong từng vùng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hướng kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh
Cơ chế chính sách và các giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch. Trong đó đặt ra yêu cầu thực hiện các vấn đề cụ thể, các nhóm giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế vĩ mô. Trong kế hoạch 5 năm (2001-2005) đề ra 7 nhóm giải pháp lớn cần được cụ thể hoá hơn nữa trong quá trình thực hiện bao gồm: (1) phát triển kinh tế nhiều thành phần,(2) phát triển các loại thị trường, (3) nâng cao hiệu lực của các công cụ kinh tế vĩ mô, (4) chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, (5) chính sách phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, (6) chính sách xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, (7) cải cách nền hành chính và hoàn thiện bộ máy nhà nước nhằm tăng cường cơ quan quản lí vĩ mô nền kinh tế thị trường.
Chương trình kinh tế
Đây là một bộ phận cấu thành của kế hoạch hoá, là phương thức vận hành để đưa nhiệm vụ của kế hoạch vào cuộc sống. Nó bao gồm tổ hợp các mục tiêu, nhiệm vụ, các bước phải tiến hành, các nguồn lực cần sử dụng và các yếu tố cần thiết khác để thực hiện mục tiêu kế hoạch đề ra theo một tiến độ chặt chẽ và thống nhất.
Chương trình kinh tế quy định ưu tiên của các hoạt động để Chính phủ tập trung nguồn lực hạn hẹp của đất nước vào giải quyết những khâu xung yếu quyết định sự phát triển. Nó cho phép khắc phục tình trạng tách rời giữa các nhiệm vụ kế hoạch, giải quyết một cách có hệ thống các tác động của kế hoạch đảm bảo hiệu quả kinh tế – xã hội trên một địa bàn lãnh thổ, ngành hay toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Trong kế hoạch 5 năm 1991-1995, chương trình kinh tế vĩ mô được xác định tập trung nỗ lực phát triển 3 hướng: (1) chương trình lương thực, thực phẩm, (2) chương trình sản xuất hàng tiêu dùng, (3) chương trình sản xuất hàng xuất khẩu.
Trong kế hoạch 5 năm (1995-2000), Đảng và Nhà nước xác định 11 chương trình kinh tế lớn, đó là: (1) chương trình phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, (2) chương trình phát triển công nghiệp, (3)chương trình phát triển kết cấu hạ tầng, (4) chương trình phát triển khoa học và công nghệ, chương trình phát triển kinh tế dịch vụ, (6) chương trình phát triển kinh tế đối ngoại, (7) chương trình phát triển giáo dục và đào tạo, (8) chương trình giải quyết các vấn đề văn hoá xã hội, (9) chương trình phát triển các vùng lãnh thổ, (10) chương trình kinh tế xã hội miền núi và đồng bào dân tộc, (11) chương trình xoá đói giảm nghèo.
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001- 2005 xác định cần thực hiện chương trình đầu tư phát triển kinh tế xã hội với 6 nội dung: (1) Đầu tư chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất trong các ngành kinh tế, các vùng kinh tế theo hướng CNH-HĐH, phát huy lợi thế, hiệu quả, tăng sức cạnh tranh và bảo đảm giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ trong phát triển kinh tế và xây dựng đất nước, (2) Đầu tư phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về ăn, mặc, ở, đi lại, học hành và chữa bệnh cho nhân dân, (3) Đầu tư có chọn lọc và chuẩn bị xây dựng một số cơ sở công nghiệp sản xuất công cụ sản xuất và tư liệu sản xuất như cơ khí, chế tạo, dầu khí, luyện kim, điện tử, hoá chất cơ bản…, (4) Đầu tư hoàn thiện từng bước cơ bản về cơ sở hạ tầng, tạo khả năng phát triển trong thời kỳ tiếp theo, (5) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực, tập trung đầu tư cho sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo phát triển bền vững,
Đầu tư thực hiện có hiệu quả các chương trình xoá đói giảm nghèo, tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo, vùng nghèo. Hỗ trợ đầu tư cho miền núi và vùng còn khó khăn [26, 123].
Ngoài các khâu nêu trên, trong nội dung của kế hoạch hoá còn bao gồm các khâu như tổ chức thực hiện kế hoạch, theo dõi, kiểm tra, tổng kết việc thực hiện kế hoạch. Đây là các khâu triển khai định hướng kế hoạch trong thực tiễn cuộc sống nhằm đạt được các mục tiêu. Trong các kế hoạch kinh tế vĩ mô vừa qua, các khâu này được thực hiện thông qua các phương tiện (công cụ) như các chương trình kinh tế, các dự án đầu tư, các chính sách kinh tế vĩ mô nhất là chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả, tỉ giá nhằm tác động vào thị trường vốn, thị trường sản phẩm, định hướng đầu tư.( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Mời bạn tham khảo thêm:
1. Những kết quả nổi bật từ việc đổi mới kế hoạch hoá KTVM.
Thực tế đổi mới kế hoạch kinh tế vĩ mô thời gian qua cho thấy nước ta đã từng bước xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế kế hoạch hoá phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Dưới đây là những kết quả:
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát.
Sau một loạt chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước, đến năm 1990 lạm phát còn 67.4%. Với thành công bước đầu của công cuộc đổi mới, nhất là từ những năm 1989-1990 đã tạo điều kiện để Đại hội VII (6/1991) khẳng định đường lối đổi mới của Đại hội VI đề ra là đúng đắn và xác định rõ hơn vai trò cuả thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế – xã hội. Nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường là cần thiết để giải phóng và phát huy được các tiềm năng sản xuất trong xã hội. Song thực tế cho thấy, bản thân nền kinh tế thị trường không phải là liều thuốc vạn năng. Để hạn chế những tiêu cực, bảo đảm cho đổi mới đi đúng hướng, phát huy bản chất tốt đẹp của CNXH, Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế – xã hội bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách, thông tin và các công cụ khác.
Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII lại tiếp tục khẳng định:” cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN trở thành cơ chế vận hành nền kinh tế”.
Trong những năm 1991-1995, nhờ có đường lối đúng đắn đó công cuộc đổi mới đã giành được nhiều thành tựu. Tăng trưởng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) là 8.2% (kế hoạch là 5.5-5.6%), công nghiệp tăng 13.3%, nông nghiệp 4.5%, kim ngạch xuất khẩu tăng 20%, từ năm 1989 xuất khẩu gạo bình quân mỗi năm gần 2 triệu tấn, lạm phát từ 67.1% năm 1991 giảm xuống còn 12.7% năm 1995 [28, 123]. Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân được cải thiện, số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm. Trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân được nâng lên. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển. Giữ vững ổn định chính trị, củng cố an ninh. Cơ chế thị trường đã được hình thành, quy luật giá trị, cung- cầu, lưu thông tiền tệ đã được vận dụng phù hợp, có những doanh nghiệp đứng vững, vươn lên cạnh tranh với hàng ngoại nhập, vươn ra thị trường thế giới. Cơ chế quản lý và vai trò quản lý của Nhà nước bước đầu được hình thành đang từng bước hoàn thiện đóng vai trò rất quan trọng vào việc ổn định phát triển kinh tế-xã hội. Quy mô đầu tư phát triển toàn xã hội tăng khá. Trong 5 năm (1990-1995)vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 18 tỉ USD trong đó phần Nhà nước chiếm 43%, của dân 30%, đầu tư trực tiếp nước ngoài 27%. Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp, chủ trương hạn chế những tiêu cực của cơ chế thị trường.
Nhờ có sự kết hợp tốt hơn, cụ thể hơn một bước quan hệ cơ chế thị trường và kế hoạch mà mục tiêu kế hoạch 1991-1995 cơ bản được hoàn thành như về cơ bản đến năm 1996 nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài trong nhiêù năm, tình trạng đình đốn, rối ren trong phân phối lưu thông được khắc phục. Nhịp độ tăng trưởng GDP 1991-1995 bình quân năm là 8,2% mức cao nhất so với 5 năm trước đó. Lạm phát 6,1% [28, 123].
Công cuộc phát triển kinh tế – xã hội trong kế hoạch 5 năm (1996- 2000) mặc dù trong điều kiện bị thiên tai lũ lụt lớn chưa từng có trong lịch sử, gây thiệt hại nặng nề trong cả nước, từ năm 1997 đến nay phải đối mặt với những khó khăn thử thách quyết liệt do cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực, cùng với những yếu kém còn tồn tại từ nội bộ nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế nước ta tuy có giảm nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định.Tốc độ gia tăng GDP bình quân tăng 6.7% (năm 1996 tăng 9.34, 1997 tăng 8.2%, 1998 tăng 5.8%, 1999 tăng 5% và năm 2000 tăng 5.5%. Theo đánh giá chung của Liên Hợp Quốc về tình hình kinh tế Việt Nam, Việt Nam đã tránh được phần lớn tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất của ASEAN trong năm 1997 (Thái lan: 0.6%, Philipin: 5%, Singapore: 7%, Malaysia: 7.5%, Inđonéia: 5%, tính chung ASEAN:4.9%) [8, 121].( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Đến Đại hội Đảng lần thứ IX đã đặt ra mức phấn đấu cao trong kế hoạch 5 năm 2001-2005 là: “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH-HĐH. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở rộng kinh tế đối ngoại. Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Tạo nhiều việc làm; cơ bản xoá đói, giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội; hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia”.
Mục tiêu tổng quát trên được cụ thể hoá thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội chủ yếu sau:
Tổng GDP năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995; Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 7.5%, trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4.0- 4.3%, công nghiệp và xây dựng tăng 10.4-10.8%, dịch vụ tăng 6.2-6.8%. Giá trị sản xuất nông lâm, ngư nghiệp tăng 4.8%/năm, giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng 13%/năm; giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 7.5%/năm. tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 16%/ năm [28, 123].
Đến năm 2005, tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp trong GDP khoảng 20- 21%, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng khoảng 38-39%, tỷ trọng các ngành dịch vụ khoảng 41-42%. Từ sau Đại hội Đảng đến nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước về cơ bản đã diễn biến theo chiều hướng mà Đại hội đã nhận định. Tuy nhiên, tình hình thế giới có những biến động rất phức tạp sau sự kiện khủng bố nước Mỹ ngày 11/9/2001, tiếp đến là chiến tranh tại Apganistan, I Rắc, các hoạt động khủng bố và chống khủng bố, quá trình khủng bố và chống khủng bố trở thành vấn đề thời sự. Kinh tế thế giới và khu vực phục hồi chậm, quá trình toàn cầu hoá tiếp tục phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Bệnh dịch SARS, dịch cúm gia cầm và lũ lụt, hạn hán liên tiếp xảy ra… Những biến động trên đã đặt nền kinh tế và xã hội nước ta trước những thử thách quyết liệt.
