Trong thời kì giao thương đang ngày càng được mở rộng, với bài Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu đã đưa đến một chủ đề mới và hot bởi vì hoạt động xuất nhập khẩu càng ngày càng phát triển, tiềm năng phát triển của thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung cũng như tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu nói riêng cũng đứng trước những cơ hội phát triển vô cùng lớn. Nắm bắt lấy cơ hội này, Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC đã nỗ lực đẩy mạnh phát triển doanh thu từ hoạt động bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu và đạt được một số thành quả không nhỏ. Dưới đây là Đề tài Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC”, mời các bạn tham khảo
2.1. Tổng quan về thị trường tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam
2.1.1. Thị trường bảo hiểm – tái bảo hiểm tại Việt Nam
- Quy mô thị trường ngày càng được mở rộng
Điều này thể hiện ở việc tăng cả về số lượng doanh nghiệp và quy mô doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, tuy nhiên về lĩnh vực tái bảo hiểm vẫn chỉ duy trì có hai công ty là Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare) và Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm PVI (PVIRe).
Năm 2017, thị trường có sự góp mặt của 64 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và môi giới bảo hiểm. Trong đó bao gồm 2 công ty tái bảo hiểm, 30 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 18 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và 14 công ty môi giới.
Năm 2018, thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam tiếp tục hội nhập mở cửa với việc nhà nước cấp phép cho công ty AAA, AIG hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, Prévoir, ACE life, New York Life hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, Công ty Thái Bình Dương hoạt động môi giới bảo hiểm và một số Văn phòng đại diện doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài. Đặc biệt tháng 12/2018 Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Tập đoàn tài chính Bảo Việt với nhiều công ty thành viên như Bảo Việt Việt Nam, Bảo Việt nhân thọ, Bảo hiểm y tế cộng đồng, Công ty quản lý Quỹ đầu tư, Công ty chứng khoán, Công ty kinh doanh bất động sản, Công ty cho thuê tài chính. Tính đến cuối năm 2018, toàn thị trường đã có 31 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 18 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 2 công ty tái bảo hiểm, 14 công ty môi giới bảo hiểm với tổng tài sản lên tới 395.215 tỉ đồng.
Năm 2019, số lượng doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và môi giới bảo hiểm lên đến 67 công ty bao gồm cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Riêng trong năm này, có thêm 02 công ty môi giới bảo hiểm chính thức được cấp phép hoạt động, đó là Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Interger và Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Bảo An.
Năm 2020, Bộ Tài chính đã cấp phép hoạt động thêm cho 1 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đó là Công ty TNHH bảo hiểm HD (HDI) và 3 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là Công ty TNHH môi giới bảo hiểm LK Việt Nam, Công ty TNHH môi giới bảo hiểm Pan Asia…, nâng tổng số lượng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm lên tới 71 công ty, trong đó có 32 doanh nghiệp trong khối phi nhân thọ, 18 doanh nghiệp trong khối nhân thọ, 02 doanh nghiệp trong lĩnh vực tái bảo hiểm và 19 doanh nghiệp trong lĩnh vực môi giới bảo hiểm.
Năm 2021, thị trường vẫn tiếp tục được mở rộng và phát triển với sự ra đời của thêm một số doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và môi giới bảo hiểm bao gồm cả doanh nghiệp trong và nước ngoài. Tổng số doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trên thị trường lên tới 31 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 19 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 19 doanh nghiệp môi giới và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm. Riêng lĩnh vực tái bảo hiểm vẫn chỉ là sân chơi lớn của hai doanh nghiệp tái bảo hiểm duy nhất tại Việt Nam là Vinare và PVIRe.
Quy mô các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm cũng được mở rộng với số vốn điều lệ tăng đáng kể. Đến năm 2020, các doanh nghiệp có vốn điều lệ lớn là Bảo hiểm Bảo Việt là 7.423 tỉ đồng, PVI là 3.100 tỉ đồng, MIC là 1.300 tỉ đồng, Bảo Minh là 914 tỉ đồng. Các doanh nghiệp bảo hiểm có dự phòng nghiệp vụ lớn là Bảo hiểm Bảo Việt 7.322 tỉ đồng, , PVI 5.130 tỉ đồng, Bảo Minh 3.541 tỷ đồng , MIC 2.152 tỉ đồng.
- Doanh thu thị trường bảo hiểm tăng trưởng mạnh
Trong giai đoạn từ 2017 – 2021, doanh thu của thị trường bảo hiểm vẫn tăng trưởng đều bất chấp những ảnh hưởng to lớn từ đại dịch Covid-19. Tuy nhiên phần lớn doanh thu vẫn thuộc về khối bảo hiểm nhân thọ.
Năm 2017, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đạt 105,611 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm gốc toàn thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đạt 40,561 tỷ đồng. Dẫn đầu doanh thu khai thác (ước đạt) là Bảo Việt 8,050 tỷ đồng, PVI 6,777 tỷ đồng, Bảo Minh 3,261 tỷ đồng, PTI 3,206 tỷ đồng, PJICO 2,611 tỷ đồng (5 doanh nghiệp top đầu chiếm khoảng 58% thị phần, các doanh nghiệp bảo hiểm còn lại chiếm 42%)
Năm 2018, doanh thu thị trường bảo hiểm đạt 132,885 tỉ đồng tăng 12,5% so với năm 2017, đóng góp 2,85% vào GDP quốc gia, hỗ trợ giải quyết công ăn việc làm cho gần một triệu lao động. Riêng khối phi nhân thọ đạt doanh thu 46,649 tỉ đồng, tăng trưởng 11,5% so với năm 2017, đóng góp 0,83% vào GDP quốc gia. Dẫn đầu doanh thu vẫn là các doanh nghiệp bảo hiểm lớn và lâu đời như Bảo Việt, PTI, PJICO…( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
Năm 2019, thị trường bảo hiểm đã đạt được mốc doanh thu đạt 160,180 tỉ đồng tăng 12,5% so với năm 2018. Doanh thu khối phi nhân thọ đạt 52,387 tỉ đồng, tăng trưởng 11,2% so với cùng kì năm ngoái, chiếm tỉ trọng 32,7% trên tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành. Dần đầu thị phần vẫn là các doanh nghiệp bảo hiểm lớn như Bảo Việt (19,29%), PVI (16,37%), PTI (10,67%), Bảo Minh (7,26%) và PJICO (575%), chiếm 59,34% thị phần toàn khối phi nhân thọ.
Năm 2020, thị trường bảo hiểm Việt Nam trải qua năm đầu tiên bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 nhưng vẫn đạt những thành tựu đáng khích lệ. Doanh thu toàn ngành đạt 220.705 tỉ đồng, trong đó doanh thu phí bảo hiểm đạt 185,960 tỉ đồng, doanh thu hoạt động đầu tư đạt 34,745 tỉ đồng. Doanh thu khối phi nhân thọ đạt 56,669 tỉ đồng, tăng trưởng 6,19% so với năm trước, tuy nhiên thị phần của top 5 doanh nghiệp hàng đầu là Bảo Việt, PVI, PTI, Bảo Minh và PIJICO đã giảm xuống, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ còn lại đã có những tiến bộ và phát triển hơn, giành được 44,55% thị phần.
Năm 2021 có thể nói là năm nền kinh tế Việt Nam phải chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ đại dịch Covid-19, tuy nhiên thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn giữ vững tốc độ tăng trưởng dương. Cụ thể là tổng doanh thu phí toàn ngành đạt 214,958 tỉ đồng, tăng trưởng 11,56%, doanh thu khối nhân thọ và phi nhân thọ cũng đều tăng trưởng so với năm ngoái, cụ thể là khối nhân thọ đạt doanh thu phí 157,349 tỉ đồng, tăng trưởng 12,33% so với năm ngoái, khối phi nhân thọ đạt 57,609 tỉ đồng, tăng trưởng 10,45% so với năm ngoái.
- Vấn đề bồi thường bảo hiểm
Năm 2017, các doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm tổng số tiền bồi thường lên tới 15,942 tỉ đồng, chiếm khoảng 39,30% doanh thu phí bảo hiểm gốc, trong đó nghiệp vụ có tỉ lệ bồi thường cao nhất là nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới (36%), nghiệp vụ có tỉ lệ bồi thường thấp nhất là nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp (0,05%).
Năm 2018 tổng bồi thường là 19805 tỉ đồng chiếm 42,45% doanh thu. Các doanh nghiệp bảo hiểm có tỉ lệ bồi thường cao là PJICO 21,5%, Bảo Long 17,2%, Bảo Việt Việt Nam 13,8%, Bảo Minh 13,6%, MIC 11,3%. Ngoài nguyên nhân do số tiền bồi thường thuộc trách nhiệm năm trước chuyển sang còn có nguyên nhân gia tăng hiện tượng trục lợi trong bảo hiểm và không kiểm soát được khâu chi phí sửa chữa thay thế tài sản hư hỏng. Tình trạng tổn thất về thân tàu biển và trách nhiệm dân sự chủ tàu P&I tăng do phần lớn tàu Việt Nam quá cũ, trang thiết bị không đủ khả năng an toàn hàng hải bị bắt giữ nhiều đang cảnh báo các doanh nghiệp bảo hiểm nếu còn tiếp tục cạnh tranh hạ phí bảo hiểm.