Trong bối cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn thách thức, đạt được những thành tựu quan trọng:
Nhìn chung, trong 5 năm 2001-2005, nền kinh tế nước ta vẫn duy trì được khả năng tăng trưởng nhanh và tương đối bền vững. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm ước khoảng 7.3 – 7.4%/ năm, tuy thấp hơn so với chỉ tiêu đề ra trong kế hoạch 5 năm 2001-2005 nhưng trong bối cảnh hết sức khó khăn cả ở trong và ngoài nước, việc tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta liên tục tăng lên qua các năm và trung bình đạt xấp xỉ chỉ tiêu Đại hội đề ra, đồng thời cao hơn tốc độ tăng bình quân của kế họach 5 năm trước 0.5% là một thành tựu rất lớn. Tốc độ tăng trưởng của nước ta cũng thuộc loại khá cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Năm 2005 dự kiến sẽ là năm đánh dấu bước chuyển biến tích cực và toàn diện trong toàn nền kinh tế, các chủ trương, chính sách lớn đề ra tại Hội nghị Trung ương 9 sẽ thực sự đi vào cuộc sống và lan toả rộng khắp trong toàn xã hội, tạo ra nhiều động lực mới đồng thời kích thích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Do vậy, dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP có thể đạt 8%.
Như vậy, qui mô GDP của nền kinh tế năm 2005 có khả năng đạt gấp đôi năm 1995 (10 năm 1996-2005 tăng bình quân 7.2%), thu nhập bình quân đầu người đạt 584 USD/ người [28, 123].
Có thể khẳng định rằng, tăng trưởng đã và đang diễn ra trong tất cả các khu vực kinh tế, tăng trưởng trong từng khu vực đều đi đôi với chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng sản phẩm. Lạm phát ở mức phù hợp. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện.
2. Kinh tế vĩ mô và các cân đối chủ yếu trong nền kinh tế có nhiều cải thiện. ( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
- Cân đối tích luỹ và tiêu dùng được bảo đảm vững chắc, tổng quỹ tiêu dùng vẫn tăng trưởng khá, bình quân khoảng 6.2%/năm (chỉ tiêu Đại hội đề ra là 5.5%), tiêu dùng bình quân đầu người tăng bình quân 5%/năm. Nhờ đó đời sống nhân dân được cải thiện nhanh, đồng thời tiêu dùng trong nước đã thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế trong 5 năm qua.
- Cùng với tăng trưởng kinh tế, quỹ tiêu dùng và quỹ tích luỹ có nhiều cải thiện theo hướng tăng nhanh tích luỹ cho đầu tư phát triển. Tỷ lệ tiết kiệm trong nước so với GDP dự kiến đến năm 2005 đã đạt khoảng 32% (kế hoạch là 28-30% GDP)
- Tài chính quốc gia tiếp tục được củng cố và cải thiện, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và khai thác tốt hơn các nguồn lực. Tổng thu ngân sách nhà nước 5 năm tăng bình quân khoảng 15.1%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng giá cộng lại. Tính chung 5 năm, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 710 nghìn tỷ đồng, tăng 90 nghìn tỷ đồng so với chỉ tiêu Đại hội đề ra. Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân đạt 22.7% GDP, vượt chỉ tiêu đề ra là 20-21% GDP [28, 123].
- Hoạt động tiền tệ được điều hành linh hoạt, vừa kiểm soát được lạm phát, vừa hỗ trợ tích cực cho quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tốc độ tăng tổng phương tịên thanh toán liên tục được điều hành phù họp với biến động giá cả và tăng trưởng kinh tế, trung bình đạt 23.1%/năm. tỷ lệ tiền tệ hoá nền kinh tế (M2/GDP) trong 5 năm qua tăng khá nhanh, từ 57.7% năm 2000 lên trên 90% năm 2005.
- Nguồn vốn huy động trong 5 năm tăng bình quân 23.5%/năm, trong đó tiền gửi bằng VNĐ tăng khoảng 31%, bằng ngoại tệ tăng khoảng 14%. Dư nợ cho vay toàn nền kinh tế tăng bình quân khoảng 26.1%
- Đến cuối năm 2005, dự kiến nợ xấu chiếm khoảng 4% tổng dư nợ tín dụng, thấp hơn nhiều so với khi bắt đầu thực hiện kế hoạch (nợ xấu cuối năm 2000 chiếm 10.75% tổng dư nợ tín dụng).
- Cân đối vốn đầu tư phát triển liên tục được cải thiện qua các năm. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư trong GDP tăng từ 34% năm 2001 lên 34.3% năm 2002, 35.9% năm 2003, 36.1% năm 2004 và khoảng 36.9% năm 2005.
- Tổng vốn đầu tư đưa vào nền kinh tế trong 5 năm 2001-2005 tính theo giá năm 2000 đạt khoảng 960.9 nghìn tỷ đồng, tăng 13-15.8% so với chỉ tiêu Đại hội đề ra là 830-850 nghìn tỷ đồng [28, 123].
3. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
Thành tựu kinh tế đối ngoại được thể hiện thông qua mức phát triển khá của các lĩnh vực như xuất, nhập khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài và thu hút vốn.
Thứ nhất, về xuất nhập khẩu. Tổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm 1996-2000 đạt trên 50 tỷ USD, tăng bình quân hàng năm khoảng 18.6%. Khối lượng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có thay đổi. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản tuy vẫn chiếm vị trí quan trọng nhưng có xu hướng giảm dần, từ 42.3% (năm 1996) xuống còn 30% (2000), tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp nhẹ, thủ công nghiệp tăng tương ứng, từ 29% lên 36.8%, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản từ 28.7%lên 33.2% [26, 123].