Năm 2019, tổng phí bồi thường 20,752 tỷ đồng, chiếm 39,61% doanh thu bảo hiểm. Trong năm 2020, thiên tai, tai nạn và dịch bệnh xảy ra nhiều, điển hình như: bão lụt tại miền Trung, dịch bệnh Covid-19 cũng như các vụ đắm tàu, tai nạn giao thông, cháy nổ, dịch tiêu chảy. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Năm 2021, các doanh nghiệp bảo hiểm đã giải quyết bồi thường và trả tiền bảo hiểm hơn với số tiền là 19,355 tỷ đồng đảm bảo sự phát triển ổn định của các tổ chức, cá nhân không may gặp rủi ro, chiếm 33,59% doanh thu phí bảo hiểm. Tỉ lệ bồi thường năm 2021 thấp hơn do doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng trưởng dương, ngoài ra tỉ lệ bồi thường nghiệp vụ xe cơ giới giảm mạnh do lệnh giãn cách xã hội của chính phủ, người dân ít ra đường tham gia giao thông hơn dẫn đến tỉ lệ xảy ra tổn thất cũng thấp hơn.
- Chất lượng hoạt động kinh doanh được nâng cao
Các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, đưa ra một số sản phẩm mới, tăng cường đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ, nâng cao chất lượng phục vụ, chất lượng cạnh tranh lành mạnh sẵn sàng hội nhập, hợp tác quốc tế, thích ứng với lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Các doanh nghiệp bảo hiểm cũng đã chú ý tới đào tạo cán bộ bảo hiểm, đào tạo và sử dụng đội ngũ đại lý bảo hiểm ngày càng có chất lượng.
Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đều đầu tư lớn vào phát triển công nghệ thông tin phục vụ cho công tác quản lý và khai thác bảo hiểm. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng phát triển công nghệ thông tin phục vụ cho quản lý bảo hiểm, đầu tư cho đào tạo phát triển nguồn nhân lực, xây dựng thương hiệu nâng cao uy tín doanh nghiệp tăng cường việc cạnh tranh.
Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã tăng vốn với quy mô lớn cao hơn cả vốn pháp định, tăng khả năng tài chính, tăng năng lực giữ lại và giảm bớt phần tái bảo hiểm.
Một số doanh nghiệp bảo hiểm đã chọn được đối tác chiến lược là những tập đoàn bảo hiểm, tài chính hàng đầu quốc tế như: Bảo Việt với HSBC, Bảo Minh với AXA, VINARE, MIC với Swiss Re vừa thu được nguồn thặng dư vốn lớn, vừa tiếp thu được kinh nghiệm công nghệ quản lý bảo hiểm, đầu tư và phát triển sản phẩm bảo hiểm mới.
Chuyên môn hoá hoạt động kinh doanh cũng được đẩy mạnh. Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đều thành lập bộ phận chuyên trách đầu tư, các doanh nghiệp có quy mô lớn đã thành lập ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty đầu tư tài chính, công ty quản lý quỹ.
Một số sản phẩm mới ra đời đã phần nào đáp ứng các nhu cầu của khách hàng như các sản phẩm chăm sóc sức khỏe cao cấp với mức trách nhiệm cao góp phần thúc đẩy nhu cầu bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức có mức thu nhập trung bình trở lên. Tuy nhiên so với nhu cầu của các doanh nghiệp và cá nhân, các sản phẩm vẫn còn thiếu tính đa dạng, phong phú. Một số sản phẩm mới vẫn còn chưa phát huy mạnh mẽ như bảo hiểm tín dụng, rủi ro chính trị, bảo hiểm trách nhiệm người lãnh đạo.
Các kênh phân phối sản phẩm được đa dạng hóa như các kênh bán hàng thông qua đại lý, môi giới, ngân hàng, bưu điện, nhân viên thu ngân. Bước đầu đã hình thành một số kênh phân phối sản phẩm trực tuyến đáp ứng được nhu cầu thuận tiện trong việc bán và dịch vụ sau bán hàng.
- Tính cạnh tranh trên thị trường có một số mặt hạn chế
Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm trên thị trường đều có nỗ lực trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh bằng các biện pháp cụ thể. Tuy nhiên, do cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp hạ phí bảo hiểm, tăng phần trợ cấp cho các đại lý, làm giảm hiệu quả kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm có kết quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm không khả quan, thậm chí không có lãi do tăng tỉ lệ bồi thường, doanh thu thấp do giảm phí và tăng chi phí, lãi thu được để chia cho cổ đông chủ yếu từ lãi đầu tư. Điều này làm giảm uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm và sức ép của cổ đông về cổ tức buộc các doanh nghiệp bảo hiểm phải có sự thay đổi chiến lược kinh doanh và quản lý. Tình hình tái bảo hiểm cho các doanh nghiệpbảo hiểm trong nước với nhau vẫn chưa được xây dựng thành vấn đề đóng góp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam và thể hiện tinh thần hợp tác, thiện chí giữa các thành viên của Hiệp hội Bảo hiểm ViệtNam.
Đặc biệt năm 2021, do tính chất cạnh tranh khốc liệt nên hiện tượng giảm giádành dich vụ, cắt giảm mức miễn thường, mở rộng điều kiện bảo hiểm diễn ra phổ biến khiến các công ty phải đối mặt với mức độ rủi ro cao, doanh thu không bù đắp đủ chi phí. Cùng với việc tụt dốc của thị trường chứng khoán, bất động sản và đầu tư khiến nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Mức thua lỗ tổng cộng của các doanh nghiệp trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ lên tới cả ngàn tỉ đồng, trong đó có cả các doanh nghiệp hoạt động lâu năm cũng như một số các công ty mới đi vào hoạt động.
Nguồn nhân lực trên thị trường thực sự trở thành vấn đề bức thiết khi các cán bộ có kinh nghiệm lâu năm, được đào tạo bài bản không đủ đáp ứng so với nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm mới.
Có thể bạn quan tâm:
2.1.2. Thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
- Doanh thu thị trường bảo hiểm tăng trưởng không ổn định.
Trong giai đoạn từ 2017 – 2021, doanh thu của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục giữ đà tăng trưởng ổn định, tuy nhiên về đối với thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập thì vẫn luôn giữ tỉ trọng nhỏ (dưới 10%), có một số năm còn tăng trưởng âm.
Năm 2017, doanh thu toàn thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đạt 40.561 tỉ đồng, tuy nhiên doanh thu mảng hàng hóa xuất nhập khẩu chỉ đạt 2.343 tỉ đồng, chiếm tỉ trọng rất nhỏ, chỉ khoảng 5.77% so với tổng doanh thu.
Năm 2018, mặc dù doanh thu mảng hàng hóa xuất nhập khẩu đã tăng lên 2.593 tỉ đồng (tăng trưởng 11.06% so với cùng kì năm ngoái), tuy nhiên do doanh thu tổng của cả thị trường phi nhân thọ cũng tăng, đặc biệt là ở các mảng khác nên tỉ trọng doanh thu hàng hóa xuât nhập khẩu cũng chỉ đạt 5.55% trên tổng doanh thu, giảm 4% so với cùng kì năm trước.
Năm 2019, thị trường phi nhân thọ đạt 52.387 tỉ đồng doanh thu phí bảo hiểm gốc, tăng trưởng 11.23% so với cùng kì năm ngoái, tuy nhiên tỉ trọng nghiệp vụ hàng hóa xuất nhập khẩu lại giảm xuống chỉ còn 2.530 tỉ đồng, kéo theo tỉ trọng hàng hóa xuất nhập khẩu cũng xuống chỉ còn 4.83% tổng doanh thu, giảm đến 13% so với cùng kì năm trước.
Năm 2020, thị trường bảo hiểm Việt Nam trải qua năm đầu tiên bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, tổng doanh thu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục đạt tăng trưởng dương lên 55.094 tỉ đồng, tăng 10.51% so với cùng kì năm trước, tuy nhiên do ảnh hưởng của đại dịch, hoạt động giao thương giữa các nước gần như bị đình chỉ do các lệnh phong tỏa nhằm ngăn chặn sư lây lan của đại dịch, doanh thu của thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu giảm mạnh chỉ còn 2.264 tỉ đồng, giảm 11% so với cùng kì năm trước, chỉ chiếm 4.11% tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của toàn thị trường phi nhận thọ. Đây cũng là năm doanh thu mảng hàng hóa xuất nhập khẩu chiếm tỉ trọng thấp nhất trong giai đoạn từ 2017-2021.