Thị trường xuất nhập khẩu được củng cố và mở rộng trong đó thị trường châu á chiếm gần 63% tổng kim ngạch xuất khẩu và gần 74% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, riêng các nước ASEAN chiếm tương ứng trên 20% và 30%ở thị trường EU, châu Mĩ, Trung Đông, hàng xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt và đang tăng dần.
Tổng kim ngạch nhập khẩu 5 năm đạt trên 59 tỷ USD tăng bình quân hàng năm khoảng trên 10%, tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng kim ngạch nhập khẩu đáng kể, từ 13% năm 1996 xuống còn 4.5% năm 2000.
Chênh lệch xuất nhập khẩu so với kim ngạch xuất khẩu đã giảm từ 49.6% năm 1995 xuống còn vài phần trăm vào năm 2000.
Trong giai đoạn 2000-2005: vượt qua nhiều khó khăn và thách thức, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn tiếp tục duy trì khả năng phát triển khá. Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu tăng 4.1%, năm 2002 tăng 11.2%. Năm 2003, mặc dù chiến tranh IRắc đã có tác động xấu đến thị trường và các mặt hàng chủ lực của ta, nhưng do có những giải pháp kịp thời khắc phục khó khăn, chuyển hướng thị trường, các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm thị trường thay thế… nên kim ngạch xuất khẩu năm 2003 đã tăng lên tới 20.8% so với năm 2002. Trong các năm 2004-2005, kim ngạch xuất khẩu tăng lần lượt là 14% và 12%.
Tính chung trong 5 năm, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 100.7 tỷ USD, bằng 88.6% so với chỉ tiêu đề ra (chỉ tiêu là 114 tỷ USD), tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 5 năm đạt 12.3% (kế hoạch là 14-16%). Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người năm 2005 đạt 368 USD/người, tuy còn ở mức thấp so với tiềm năng nhưng đã thuộc loại các nước có nên ngoại thương phát triển.( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Tổng kim ngạch nhập khẩu 5 năm dự kiến đạt khoảng 119.8 tỷ USD, tốc độ tăng bình quân đạt 14.3%/năm, thấp hơn mục tiêu do Đại hội đề ra là 15%/năm [28, 123].
Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nhập khẩu máy móc, thiết bị và phụ tùng, giảm tỷ trọng nhập khẩu nhiên, nguyên vật liệu. Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng máy móc thiết bị và phụ tùng đã tăng từ 30.6% năm 2000 lên 32.6% năm 2005, tỷ trọng nhóm nguyên nhiên vật liệu giảm từ 63.2% xuống 61%. Riêng nhóm hàng tiêu dùng có tỷ trọng tăng nhẹ, từ 6.2% lên 6.4%.
Thứ hai, về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) . Tuy tốc độ thu hút có giảm nhưng các doanh nghiệp thuộc khu vực này đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội. Trong 5 năm (1990-1995), gần 1500 dự án đầu tư được cấp phép, với tổng số vốn đăng ký khoảng 20.7 tỷ USD và nếu kể cả cấp mới và tăng vốn thì số vốn FDI sẽ lên tới khoảng 4.7 tỷ USD.
Cơ cấu vốn FDI thay đổi ngày càng phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khoảng 2/3 tổng nguồn vốn được đưa vào đầu tư trong lĩnh vực sản xuất vật chất, trong đó trên 60% số dự án là đầu tư khai thác và nâng cấp các cơ sở kinh tế hiện có.
Nguồn vốn đã được thực hiện trong 5 năm đạt khoảng 10 tỷ USD, chiếm khoảng 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo được 34% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, trên 22% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp trên 10% GDP của cả nước. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút trên 30 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp làm việc trong các ngành xây dựng, thương mại, dịch vụ liên quan.
Giai đoạn 2000-2005, trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, dòng giao lưu vốn bị hạn chế và phân tán bởi sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thu hút vốn, nhưng do môi trường đầu tư của chúng ta tiếp tục được cải thiện nên trong 5 năm 2001-2005, tổng vốn thực hiện của khu vực đầu tư nước ngoài đạt khoảng 13 tỷ USD, trong đó đầu tư vào ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 72% tổng vốn thực hiện, lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm 9% và dịch vụ chiếm 19% tổng vốn thực hiên. Đáng chú ý là tỷ trọng đầu tư cho khu vực nông nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng lên. Tính chung, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 16.5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm 2001-2005.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong 5 năm đóng góp xấp xỉ 14.1% GDP/năm của cả nước, tổng doanh thu (không kể dầu khí) đạt 75.8 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu đạt 29 tỷ USD, chiếm trên 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (trừ dầu thô), kim ngạch nhập khẩu đạt 38.9 tỷ USD, chiếm trên 38.6% tổng kim ngạch nhập khẩu, nộp ngân sách nhà nướckhoảng 2.5 tỷ USD, chiếm 4.9% tổng thu ngân sách, thu hút khoảng 83 vạn lao động trực tiếp.
Thứ ba, nguồn vốn ODA tiếp tục góp phần quan trọng phát triển kết cấu hạ tầng. Tính chung trong 5 năm 1995-2000, nguồn vốn ODA đưa vào thực hiện khoảng 6.1 tỷ USD.