Năm 2021, mặc dù đại dịch Covid-19 vẫn chưa kết thúc tuy nhiên các quốc gia đã dần bước vào thời kì bình thường mới, giao thương dẫn được nối tiếp trở lại, tổng doanh thu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tăng lên 57.609 tỉ đồng, tương đương tăng hơn 10.45% so với cùng kì năm trước, doanh thu thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cũng tăng lên 2.749 tỉ đồng, tăng trưởng dương 12.14% so với cùng kì năm trước. Đây là một dấu hiệu đáng tịch cực đối với thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam.
- Về vấn đề bồi thường
Nhìn chung so với mặt bằng chung, ta có thể thấy được tỉ lệ bồi thường ở thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu luôn nằm ở mức ổn định, vào khoảng 30%. Đây là một tỉ lệ rất ổn, chứng tỏ thị trường bảo hiểm này sẽ mang lại lợi nhuận lớn cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Tuy nhiên từ các phần đánh giá trên, chúng ta có thể thấy được mặc dù tỉ lệ bồi thường luôn nằm ở mức tốt nhưng doanh thu thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu lại không cao, chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của toàn thị trường phi nhân thọ. Tình trạng trên do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Hoạt động XNK của nước ta chủ yếu áp dụng phương thức xuất khẩu theo điều kiện giao hàng FOB và nhập khẩu theo điều kiện giao hàng CIF. Với các phương thức XNK trên đã hạn chế khả năng ký kết của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam.
Theo Incoterms 2000 có tất thảy 13 điều kiện mua bán, áp dụng chung cho hoạt động thương mại quốc tế, trong đó hai điều kiện giao hàng FOB và CIF thường được các bên tham gia sử dụng. Điều kiện giao hàng FOB quy trình người mua chịu mọi phí tổn và để đảm bảo an toàn cho tài sản của mình, bên nhập khẩu sẽ mua bảo hiểm, đồng thời có nghĩa vụ thuê tàu và trả cước phí vận chuyển. Điều kiện giao hàng CIF cũng quy định trách nhiệm của người bán kết thúc khi hàng đã qua khỏi lan can tàu tại cảng gửi, nhưng xác định cụ thể người bán phải trả cước vận chuyển và ký hợp đồng bảo hiểm hàng hải tránh cho bên mua những rủi ro đối với hàng hóa có thể xảy ra trong quá trình vận chuyển. Đơn bảo hiểm này được phía xuất khẩu ký hậu và chuyển giao cho phía nhập khẩu.
Như vậy, đối với hoạt động nhập khẩu nếu nhập theo điều kiện CIF, quyền vận tải và quyền bảo hiểm thuộc phía nước ngoài. Với các quyền đó, đối tác nước ngoài tùy ý thuê tàu và mua bảo hiểm. Theo lẽ thường họ ký hợp đồng với các công ty của nước mình. Các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài vì thế có điều kiện phát triển hơn.
Thứ hai, năng lực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, chưa mang tầm quốc tế. Ngoại trừ Bảo Việt thành lập năm 1965 có vốn lớn, các doanh nghiệp bảo hiểm khác đều vừa mới được thành lập sau Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993, với mức vốn kinh doanh chưa tới 80 tỷ đồng, gần đây mới tăng lên 300 tỷ đồng, trong khi đó, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài ra đời cách đây hàng trăm năm, vốn kinh doanh hàng tỷ Đôla Mỹ. Thêm vào đó, trình độ cán bộ làm công tác bảo hiểm nói chung còn bất cập so với đòi hỏi của thị trường mà còn non yếu so với mặt bằng thế giới. Theo đánh giá khách quan, các nhà XNK nước ngoài chưa thực sự yên tâm khi mua bảo hiểm của Việt Nam và điều này làm giảm sức thuyết phục khi các nhà đàm phán ngoại thương yêu cầu đối tác nước ngoài trao cho ta quyền mua bảo hiểm.
Trong năm 2021, mặc dù Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã khuyến cáo thu phí tàu già, chú ý mất trộm đối với hàng nguyên liệu, thức ăn gia súc, phân bón, gỗ tròn chở trên xà lan… nhưng kết quả thực hiện còn thấp, nhiều doanh nghiệp vì giành dịch vụ vẫn chấp nhận rủi ro trên. Ngày 15/9/2021, tại Hội nghị CEO 16 DNBH đã thống nhất ký vào Bản thoả thuận hàng hoá (sửa đổi) với mục đích nhằm cải tiến và hạn chế những bất cập trong bảo hiểm hàng hoá và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
2.1.3. Thị trường tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam ( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
- Thị trường tái bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu
Bảo hiểm hàng hoá XNK thường bảo hiểm lô hàng hoá có giá trị rất lớn, vì vậy, tái bảo hiểm là vô cùng quan trọng. Đến nay, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã có mối quan hệ tốt đẹp và ngày càng phát triển với các nhà tái bảo hiểm uy tín, lớn mạnh nên uy tín của các nhà bảo hiểm gốc của Việt Nam ngày càng tăng, tạo được sự tín nhiệm, tin cậy của khách hàng tham gia bảo hiểm. Có thể nói, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu được bảo hiểm chính là đầu vào cho thị trường tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu.
Nguồn: Tổng cục Thống kê Nói chung, tỷ lệ bảo hiểm hàng nhập nằm trong khoảng 24 – 33% kim ngạch nhập khẩu trong 5 năm. Tuy nhiên tỷ lệ tái bảo hiểm vẫn còn thấp chỉ chiếm khoảng 10% kim ngạch nhập khẩu được bảo hiểm. Trong đó, sự tăng trưởng nhanh nhất là trang thiết bị y tế trong năm 2020 và 2021. Trang thiết bị y tế là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho người thầy thuốc trong chẩn đoán, điều trị bệnh nhân được chính xác, nhanh chóng, an toàn và hiệu quả. Với sự phát triển của khoa học, ngày nay, trang thiết bị y tế không chỉ giúp nối dài các giác quan mà còn giúp cho các thầy thuốc dễ dàng tiếp cận và xử lý được các tổn thương bên trong cơ thể như: phẫu thuật nội soi, phẫu thuật robot… thậm chí có thể thay bộ não con người (sử dụng trí tuệ nhân tạo) giúp đưa ra các quyết định một cách sáng suốt, đúng đắn và hiệu quả nhất trong chẩn đoán, điều trị và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh…
Đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực tới hầu hết các ngành nghề kinh tế, tuy nhiên, ngành dược và thiết bị – vật tư y tế lại có cơ hội để tăng trưởng mạnh mẽ, mức doanh thu và lợi nhuận cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Trên thực tế, không phải nhờ có đại dịch mới làm gia tăng nhu cầu chăm sóc y tế mà Việt Nam luôn được đánh giá là thị trường dược phẩm và vật tư – thiết bị y tế vô cùng tiềm năng.
Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu tương đối ổn định. Các mặt hàng thường được nhập khẩu nhiều là tư liệu sản xuất bao gồm: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; nguyên, nhiên, vật liệu. Các nhóm hàng này luôn chiếm đa số và giữ mức ổn định trong suốt giai đoạn từ 2017 đến 2021. Mặt hàng tiêu dùng ngoại nhập vẫn duy trì ở mức 20-21%/năm. Tỉ lệ tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu ở mức thấp, khoảng 10% và không có biến động nhiều qua các năm.
- Thị trường tái bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu.
Công tác xuất khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây cũng phát triển mạnh và ổn định, tăng 136,74% qua năm năm. Chính phủ đã ban hành và thực thi nhiều chính sách vĩ mô, nhằm hỗ trợ cho việc sản xuất hàng trong nước để xuất khẩu. Cụ thể là các chính sách như miễn giảm thuế, cải cách thủ tục hải quan, hỗ trợ tín dụng, khuyến khích và thu hút đầu tư v.v… nên công tác sản xuất hàng xuất khẩu trong nước ngày càng phát triển. Ngoài ra, sự ổn định của nền kinh tế cộng với việc định hướng công tác nhập khẩu hỗ trợ cho xuất khẩu đã tạo điều kiện cho tình hình xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam có nhiều triển vọng.
Về cơ cấu xuất khẩu cũng tương đối ổn định trong gia đoạn 2017 -2021. Mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao nhất là hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (trong khoảng 36 đến 40%), tiếp đó là hàng công nghiệp nặng và khoáng sản (trong khoảng 28 đến 32%). Mặt hàng xuất khẩu ít nhất là hàng lâm sản.