Bước vào thời kỳ 5 năm (2001-2005), do khó khăn kinh tế toàn cầu, nguồn ODA của thế giới có xu hướng giảm đáng kể. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, nguồn ODA mà các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam trong 5 năm qua vẫn tiếp tục tăng lên, năm 2001 đạt 2.4 tỷ USD, năm 2001 đạt 2.4 tỷ USD, năm 2002 đạt 2.5 tỷ USD, năm 2003 đạt 2.83 tỷ USD, năm 2004-2005 ước đạt 5.6 tỷ USD. Điều này thể hiện sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đốivới chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Việc ký kết các điều ước quốc tế cụ thể về ODA trong 5 năm 2001-2005 đã diễn ra thuận lợi, tổng giá trị các hiệp định đã kí kết đạt khoảng tỷ USD, trong đó vốn vay ưu đãi khoảng 10.3 tỷ USD, vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 3 tỷ. Tuy nhiên, hoạt động đối ngoại chưa vượt qua được những thách thức gay gắt về cạnh tranh và thị trường, chưa phát huy được lợi thế về ổn định chính trị – xã hội để thu hút mạnh nguồn vốn FDI, chưa thực sự chủ động trong hội nhập quốc tế.
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG.
2.3.1. Những kết quả đạt được. ( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Một là, xây dựng được kế hoạch tổng thể, chiến lược với các quy hoạch và chương trình kinh tế lớn:
Trước đổi mới, đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước chỉ được thể hiện ở phương án kế hoạch có tính chất tác nghiệp, kế hoạch mang tính nghiệp vụ đơn thuần, chưa có một văn bản chiến lược nào. Từ khi đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải khắc phục tình trạng nêu trên, phải nâng cấp các phương án kế hoạch lên tầm chiến lược, phải có qui hoạch tổng thể kinh tế-xã hội, tức là phải có tầm nhìn xa và cơ bản. Đây là bước đi không thể thiếu được trong giai đoạn chuẩn bị lập kế hoạch nhằm hoàn thiện các căn cứ khoa học cho kế hoạch.
Các quan điểm chiến lược định hướng đưa ra đã thể hiện sự nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, mối quan hệ và sự khác nhau giữa sở hữu về mặt pháp lý với sở hữu được thực hiện về mặt kinh tế trong kinh tế thị trường, dân chủ hoá (tự do hoá) về kinh tế được khẳng định là cần thiết để phát triển lực lượng sản xuất, chuyển sang kinh tế thị trường: dân chủ hoá (tự do hoá) về kinh tế được khẳng định là cần thiết để phát triển lực lượng sản xuất, chuyển sang kinh tế thị trường tiếp tục xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện mở cửa nền kinh tế nhằm thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển, phát huy lợi thế so sánh và lợi thế của nước phát triển muộn về kinh tế, lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn đo lường chất lượng của chiến lược.
Các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nêu trong chiến lược về cơ bản là phù hợp với yêu cầu phát triển và điều kiện thực tế, đã thực sự có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng lập kế hoạch. Chiến lược đã khơi dậy và động viên sự phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, đồng thời thể hiện bước đổi mới quan trọng, có hệ thống về kế hoạch hoá, biểu hiện trong các phương pháp tháo gỡ và khơi dậy các tiềm năng kinh tế trong nước và tranh thủ mạnh các nguồn lực bên ngoài. Đây là những điểm mới trong tư duy về kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô ở nước ta.
Trong quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội đã cụ thể hoá chiến lược của các ngành, các lĩnh vực và vùng lãnh thổ đã được Nhà nước xác định làm cơ sở cho xây dựng kế hoạch kinh tế vĩ mô và quy hoạch mặt bằng xây dựng. Đây là điểm mới trong công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô ở nước ta.
Trong các chương trình kinh tế, thành công nổi bật là đã đề ra và giải quyết các nhiệm vụ kinh tế vĩ mô quan trọng. Thông qua các chương trình kinh tế, Nhà nước định hướng sự phát triển vào mục tiêu cuối cùng của chiến lược, tập trung nỗ lực vào khâu chủ đạo. Nó thể hiện sự phát hiện và luận chứng cho những vấn đề quan trọng nhất của kinh tế vĩ mô, xác định các mục tiêu cụ thể nhằm chi tiết hoá cơ cấu của vấn đề được đặt ra, xác định các mục tiêu cụ thể nhằm chi tiết hoá cơ cấu của vấn đề được đặt ra, xác định một cách tổng thể các yếu tố, bộ phận của nền kinh tế quốc dân cần thiết để thực hiện các mục tiêu và tham gia giải quyết các vấn đề đã lựa chọn, vạch ra hệ thống các biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra, bảo đảm phân phối các nguồn lực cho sự hoạt động của toàn bộ dây chuyền đã được chương trình hoá. Điểm mới nổi bật của chương trình kinh tế là nó không hạn chế đối tượng thực hiện mà xây dựng trên quan điểm liên ngành, không giới hạn trong phạm vi từng Bộ, ngành và mang tính chất liên vùng. Các chương trình kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết các vấn đề có tính chất bộ phận nhưng quan trọng nhất của nền kinh té quốc dân, có vai trò quyết định đến phương hướng phát triển của nền kinh tế về lâu dài.( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Hai là, kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô ngày càng mang tính định hướng (hướng dẫn) phát triển nền kinh tế thay cho việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu mang tính áp đặt trước đây. Xác định rõ hơn vai trò của thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của nhà nước về kinh tế – xã hội.