Về cơ cấu xuất khẩu cũng tương đối ổn định trong giai đoạn 2017 -2021. Mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao nhất là hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (trong khoảng 36 đến 40%), tiếp đó là hàng công nghiệp nặng và khoáng sản (trong khoảng 28 đến 32%). Mặt hàng xuất khẩu ít nhất là hàng lâm sản (trong khoảng 7 đến 8%
Công tác tái bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu trên thị trường tái bảo hiểm hàng hóa XNK trong những năm gần đây cũng phát triển và ổn định. Chính phủ đã ban hành và thực thi nhiều chính sách vĩ mô, nhằm hỗ trợ cho việc sản xuất hàng trong nước để xuất khẩu. Cụ thể là các chính sách như miễn giảm thuế, cải cách thủ tục hải quan,hỗ trợ tín dụng, khuyến khích và thu hút đầu tư v.v… tỉ trọng hàng hóa tái bảo hiểm xuất khẩu cũng tăng trưởng đều qua các năm. Ngoài ra, sự ổn định của nền kinh tế cộng với việc định hướng công tác nhập khẩu hỗ trợ cho xuất khẩu đã tạo điều kiện cho tình hình xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam có nhiều triển vọng.
Giai đoạn 2017 – 2021, mức tỷ lệ tăng trưởng có xu hưởng giảm dần, dù vậy, xét về con số tuyệt đối ta vẫn thấy có sự tăng trưởng về giá trị hàng hoá xuất khẩu tham gia bảo hiểm trong nước. Nhưng ta có thể thấy tỷ lệ tham gia của hàng hoá nhập khẩu cao hơn nhiều so với tỷ lệ hàng hoá xuất khẩu tham gia bảo hiểm trong nước. Đó là do ý thức mua bảo hiểm của chủ hàng trong nước vẫn còn nhiều hạn chế, tập quán mua bảo hiểm tại các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài vẫn còn nặng nề. So với nhập khẩu, kim ngạch xuất khẩu được bảo hiểm chiếm tỷ lệ thấp hơn rất nhiều chỉ khoảng 10 – 12% tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ lệ tái bảo hiểm hàng xuất khẩu cũng không cao, chỉ đạt khoảng 10% lượng hàng xuất được bảo hiểm.
2.2. Giới thiệu về Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội MIC
2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển ( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân Đội (Trước đây là Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân Đội) được thành lập theo quyết định số 871/BQP ngày 22/07/2007 của Quân uỷ Trung ương và Giấy phép số 43/GP/KDBH ngày 08/10/2007 của Bộ Tài chính.
Với mục tiêu trở thành doanh nghiệp bảo hiểm bán lẻ thuận tiện hàng đầu, mang lại cho khách hàng những sản phẩm tốt nhất, MIC đã trải qua 14 năm hình thành phát triển với những mốc son nổi trội:
Năm 2007: MIC chính thức được thành lậ theo quyết định của Quân ủy Trung ương và Giấy phép của Bộ Tài chính.
Năm 2013: MIC khai trương hệ thống tổng đài Call Center 1900558891. Năm 2016: MIC tăng vốn điều lệ lên 800 tỉ đồng.
Năm 2019: MIC tăng vốn điều lệ lên 1.300 tỉ đồng, đứng thứ 5 trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ.
Năm 2020, cổ phiếu MIC với mã MIG chính thức niêm yết trên sàn HOSE đồng thời đạt được mốc son doanh thu 3000 tỉ đồng.
Đến năm 2021, trải qua 14 năm hình thành và phát triển, MIC đã tăng mức vốn điều lệ lên tới 1430 tỉ đồng VNĐ với mạng lưới 66 Công ty thành viên, 442 Phòng Kinh doanh, 3500 Đại lý, phủ sóng tới 57/63 tỉnh thành trên toàn quốc.
Hiện nay, MIC không chỉ trở thành đơn vị bảo hiểm tốt nhất cho các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng mà còn phục vụ mọi đối tượng khách hàng bên ngoài thị trường.
Là một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, chỉ sau hơn 3 năm thành lập, MIC đã nhanh chóng tiếp cận phương thức kinh doanh bảo hiểm (KDBH) trong cơ chế thị trường, chủ động hội nhập và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Ra đời vào thời điểm thị trường bảo hiểm Việt Nam đang trên đà phát triển trong sự nghiệp đổi mới đất nước, MIC có điều kiện thuận lợi để tiếp thu kinh nghiệm, củng cố vị thế, xây dựng thương hiệu, tiếp cận thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả KDBH. Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, cùng những khó khăn của tình hình kinh tế-xã hội trong nước, hoạt động của ngành Bảo hiểm (trong đó có MIC) đã phải đối mặt với nhiều thách thức. Đáng chú ý là, thị trường bảo hiểm đang có sự cạnh tranh gay gắt;chi phí khai thác cao, phí bảo hiểm thấp; điều kiện, điều khoản bảo hiểm mở rộng, tổn thất nhiều… Nhận thức rõ điều đó, Đảng ủy, Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc Công ty đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, xác định chủ trương, biện pháp, chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển phù hợp; xây dựng chiến lược KDBH trong cơ chế thị trường; nâng cao trình độ quản lý, khai thác, chăm sóc khách hàng. Bởi vậy, chỉ trong thời gian ngắn, MIC đã đi vào hoạt động ổn định và không ngừng phát triển; tổ chức nghiên cứu, chọn lọc và hoàn thiện gần 100 sản phẩm bảo hiểm, thuộc 3 lĩnh vực: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và bảo hiểm trách nhiệm. Đến nay, MIC đã tiến hành kí kết hợp đồng và “bảo vệ” cho hàng nghìn khách hàng với các sản phẩm bảo hiểm như bảo hiểm hàng hóa XNK; bảo hiểm tàu, thuyền, xe cơ giới; bảo hiểm con người, tài sản, cháy nổ, xây dựng-lắp đặt; bảo hiểm tín dụng cá nhân; bảo hiểm du lịch toàn cầu… Các sản phẩm bảo hiểm của MIC luôn đáp ứng nhu cầu của thực tiễn cuộc sống, nên được thị trường trong nước và nước ngoài tiếp nhận, phù hợp với thông lệ bảo hiểm quốc tế.
Mặc dù hoạt động KDBH trong cơ chế thị trường cần có lợi nhuận làm cơ sở cho sự phát triển, nhưng với lĩnh vực quốc phòng, MIC vẫn luôn xác định phải gắn bó, phục vụ lâu dài và mang lại hiệu quả thiết thực, thông qua bảo hiểm các dự án lớn về phát triển kinh tế-quốc phòng; bảo hiểm tai nạn quân nhân; chi trả tiền bảo hiểm cho cán bộ, chiến sĩ bị tai nạn, hy sinh trong khi làm nhiệm vụ… Hiện MIC đã và đang bảo hiểm cho một số công trình trọng điểm trong quân đội có giá trị hàng trăm tỷ đồng, như: Đường tuần tra biên giới, Đường Đông Trường Sơn, các dự án thuỷ điện, cầu đường, khu đô thị, đội tàu viễn dương; đồng thời, bảo hiểm các lô hàng nhập khẩu có giá trị kinh tế lớn cho các đối tác khách hàng: Ban Quản trị Dự án 46,47, Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Tổng Công ty Xây dựng 319, Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn, Công ty Tân Cảng Sài Gòn, Công ty Ba Son, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên Phòng, Cục Xe máy (Tổng cục Kỹ thuật)… Ngoài các sản phẩm thông thường, MIC còn ký kết hợp đồng bảo hiểm tai nạn quân nhân với Binh đoàn Cửu Long; kịp thời chi trả tiền bảo hiểm cho chiến sĩ bị tai nạn, thuộc Đơn vị 31 (Đoàn B.09, Binh đoàn Cửu Long)… Việc thực hiện các hợp đồng trên, không chỉ tạo vị thế cho MIC trên thị trường bảo hiểm, mà còn tạo điều kiện để các đơn vị giải quyết tốt những rủi ro, góp phần bảo đảm cho quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Cùng với chăm lo phát triển nguồn nhân lực, MIC cũng thường xuyên quan tâm đến việc tổ chức điều tra, khảo sát thị trường, hình thành các đại lý, mạng lưới phân phối sản phẩm và cung cấp dịch vụ bảo hiểm trên phạm vi toàn quốc. Do đặc thù của KDBH là phải trực tiếp tiếp cận với đối tượng bảo hiểm để tham mưu, tư vấn cho khách hàng, đánh giá rủi ro, giải quyết những khó khăn, vướng mắc, nên Công ty đã ưu tiên xây dựng chiến lược phát triển thị trường, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thu hút nhiều khách hàng tham gia bảo hiểm. Để làm được điều đó, Công ty đã lập Đề án KDBH trình Bộ Tài chính phê duyệt thành lập mạng lưới với các Công ty thành viên, Phòng Kinh doanh và Đại lý bảo hiểm trải dài khắp cả nước; thiết lập mối quan hệ hợp tác trong KDBH, tái bảo hiểm với thị trường trong nước và nước ngoài, nhằm tạo lợi thế, khắc phục khó khăn, bảo đảm an toàn tài chính, đáp ứng kịp thời yêu cầu khai thác, giám định và giải quyết bồi thường cho khách hàng.
2.2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm. ( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
Năm 2021 ghi nhận giai đoạn khó khăn nhất của nền kinh tế kể từ khi dịch bệnh COVID-19 xuất hiện đến nay, nhưng MIC vẫn giữ được đà tăng trưởng về doanh thu và lợi nhuận. Đứng trước những khó khăn trên của nền kinh tế nói chung và của ngành bảo hiểm và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, Bảo hiểm Quân đội càng chứng tỏ bản lĩnh của “những người lính”, càng trong môi trường khó khăn, càng hun đúc ý chí và nghị lực để vượt qua. Tốc độ tăng trưởng của MIC trong 5 năm qua vẫn ghi nhận những con số ấn tượng.
Trong vòng 5 năm, doanh thu phí gốc bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng doanh thu phí không ổn định, lần lượt là 10,43%; 13,02%; 12,59%; 12,15%, tuy nhiên, nhìn chung tốc độ tăng trưởng đều hơn 10%, đặc biệt vào năm 2020, MIC đã bứt phá với tốc độ tăng trưởng lên đến 12,59%, đạt mộc doanh thu vượt 3.000 tỉ đồng Tỷ trọng hàng hoá được bảo hiểm bởi MIC phần lớn cũng là các hàng hoá của các công ty trong ngành, chủ yếu là các máy móc thiết bị điện tử.
Theo bảng trên ta có thể thấy, tình hình doanh thu của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển của MIC biến động thất thường trong 5 năm trở lại đây, bắt đầu từ năm 2019, khi đại dịch Covid-19 bùng nổ gần như đã đóng băng toàn bộ giao thương quốc tế, đến năm 2020 doanh thu chỉ tăng trưởng nhé, mãi cho đến năm 2021, khi nền kinh tế thế giới dần khôi phục, các nước bắt đầu mở cửa biên giới thì doanh thu mới có sự tăng trưởng nhẹ, khoảng 1,16%. Trong khi đó, chi phí bao gồm cả chi phí khai thác và chi phí nghiệp vụ lại có xu hướng tăng nhanh. Năm 2021, chi phí khai thác tăng 8,09 tỷ đồng, tương đương 17,22%; chi phí nghiệp vụ tăng. 21,6 tỷ đồng, tương đương 18,96%. Chỉ tiêu hiệu quả khai thác là: Chi phí khai thác/Doanh thu khai thác và Chi phí nghiệp vụ/Doanh thu khai thác thì đều có xu hướng tăng mạnh theo các năm, cho thấy, để thu được 1 đồng doanh thu, công ty càng ngày càng phải bỏ ra nhiều chi phí hơn để khai thác được dịch vụ.
2.3. Hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tồng công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội MIC
2.3.1. Quy trình tái bảo hiểm tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC
- Quy trình nhận tái bảo hiểm Thu thập và xử lý thông tin
Cán bộ TBH thu thập thông tin qua bản chào TBH từ công ty nhượng tái bảo hiểm (nhượng lại) TBH hoặc môi giới TBH và tiến hành xem xét đánh giá.
Trình phương án nhận TBH
Cán bộ TBH lập tờ trình nhận TBH, đề xuất khả năng nhận. Nếu nhận thì nên rõ tỷ lệ là nhận, điều kiện, khả năng xử lý phần nhận TBH.
Tờ trình được chuyển qua Trưởng nhóm nghiệp vụ xem xét và trình lên Lãnh đạo phòng TBH/Lãnh đạo khối/Tổng giám đốc duyệt.
Sau khi tở trình được phê duyệt, Lãnh đạo phòng TBH/Trưởng nhóm nghiệp vụ/Cán bộ TBH xác nhận chính thức với công ty nhượng TBH hoặc môi giới.
Khi nhận được bản hợp đồng TBH và chứng từ thanh toán phí TBH tạm thời, Cán bộ TBH tiến hành kiểm tra đối chiếu các điều khoản và tính toán sai lệch trong bản chứng từ thanh toán phí TBH với bản chào rồi báo cho Công ty chào TBH sửa đổi. Hồ sơ chứng từ được trình lên Lãnh đạo phòng TBH và Lãnh đạo khối/Tổng giám đốc ký kết.
Sau khi chứng từ được ký duyệt, Cán bộ TBH/Trưởng nhóm nghiệp vụ thực hiện lưu chuyển quản lý hồ sơ.
Bồi thường nhận TBH tạm thời
Khi nhận được thông báo tổn thất từ công ty chào TBH, Cán bộ TBH có trách nhiệm tập hợp đầy đủ hồ sơ liên quan đến tổn thất, lập bản xác nhận thanh toán tổn thất trình lên Lãnh đạo phòng TBH và Lãnh đạo khối/Tổng giám đốc ký kết, và thực hiện lưu chuyển chứng từ.
- Quy trình nhượng tái bảo hiểm
Thu thập và xử lý thông tin ( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
- Cán bộ TBH và Trưởng nhóm nghiệp vụ tiếp nhận TBH tạm thời từ phòng nghiệp vụ đối với đơn bảo hiểm chuẩn bị tái tục hoặc khai thác mới. Đồng thời theo dõi các thông tin thông báo TBH tạm thời, bao gồm: Bản tóm tắt điều kiện bảo hiểm, Thông tin về rủi ro, tổn thất trong quá khứ.
Chào/ Thu xếp TBH
Đối với đơn bảo hiểm có điều kiện, điều khoản bảo hiểm trong phạm vi hợp đồng TBH cố định, cán bộ TBH và Trưởng nhóm nghiệp vụ thu xếp đơn bảo hiểm vào hợp đồng cố định. Phần vượt quá sẽ phải lập phương án để thu xếp TBH tạm thời. Cán bộ TBH và Trưởng nhóm nghiệp vụ lập bản chào TBH với nội dung gồm:
- Tên người được bảo hiểm
- Đối tượng, đặc điểm và vị trí/hành trình của đối tượng được bảo hiểm
- Ngành, nghề sản xuất kinh doanh của người được bảo hiểm
- Loại hình bảo hiểm, STBH, tỷ lệ phí, mức khấu trừ, điều kiện bảo hiểm…
- Tỷ lệ chào và hoa hồng TBH
- Các thông tin liên quan khác: Bản đánh giá rủi ro, tổn thất trong quá khứ… Bản xác nhận của công ty nhận TBH sẽ được trình lên Lãnh đạo phòng TBH/Lãnh đạo khối/TGĐ xin ý kiến chỉ đạo trước khi gửi bản xác nhận lại cho các công ty nhận TBH tham gia.
Thông báo TBH cho phòng nghiệp vụ:
- Sau khi hoàn thành thu xếp TBH, cán bộ nghiệp vụ/ Trưởng nhóm nghiệp vụ/ Lãnh đạo phòng TBH phải thông báo cho phòng nghiệp vụ để cấp đơn/ sử đổi bổ sung, chào phí hoặc từ chối/điều chỉnh chính thức cho khách hàng.
Thực hiện hợp đồng
- Đối với dịch vụ thuộc hợp đồng cố định, ngay sau khi có thông tin từ phòng nghiệp vụ, cán bộ TBH/ Trưởng nhóm nghiệp vụ tiến hành kiểm tra tính toán, phân bổ trách nhiệm vào hợp đồng TBH cố định.
- Đối với dịch vụ TBH tạm thời, cán bộ TBH/Trưởng nhóm nghiệp vụ đối chiếu, điều chỉnh thông tin và phát hành các chứng từ thanh toán cho từng nhà nhận TBH.
Lưu chuyển chứng từ:
- Sau khi chứng từ được ký duyệt, hồ sơ được quản lý như sau:
- Chuyển cho công ty nhận TBH: Hợp đồng TBH tạm thời hoặc sửa đổi bổ sung, Bản chứng từ thanh toán.
- Chuyển cho phòng Tài chính kế toán bản chứng từ thanh toán TBH Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC, và xác nhận thanh toán của công ty nhận TBH hoặc môi giới.
- Cập nhật thông tin phần mềm.
Định kỳ cán bộ TBH/Trưởng nhóm nghiệp vụ lập bảng kê và chứng từ thanh toán và trình lên lãnh đạo phòng TBH, lãnh đạo khối/Tông giám đốc. Chứng từ thanh toán gồm:
- Bảng kê phí TBH
- Bảng kê phí sửa đổi;
- Bảng kê thu bồi thường;
- Chứng từ thanh toán.
Theo quy định của hợp đồng TBH cố định, thông thường 24 tháng sau khi kết thúc thời hạn hợp đồng, Cán bộ TBH/Trưởng nhóm nghiệp vụ bộ TBH tập hợp thông tin lập chứng từ thanh toán hoa hồng theo lãi hợp đồng TBH cố định.
Thu đòi bồi thường TBH ( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
Cán bộ TBH/Trưởng nhóm nghiệp vụ thu thập thông tin tổn thất và kiểm tra xem dịch vụ này có được TBH hay không, cơ cấu TBH thế nào (trách nhiệm của Công ty CP bảo hiểm Quân đội Mic, trách nhiệm các hợp đồng TBH), tổn thất thuộc diện thông báo tái định kỳ hay thông báo ngay. Nếu là thông báo ngay, áp dụng đối với:
- Tất cả các dịch vụ thuộc diện thông báo TBH trước khi cấp đơn.