Thông qua kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô, Nhà nước định hướng sự phát triển của nền kinh tế nhằm thống nhất các lợi ích khác nhau, quy tụ các lợi ích khác nhau về một lợi ích để mỗi người khi theo đuổi lợi ích của riêng mình cũng đồng thời góp phần vào việc theo đuổi lợi ích chung của toàn xã hội. Theo phương thức này mà Nhà nước có thể phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp, các Bộ, ngành, địa phương. Những định hướng lớn được vạch ra trong kế hoạch kinh tế vĩ môt là mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức tổ chức, cơ chế chính sách và các giải pháp chủ yếu để thực hiện, trong đó Nhà nước có chức năng phân bổ nguồn lực, phối hợp và điều hoà hoạt động ở các ngành, các cấp, các vùng, các lực lượng kinh tế, các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, điều chỉnh quá trình thực hiện nhiệm vụ được phân công tạo sự hợp lý theo mục tiêu đã định và thực hiện chức năng kiểm tra quá trình thực hiện để điều chỉnh, hoàn thiện và nâng cao.
Ba là, ngày càng giải quyết tốt quan hệ giữa kế hoạch hoá và thị trường. Điều này thể hiện ở việc kế hoạch hoá luôn coi thị trường là đối tượng và căn cứ xây dựng kế hoạch
Trước đây, do kế hoạch hoá dựa trên nền kinh tế hiện vật nên thị trường không được tôn trọng. Từ khi đổi mới đến nay, phương thức kế hoạch hoá có sự thay đổi căn bản, thị trường trở thành đối tượng và căn cứ của kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô. Công tác kế họach hoá ngày càng nhận thấy rằng cần phải coi trọng các quy luật kinh tế khách quan, coi trọng vai trò điều tiết của”bàn tay vô hình” trong nền kinh tế. Cơ chế thị trường cho phép phát huy tính tích cực của các chủ thể kinh tế, tạo điều kiện bình đẳng cho các bên tham gia cạnh tranh, tạo động lực cho sự phát triển. Tuy nhiên cơ chế thị trường cũng đưa đến những tiêu cực và khuyết tật mà tự nó không thể giải quyết được. Để khắc phục và ngăn ngừa các tiêu cực và khuyết tật của thị trường, để thị trường hoạt động có hiệu quả, Nhà nước phải quản lý, điều tiết và can thiệp vào hoạt động cuat thị trường thông qua các công cụ, trong đó tất yếu phải coi trong công cụ kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân.
Kế hoạch hoá phải lấy thị trường làm đối tượng và căn cứ. Nó thể hiện ở chỗ kế hoạch tác động vào thị trường, điều tiết hoạt động của thị trường tạo sự ổn định trên thị trường để các chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời kế hoạch hoá phải căn cứ vào thị trường, xuất phát từ nhu cầu thị trường mà xác định nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Có căn cứ vào nhu cầu thị trường thì sản xuất mới tiêu thụ được, quá trình tái sản xuất mới được thực hiện.
Chúng ta đã từng bước đổi mới công tác kế hoạch hoá cho phù hợp với cơ chế thị trường như: chuyển dần kế hoạch trực tiếp sang kế hoạch gián tiếp là chủ yếu, định hướng dự báo là chủ yếu, từ đường lối kinh tế mà định ra chiến lược kinh tế 1991 – 2000 và 2001 – 2010, rồi từ chiến lược định ra các quy hoạch, từ quy hoạch mà xây dựng kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm. Tạo ra những công cụ kinh tế gắn kết cơ chế thị trường với kế hoạch hoá như xây dựng 3 chương trình có mục tiêu trong kế hoạch 5 năm: chương trình lương thực thực phẩm, chương trình hàng tiêu dùng, chương trình hàng xuất khẩu được thực hiện theo cơ chế thị trường thông qua dự án, hợp đồng kinh tế, trọng tài kinh tế và phương pháp đấu thầu. Điều hành các công cụ: thuế, giá, tỷ giá, ngân sách theo cơ chế thị trường là chủ yếu, bỏ tỉ giá cố định.( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Bốn là, giải quyết ngày càng tốt mối quan hệ giữa kế hoạch Nhà nước và kế hoạch cơ sở. Trước đổi mới, kế hoạch Nhà nước giao nhiệm vụ chỉ tiêu cho kế hoạch cơ sở. Nhà nước quản lý cơ sở bằng mệnh lệnh hành chính. Quá trình đổi mới kế hoạch hoá đã xác định đối tượng chủ yếu của kế hoạch Nhà nước là thị trường. Nhà nước điều tiết hoạt động của thị trường, bảo đảm thị trường phát triển ổn định, cân đối, cạnh tranh lành mạnh. Còn đơn vị cơ sở phải họat động theo”mệnh lệnh” của thị trường, phải căn cứ vào thị trường và khách hàng. Hoạt động của cơ sở vừa căn cứ vào thị trường, vừa làm cho thị trường vận động và phát triển. Mối quan hệ giữa kế hoạch Nhà nước và kế hoạch cơ sở có sự thay đổi căn bản thông qua việc xác lập 2 cấp kế hoạch hoá: cấp vĩ mô gắn với kế hoạch Nhà nước và cấp vi mô gắn với kế hoạch của các tổng công ty, công ty, doanh nghiệp.