- Các dịch vụ không thuộc diện trên nhưng số tiền bồi thường tổn thất ước tính lớn hơn mức thông báo tổn thất trả ngay theo quy định của hợp đồng TBH cố định.
- Tiến hành thông báo cho các nhà nhận TBH ngay khi nhận được thông
- Lập chứng từ thanh toán TBH tạm thời, chuyển trưởng nhóm nghiệp vụ xem xét trình lãnh đạo phòng TBH và lãnh đạo khối/Tổng giám đốc ký duyệt.
- Nếu là thông báo định kỳ: Lập bảng kê thu đòi bồi thường tổn thất hợp đồng TBH cố định, chứng từ thanh toán TBH hợp đồng cố định.
Phân bổ thu đòi người thứ ba
Việc thực hiện thu đòi người thứ ba do phòng nghiệp vụ thực hiện, sau khi hoàn thành việc thu đòi phòng nghiệp vụ thông báo cho phòng TBH để tiến hành hoàn trả cho các nhà TBH liên quan theo tỷ lệ trách nhiệm tương ứng.
Thực hiện thanh toán nhượng TBH
Thống kê, đánh giá hợp đồng: Thống kê đơn, tổn thất, tích tụ rủi ro trong 3 năm gần nhất; Ước tính phí bảo hiểm/tổn thất năm nghiệp vụ này và năm nghiệp vụ tới.
Mời bạn tham khảo thêm:
2.3.2. Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC
- Hoạt động nhận tái bảo hiểm
Tính trung bình trong 5 năm gần đây, doanh thu hoạt động nhận TBH chỉ chiếm một tỉ trọng rất nhỏ, khoảng 3% tổng doanh thu phí nhận TBH toàn công ty. Ta có thể thấy rõ điều này qua bảng sau.
Từ bảng trên ta có thể thấy tổng doanh thu phí nhận TBH tại MIC giai đoạn 2017-2021 tăng trưởng không ổn định, đặc biệt là năm 2019 tổng doanh thu đã giảm gần 14% so với cùng kì năm trước, tuy nhiên đến năm 2020 đã ghi nhận tăng trưởng vượt bậc lên đến 12.73%, trở thành năm có tổng doanh thu nhận TBH cao nhất trong giai đoạn 2017 – 2021. Phần doanh thu ghi nhận từ các hợp đồng TBH hàng hóa xuất nhập khẩu mặc dù tăng trưởng đều qua các năm, tuy nhiên chỉ chiếm một tỉ trọng rất nhỏ (khoảng 3%) trong tổng doanh thu phí nhận TBH.
Trong 5 năm thu xếp nhận TBH, phí nhận tái bảo hiểm không có nhiều biến động. Tuy nhiên, hàng năm mức giới hạn của hầu hết các hợp đồng TBH đều tăng hơn nhiều so với các năm trước; trong khi đó, tỷ lệ nhận của MIC bị giới hạn bởi mức giữ lại. Do vậy, mặc dù tăng trưởng của toàn thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2021 cũng tương đối cao nhưng doanh thu nhận TBH từ các hợp đồng cố định năm 2021 cũng không được khả quan.
Doanh thu nhận TBH từ các hợp đồng cố định tăng trưởng không đáng kể trong khi kế hoạch hàng năm đặt ra đều yêu cầu nghiệp vụ này phải tăng trưởng dương. Do đó, việc tăng cường nhận TBH tạm thời là một yếu tố quan trọng quyết định đến hoàn thành kế hoạch nhận TBH. Tuy nhiên, do hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trưởng có xu hướng gia tăng giới hạn hợp đồng cố định nên thị trường không phát sinh nhiều dịch vụ TBH tạm thời. Điều này là một trong những nhân tố cản trở hoàn thành kế hoạch tăng trưởng doanh thu của công ty.
Trong 5 năm chỉ có năm 2021 phòng TBH hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đề ra. Để có thể thực hiện kế hoạch kinh doanh nhận TBH công ty giao, phòng TBH đã tăng cường trao đổi hợp tác với các doanh nghiệp bảo hiểm, TBH trong nước thông qua nhận các hợp đồng TBH cố định và các dịch vụ TBH tạm thời.
Ngoài ra MIC còn nhận thêm một số hợp đồng mới như hợp đồng chuyển nhượng lại TBH Hàng hóa từ bảo hiểm Hàng không (VNI). Tuy nhiên, năm 2021 mức giới hạn của hầu hết các hợp đồng TBH đều tăng hơn nhiều so với các năm trước trong khi đó tỷ lệ nhận tái bảo hiểm của MIC bị giới hạn bởi mức giữ lại. Do vậy, mặc dù tăng trưởng của toàn thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2021 cung tương đối cao nhưng doanh thu nhận TBH từ các hợp đồng cố định năm 2021 cũng không được khả quan. ( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
Hoạt động nhận tái bảo hiểm có vai trò và ý nghĩa quan trọng tương tự như việc khai thác nghiệp vụ bảo hiểm gốc. Trải qua 14 năm hình thành và phát triển, MIC cũng dần chú trọng tới hoạt động này song do khả năng tài chính còn hạn chế nên phần hiệu quả mang lại vẫn chưa cao. Ta có thể quan sát điều này qua bảng sau:
Doanh thu ghi nhận từ các hợp đồng nhận tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khấu giai đoạn 2017-2021 mặc dù có tăng trưởng nhưng vẫn rất thấp, mỗi năm tăng trưởng khoảng 1,5%. Doanh thu phí bảo hiểm hàng hóa XNK cũng tăng trưởng đều, tuy nhiên giai đoạn 2019-2020 có phần bị chững lại do ảnh hưởng từ dịch Covid-19, sau đó đến năm 2021 bắt đầu tăng trở lại. Tỉ lệ nhận TBH ở nghiệp vụ hàng hóa XNK mặc dù đang trên đà tăng nhưng vẫn luôn duy trì ở mức thấp (dưới 3%). Phần lớn phí nhận tái đến từ các hợp đồng tái bắt buộc/tự nguyện.
Nguồn thu từ hoạt động này tuy nhỏ nhưng rất có ý nghĩa với MIC vì nó đóng góp một phần vào việc duy trì sự ổn định từ việc nhận tái bảo hiểm hàng hóa XNK hàng năm của công ty. Để có được thành quả trên là những nỗ lực của các cán bộ phòng TBH tại MIC trong việc thay đổi các điều kiện điều khoản của các hợp đồng nhận tái bảo hiểm hàng hóa XNK một cách linh hoạt hơn nhằm thu hút khách hàng thu xếp nhượng tái bảo hiểm tại MIC
Trọng tâm của kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh rủi ro. Trong thời kì dịch bệnh, thiên tai liên tục như hiện này thì MIC cũng phải chịu trách nhiệm cho những tổn thất thuộc trách nhiệm của hợp đồng nhận tái bảo hiểm, cụ thể được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Có thể nói, tỷ lệ tổn thất của nghiệp vụ nhận TBH hàng hoá XNK tại MIC là khá thấp so với mức chung của thị trường (khoảng 50-60%, cá biệt có công ty tỷ lệ tổn thất lên đến 150%). Riêng năm 2020, 2021 do tình hình dịch bệnh và thiên tai xảy ra dồn dập với mức độ tàn phá lớn nên tỷ lệ tổn thất tăng đột biến lên 30-40%, tăng gấp hơn 2 lần so với năm trước đó là 2019. Tỷ lệ tổn thất tăng cao đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả tài chính, đặc biệt là quỹ dự phòng của công ty. Các biện pháp an ninh đã được sử dụng như hệ thống theo dõi trong các phương tiện vận tải. Để hạn chế thiệt hại bởi dịch bệnh và nạn cướp biển đang tái diễn ở ngoài khơi của biển Đông Châu phi, các nước Đông Nam Á đã áp dụng các biện pháp mạnh mẽ là thuê đội bảo vệ bờ biển quốc tế để bảo vệ eo biển Malacca. Do vậy, năm 2020, tỷ lệ tổn thất tương đối thấp so với các năm. Tỷ lệ tổn thất chung nghiệp vụ nhận TBH của toàn thị trường cũng chỉ vào khoảng 23%. Theo xu hướng chung, năng lực kinh doanh của công ty MIC đã tăng đáng kể trong những năm vừa qua là do tỷ lệ tổn thất hàng hoá tốt, khiến cho nhiều doanh nghiệp bảo hiểm cùng tham gia thị trường.