Kế hoạch hoá vĩ mô của Nhà nước nhằm đảm bảo những cân đối tổng thể của nền kinh tế quốc dân với các mục tiêu chủ yếu như toàn dụng nhân lực, kiểm soát lạm phát, điều tiết tỷ giá hối đoái, cân đối ngân sách Nhà nước, cân bằng cán cân thanh toán, tiết kiệm thu nhập, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đảm bảo phát triển kinh tế bền vững. Thông qua kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô, Nhà nước tác động vào thị trường, thị trường hướng dẫn, điều tiết kế hoạch của cơ sở. Nhà nước chuyển sang chủ yếu quản lý và điều tiết bằng các biện pháp kinh tế, sử dụng đòn bẩy để kích thích kinh tế. Các quan hệ điều tiết, quản lý cơ sở bằng pháp lệnh, hành chính và trực tiếp giao nhiệm vụ của Nhà nước trước đây đều bị bãi bỏ. Điều này càng làm tăng hiệu lực của kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô và tạo tính chủ động cho các đơn vị kinh tế cơ sở.
Năm là, Chính phủ thực hiện đúng chức năng quản lý vĩ mô, hoạch định chiến lược, quy hoạch và các chính sách tạo môi trường và điều kiện cho các doanh nghiệp và nhân dân tự do kinh doanh theo pháp luật, chỉ trực tiếp làm những gì mà doanh nghiệp và nhân dân không làm được, cơ chế thị trường không làm được hoặc không muốn làm, chỉ hướng dẫn và trợ cấp khi cần thiết chứ không can thiệp vào hoạt động kinh doanh.
Sáu là, trình độ của bộ máy và cán bộ kế hoạch hoá được nâng cao.
Trước đây, cơ chế cũ đã biến bộ máy kế hoạch hoá thành bộ máy mang tính nghiệp vụ đơn thuần, không làm chức năng nghiên cứu, tham mưu cho các cấp lãnh đạo. Ngày nay, việc đổi mới kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô đã biến cơ quan kế hoạch thành cơ quan khoa học trực tiếp phục vụ lãnh đạo hoạch định chính sách, chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, vừa làm tham mưu cho lãnh đạo, vừa làm tư vấn cho các sơ sở sản xuất kinh doanh, tăng cường nghiên cứu dự báo về nguồn lực, thị trường để hoạch định chính sách và biện pháp quản lý kinh tế.
Bộ máy kế hoạch hoá đã được tăng cường cán bộ khoa học, các nhà kinh tế vừa có tầm hoạch định chính sách quốc gia, vừa là người giỏi trong lĩnh vực chuyên môn, hiểu biết bao quát nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội có thể giải quyết được những bài toán của thực tế cuộc sống. Đây là điểm mới, điểm thành công trong công tác kế hoạch hoá ở nước ta thời gian qua.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Bên cạnh những thành quả nêu trên, công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô của nước ta trong thời gian qua còn có những hạn chế. Đó là chất lượng và hiệu quả của công tác kế hoạch hoá còn thấp. Điều này thể hiện ở tình trạng chất lượng và hiệu quả của công tác kế hoạch hoá thấp. Việc điều hành thực hiện các mục tiêu kế hoạch còn lúng túng, bất cập. Kết quả là nhịp độ tăng trường GDP của nền kinh tế trong các năm 1996-2000 chậm dần, năm sau kém hơn năm trước.
Ngoài ra, các thông tin kinh tế – xã hội không chính xác thiếu ăn khớp và không được phân tích đầy đủ trong quá trình xây dựng kế hoạch đã làm cho nội dung kế hoạch nhiều khi không phù hợp với thực tế. Nguồn lực thường được đánh giá cao, nhu cầu thị trường trong và ngoài nước không được dự báo chính xác và với sự nóng vội, chủ quan đã làm cho nội dung kế hoạch phần nào còn mang tính duy ý trí. Nhìn chung chất lượng quy hoạch còn thấp, kế hoạch hoá chưa bao quát được toàn bộ nguồn lực phát triển trong nền kinh tế, việc huy động tiềm năng còn hạn chế, tỷ lệ tiết kiệm còn thấp, chưa nắm bắt được những diễn biến tình hình kinh tế – xã hội từng vùng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa. Các cơ chế, chính sách chậm triển khai, chưa theo kịp các mục tiêu kế hoạch, các chính sách còn chưa ổn định và thiếu nhất quán và việc điều hoà, phối hợp giữa các công cụ trong điều hành còn nhiều lúng túng nên hiệu quả đạt chưa cao… Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa chiến lược với quy hoạch và kế hoạch, giữa kế hoạch dài hạn, kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm. Mục tiêu quy hoạch nhiều khi chưa sát với quan hệ cung cầu. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vừa chậm, vừa chưa theo quy hoạch kế hoạch của Nhà nước. Vấn đề dự báo dự đoán để có kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chưa sát với thực tế. Bên cạnh đó, tính kế hoạch và cơ chế thị trường không ăn khớp làm mất cân đối vĩ mô ở nhiều khâu: như trong kế hoạch trồng mía đường, sản xuất xi măng… ta đã không nắm sát cung cầu thị trường đi đến chỗ mỗi tỉnh là một nhà máy xi măng lò đứng hiệu quả thấp, một nhà máy sản xuất mía đường, sản xuất ra không bán được đi đến phải ép mua, ép tiêu thụ. Chủ thể thực hiện sự phối hợp giữa kế hoạch hoá và cơ chế thị trường chủ yếu là Nhà nước trong khi đó cải cách hành chính, chống tham nhũng không theo kịp yêu cầu đổi mới và đòi hỏi của mối quan hệ trên, kết quả là mối liên hệ trên ít được thực hiện trong thực tế.