- Hoạt động nhượng tái bảo hiểm
Do khả năng tài chính của công ty có hạn nên MIC không thể nhận một lúc quá nhiều hợp đồng khác nhau vì khả năng rủi ro xảy ra là rất lớn, vì thế hoạt động nhượng tái bảo hiểm là một cách để vừa đảm bảo hoạt động kinh doanh đồng thời giữ được uy tín trên thị trường bởi nếu có thiệt hại xảy ra thì sẽ được bồi thường nhanh và kịp thời. Ta có thể quan sát được điều này qua bảng sau:
Về số tiền phát sinh TBH: nhìn chung, tổng số tiền TBH phát sinh qua các năm biến động tăng. Một mặt, do giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu nhìn tăng theo các năm nên doanh thu bảo hiểm gốc cũng được cải thiện. Trong khi đó, chỉ đến cuối năm 2019 nhờ tăng vốn điều lệ nên khả năng giữ lại mới được cải thiện. Tuy nhiên, do với đặc thù nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá có dịch vụ có số tiền bảo hiểm lớn và rủi ro khá cao nên tỷ lệ tái đi của mỗi hợp đồng cũng tương đối lớn (55-70%), dẫn đến số tiền phát sinh TBH cũng tăng theo. Đáng chú ý từ năm 2019 số phát sinh TBH tăng đột biến (tăng 32% so với năm 2018). Trong năm 2020-2021, tình hình dịch bệnh và thiên tai diễn biến xấu, đặc biệt tại Mỹ, dẫn tới việc hai nhà TBH lớn là Swiss Re và Munich Re đã điều chỉnh phí và các điều kiện TBH cho phù hợp với nguy cơ gia tăng tần suất và mức độ nghiêm trọng của các thảm họa.
Phí TBH: Trong khi mức phí nhượng TBH có xu hướng tăng thì tỷ lệ phí lại giảm. Riêng năm 2021, do tình khủng hoảng kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu giảm mạnh, dẫn đến doanh thu phí gốc nghiệp vụ hàng hoá xuất nhập khẩu suy giảm dẫn đến phí nhượng tái bảo hiểm giảm tương ứng. ( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
Sở dĩ phí nhượng tái bảo hiểm năm 2021 đạt được như trên là do: Trong năm 2021, ngoài việc chuyển nhượng TBH hợp đồng cho các đối tác nước ngoài, MIC đã tăng cường trao đổi hợp đồng cố định với các doanh nghiệp bảo hiểm TBH trong nước như: VinaRe, PJICO, PVI, Bảo Minh, BIC. Đổi lại, MIC vẫn duy trì việc tham gia vào các hợp đồng TBH cố định như năm 2020: Hợp đồng chuyển nhượng lại TBH từ VinaRe, PVI và PJICO.
Ngoài ra, Bộ Tài chính đã ban hành quy định bắt buộc các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước khi thực hiện các dịch vụ TBH phải thu xếp tái 20% cho VinaRe, coi đây như là một đầu mối thống nhất thu xếp các dịch vụ TBH trong nước ra thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, từ năm 2010 để đáp ứng các cam kết gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO, quy định này đã được bãi bỏ nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm và TBH. Tuy vậy, một số công ty, trong đó có MIC, nhằm duy trì mối quan hệ làm ăn lâu dài vẫn tự nguyện nhượng tái 20% của một số dịch vụ cho VinaRe. ( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
Với những tổn thất của hợp đồng nhượng tái bảo hiểm thì khoản thu bồi thường từ các nhà nhận tái bảo hiểm cũng là một nguồn thu lớn với MIC bởi việc san sẻ trách nhiệm bồi thường từ các nhà nhận tái bảo hiểm cũng góp một phần vào sự ổn định của hoạt động kinh doanh của MIC.
Khác với nghiệp vụ nhận TBH, tỷ lệ tổn thất tính theo doanh thu phí nghiệp vụ nhượng TBH hàng hoá xuất nhập khẩu lại có chiều hướng gia tăng. Nhận được điều này, phòng TBH đã đề ra những kiến nghị nhằm gia tăng công tác quản lý rủi ro, suy xét mức độ tích tụ rủi ro giữa hàng và tàu, giữa tàu và tàu; nâng cao năng lực công tác giám định bồi thường.
Hiệu quả của hoạt động nhượng tái bảo hiểm được tính dựa theo tỉ lệ giữa khoản các khoản thu từ hoạt động nhượng tái bảo hiểm bao gồm các khoản thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm và thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm với tổng phí nhượng tái bảo hiểm chi ra trong mỗi năm. Thống kê số liệu theo Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2017 – 2021, ta có thể thấy được hiệu quả của hoạt động nhượng tái bảo hiểm hàng hóa XNK thông qua bảng số liệu sau:
Qua bảng trên ta có thấy được hiệu quả của hoạt động nhượng tái bảo hiểm hàng hóa XNK tại MIC qua những năm gần đây. Phí nhượng tái càng ngày càng tăng cao đặc thù của hàng hóa xuất nhập khẩu thường là các lô hàng với giá trị lớn và rủi ro cũng cao nên tỉ lệ nhượng tái đi của mỗi hợp đồng bảo hiểm cũng lớn, đồng thời do cạnh tranh cũng như sự biến đổi khí hậu dẫn đến thiên tai cùng với ảnh hưởng của dịch bệnh nên các nhà tái cũng tăng mức phí nhận tái đã dẫn đến tình trạng phí nhượng tái tăng như hiện tại. Ngoài ra việc MIC đã tăng được vốn điều lệ lên đồng nghĩa với việc tiếp nhận được nhiều những hợp đồng với giá trị cao hơn cũng kéo theo phí nhượng tái bảo hiểm tăng lên theo các quy định nhượng tái bắt buộc của pháp luật. Tổng doanh thu từ việc thu bồi thường và thu hoa hồng từ các hợp đồng nhượng tái bảo hiểm cũng tăng trưởng đều và ổn định qua các năm tuy nhiên con số vẫn ở mức nhỏ trong khi phí nhượng tái bảo hiểm thì tăng trưởng nhưng ở biên lớn hơn.
2.4. Đánh giá kết quả hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC
2.4.1. Kết quả ( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
Trong giai đoạn từ 2017-2021 mặc dù gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng từ dịch bệnh thiên tai tuy nhiên hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa XNK tại MIC vẫn đạt được những kết quả sau:
Tổng doanh thu từ hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa XNK tăng đều tăng trưởng qua các năm bất chấp những ảnh hưởng lớn từ dịch bệnh thiên tai cho thấy sự nỗ lực của tập thể cán bộ nhân viên MIC để vượt qua đại dịch, duy trì sự tăng trưởng ổn định.
Phần phí nhượng tái bảo hiểm chiếm tỉ trọng lớn hơn rất nhiều do MIC thường xuyên tiếp nhận bảo hiểm những lô hàng hóa XNK có giá trị cao trong khi năng lực có hạn nên bắt buộc phải nhượng tái ra ngoài thị trường. Ngoài ra tỉ lệ nhượng tái bảo hiểm tăng dần qua các năm cũng cho thấy là công ty đã bắt đầu nhận định tốt được thị trường, chuyển nhượng đi những hợp đồng mang tính rủi ro cao đồng thời thu về được khoản hoa hồng nhượng tái bảo hiểm tương ứng.
Về công tác thu xếp nhượng TBH cố định:
Trên cơ sở phương án TBH hàng năm được Ban giám đốc phê duyệt, số liệu thống kê bảo hiểm gốc của toàn công ty cũng như tỷ lệ TBH, thu bồi thường TBH các nghiệp vụ qua các năm , phòng TBH đã hoàn thành việc thu xếp TBH các hợp đồng TBH năm 2021 bao gồm hợp đồng TBH số thành hàng hóa XNK và hợp đồng TBH mức dôi hàng hóa XNK
Thông thường Hợp đồng nhượng TBH cố định năm năm sau có điều kiện điều khoản cải thiện và mở rộng tương đối so với năm trước, cơ cấu và giới hạn trách nhiệm các hợp đồng cũng tăng lên đáng kể. Từ năm 2021, mức giữ lại của các hợp đồng tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tăng từ 4,5 triệu USD lên 6 triệu USD. Việc thu xếp tái tục các hợp đồng diễn ra đúng thời hạn và đảm bảo an toàn về tài chính cho công ty.
Trên cơ sở phí TBH các năm trước và định hướng tốc độ phát triển của Công ty, phòng TBH xây dựng kế hoạch nhượng TBH cho năm sau. Đến 31/12 hàng năm, phòng TBH đã tiến hành thanh toán phí TBH đến Quý 3/2021 đối với các Hợp đồng cố định và dịch vụ tạm thời đã phát sinh.
Về công tác thu xế nhượng TBH tạm thời
Trên cơ sở định hướng phát triển của Công ty, năm 2021 các đơn vị khai thác gốc đã tăng cường khai thác các dịch vụ ngoài ngành và chú trọng đến việc khai thác các dự án đặc biệt là các dịch thuộc nhóm nghiệp vụ hàng hóa. Các dịch vụ này chủ yếu thược các chi nhánh lớn như chi nhánh Hồ Chí Minh, Hội sở Hà Nội.