Nguyên nhân của những tồn tại trên:( Luận văn Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô )
Công tác dự báo và xây dựng hệ thống các mục tiêu kế hoạch còn yếu, thiếu sát thực. Điển hình là kế hoạch 5 năm 1996-2000, các mục tiêu và chỉ tiêu phát triển đã được xây dựng với mức rất cao cả về tốc độ phát triển lẫn chất lượng và hiệu quả tăng trưởng, nhưng quá trình thực hiện lại không đạt như vậy. Cơ quan kế hoạch chưa đánh giá hết các mặt tồn tại, yếu kém của nền kinh tế trước những yêu cầu và đòi hỏi rất cao của đổi mới kinh tế để có thể thực hiện mục tiêu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Mặt khác, tình hình kinh tế khu vực và quốc tế không diễn ra như dự báo (khủng hoảng tài chính và kinh tế ở Thái lan, Indônexia, Malaxia, Hàn Quốc) nên đã có những bị động và lúng túng trong quá trình thực hiện kế hoạch, có năm phải điều chỉnh mục tiêu kế hoạch, làm cho hiệu quả phát triển của cả thời kỳ thấp, cơ cấu kinh tế quốc dân chuyển dịch chậm.
Việc quy hoạch và đổi mới công tác kế hoạch còn rời rạc, chất lượng chưa cao. Tuy công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội các ngành, vùng lãnh thổ và địa phương đã được triển khai xây dựng có tác dụng tốt trong định hướng phát triển, góp phần tạo căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch 5 năm của các ngành, địa phương và cả nước, nhưng sự phối hợp trong việc xây dựng quy hoạch giữa các ngành, các cấp quản lí vĩ mô còn yếu, chất lượng không cao, việc quy hoạch các sản phẩm, dịch vụ, thương mại chưa gắn với thị trường, vai trò định hướng phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân của kế hoạch kinh tế vĩ mô còn hạn chế. Những cơ sở đảm bảo chất lượng của công tác kế hoạch hoá, đặc biệt là công tác thống kế, điều tra xã hội, dự báo, phân tích kinh tế, thông tin kinh tế chậm được tăng cường.
Công tác chỉ đạo điều hành quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch chưa tốt. Về chương trình kinh tế vĩ mô của Chính phủ, các Bộ, ngành ở Trung ương và các cấp chính quyền địa phương còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, thiếu khẩn trương, thiếu kiểm tra đôn đốc và chưa có sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽ nên hiệu lực và hiệu quả chưa cao. Bộ máy điều hành ở các ngành, các cấp chậm được đổi mới. Các giải pháp mang tính thời sự, tình thế còn ít ý nghĩa trong thực tế. Trong khi đó, các biện pháp mang tính cơ bản, lâu dài chưa được quan tâm chỉ đạo đúng mức. Trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch, một số cơ chế, chính sách lại có xu hướng trở lại bao cấp như giãn nợ, khoanh nợ, xoá nợ, giảm thuế, miễn thuế, bù lãi suất, bao cấp qua giá tràn lan và các hình thức bảo hộ quá mức của Nhà nước làm giảm tính năng động, tích cực và sáng tạo của các cơ sở kinh tế, giảm vai trò điều tiết của cơ chế thị trường. Mặt khác, trên một số lĩnh vực lại thiếu những giải pháp cần thiết, đủ mạnh để bảo hộ sản xuất trong nước và phát triển những sản phẩm mà ta có thế mạnh và cần phát triển.
Công tác kế hoạch chỉ được quan tâm nhiều ở cấp Trung ương, trong khi đó bộ máy kế hoạch không đủ khả năng có được hệ thống thông tin giám sát ở cấp cơ sở, do vậy việc thực hiện nhiều khi diễn ra sai lệch với ý đồ của kế hoạch.
Việc xây dựng chiến lược phát triển và kế hoạch 5 năm thường bị phân cấp, phân tán và chia cắt theo từng ngành, địa phương, chưa có sự đồng bộ chung. Các cấp các ngành quan tâm nhiều nhất đến chỉ tiêu vốn, các chỉ tiêu khác thường bị coi nhẹ (kể cả biện pháp và tổ chức thực hiện.
Quá trình toàn cầu hoá, hội nhập khu vực và quốc tế đã làm tăng các yếu tố phụ thuộc của nền kinh tế nước ta vào những biến động quốc tế và khu vực. Trong điều kiện đó, tính”tĩnh” tương đối của hệ thống mục tiêu trung và dài hạn chưa được thường xuyên xem xét và điều chỉnh phù hợp với tính”động” của môi trường kinh tế – xã hội. Đó là lí do quan trọng làm cho chiến lược, kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm thời gian qua chưa thật ăn khớp với nhau, hiệu lực thực tế còn chưa cao, làm cho việc thực hiện các mục tiêu kế hoạch gặp nhiều khó khăn.
Nhìn chung công tác kế hoạch hoá thời gian qua còn mang tính bị động, chạy theo sự biến động của thị trường, như hiện tượng thay đổi kế hoạch sản xuất kinh doanh trên cơ sở của sự thay đổi nhu cầu của thị trường mà điển hình là các mặt hàng có giá trị xuất khẩu. Chính vì vậy mà công tác kế hoạch hoá là vấn đề cần phải xem xét sao cho có được sự hài hoà cần thiết trong điều kiện cơ chế thị trường thường xuyên biến động.
Mặt khác, tình hình thế giới và khu vực đang và sẽ diễn biến phức tạp hơn nhiều trong thời gian tới đòi hoỉ công tác kế hoạch hoá, đặc biệt là khâu điều hành thực thi kế hoạch phải linh hoạt hơn, đưa ra những quyết sách kịp thời, phù hợp trên cơ sở những luận cứ khoa học và thực tiễn xác đáng.
Xem tiếp phần sau tại:
→ Luận văn Giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