Tuy nhiên, với mục tiêu hỗ trợ các đơn vị khai thác gốc một cách tối đa, phòng TBH đã tăng cường củng cố mối quan hệvới các doanh nghiệp bảo hiểm, TBH trong nước đồng thời mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, các đối tác nhận TBH nước ngoài nhằm tận dụng tối đa năng lực của bạn. Nhìn chung, hầu hết tất cả các dịch vụ được yều cầu thu xếp TBH, phòng TBH đã hoàn thành việc thu xếp kịp thời, đáp ứng tốt các yêu cầu từ các đơn vị khai thác.
Trong số các dịch vụ được yêu cầu thu xếp tạm thời, một số nghiệp vụ như hàng hóa, thân tàu và xe cơ giới là số lượng dịch vụ cấp được đơn bảo hiểm chiếm khối lượng khá lớn.
Phần doanh thu nhận tái bảo hiểm chiếm tỉ trọng rất nhỏ so với hoạt động nhận tái do năng lực tài chính của MIC có hạn, tuy nhiên tỉ lệ bồi thường thuộc trách nhiệm của các hợp đồng nhận tái bảo hiểm hay thậm chí là bồi thường thuộc các hợp đồng nhượng tái bảo hiểm cũng không cao. Đây là một thành tựu lớn cho thấy khả năng về việc quản trị rủi ro cũng như công tác ngăn ngừa và hạn chế tổn thất ở MIC là rất tốt do: ( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
Tổn thất xảy ra với hàng hóa ngoài do thiên nhiên còn do sự cẩu thả trong quá trình chuyên chở, xếp dỡ, hoặc do hành động trộm cắp cố ý…Nếu những tổn thất đó có thể được giảm thiểu thì không những doanh nghiệp bảo hiểm giảm được tỉ lệ bồi thường, nâng cao hiệu quả kinh doanh, giảm phí cho khách hàng mà còn bảo vệ được hàng hóa cho xã hội nói chung. Do đó, việc ngăn ngừa và hạn chế tổn là một trong những việc quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Mặc dù, phần lớn các rủi ro liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đều do thiên tai và là các rủi ro bất khả kháng nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận chuện một số rủi ro có thể tránh được hoặc giảm thiểu bằng các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất hiệu quả.
Để làm được điều này hằng năm, MIC luôn trích ra một tỷ lệ % nhất định so với doanh thu phí kế hoạch của nghiệp vụ để lập quĩ đề phòng và hạn chế tổn thất cho nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển (thường là 2% doanh thu phí kế hoạch). Quỹ này sẽ được chi cho các việc như: thuê công an, hải quan giám sát tại cảng, cử người giám định tàu và hàng hàng hóa trước khi xếp hàng… hoặc chi mua các phương tiện cứu hộ, thuê đội cứu hộ trên biển để cứu tàu và hàng hóa gặp tổn thất nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tổn thất có thể…
2.4.2. Hạn chế
- Cạnh tranh gay gắt từ thị trường trong nước
Tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là vô cùng gay gắt thông qua các hình thức như giảm phí, tăng hoa hồng và mở rộng phạm vi bảo hiểm so với các thông lệ quốc tế.
Chỉ riêng trong năm 2015, mức phí bảo hiểm bình quân đã giảm tới 50%, đặc biệt có những mặt hàng giảm từ 60-70% trong khi hoa hồng lại tăng cao hơn nhiều so với mốc quy định. Một số doanh nghiệp bảo hiểm còn mở rộng điều kiện thái quá so với các thông lệ quốc tế như không thu phí tàu già…
Hiện nay điều kiện bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu mà MIC đang áp dụng là bộ điều kiện ICC-1982. Theo Công ước quốc tế, bộ điều kiện ICC -1982 không có điều kiện Mọi rủi ro mà chỉ có điều kiện bảo hiểm theo phạm vi rộng nhất là ICC-A, đây cũng là một hạn chế của MIC trong quá trình cạnh tranh với các doanh nghiệp bảo hiểm khác.
- Đội ngũ nhân viên còn non trẻ, ít những người với kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn cao.
Cho dù là trong lĩnh vực nào thì lực lượng sản xuất luôn là một vấn đề nòng cốt giúp cho công ty phát triển. MIC thành lập năm 2007, đến nay là 14 năm, so với các thành viên “lão làng” trên thị trường bảo hiểm Việt Nam như Bảo Việt (1964), Bảo Minh (1994) hay PJICO (1995) thì có thể nói MIC chỉ là một lớp thể hệ “non trẻ” trên thị trường bảo hiểm, do đó về mặt nhân lực hay các mối quan hệ đều không thể bằng được so với các doanh nghiệp bảo hiểm có lịch sử lâu đời. Tri thức, kiến thức có thể học hỏi nhưng kinh nghiệm là những thứ không thể bổ khuyết trong một thời gian ngắn mà nó cần có đủ thời gian để có thể tiếp xúc với nhiều các tình huống khác nhau, từ từ trau dồi và tích lũy dần dần. Đây cũng là một trong những mặt hạn chế của MIC trong quá trình hoạt động khai thác bảo hiểm nói chung và hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập nói riêng.
Hơn nữa thị trường bảo hiểm là một thị trường mở, có càng nhiều mối quan hệ thì sẽ càng thuận lợi hơn trong quá trình đàm phán trao đổi cũng như tiếp cận các mục tiêu khách hàng ở những phân khúc khác nhau.
- Hệ thống công nghệ thông tin còn hạn chế
Đại dịch Covid-19 bùng nổ đã mở ra một kỉ nguyên mới cho các hoạt động số. Việc số hóa không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, rút ngắn khoảng cách về không gian mà còn khiến cách làm việc trở nên chuyên nghiệp hơn. Tại MIC các quy trình hầu như vẫn được thực hiện theo phương pháp thủ công truyền thống khiến chi phí quản lý tăng cao. Khuyết điểm này càng thấy rõ hơn trong thời điểm giãn cách xã hội, việc hệ thống công nghệ thông tin còn hạn chế, việc xử lý cấp đơn hay xử lý các hoạt động tái bảo hiểm trở nên hết sức khó khăn do hệ thống phần mềm quản lý không đủ chức năng để hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh.
Ngoài ra, còn tồn tại một số hạn chế khác như:
Thứ nhất, tiềm năng thị trường chưa được khai thác triệt để. Qui định của nhà nước về tái bảo hiểm bắt buộc qua VINARE đã giúp mức phí giữ lại của toàn thị trường tăng đều qua các năm. Tổng mức phí giữ lại chiếm khoảng 70% tổng phí bảo hiểm gốc, giảm được một lượng không nhỏ phí bảo hiểm chảy ra nước ngoài. Tuy nhiên, theo đánh giá của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, hiện nay doanh thu phí bảo hiểm của thị trường mới đạt mức trên 2% GDP trong khi các nước phát triển trong khu vực thường đạt mức 8-10% GDP (bình quân thế giới khoảng 8%). Mức phí giữ lại còn ít. Sự phát triển của thị trường bảo hiểm vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ hai, năng lực tài chính của MIC vẫn còn nhiều hạn chế. Có vốn ít, uy tín trên thị trường tái bảo hiểm của khu vực và thế giới còn chưa cao. Để đảm bảo khả năng tài chính trong kinh doanh các công ty khó có thể giữ lại nhiều phí bảo hiểm gốc. Công tác đào tạo nghiệp vụ còn phụ thuộc nhiều vào các công ty tái bảo hiểm nước ngoài. Do vậy tổng lượng phí giữ lại trên toàn thị trường còn ít và sức cạnh tranh trên thị trường cũng không cao. ( Luận văn: Thực trạng Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )
Thứ ba, các quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn chưa đầy đủ và chặt chẽ dẫn đến việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm đang ở tình trạnh báo động. Do cạnh tranh gay gắt, MIC đã hạ phí bảo hiểm, tăng phần trợ cấp cho các đại lý, làm giảm hiệu quả kinh doanh. Công tác giải quyết bồi thường chưa được thực hiện tốt, chưa đảm bảo tối đa quyền lợi của khách hàng khi gặp thiệt hại. Các sản phẩm bảo hiểm tuy đã đa dạng hơn trước, nhưng vẫn còn hạn chế, chưa phát triển trong nhiều lĩnh vực quan trọng như thiên tai, nông nghiệp, tín dụng và rủi ro tài chính, hoạt động hành nghề y dược, luật sư, dịch vụ kế toán, kiểm toán… Bên cạnh yếu tố chủ quan từ các công ty, có thể thấy sự thiếu hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật và công tác quản lý Nhà nước cũng đang ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển lành mạnh của ngành bảo hiểm.
Nguồn thông tin về thị trường bảo hiểm, tái bảo hiểm trong nước và quốc tế còn hạn chế về lượng và chất, tính chính xác, kịp thời vẫn còn thiếu. Điều này làm giảm khả năng nhận định thị trường của các doanh nghiệp trong nước đồng thời đánh mất cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
